1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giao lưu tiếp biến văn hóa việt pháp qua kiến trúc nhà thờ công giáo tại sài gòn thành phố hồ chí minh

149 124 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 5,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác động của giao lưu tiếp biến văn hóa Việt – Pháp đối với sự hình thành kiến trúc nhà thờ Công giáo Việt Nam .... thì kiến trúc tôn giáo mà cụ thể là kiến trúc nhà thờ Công giáo đã phả

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VIỆT NAM HỌC -0O0 -

TRẦN THỊ TUYẾT SƯƠNG

GIAO LƯU TIẾP BIẾN VĂN HÓA VIỆT – PHÁP QUA KIẾN TRÚC NHÀ THỜ CÔNG GIÁO TẠI SÀI GÒN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC

MÃ SỐ: 60.31.60

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VIỆT NAM HỌC

-0O0 -

TRẦN THỊ TUYẾT SƯƠNG

GIAO LƯU TIẾP BIẾN VĂN HÓA VIỆT – PHÁP QUA KIẾN TRÚC NHÀ THỜ CÔNG GIÁO TẠI SÀI GÒN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC

MÃ SỐ: 60.31.60

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐINH THỊ DUNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, xin phép được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS ĐINH THỊ DUNG, người thầy đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho tác giả những ý kiến quý báu trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Xin gởi lời cảm ơn tới quý thầy cô giáo, những người đã truyền đạt kiến thức cho tác giả trong suốt hai năm học cao học vừa qua

Sau cùng xin cảm ơn toàn thể trường ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN (TP.HCM) cùng gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã hết lòng giúp đỡ và động viên trong quá trình thực hiện luận văn này

Trần Thị Tuyết Sương

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 5

1 Lí do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 7

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11

6 Phương pháp nghiên cứu 17

7 Cấu trúc đề tài luận văn 17

CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 19

1.1 Các khái niệm và lý thuyết cơ sở 19

1.1.1 Văn hóa và văn hóa kiến trúc 19

1.1.2 Lý thuyết về giao lưu tiếp biến văn hóa 22

1.1.3 Học thuyết về hiện tượng cộng sinh văn hóa trong kiến trúc 26

1.2 Cơ sở thực tiễn 28

1.2.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc 28

1.2.2 Quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa Việt – Pháp 30

1.2.3 Công giáo và nhà thờ Công giáo 32

1.2.4 Sài Gòn thời Pháp thuộc 37

Tiểu kết chương I 40

CHƯƠNG II - NHÀ THỜ CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM CUỐI THẾ KỈ XIX - GIỮA THẾ KỈ XX 41

2.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của nhà thờ Công giáo ở Việt Nam 41

2.1.1 Từ đầu đến năm 1659 41

Trang 5

2.1.2 Thời kì từ năm 1659 đến năm 1862 42

2.1.3 Thời kì từ năm 1862 đến năm 1954 42

2.1.4 Thời kì từ năm 1954 đến năm 1975 43

2.1.5 Thời kì từ năm 1975 đến nay 43

2.2 Những điều kiện hình thành nên kiến trúc nhà thờ Công giáo Việt Nam cuối thế kỉ XIX – giữa thế kỉ XX 44

2.2.1 Văn hóa kiến trúc truyền thống Việt Nam với tư cách là nguồn nhận 44

2.2.2 Văn hóa kiến trúc Pháp với tư cách là nguồn phát 50

2.2.3 Tác động của giao lưu tiếp biến văn hóa Việt – Pháp đối với sự hình thành kiến trúc nhà thờ Công giáo Việt Nam 58

2.3 Các phong cách kiến trúc chủ đạo của nhà thờ Công giáo Việt Nam cuối thế kỉ XIX – giữa thế kỉ XX 59

2.3.1 Phong cách truyền thống châu Âu 59

2.3.2 Phong cách Á – Âu kết hợp 60

2.3.3 Phong cách truyền thống Việt Nam 60

2.4 Những bình diện giao lưu tiếp biến văn hóa Việt – Pháp thông qua kiến trúc nhà thờ Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XIX - giữa thế kỉ XX 61

2.4.1 Trong mặt bằng tổng thể 61

2.4.2 Trong mặt bằng 62

2.4.3 Trong vật liệu – kết cấu 63

2.4.4 Trong mặt đứng – trang trí 64

Tiểu kết chương II 64

CHƯƠNG III - NHÀ THỜ CÔNG GIÁO Ở SÀI GÒN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ BIỂU HIỆN CỦA GIAO LƯU TIẾP BIẾN VĂN HÓA VIỆT – PHÁP 66

3.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến kiến trúc nhà thờ Công giáo ở Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh 66

Trang 6

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên, khí hậu 66

3.1.2 Đặc điểm lịch sử - xã hội 68

3.1.3 Công giáo ở Sài Gòn 71

3.1.4 Trình độ kĩ thuật, vật liệu xây dựng 73

3.2 Sự giao lưu văn hóa đa dạng qua kiến trúc nhà thờ Công giáo ở Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh 73

3.3 Giao lưu tiếp biến văn hóa Việt – Pháp qua kiến trúc nhà thờ Công giáo ở Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh cuối thế kỉ XIX – giữa thế kỉ XX 75

3.3.1 Những chuyển biến cơ bản 75

3.3.2 Khảo sát một số nhà thờ tại Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh 80

3.3.2.1 Tu viện Dòng Thánh Phaolô thành Chartres, Sài Gòn 80

3.3.2.2 Nhà thờ Chính tòa Sài Gòn 83

3.3.2.3 Nhà thờ Tân Định 88

3.3.2.4 Nhà thờ Huyện Sĩ 91

3.3.2.5 Nhà thờ Thánh Antôn Cầu Ông Lãnh 96

3.3.2.6 Nhà thờ Thị Nghè 97

3.4 Biểu hiện của sự giao lưu tiếp biến văn hóa Việt – Pháp thông qua khảo sát một số nhà thờ tại Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh 100

3.4.1 Thích ứng tốt với đặc điểm khí hậu bản địa 100

3.4.2 Không gian vừa đóng vừa mở rất linh hoạt, hòa hợp với cảnh quan thiên nhiên 101

3.4.3 Sử dụng vật liệu đa dạng, kết hợp các vật liệu của phương Tây và vật liệu bản địa 102

3.4.4 Sử dụng một số kiểu thức của kiến trúc Việt Nam truyền thốn 102

3.4.5 Một số chi tiết trang trí thể hiện quan niệm truyền thống của người Việt 104 3.5 Ý nghĩa của các công trình kiến trúc nhà thờ Công giáo 105

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107

Trang 7

Những kết luận 107 Vài kiến nghị 110 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112 PHỤ LỤC

Phụ lục 1 – Một số nhà thờ Công giáo tiêu biểu được xây dựng trước năm 1954

ở Sài Sòn – Gia Định

Phụ lục 2 – Biên bản phỏng vấn

Phụ lục 3 – Hình ảnh khảo sát thực địa các nhà thờ Công giáo

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giao lưu và tiếp biến văn hoá, cả trong lịch sử và trong thời đại hiện nay, đều là vấn đề luôn được sự quan tâm của các quốc gia, các dân tộc trên thế giới chứ không riêng gì ở Việt Nam Vấn đề này cũng giữ vai trò hết sức quan trọng đối với văn hoá của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Không có một nền văn hoá nào dù lớn và có ảnh hưởng sâu rộng đến đâu lại có thể liên tục phát triển trong một địa bàn khép kín, biệt lập, tách

rời sự tiếp xúc với các nền văn hoá khác

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, Việt Nam đang có sự tiếp xúc

với rất nhiều nền văn hóa trên thế giới Điều này tác động đến tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội và đặc biệt là lối sống, nhận thức, cách ứng xử của người Việt Là một công dân trẻ của Việt Nam, hàng ngày tiếp xúc với nhiều luồng văn hóa ngoại lai và phải tiếp nhận chúng như thế nào là câu hỏi mà chúng tôi luôn băn khoăn Bởi vậy, trong bối cảnh giao lưu tiếp biến văn hóa mạnh mẽ như hiện nay, chúng tôi thiết nghĩ việc nhận thức đúng đắn khi nào nên tiếp nhận, khi nào nên từ chối, khi nào tiếp nhận

có chọn lọc các yếu tố văn hóa nước ngoài là một điều cần thiết Đặc biệt, trong xu thế toàn cầu hoá, quốc tế hoá, khi mà nhân loại ngày càng xích lại gần nhau hơn thì vấn đề giao lưu tiếp biến văn hóa lại càng được quan tâm nghiên cứu và tìm hiểu nhiều hơn Những bài học về giao lưu tiếp biến văn hóa trong lịch sử sẽ là những kinh nghiệm quí báu cho Việt Nam trên con đường giao lưu, hội nhập văn hóa trong bối cảnh hiện nay

Việt Nam, trải qua mấy ngàn năm lịch sử hào hùng, cùng với vị trí địa lý thuận tiện, từ rất sớm đã có sự giao lưu tiếp biến với các nền văn hóa khác trên thế giới qua

các giai đoạn khác nhau Đó là văn hóa Ấn Độ, văn hóa Trung Hoa, văn hóa phương

Tây (chủ yếu là Pháp, Mỹ, Nga )… Riêng trong thời kì Pháp thuộc, khi diễn ra sự giao lưu tiếp biến văn hóa giữa Việt Nam và Pháp thì diện mạo văn hóa Việt đã có những sự

Trang 9

thay đổi đáng kể trên nhiều lĩnh vực: tư tưởng, ngôn ngữ, giáo dục, văn học nghệ thuật, kiến trúc, ẩm thực… và có điều kiện hội nhập sâu hơn vào thế giới

Trong số các lĩnh vực nêu trên thì “kiến trúc” cũng là một bình diện của văn hóa, mang trong mình nhiều dấu ấn của quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa Việt – Pháp Văn hoá là tổng thể các quan hệ ứng xử của con người đối với môi trường xung quanh, bao gồm: môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, trong đó có môi trường cư trú - kiến trúc Từ những vật liệu sẵn có, những tri thức khoa học, kinh nghiệm, nhu cầu thực tế, quan niệm về ý nghĩa và giá trị thẩm mỹ của các hình thức kiến trúc, mỗi nền văn hóa thường để lại hàng loạt các công trình kiến trúc có những phong cách riêng, đặc trưng cho các thời kỳ lịch sử Các di sản kiến trúc không chỉ là những sáng tạo nghệ thuật và khoa học mà còn mang trong nó dấu ấn lịch sử, dấu ấn thời đại, dấu

ấn xã hội mà từ đó nó hình thành Kiến trúc có thể được xem như là một dạng hiện vật khảo cổ nổi trên mặt đất mà dựa vào đó ta sẽ đọc được nhiều thông tin của xã hội mà

nó sinh ra Vì vậy, có thể nói kiến trúc là kết tinh của văn hoá, là bộ mặt văn hoá của một xã hội

Trong lịch sử, sự phát triển của các tôn giáo, quá trình di dân, các hoạt động thương mại, trao đổi hay nói cách khác là các hình thức của quá trình giao lưu văn hoá cũng đã góp phần đáng kể làm hình thành, phát triển nghệ thuật kiến trúc và làm cho văn hóa kiến trúc được trao đổi giữa các dân tộc, các quốc gia, các nền văn hoá

Bên cạnh các công trình kiến trúc như: dinh thự, công sở, nhà ở, công trình giao thông, thì kiến trúc tôn giáo mà cụ thể là kiến trúc nhà thờ Công giáo đã phản ánh rõ nét nhất quá trình tiếp xúc, giao lưu và tiếp biến văn hóa Việt - Pháp

Công giáo khi được du nhập vào Việt Nam thì đã hội nhập và thích ứng với văn hóa Việt Trải qua nhiều thời kì, Công giáo đã được người Việt chấp nhận và tồn tại ở Việt Nam cho đến ngày nay Cùng với các tôn giáo khác, Công giáo đã góp phần làm phong phú đời sống tinh thần, tâm linh của người dân Việt Nam và có những đóng góp đáng kể cho xã hội Xuất phát từ sự thích nghi của Công giáo và tính dung hợp của văn

Trang 10

hóa Việt cùng nhiều yếu tố khác mà trong các kiến trúc nhà thờ Công giáo được xây dựng ở Việt Nam, ta có thể thấy được sự giao hòa khéo léo giữa kiến trúc phương Tây với kiến trúc Á Đông hay kiến trúc truyền thống của dân tộc Cũng dễ hiểu, bởi có mặt

ở Việt Nam khá sớm nên người Pháp đã nghiên cứu khí hậu, môi trường, thông hiểu nắng – gió – mưa và khi xây dựng họ đã đưa ra hình thái kiến trúc tối ưu dành cho xứ nhiệt đới

Có thể kể ra một số nhà thờ tiêu biểu Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh như: Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, Nhà thờ Tân Định, Nhà thờ Chợ Quán, Nhà thờ Huyện Sỹ,

…Những công trình kiến trúc này cùng với những công trình mang đậm dấu ấn Á Đông như đền, chùa, hội quán… cho đến ngày nay vẫn hiện diện và gắn bó hữu cơ với nhau trong một đô thị “Ảnh hưởng của các phong cách kiến trúc phương Tây vào kiến trúc hiện đại nước ta tạo nên sự phong phú đa dạng của kiến trúc Việt Nam Bức tranh nhiều màu sắc của kiến trúc hiện đại Việt Nam nói lên nhiều điều về lịch sử phát triển đất nước cũng như sự giao lưu với văn hoá phương Tây và di tích của thời kì thuộc Pháp” [73]

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “ Giao lưu tiếp biến

văn hóa Việt – Pháp qua kiến trúc nhà thờ Công giáo tại Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh” để làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam Học

Trang 11

cùng là từ khảo cứu thực tế chúng tôi đưa ra một vài kiến nghị để góp phần bảo vệ những công trình kiến trúc nhà thờ Công giáo lâu đời còn tồn tại đến ngày nay tại Thành phố Hồ Chí Minh

3 Ý nghĩa khoa học; ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa khoa học

Với những vấn đề nội dung được đưa ra khảo sát, chúng tôi hi vọng đề tài

“ Giao lưu tiếp biến văn hóa Việt - Pháp qua kiến trúc nhà thờ Công giáo tại Sài Gòn –

Thành phố Hồ Chí Minh” sẽ góp phần nhỏ vào việc nghiên cứu vấn đề giao lưu tiếp

biến văn hóa, vốn đang là một trong nhiều nội dung được giới nghiên cứu khoa học quan tâm Ngoài ra đề tài còn phản ánh được việc tiếp nhận và biến đổi văn hóa Pháp

đã làm cho văn hóa Việt Nam ngày càng phát triển đa dạng, phong phú hơn nhất là trên lĩnh vực kiến trúc và kiến trúc tôn giáo

Ý nghĩa thực tiễn

Chúng tôi mong muốn kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ nêu lên được bài học kinh nghiệm lịch sử cho quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa đang diễn ra trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay tại Việt Nam Đồng thời, chúng tôi cũng hy vọng luận văn sẽ gợi ra những hướng cụ thể góp phần phục vụ cho các cơ quan chức năng và là tài liệu tham khảo về văn hóa kiến trúc, về giao lưu tiếp biến văn hóa…

Bên cạnh đó, qua việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi cũng hy vọng góp phần lưu giữ lại những thông tin và hình ảnh về giá trị lịch sử và kiến trúc của những ngôi nhà thờ đã được xây dựng từ rất lâu năm còn tồn tại đến ngày nay Bởi lẽ, trước sự phát triển mạnh mẽ (theo hướng hiện đại hóa) của Thành phố Hồ Chí Minh và trước sự ảnh hưởng tác động của nhiều yếu tố trong thời hiện đạithì các công trình kiến trúc lâu đời đang dần bị mất đi không gian riêng của mình Hơn nữa, kiến trúc không thể tồn tại vĩnh viễn mà sẽ thay đổi hoặc mất đi theo thời gian Cho nên, việc lưu giữ lại tư liệu về những công trình kiến trúc cổ, trong đó có kiến trúc nhà thờ Công giáo là một điều cần thiết

Trang 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu được trình bày ở trên, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là kiến trúc nhà thờ Công giáo được xây dựng ở Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn cuối thế kỉ XIX cho đến giữa thế kỉ XX

Tuy nhiên, khả năng khảo sát có hạn cho nên chúng tôi chỉ tập trung giới hạn khảo sát trong phạm vi một số nhà thờ Công giáo thỏa mãn các tiêu chí sau đây:

- Được xây dựng từ năm 1858 đến năm 1954

- Còn tồn tại đến thời điểm hiện tại

- Không bị thay đổi nhiều về hình thức

- Có giá trị về lịch sử, văn hóa và kiến trúc

- Kiến trúc phản ánh sự giao lưu văn hóa Việt – Pháp

Dựa theo những tiêu chí ở trên, chúng tôi sẽ lựa chọn khảo sát những nhà thờ Công giáo sau đây:

- Tu viện Dòng Thánh Phaolô thành Chartres, Sài Gòn

- Nhà thờ Chính tòa Sài Gòn (tên chính thức: Vương cung thánh đường Chính tòa Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội)

Trang 13

giả Nguyễn Hồng Dương cũng cho rằng nhà thờ chính tòa, nhà thờ giáo xứ, nhà nguyện hay đền thánh thì đều là các loại hình của nhà thờ Công giáo nói chung Giữa những loại hình này chỉ có sự khác nhau tương đối về hình thức và tên gọi; về chức năng thì đều là nơi diễn ra các nghi lễ Rôma và là nơi để cộng đồng giáo dân đến cầu nguyện [14] Mặc dù là một nhà nguyện dành cho một dòng tên nhưng kiến trúc và không gian của thánh đường rất rộng lớn, tương xứng với thánh đường của một số nhà thờ xứ trong khu vực Thêm vào đó, hàng tuần vào ngày chủ nhật, nơi đây cũng có giờ thánh lễ dành cho cộng đồng giáo dân Người ta cũng quen gọi nhà nguyện này là nhà thờ Saint Paul chứ không gọi là nhà nguyện Saint Paul Mặc dù có sự khác nhau trong hình thức nhưng xét đến giá trị về lịch sử, văn hóa và kiến trúc của ngôi nhà nguyện bên trong Tu viện Dòng Thánh Phaolô thành Chartres Sài Gòn cùng những lí do trên, chúng tôi cho rằng việc chọn ngôi nhà nguyện này làm một trong những đối tượng khảo sát là có thể chấp nhận được

Phạm vi nghiên cứu

Với lượng thông tin, tư liệu về đề tài còn tản mạn; đồng thời, với vốn kiến thức

và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học của bản thân còn hạn chế, luận văn sẽ được giới hạn cụ thể như sau:

 Hướng tiếp cận vấn đề:

Chúng tôi nghiên cứu đề tài“ Giao lưu tiếp biến văn hóa Việt - Pháp qua kiến

trúc nhà thờ Công giáo tại Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh” với hướng tiếp cận

chính là giao lưu tiếp biến văn hóa trên bình diện kiến trúc, dựa trên cơ sở các kiến trúc nhà thờ Công giáo để làm rõ những đặc trưng của quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa Việt - Pháp giai đoạn cuối thế kỉ XIX – giữa thế kỉ XX Giao lưu tiếp biến văn hóa Việt – Pháp ở đây cần hiểu là giữa Việt Nam và Pháp

 Không gian và thời gian nghiên cứu:

Luận văn giới hạn không gian nghiên cứu ở Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh Bởi trong thời kì Pháp thuộc, Hà Nội ở phía Bắc và Sài Gòn ở phía Nam được xem là

Trang 14

hai đô thị lớn và quan trọng nhất của Việt Nam, chịu nhiều ảnh hưởng từ việc giao lưu văn hóa Đông - Tây Trong đó, Sài Gòn được xem là thủ đô của Liên bang Đông Dương trong giai đoạn 1887 – 1901; được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” hay

“Paris Phương Đông” Người Pháp đã góp phần làm thay đổi bộ mặt và dáng dấp của Sài Gòn từ một đô thị cũ, bằng cách xây dựng và qui hoạch, thành một đô thị mới mang dấu ấn của phương Tây với những đường nét, phong cách kiến trúc châu Âu Tuy nhiên, kiến trúc Sài Gòn vẫn mang một nét riêng, rất đặc trưng bởi có sự tiếp biến văn hóa giữa cũ và mới, sự giao thoa văn hóa giữa Đông và Tây, sự va đập và hòa hợp của nhiều dòng chảy văn hóa

Thời gian nghiên cứu của đề tài kéo dài từ khi thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam, vào khoảng cuối thế kỉ XIX cho đến hiện nay Trong đó, chúng tôi giới hạn thời gian xây dựng của các nhà thờ nằm trong giai đoạn lịch sử 1858 – 1954 Đây là giai đoạn mà văn hóa Việt Nam diễn ra quá trình tiếp xúc, tiếp biến và hội nhập văn hóa qua nhiều hình thái ứng xử khác nhau từ “kháng cự - đối đầu” đến “chủ động tiếp nhận” các giá trị văn hóa Pháp; đánh dấu quá trình hiện đại hóa mạnh mẽ ở Việt Nam

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Để thực hiện đề tài này, tác giả luận văn đã kế thừa những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước Những tài liệu tham khảo có thể trực tiếp liên quan đến đề tài hoặc cũng có thể ít liên quan đến đề tài nhưng có tính định hướng

Mang tính định hướng về lý luận và phương pháp, bài viết “Tiếp cận lý thuyết

và một số phương pháp cần được giảng dạy trong ngành Việt Nam học” của Phan

Thị Yến Tuyết đã cung cấp cho người viết những lý thuyết cơ bản và những phương

pháp nghiên cứu khoa học quan trọng Chẳng hạn như: lý thuyết về giao lưu tiếp biến văn hóa, phương pháp liên ngành, phương pháp nghiên cứu định tính là những lý thuyết và phương pháp được người viết trực tiếp sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài

Tác giả luận văn đã tiếp cận được khá nhiều nguồn tư liệu trong đó có đề cập đến những vấn đề xung quanh khái niệm văn hóa và văn hóa Việt Nam, mà ở đây chỉ

Trang 15

nêu ra một số tiêu biểu: “Bản sắc văn hóa Việt Nam” của Phan Ngọc (NXB Văn hóa - thông tin, 1998) đưa ra một số thuật ngữ liên quan đến vấn đề văn hóa và tiếp xúc văn

hóa như: kiểu lựa chọn, độ khúc xạ, vượt gộp, … Toàn bộ công trình là những luận giải của chính tác giả Phan Ngọc dựa trên việc khảo sát văn hóa Việt Nam ở nhiều mối

quan hệ và nhiều phương diện Tác phẩm “Sự va chạm của các nền văn minh” của

Samuel Hungtinton (NXB Lao Động, Hà Nội, 2003) với nội dung chính là các vấn đề

văn hóa và bản sắc văn hóa, chẳng hạn như: bản chất các nền văn minh, quan hệ giữa các nền văn minh và phản ứng của các nền văn minh khác đối với nền văn minh phương Tây … Với công trình này, người đọc đã có được những cái nhìn tương đối

khái quát về bối cảnh văn hóa thế giới Tác giả Hà Văn Tấn với “Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam” (NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005) đã cho thấy được cái nhìn am

tường của một người nghiên cứu về văn hóa thông qua các bài viết rất sâu sắc về từng

khía cạnh, từng vấn đề của văn hóa Việt Nam Trần Ngọc Thêm thì có tác phẩm “Tìm

về bản sắc văn hóa Việt Nam” (NXB TP.HCM, 2006), đưa ra lý thuyết về loại hình

văn hóa để dùng trong nghiên cứu văn hóa, từ đó xác định có hai loại hình văn hóa: văn hóa gốc nông nghiệp và văn hóa gốc du mục Trần Ngọc Thêm đã làm rõ được những

đặc trưng của văn hóa Việt Nam dựa vào gốc văn hóa nông nghiệp Cuốn “Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” của Nguyễn Chí Bền (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010) thì đưa ra những quan điểm và nội dung chính của giao lưu

và hội nhập văn hóa, phác họa bức tranh toàn cảnh về quá trình giao lưu hội nhập của văn hóa Việt Nam theo dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện tại, đề cập đến hiện trạng và những tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đối với các thành tố của nền văn hóa dân tộc Từ đó, bước đầu đề xuất những giải pháp quan trọng nhằm phát triển văn hóa Việt Nam trong bối cảnh mới

Ngoài ra, còn có khá nhiều bài nghiên cứu thể hiện những quan điểm khác nhau

về khái niệm văn hóa như: Trần Ngọc Khánh với bài viết “Mấy cơ sở tiếp cận lý thuyết nghiên cứu văn hóa”, “Nhận diện văn hóa” của Trần Ngọc Thêm, “Văn hóa,

Trang 16

một cách tiếp cận” của Phạm Ngọc Trung … Hay là những công trình như: “Tiếp xúc văn hóa Việt Nam và Pháp” của Phan Ngọc với những luận điểm rất sắc bén về cách ứng xử của văn hóa Việt Nam khi tiếp xúc với văn hóa Pháp; “Giao lưu văn hóa trong thời kì hội nhập” của tác giả Hồ Sĩ Vịnh, nêu lên những nội dung của giao lưu văn hóa; Nguyễn Ngọc Hòa với bài viết “Những thách thức trong giao lưu văn hóa và hội nhập hiện nay” đề cập đến việc cho và nhận trong giao lưu văn hóa và các phương thức giao lưu văn hóa; tác giả Bùi Thế Cường trong bài “Văn hóa và hiện đại hóa – Nhìn trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay” thì nhìn văn hóa dưới cách nhìn của

nhân học và xã hội học, từ đó có những phân tích về các vấn đề văn hóa cơ bản ở Việt

Nam hiện nay; “Sự tiếp biến văn hóa Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỉ XX” của Nguyễn Thị Đảm nêu lên những biến đổi cơ bản trong văn hóa Việt Nam khi

có sự giao lưu tiếp biến văn hóa với Pháp

Nghiên cứu về các vấn đề cơ bản của Công giáo cũng như Công Giáo tại Việt Nam từ trước cho đến nay có khá nhiều công trình đã được công bố Trước hết phải kể

đến rất nhiều công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hồng Dương như: “Công giáo thế giới – tri thức cơ bản” ( NXB Từ điển Bách khoa, 2012), “Công giáo Việt Nam - tri thức cơ bản” ( NXB Từ điển Bách khoa , 2012) có sự tham gia của tác giả Ngô Quốc Đông; bài viết: “Bước đường hội nhập văn hóa dân tộc của Công giáo Việt Nam” đăng trên tạp chí Nghiên cứu tôn giáo (số 1,2 -1999), nêu lên một số vấn đề biểu

hiện của sự hội nhập văn hóa Bên cạnh đó còn có khá nhiều những công trình nghiên

cứu khoa học, luận án, luận văn, bài viết…của nhiều tác giả khác Tiêu biểu như:

quyển “Một số vấn đề lịch sử Thiên Chúa giáo ở Việt Nam” của tác giả Đỗ Quang

Hưng (Tủ sách Đại học Tổng hợp Hà Nội, năm 1991); Nguyễn Văn Kiệm với tác phẩm

“Sự du nhập của Thiên Chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII-XIX” (2001); đề tài

“Công giáo và những biến đổi của Công giáo hiện đại” của Lê Thị Thanh Hương

(Luận án tiến sĩ Triết học, 2008) Một số bài viết đăng trên các báo và tạp chí như:

“Cộng đồng Công giáo và nhu cầu biến đổi thích nghi” của Nguyễn Nghị (tạp chí

Trang 17

Nghiên cứu Tôn giáo số 3-2001) đề cập đến giáo lí, tổ chức, lễ nghi và vấn đề biến đổi,

thích nghi của cộng đồng Công giáo; tác giả Lê Thị Thắm trong bài viết “Trở lại chính sách cấm đạo của nhà Nguyễn qua bộ Đại Nam thực lục” (tạp chí Nghiên cứu

tôn giáo, số 2-2002) đã đưa ra những nguyên nhân và nội dung của chính sách cấm đạo dựa vào những sự kiện và những văn bản hành chính của nhà nước về tôn giáo được

tổng hợp từ bộ Đại Nam thực lục; “Những gương mặt Công giáo Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nước thời cận đại” của Chương Thâu kể ra

một số gương mặt tiêu biểu và các phong trào yêu nước chống Pháp đáng chú ý của Công giáo Việt Nam thời cận đại

Những tài liệu viết về kiến trúc Việt Nam và thế giới tiêu biểu có: “Kiến trúc cổ Việt Nam” của Vũ Tam Lang (NXB Xây dựng, 1991); “Tìm hiểu lịch sử kiến trúc Việt Nam” của Ngô Huy Quỳnh (NXB Xây dựng, 2000) nêu lên đặc điểm chung của

kiến trúc truyền thống Việt Nam và sự phát triển của kiến trúc Việt Nam qua các thời

kì lịch sử; “Lược khảo nghệ thuật kiến trúc thế giới” của Đặng Thái Hoàng (NXB

Văn hóa, 1978) trình bày về quá trình phát triển của kiến trúc thế giới từ xã hội nguyên

thủy cho đến hiện đại và có điểm qua bước phát triển của kiến trúc Việt Nam; “Giáo trình lịch sử kiến trúc thế giới” tập 1,2 do Đặng Thái Hoàng và Nguyễn Văn Đỉnh

chủ biên (NXB Xây Dựng, 2006)

Những tài liệu đề cập đến lịch sử, đời sống, văn hóa và xã hội của Thành phố

Hồ Chí Minh từ buổi đầu thành lập cho đến hiện nay mà tác giả luận văn tiếp cận được

chủ yếu là thông qua địa chí của thành phố Năm 1987, cuốn “Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh” do tác giả Trần Văn Giàu chủ biên đã được nhà xuất bản Thành

phố Hồ Chí Minh ban hành Năm 1998, nhân kỉ niệm 300 năm, nhà xuất bản Thành

phố Hồ Chí Minh lại ban hành “Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh” gồm

nhiều tập, do Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng chủ biên Đây là những công trình

công phu, có sự tham gia của rất nhiều nhà nghiên cứu khoa học Bởi vì viết về Thành

phố Hồ Chí Minh ở nhiều lĩnh vực như: lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, tư tưởng và tín

Trang 18

ngưỡng, kinh tế,… cho nên đây là một kho tư liệu quý giá cho độc giả khi muốn tìm hiểu về Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, còn nhiều công trình liên quan

như: “Góp phần tìm hiểu lịch sử - văn hóa 300 năm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh” (NXB Trẻ, 1998), “Sài Gòn 1698 – 1998 Kiến trúc/Qui hoạch” của Lê Quang Ninh – Stéphane Dovert (1998), Nguyễn Phan Quang với “Góp thêm tư liệu về Sài Gòn – Gia Định 1859 – 1945” (1998) Một số bài viết tiêu biểu như: “Nhà ở Sài Gòn xưa” của Phan Thị Yến Tuyết (1998), “Kiến trúc Gia Định – Sài Gòn nửa đầu thế kỉ XIX” của Hoài Anh (1998)…

Kể trên là những tài liệu mà tác giả luận văn kế thừa với tư cách định hướng, ít

có liên quan đến đề tài Sau đây là một số công trình có liên quan trực tiếp đến vấn đề

nghiên cứu Trước tiên phải kể đến đề tài “Giao lưu văn hóa Việt- Pháp thông qua Công giáo tại Sài Gòn – Gia Định” của Đỗ Trung Thành (Luận văn thạc sĩ Văn hóa

học, 2006) Đây là một công trình có nội dung rất gần với đề tài mà tác giả luận văn nghiên cứu Bằng việc khảo sát các nhân tố văn hóa của Công giáo, tác giả Đỗ Trung Thành đã làm rõ được sự giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Pháp thông qua văn hóa

Công giáo tại Sài Gòn – Gia Định Quyển “Nhà thờ Công giáo Việt Nam” của Nguyễn

Hồng Dương (NXB Khoa học xã hôi, 2003) đã giới thiệu đại cương về nhà thờ Công giáo ở Việt Nam như: quá trình hình thành và phát triển, cấu trúc, vai trò, cách trang trí… Ngoài ra, cuốn sách còn giới thiệu một số nhà thờ tiêu biểu thuộc các loại hình

khác nhau Luận án “Hiện tượng cộng sinh văn hóa giữa tính truyền thống và tính hiện đại trong kiến trúc Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX” của Lê

Thanh Sơn (Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM, 2000) đã nêu khái quát về hiện tượng

cộng sinh văn hóa nói chung và cộng sinh văn hóa trong kiến trúc Trong đó, nội dung chính là nêu lên những đặc điểm của cộng sinh văn hóa trong kiến trúc Việt Nam qua các giai đoạn khác nhau cuối thế kỷ XIX – đầu thể kỷ XX (bao gồm cả kiến trúc tôn giáo) Còn có một số luận văn thạc sĩ Kiến trúc liên quan nhưng đa phần tập trung phân

tích về các yếu tố kĩ thuật xây dựng Chẳng hạn như: đề tài “Kiến trúc nhà thờ Công

Trang 19

giáo tại TP.HCM” của Nguyễn Xuân Lộc (2012), đề tài “Sự hội nhập văn hóa bản địa trong kiến trúc nhà thờ Công giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn

Đức Hiếu (2008)

Các bài viết tiêu biểu về kiến trúc nhà thờ Công giáo cần phải kể đến như: “Nhà thờ Công giáo ở Việt Nam - Một số loại hình kiến trúc tiêu biểu” của Nguyễn Hồng Dương đăng trên tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 1-2003; bài viết “Kiến trúc nhà thờ Công giáo ở Việt Nam” đăng trên tạp chí kiến trúc của Đoàn Khắc Tình; Vũ Anh Tuấn với bài “Kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo” (tạp chí Kiến trúc Việt Nam) trình bày

về những phong cách kiến trúc nhà thờ trên thế giới; “Sự du nhập và biến đổi phong cách châu Âu trong các nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam” của Nguyễn Hoàng

Phương nêu lên những phong cách kiến trúc nhà thờ đặc trưng ở Việt Nam cùng những

ví dụ điển hình

Trong quá trình đi khảo sát thực địa tại các nhà thờ, chúng tôi đã được cung cấp một số thông tin và tài liệu liên quan từ phía nhà thờ Thị Nghè, nhà thờ Tân Định, nhà thờ Huyện Sỹ, tu viện thánh Phaolô Thành Chartres, nhà thờ Antôn Cầu Ông Lãnh

Trong số đó có hai công trình rất công phu: Kỷ yếu giáo xứ Thị Nghè 2005 và Giáo xứ Tân Định - 150 năm hình thành và phát triển, NXB Tôn giáo, 2013 Hai ấn phẩm này đã cung cấp cho chúng tôi rất nhiều tư liệu quý báu và xác thực về lịch sử hình

thành giáo xứ cũng như lịch sử kiến trúc của hai nhà thờ Thị Nghè và Tân Định

Trên đây là một số tác phẩm tiêu biểu liên quan đến đề tài nghiên cứu Những công trình này đã cung cấp một số kiến thức cơ bản ở nhiều phương diện khác nhau, giúp cho người viết phần nào có cái nhìn tổng quan về các vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu Tuy nhiên, một công trình nghiên cứu chuyên sâu về sự giao lưu tiếp biến văn hóa Việt - Pháp thông qua các kiến trúc nhà thờ tại Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn cuối thế kỉ XIX – giữa thế kỉ XX vẫn chưa được quan tâm một cách có hệ thống, ngoại trừ những bài viết lẻ tẻ hay những ý kiến khái quát chung

Trang 20

Chúng tôi rất trân trọng công lao và kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước và coi

đó là nguồn tư liệu quý giá giúp cho việc thực hiện luận văn của mình

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu của luận văn, chúng tôi đã sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:

 Phương pháp liên ngành Đây là phương pháp nghiên cứu liên khoa học, là

liên kết các môn học, các ngành học với nhau Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm mục đích tổng hợp tri thức và thiết lập các mối quan hệ qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau giữa ba ngành học: Việt Nam học, Văn hóa học và Kiến trúc, trong đó Việt Nam học là ngành chính

 Phương pháp khảo sát thực địa Chúng tôi sử dụng phương pháp này để

phục vụ cho việc tìm hiểu nghiên cứu thực tế tại các nhà thờ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Cụ thể, chúng tôi đã đến và khảo sát rất kĩ các chi tiết của từng ngôi nhà thờ, chụp hình, quay phim…nhằm đảm bảo tính xác thực cho luận văn

 Phương pháp phỏng vấn sâu (dân tộc học) Theo phương pháp này sẽ có

nhiều hình thức phỏng vấn khác nhau Tuy nhiên, hình thức phỏng vấn được chúng tôi

sử dụng đa phần là chuyện trò, trao đổi thông tin hoặc phỏng vấn không cơ cấu Với cách thức phỏng vấn này, người được phỏng vấn sẽ nói chuyện thoải mái hơn, không

bị cảm giác “trách nhiệm” chi phối và dễ dàng hợp tác với người phỏng vấn Phương pháp phỏng vấn sâu giúp chúng tôi thu thập được một số thông tin liên quan rất bổ ích

7 Cấu trúc đề tài luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục; luận văn bao gồm 3 chương với nội dung như sau:

Chương 1: Trình bày những vấn đề lý luận về văn hóa, kiến trúc, giao lưu tiếp biến văn hóa và những vấn đề thực tiễn về bối cảnh lịch sử, đời sống văn hóa – xã hội của Việt Nam và Sài Gòn thời Pháp thuộc

Trang 21

Chương 2: Trình bày về đặc điểm nhà thờ Công giáo Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX để làm cơ sở nhận diện đặc điểm của nhà thờ Công giáo ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Trình bày về đặc điểm của nhà thờ Công giáo ở Sài Gòn – Thành

phố Hồ Chí Minh, khảo sát các kiến trúc nhà thờ tiêu biểu và các biểu hiện của giao

lưu tiếp biến văn hóa Việt – Pháp thông qua các nhà thờ này

Trang 22

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Các khái niệm và lý thuyết cơ sở

1.1.1 Văn hóa và văn hóa kiến trúc

1.1.1.1 Văn hóa

“Văn hóa” có nhiều cách hiểu và nhiều cách định nghĩa Tuy nhiên khi được

nhìn nhận dưới góc độ là một khái niệm khoa học thì nội hàm của văn hóa rất rộng lớn,

không chỉ bó hẹp trong những giá trị tốt đẹp Thuật ngữ “văn hóa” đã thâm nhập vào

đời sống xã hội một cách sâu sắc, làm thay đổi nhận thức của con người về nó Các nhà nghiên cứu văn hóa trên thế giới đã và đang tiếp tục đưa ra nhiều định nghĩa về văn hóa, tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Cho đến nay, vẫn chưa có sự thống nhất nào cho việc đưa ra một định nghĩa về văn hóa

Năm 1871, E.B Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa

rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư

cách một thành viên của xã hội” [21, tr.13] Năm 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát

minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử

dụng – Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [49, tr.43] Federico

Mayor, tổng giám đốc UNESCO thì cho rằng: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm

cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” [89, tr.21] Các cách định

nghĩa nêu trên thuộc kiểu định nghĩa miêu tả, liệt kê các thành tố của văn hóa, cho rằng văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra

Trang 23

Trần Ngọc Thêm thì nhìn văn hóa như một hệ giá trị khi cho rằng: “Văn hóa là

một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường

và có mặt ở tất cả các lĩnh vực của đời sống như: phong tục tập quán, lễ hội, văn học nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết, ẩm thực, trang phục… Sở dĩ chúng tôi dựa vào khái niệm văn hóa bằng cách liệt kê các thành tố bên trong nó là vì đề tài này nghiên cứu về bình diện văn hóa kiến trúc Vậy, cách khái niệm về văn hóa đã xác định ở trên có thể

lý giải được kiến trúc (đặc điểm cư trú) là một thành phần của văn hóa, được hình thành trong quá trình con người ứng xử với môi trường tự nhiên (thời tiết, khí hậu)

1.1.1.2 Kiến trúc và văn hóa kiến trúc

Kiến trúc

Ban đầu, con người chỉ biết trú ngụ trong các hang động để tránh mưa tránh nắng Về sau, đứng trước nhu cầu tự bảo vệ mình khỏi các tác động thiên nhiên thời tiết, con người đã biết tạo nên những những túp lều rồi dần dần biết làm nhà cửa để đảm bảo cuộc sống Đó là nguồn gốc và cũng chính là những dạng thức đầu tiên của kiến trúc Càng về sau, khi nhu cầu về công năng sử dụng của con người đối với các công trình xây dựng tăng lên thì kiến trúc ngày càng phát triển

Có ý kiến cho rằng “kiến trúc có thể được xem là một nghệ thuật tổ chức – nó

tạo ra một thực thể thống nhất từ các yếu tố đối lập, đa thành phần, đa nguồn gốc, đáp ứng những nhu cầu khác nhau của nhiều đối tượng sử dụng” [29] Cũng có cách định

nghĩa “kiến trúc là nghệ thuật tổ chức không gian” Tóm lại, kiến trúc là nghệ thuật và

Trang 24

khoa học thiết kế những công trình xây dựng bền vững, đáp ứng được những công năng cần thiết, và mang trong mình những ý nghĩa tinh thần nhất định Kiến trúc có chức năng thỏa mãn những nhu yêu cầu sinh hoạt vật chất và văn hóa tinh thần của con người cũng như đáp ứng những yêu cầu kinh tế, xã hội, chính trị

Rõ ràng, kiến trúc là để giải quyết nhu cầu về việc ở, sinh hoạt của con người Chính vì thế nên kiến trúc chịu sự chi phối từ nhận thức con người Theo đó nó phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu của nơi mà con người sinh sống cũng như phong tục tập quán, lề lối và quan niệm sống của chính con người Các yêu cầu này được giải quyết khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể, nhưng luôn có mặt trong mọi giai đoạn Đó là mặt văn hóa của kiến trúc

Văn hóa kiến trúc

Văn hóa kiến trúc là một bình diện của văn hóa Nó nghiên cứu kiến trúc dưới góc độ văn hóa học Văn hóa và kiến trúc có mối quan hệ biện chứng với nhau Cho nên, văn hóa kiến trúc vừa có nhiệm vụ tìm hiểu những giá trị văn hóa ẩn chứa trong kiến trúc,vừa cho thấy được sự ảnh hưởng của văn hóa đến sự hình thành kiến trúc

Có thể nói, văn hóa kiến trúc là một trong những bộ phận khá quan trọng của văn hóa bởi nó góp phần thể hiện diện mạo, bộ mặt của các nền văn hóa khác nhau Các đặc điểm về chế độ chính trị, hoàn cảnh xã hội, điều kiện tự nhiên, khí hậu, thời tiết, đặc trưng văn hóa ở từng vùng miền, từng khu vực khác nhau sẽ sản sinh ra những nền văn hóa kiến trúc khác nhau Nhà kiến trúc lừng danh Marcus Vitruvius

Pollio, ở thời La Mã, trong cuốn De architectura 1 (Mười cuốn sách về kiến trúc), đã viết rằng: “…Rõ ràng là phong cách của những ngôi nhà phải có sự khác nhau giữa Ai Cập và Tây Ban Nha, giữa Hy Lạp và La Mã; giữa các nước và các vùng phải có sự phân biệt bằng những đặc điểm cơ bản Vì rằng vùng đất này thì nằm ngay trên đường

1

“De architectura” được coi là tác phẩm viết về lý thuyết kiến trúc cổ nhất Trong cuốn sách này, tác giả đã đưa

ra ba quan điểm là Firmitas-Ultilitas-Venustas (Bền vững-Thích dụng-Đẹp), còn được gọi là “tam giác

Vitruvius”, có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với sự phát triển của lịch sử kiến trúc Nguồn:

http://vi.wikipedia.org/wiki/Vitruvius

Trang 25

chuyển động của mặt trời, vùng kia thì nằm xa và vùng khác lại ở quãng trung độ” [46, tr.7]

1.1.2 Lý thuyết về giao lưu tiếp biến văn hóa

1.1.2.1 Giao lưu tiếp biến văn hóa (acculturation )

Khi nhìn vào lịch sử vận động và phát triển của các nền văn hóa trên thế giới, ta thấy không thể thiếu vắng quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa Có thể nói, giao lưu tiếp biến văn hóa là một hiện tượng phổ biến và mang tính qui luật Một nền văn hóa sẽ ngày càng tàn lụi và chết đi nếu không có sự tiếp xúc, giao tiếp với các yếu tố ngoại sinh Trong tự nhiên cũng như trong xã hội, không có hiện tượng nào thuần túy tinh khiết, không pha trộn Văn hóa càng như thế Phan Ngọc đã nhận định: “Không có văn hóa tự lực cánh sinh Không có văn hóa tự túc” [59] Thật vậy, mỗi nền văn hóa trong quá trình phát triển phải mở cửa, giao lưu với thế giới bên ngoài để có thể vừa học hỏi được cái hay cái tốt của nhân loại vừa quảng bá được những sản phẩm văn hóa truyền thống của mình Giao lưu tiếp biến văn hóa là điều kiện để mỗi nền văn hóa có thể phát triển Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa

và nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam có tinh thần thuần túy Việt Nam, để hợp với tinh thần dân chủ” [82] Đặc biệt, trong xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, văn hóa truyền thống càng không nên bảo thủ với quan niệm đóng cửa hay co cụm lại để bảo vệ bản sắc dân tộc mà cần phải thích ứng với mọi sự thay đổi, sẵn sàng cho những cuộc tiếp xúc, những mối quan hệ mới

“Giao lưu tiếp biến văn hóa là khái niệm do các nhà dân tộc học Pháp và nhân học phương Tây đưa ra vào cuối thế kỉ XIX để chỉ sự tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa hai nền văn hóa khác nhau và hậu quả của cuộc tiếp xúc này là sự thay đổi hoặc biến đổi của một số loại hình văn hóa của một hoặc cả hai nền văn hóa đó Giao lưu tiếp biến văn hóa là quá trình trong đó một nền văn hóa thích nghi, ảnh hưởng một nền văn hóa khác bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng của nền văn hóa ấy” [96]

Trang 26

Quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa luôn đặt ra những cơ hội và thách thức cho chủ thể của nền văn hóa Cơ hội chính là vừa giúp cho mỗi nền văn hóa tiếp thu được các giá trị mới, tạo điều kiện phát triển, vừa giúp bản thân nền văn hóa đó được nâng lên tầm cao mới khi giới thiệu được những nét đặc sắc của riêng mình ra thế giới Thách thức càng khó khăn hơn khi đặt mỗi dân tộc vào mối quan hệ giữa hai yếu tố truyền thống và ngoại lai Hai yếu tố này đều có khả năng chi phối yếu tố còn lại và biến đổi khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử

Giao lưu tiếp biến văn hóa thể hiện qua hai phương thức Thứ nhất là phương thức hòa bình thông qua buôn bán, truyền bá tôn giáo, tư tưởng văn hóa nghệ thuật…Thứ hai là phương thức bạo lực thông qua chiến tranh, xâm lược [58] Phương thức thứ hai là cách tiếp hợp mang tính cưỡng bức, áp đặt giao lưu văn hóa trong tình thế bắt buộc Trong trường hợp này, nếu những dân tộc bị áp đặt không đủ nội lực để chống lại thì sẽ bị nền văn hóa kia tiêu diệt, dần đánh mất hẳn diện mạo và bản sắc văn hóa dân tộc Ngược lại, nếu có một bản lĩnh văn hóa mạnh mẽ sẽ không dễ dàng bị đồng hóa mà còn tiếp nhận được những giá trị mới của văn hóa nhân loại Việt Nam là một điển hình về bản lĩnh văn hóa như vậy

1.1.2.2 Việt Nam với quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa

Trong lịch sử phát triển của mình, văn hóa Việt Nam cũng không nằm ngoài qui luật chung của thế giới Đất nước Việt Nam với điều kiện địa lý, xã hội và lịch sử đặc trưng đã hình thành nên một nền văn hóa mà trong quá trình phát triển luôn thấy diễn

ra những sự tiếp xúc, giao lưu và biến đổi Từ rất sớm, văn hóa Việt đã giao lưu với các nước trong khu vực, Ấn Độ, Trung Hoa…; sau đó là với các nước phương Tây (Pháp,

Mĩ, Liên Xô…)

Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm của khu vực Đông Nam Á, tiếp giáp với Lào, Campuchia, Trung Quốc; là điểm tiếp giao giữa Ấn Độ và Trung Hoa Hơn nữa, bằng đường thủy, Việt Nam nằm ở vị trí thuận lợi để các nước phương Tây tìm đến thực hiện các cuộc trao đổi, buôn bán hàng hóa… Với đặc điểm như vậy, văn hóa Việt Nam

Trang 27

cho dù chủ động hay bị động thì đều hoàn toàn thuận lợi khi giao lưu, tiếp xúc với văn hóa thế giới

Một phần quan trọng của lịch sử Việt Nam chính là lịch sử đấu tranh và bảo vệ

tổ quốc Trên bản đồ thế giới, so với các quốc gia khác, Việt Nam chỉ là một đất nước hình chữ S nhỏ bé Thế nhưng, đất nước này đã phải hứng chịu liên tiếp nhiều cuộc chiến tranh từ ý đồ xâm lược của ngoại bang Hơn một nghìn năm Bắc thuộc, gần một trăm năm Pháp thuộc, hơn hai mươi năm đánh Mĩ đã để lại cho con người và đất nước Việt Nam biết bao đau thương và mất mát Tuy nhiên, đó cũng là bối cảnh đặc biệt để văn hóa Việt Nam được “cọ xát” và “đọ sức” với những nền văn hóa lớn trên thế giới lúc bấy giờ Sự tiếp xúc văn hóa đi kèm với súng đạn và giết chóc luôn luôn là một sự giao lưu mang tính cưỡng bức Trong hoàn cảnh đó, văn hóa Việt đã chứng tỏ được sức mạnh của mình với thế giới khi không bị Trung Quốc và Pháp đồng hóa mà ngược lại còn tiếp nhận, chọn lọc những cái hay cái đẹp của người để làm giàu hơn văn hóa truyền thống của mình

Các cuộc giao lưu tiếp biến văn hóa trên thế giới chủ yếu diễn ra theo các con đường: truyền đạo, giao thương, trao đổi văn hóa nghệ thuật, chiến tranh xâm lược… Ở Việt Nam cũng hội đủ các yếu tố này Văn hóa Ấn Độ đã theo chân “những vị hòa thượng chân đất từ Ấn Độ” [59, tr.25] đến với Việt Nam một cách dễ dàng do họ không đến cùng chiến tranh và một phần còn vì Phật giáo (Ấn Độ) gần gũi với tín ngưỡng bản địa Việt Nam Kết quả là Phật giáo tiểu thừa Nam Tông đã được người dân Việt Nam tự nguyện chấp nhận Sau này, văn hóa Việt cũng có sự tiếp xúc mang tính hữu nghị với văn hóa Liên Xô (Nga) “Có thể nói gương mặt Puskin, Tolstoi, Maiakovski, Fadeev… đến với tâm hồn Việt Nam không bị phản quang bởi mối quan

hệ xâm lược – bị xâm lược, mối quan hệ thống trị - bị thống trị” [47, tr.43] Qua giao lưu, tiếp xúc với văn hóa Nga, Việt Nam đã được biết đến những hệ thống triết học, học thuyết xã hội hiện đại, ngôn ngữ, các tác phẩm văn học nổi tiếng và các giá trị văn hóa nghệ thuật khác

Trang 28

Hai nền văn hóa có sức ảnh hưởng lớn nhất đối với con người, đất nước, xã hội Việt Nam chính là văn hóa Trung Hoa và văn hóa Pháp Bởi vì hai nền văn hóa này vào Việt Nam cùng với âm mưu về chính trị, cùng với đao kiếm và súng đạn cho nên lẽ

dĩ nhiên ban đầu đã gặp phải sự đối kháng kịch liệt của đại đa số nhân dân Về sau, người Việt mới bắt đấu tiếp nhận một cách dè dặt, có chọn lọc để rồi Việt Nam hóa những yếu tố văn hóa bên ngoài

Sự giao lưu tiếp biến với văn hóa Trung Hoa diễn ra trên nhiều phương diện nhưng tiêu biểu nhất là Nho giáo, Đạo giáo của Lão – Trang, Phật giáo Đại thừa Bắc tông Ngoài ra, việc giao lưu với Trung Hoa còn dẫn đến việc dùng chữ Hán làm văn tự

và bước đầu “manh nha” hình thành chữ Nôm (văn tự chính thức của người Việt thời phong kiến)

Sự bành trướng của phương Tây đã lan rộng cả thế giới và Việt Nam cũng không ngoại lệ Cùng với những cuộc chiến tranh là quá trình hiện đại hóa và phương

Tây hóa Samuel Hungtington, trong cuốn “Sự va chạm của các nền văn minh”, cho

rằng, đối với ảnh hưởng của phương Tây (thường đi kèm cả hiện đại hóa và phương Tây hóa) thì mỗi dân tộc sẽ có một cách phản ứng khác nhau nhưng tựu trung lại thành

ba kiểu Thứ nhất là khuynh hướng phủ định, khước từ cả hiện đại hóa và phương Tây hóa, chối bỏ và ngăn cản mọi ảnh hưởng từ phương Tây Thứ hai là khuynh hướng Kemal, nghênh đón cả hiện đại hóa và phương Tây hóa, sẵn sàng từ bỏ một nền văn hóa bản địa đã tồn tại rất lâu đời để thay vào đó bằng một nền văn hóa hoàn toàn mới Thứ ba là khuynh hướng cải lương, cố gắng kết hợp hiện đại hóa với việc giữ gìn văn hóa bản địa, không chấp nhận phương Tây hóa thái quá Lựa chọn thứ ba được nhiều quốc gia chấp nhận và trong đó có Việt Nam Rõ ràng, trong quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa với Pháp, chúng ta đã cố gắng để không bị những yếu tố ngoại lai chiếm lĩnh và không bị Pháp đồng hóa Song hành cùng với đó, người Việt đã biết lựa chọn

và học tập những tinh hoa văn hóa của người Pháp để làm thay đổi hoàn toàn cục diện văn hóa Việt Nam Gần một trăm năm ấy, văn hóa Việt đã tích hợp được nhiều, trong

Trang 29

đó phải kể đến Kitô giáo; sự ra đời của chữ quốc ngữ, báo chí; sự chuyển mình của văn học, các loại hình nghệ thuật; sự thay đổi trong chế độ giáo dục khoa cử, hệ tư tưởng,… Tất cả đã làm nên một giai đoạn sôi động nhất trong lịch sử giao lưu tiếp biến văn hóa của Việt Nam Giai đoạn giao lưu văn hóa với Pháp là giai đoạn mà xã hội Việt Nam có những biến chuyển vô cùng to lớn, đạt được nhiều thành tựu, góp phần đưa văn hóa Việt hòa nhập cùng với văn hóa thế giới

Sự tiếp xúc giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa nhân loại diễn ra rất mạnh mẽ

và linh hoạt, có lúc theo con đường hòa bình, có lúc theo con đường cưỡng bức Trong quá trình này, nhân dân ta tùy lúc có thể tiếp nhận hoặc chống đối nhưng cuối cùng vẫn

là sự lựa chọn tinh hoa văn hóa nhân loại rồi biến đổi cho phù hợp với đặc trưng của văn hóa Việt Nam Trong tiếp xúc sẽ có những điều thay đổi cần phải thích ứng để phù hợp với hoàn cảnh Nếu không có một bản lĩnh dân tộc vững vàng thì văn hóa Việt có thể đã bị những yếu tố ngoại sinh đồng hóa từ rất lâu Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm

Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (năm 1998) Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc đã mở đầu: “ Văn hóa Việt Nam là

thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình” [100 ,tr.40] Cần nhìn lại lịch sử để thấy được bản lĩnh dân tộc đóng vai trò quan trọng như thế nào trong việc giao lưu, tiếp biến văn hóa “Không phải sức mạnh quân sự sẽ kéo theo sức mạnh văn hóa” [59 ,tr.144]

1.1.3 Học thuyết về hiện tượng cộng sinh văn hóa trong kiến trúc

Kisho Kurokawa (1934) là một kiến trúc sư người Nhật Bản lừng danh Ông được biết đến không chỉ bởi những tác phẩm kiến trúc nghệ thuật mà còn vì ông là người có nhiều đóng góp cho xã hội, có tư duy kiến trúc và có kiến thức sâu rộng về triết học kiến trúc Đặc biệt, những công trình nghiên cứu khoa học của ông có giá trị

Trang 30

về triết lý kiến trúc phương Đông và là tài liệu tham khảo rất tốt cho việc nghiên cứu bản sắc kiến trúc Việt Nam

Ông đã từng là người khởi xướng trường phái “Chuyển hóa luận” nổi tiếng trên khắp thế giới Về sau, ông dùng thuật ngữ “sự cộng sinh” (symbiosis) để thay thế Cũng từ đây, “triết học cộng sinh” luôn gắn với Kurokawa trong công tác nghiên cứu cũng như trong các tác phẩm kiến trúc của ông Kurokawa quan niệm: “Triết lí trên đã luôn thường trực, là mối bận tâm chính trong toàn bộ sự nghiệp kiến trúc của tôi” [90, tr.37]

Học thuyết cộng sinh được bắt nguồn từ văn hóa truyền thống của Nhật Bản

Ông đã thừa nhận : “Từ trước trào lưu Chuyển hóa luận ra đời tôi đã say mê với một đề

tài khác, đó là sự hòa nhập của tính đặc trưng văn hóa truyền thống ở Nhật Bản với nền kiến trúc đương đại Còn gì lôgic hơn nếu người ta còn cho rằng triết lý về sự cộng sinh có nguồn gốc sâu xa từ nền văn hóa Nhật Bản” [90, tr.37] “Nền văn hóa truyền thống Nhật Bản thực chất là sự dung hợp, hòa trộn của nhiều tư tưởng triết học và tín ngưỡng khác nhau như Phật giáo (có vai trò then chốt), các tư tưởng Khổng, Lão và tín ngưỡng Thần đạo (Shinto) của cư dân bản địa Nhưng có lẽ chính các tư tưởng về tính luân hồi (samsara) của Phật giáo là những gợi ý quan trọng nhất cho việc hình thành triết lý cộng sinh trong kiến trúc của Kurokawa” [74 ,tr.5]

Với học thuyết này, những gì vốn tương phản với nhau lại có thể kết hợp lại với nhau thật hiệu quả và đầy ý nghĩa Kisho Kurokawa đã từng nói: “trong nhiều trường hợp, cộng sinh hoàn toàn có ý nghĩa của sự cùng tồn tại, sự thỏa hiệp hoặc sự hài hòa Thậm chí, cộng sinh là tình trạng trong đó hai yếu tố đối lập hoặc có thể chống lại nhau, cũng vẫn phải cần đến nhau Một cách diễn tả khác về cộng sinh là có một không gian trung gian hoặc là sự đồng tồn tại giữa những yếu tố đối lập, hoặc khi hai yếu tố đối lập chấp nhận lẫn nhau để thiết lập những nguyên tắc của sự hợp tác” [76] Những cặp yếu tố có thể cùng tồn tại với nhau đó là “sự cộng sinh giữa kiến trúc và thiên nhiên, sự cộng sinh của giữa con người và kỹ thuật, sự cộng sinh giữa các nền văn hóa,

Trang 31

sự cộng sinh giữa quá khứ và hiện đại, sự cộng sinh giữa nội thất và ngoại thất, sự cộng sinh giữa kiến trúc bản xứ và kiến trúc thuần túy, sự cộng sinh giữa tượng trưng và ý nghĩa…” [43, tr.36] Nói cách khác, kiến trúc cộng sinh có một nội hàm rất rộng nhưng Kurokawa đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của sự cộng sinh văn hóa giữa các nền văn hóa khác nhau, giữa quá khứ và hiện đại, giữa phương Đông và phương Tây trong công trình kiến trúc

Đề tài của luận văn là “Giao lưu tiếp biến văn hóa Việt – Pháp qua kiến trúc

nhà thờ Công giáo ở Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh” Như thế, vấn đề mà chúng

tôi cần làm rõ cũng chính là biểu hiện cộng sinh của hai nền văn hóa, hai nền kiến trúc Việt Nam và Pháp Vậy nên, mặc dù nhìn từ góc độ văn hóa kiến trúc nhưng chúng tôi nhận thấy cũng rất cần dựa vào lí luận cơ bản của học thuyết cộng sinh văn hóa trong kiến trúc của Kisho Kurokawa nhằm khảo sát tốt hơn kiến trúc của nhà thờ Công giáo tại Sài Gòn - Gia Định từ góc độ quan hệ văn hóa Việt – Pháp

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc

Pháp xâm lược Việt Nam

Từ năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu thực hiện âm mưu xâm lược Việt Nam bằng sự kiện đầu tiên là tấn công vào cảng Đà Nẵng Sau đó, trong gần 30 năm thực hiện các cuộc đánh chiếm cũng như kí kết các bản hòa ước và hiệp ước với triều đình nhà Nguyễn thì đến năm 1884, Pháp chính thức đặt quyền thống trị trên toàn bộ đất nước Việt Nam Sau khi đã nắm quyền cai trị, từ 1897 đến 1930, Pháp thực hiện hai cuộc khai thác thuộc địa tại Việt Nam Bằng mọi thủ đoạn, tư bản thực dân Pháp đã vơ vét, bóc lột thậm tệ nhân dân Việt Nam để thu được nhiều lợi nhuận mang về cho chính quốc Điều đó làm cho lòng căm thù của nhân dân Việt Nam ngày càng tăng lên Phong trào yêu nước diễn ra khắp mọi miền của cả nước và ngày càng có những bước phát triển rõ rệt Đặc biệt, từ sau năm 1930, với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam cùng với sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã bước vào một

Trang 32

thời kì mới Cuối cùng, với đường lối cách mạng đúng đắn và sự đoàn kết của toàn dân, quân dân, Việt Nam đã dành được độc lập, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã

ra đời

Chính sách văn hóa của chính quyền thuộc địa Pháp

Thực dân Pháp vẫn thường biện minh cho những việc làm của mình tại các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam, rằng đó là “khai hóa thuộc địa” hay “để truyền bá ánh sáng tốt lành của nền văn minh cao quý vào trong các nước được nước mẹ bảo hộ” [50, tr.98] Tuy nhiên sự thật thì hoàn toàn ngược lại Trong thời gian đô hộ Việt Nam, Pháp đã thi hành hàng loạt chính sách nô dịch về văn hóa, chủ yếu là chính sách ngu dân về giáo dục và đầu độc về văn hóa

Về giáo dục, để hủy diệt nền Nho học cũng như hạn chế vai trò của các sĩ phu phong kiến, thực dân Pháp đã cho thay thế bằng một hệ thống giáo dục bằng chữ quốc ngữ và tiếng Pháp Âm mưu của thực dân Pháp là nhằm đào tạo lớp người thừa hành chính sách cai trị và khai thác của Pháp ở Việt Nam Tiếp theo là để truyền bá tư tưởng Pháp, cuối cùng với mục đích mị dân, làm người Việt tin rằng hệ thống giáo dục của Pháp ở Việt Nam là văn minh và tiến bộ

Cùng với chính sách ngu dân, thực dân Pháp còn có nhiều thủ đoạn đầu độc văn hóa rất độc ác Chúng tạo điều kiện cho những thói hư tật xấu trong xã hội ngày càng phát triển nhằm mục đích đầu độc người Việt Nam Chúng muốn thế hệ trẻ, thanh niên Việt Nam chìm đắm trong trụy lạc, ngu muội; không còn trí óc, sức khỏe mà nghĩ đến việc chống lại sự đô hộ của chúng Chính vì thế mà nạn cờ bạc, tệ uống rượu, hút thuốc phiện, nạn mại dâm trở nên phổ biến ở các thành phố lớn Ở nông thôn và miền núi, các hủ tục về ma chay cưới xin còn tồn tại, nạn bói toán, đồng bóng, mê tín

dị đoan ngày càng nặng nề

Đặc điểm lịch sử - xã hội là một bối cảnh đặc biệt chi phối đến quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa giữa Việt Nam và Pháp Việt Nam và Pháp tiếp xúc văn hóa thông qua con đường chiến tranh và sự giao lưu văn hóa chủ yếu mang tính cưỡng

Trang 33

bức Chính những điều này đã góp phần tạo nên đặc điểm của quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa Việt – Pháp thời kì này

1.2.2 Quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa Việt – Pháp

Trong lịch sử, văn hóa Việt Nam đã nhiều lần giao lưu với các nền văn hóa khác nhưng đa số vẫn là những nền văn hóa có cùng nền tảng và đều là văn hóa phương Đông Tuy nhiên, lần này khi tiếp xúc với văn hóa Pháp – là một nền văn hóa đại diện cho phương Tây – thì lại có một sự khác biệt rất lớn về nền tảng tư tưởng Một bên là văn hóa phương Đông gốc nông nghiệp, một bên là văn hóa phương Tây gốc du mục, rõ ràng ít nhiều sẽ có những sự “va chạm” nhất định Đây là đặc điểm đầu tiên góp phần cản trở sự giao lưu văn hóa Việt – Pháp

Như đã đề cập ở trên, giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Pháp mang tính cưỡng bức, không tự nguyện bởi có sự góp mặt của chiến tranh Đây chính là nguyên nhân thứ hai mang tính quyết định làm cho sự tiếp xúc giữa hai nền văn hóa trở nên căng thẳng hơn Thêm vào đó, người Pháp luôn có âm mưu đồng hóa người Việt, tìm mọi cách hạn chế sức ảnh hưởng của nền văn hóa truyền thống nhằm “thủ tiêu” hẳn nền văn hóa này Rõ ràng, đây là một sự giao lưu không cân sức và cũng không công bằng cho văn hóa Việt

Đứng trước vấn đề này, không thể chọn cách ngăn cản mọi ảnh hưởng từ phương Tây, cũng không thể đứng yên để thực dân Pháp bành trướng và “xóa sổ” văn hóa truyền thống, người Việt đã chọn cách vừa đấu tranh chống lại sự xâm lược của Pháp, vừa tiếp nhận những tinh hoa văn hóa của phương Tây một cách có chọn lọc và biến nó thành cái của mình Tuy nhiên, điều này diễn ra có quá trình chứ không thể nào trong một thời gian ngắn có thể làm thay đổi quan niệm của xã hội

Quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa Việt – Pháp diễn ra đã làm thay đổi rõ rệt

cơ cấu, tư tưởng, quan niệm, đời sống vật chất, đời sống tinh thần của xã hội

Trang 34

Những biến đổi cơ bản trong đời sống văn hóa – xã hội của người Việt

Việt Nam chuyển từ xã hội phong kiến độc lập sang xã hội tư bản thuộc địa 2 Các giai tầng trong xã hội bị phân hóa mạnh mẽ Nhìn vào kết cấu giai cấp, không chỉ

có “tứ dân” (sĩ, nông, công, thương) [18, tr.1] nữa mà còn xuất hiện thêm: tư sản, tiểu

tư sản, công nhân, thị dân Ngoài ra, phương thức kinh tế tư bản du nhập vào Việt Nam đã tác động mạnh vào quá trình đô thị hóa Các đô thị lớn nhỏ ra đời và kéo theo

sự xuất hiện của lớp cư dân thành thị Những thị dân này sống tập trung chủ yếu ở các thành phố, thị tứ, trung tâm kinh tế với hoạt động công thương sôi động Họ “chịu ảnh hưởng của lối sống phương Tây, ăn mặc đồ Tây, ở nhà Tây, thắp đèn điện, đi ô tô, thích xem phim, chụp ảnh, đọc sách, báo” [42, tr.58] làm cho quá trình Âu hóa diễn ra mạnh mẽ ở các đô thị Ở Việt Nam thời bấy giờ còn xuất hiện cả những tầng lớp trí thức Tây học và một bộ phận lớn ngoại kiều (người Pháp, người Hoa, người Ấn Độ) Thành phần cư dân ngày càng đa dạng nảy sinh nhiều kiểu quan hệ xã hội làm biến đổi hẳn diện mạo của xã hội Việt Nam truyền thống trước đó

Nền kinh tế Việt Nam thời kì này phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp, chủ yếu phục vụ cho nền kinh tế Pháp Thực dân Pháp muốn “biến Việt Nam thành nơi cung cấp nguyên liệu và lao động cho nền công nghiệp Pháp, biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ hàng hóa công nghiệp của chủ nghĩa tư bản Pháp” [10 ,tr.66] Chính vì thế, thực dân Pháp đầu tư phát triển nền kinh tế nước ta cũng chỉ nhằm một mục đích duy nhất là phục vụ tốt nhất cho lợi ích của chúng

Trên nền tảng tư duy tình cảm, tổng hợp của phương Đông, người Việt Nam tiếp nhận thêm cách tư duy mới – tư duy duy lý, phân tích của phương Tây Lối tư duy này giúp con người ứng xử với môi trường xung quanh khoa học hơn, ít phụ thuộc vào tình cảm và nhìn vạn vật trong mối quan hệ biện chứng Hệ tư tưởng Việt Nam kể từ

2

“Từ giữa thế kỉ XIX với cuộc xâm lược và thống trị của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam lại chuyển sang một quỹ đạo khác… Kết cấu kinh tế - xã hội cũ không bị thủ tiêu và thay bằng một kết cấu như thông lệ, mà nó đã bị đẽo gọt, nhào nặn và khảm ghép thêm những yếu tố mới của một kết cấu mới vừa nửa vời, vừa biến dạng tạo thành một kết cấu đặc biệt của một xã hội tư bản thuộc địa” [60]

Trang 35

năm 1858 có một sự chuyển mình quan trọng Hệ tư tưởng của Nho giáo, vốn có vai trò đặc biệt trong xã hội phong kiến trước đó dần dần thể hiện những bất cập vì quá cứng nhắc và không còn phù hợp Nhận thức của con người đối với Nho giáo thời kì này đã phần nào thay đổi Bên cạnh đó, hệ tư tưởng mới – tư tưởng dân chủ ngày càng được nhiều người tiếp nhận và phổ biến

Đời sống vật chất của nhân dân thì có nhiều biến đổi trong tất cả các lĩnh vực từ trang phục, nhà cửa, ẩm thực cho đến các vật dụng như: xe đạp, đèn pin, đèn điện, salon… Tất cả góp phần làm cho đời sống của người Việt thời kì này trở nên tiện nghi

và phong phú hơn

Đời sống tinh thần cũng đặc biệt đa dạng và phong phú khi có nhiều yếu tố văn hóa mới ra đời và những nét văn hóa truyền thống thì được biến đổi tinh tế, phù hợp với nhận thức và yêu cầu cảm nhận của người dân thời kì này Đầu tiên là chữ quốc ngữ, với vai trò “văn tự nước nhà” đã phát huy nhiều công dụng quan trọng Tất cả là nhờ “ khả năng của dân tộc Việt Nam biết ứng dụng, biết rèn giũa chữ quốc ngữ làm công cụ khai dân trí, chấn dân khí, làm vũ khí đấu tranh cách mạng giải phóng” [28 ,tr.181] Rồi báo chí ra đời, văn học ngày một phát triển, các loại hình nghệ thuật (hội

họa, âm nhạc, …) học hỏi được nhiều từ văn minh phương Tây Đặc biệt, trong thời kì

này, Công giáo rất phát triển nhờ có sự giúp đỡ của người Pháp Hàng loạt nhà thờ Công giáo với kiến trúc tôn giáo đặc thù đã được xây dựng và đa số còn tồn tại đến ngày nay

1.2.3 Công giáo và nhà thờ Công giáo

1.2.3.1 Phân biệt Công giáo với một số tên gọi khác

Trên thực tế, khi nói đến Công giáo, người ta còn sử dụng những cụm từ khác như: Kitô giáo, Thiên chúa giáo, đạo Cơ Đốc … Vậy những cụm từ này có ý nghĩa xác thực như thế nào và đâu là cách gọi chính danh? Có nhiều ý kiến xung quanh vấn đề này Tuy nhiên chúng tôi dựa theo cách hiểu sau đây:

Trang 36

Kitô giáo được dịch từ chữ Christos trong tiếng Hi Lạp, là một tôn giáo ra đời ở

đế quốc La Mã cổ đại vào đầu công nguyên, dựa trên nền tảng thần học Do Thái giáo Vào thế kỉ thứ XI, do sự tranh chấp giữa hai trung tâm của đế chế La Mã là thành Rôma và thành Constantinople đã dẫn đến việc phân chia thành hai giáo hội: giáo hội Chính Thống ở Constantinople và giáo hội Công giáo ở Rôma Vào thế kỉ XVI, bên trong giáo hội Công Giáo Rôma lại xảy ra mâu thuẫn nội bộ và hậu quả là xuất hiện một nhóm ly khai gọi tên là Giáo hội Tin lành (hay Thệ Phản)

Công giáo được dịch từ chữ Katholicos trong tiếng Hi Lạp, với ý nghĩa là

chung, là phổ quát, dành cho tất cả mọi người, không phân biệt màu da, tiếng nói và văn hóa Thuật ngữ "Công giáo" thường được dùng để nói về "Công giáo Rôma" hay

“Giáo hội Công giáo Rôma” Theo đó, Giáo hoàng Rôma có vai trò trung tâm và mọi

tín đồ Công giáo phải có sự hiệp thông trọn vẹn với vị Giáo hoàng này Công giáo

cũng dùng để phân biệt với những giáo hội khác vốn cũng có nguồn gốc từ Kitô giáo

Ở Việt Nam, từ thời phong kiến, Công giáo còn có nhiều tên gọi khác nhau Chẳng hạn như: Hoa Lang đạo (nghĩa là đạo của người Bồ Đào Nha, đạo của người châu Âu), đạo Giatô (phiên âm Hán Việt từ Giêsu), đạo Cơ Đốc (phiên âm Hán Việt từ Kitô), Thiên Chúa giáo (nghĩa là đạo tôn thờ Thiên Chúa, trong đó Thiên Chúa là tiếng Hán của từ Chúa Trời)

Tóm lại, Kitô giáo bao hàm cả Công giáo, Chính Thống giáo và Tin Lành Công giáo là cách gọi chính danh nhất, chỉ toàn bộ những Kitô hữu và cộng đồng Kitô hữu thừa nhận quyền phán xét của Giám mục Rôma, hay còn gọi là Giáo hoàng Còn Thiên Chúa giáo, đạo Cơ Đốc hay đạo Giatô chỉ là những cách gọi khác của Công giáo ở Việt Nam

1.2.3.2 Công giáo tại Việt Nam

Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục (in đời Nguyễn, do Phan Thanh

Giản tổng tài) thì Công giáo đến với Việt Nam từ khoảng thế kỉ XVI với mốc thời gian

là năm 1533 khi những giáo sĩ đầu tiên vào giảng đạo ở vùng Nam Định ngày nay [30]

Trang 37

Từ đó về sau, liên tiếp có rất nhiều giáo sĩ sang Việt Nam để truyền đạo nhưng đều không thu được kết quả như mong muốn, số lượng người theo đạo rất ít và còn bị triều đình cấm cản quyết liệt Việc cấm đạo có thể xuất phát từ nhiều lí do khách quan và chủ quan.Trong đó nổi bật lên hai nguyên nhân sau đây:

Nguyên nhân đầu tiên của việc cấm đạo có lẽ thuộc về yếu tố văn hóa, tín ngưỡng “Với nguyên lý độc thần, Công giáo thời gian đầu thực sự rất xa lạ với tâm thức đa thần của người Việt” [85, tr.37] Công giáo buộc những người theo đạo này phải “bỏ bàn thờ gia tộc, không lễ bái trời đất, tổ tiên những ngày giỗ kỵ, tư tết, sóc vọng; không tham dự sinh hoạt thờ cúng nơi đình làng, mọi suy tư hành xử phải tuân theo phép nhà thờ, họ đạo, thường xuyên phải xưng kể những vấp phạm với giáo sĩ…” [41] Những phép tắc, qui định kì lạ đó phần nào thể hiện sự phân biệt và tạo khoảng cách giữa cộng đồng Công giáo với cộng đồng chung; từ đó khiến cho các vua chúa lo

sợ mà ban chỉ lệnh cấm người dân không theo đạo mới này nữa

Nguyên nhân sâu xa thứ hai dẫn đến việc cấm đạo khắt khe của triều đình nhà Nguyễn chính là yếu tố chính trị Có lúc trực tiếp, có lúc gián tiếp, một bộ phận giáo sĩ phương Tây thường để lộ ra thái độ chống đối triều đình hay có những hành động khuyến khích thực dân Pháp sang chiếm khu vực Đông Dương trong đó có Việt Nam Những việc làm trên của các giáo sĩ Tây phương càng minh chứng sự hợp lý của một

số ý kiến cho rằng con đường Công giáo đến với Việt Nam gắn với chiến tranh và súng đạn Lẽ dĩ nhiên, triều đình phải làm mọi cách có thể để ngăn cản điều này

Khi thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam và cả Đông Dương, Công giáo có được sự nương tựa vững chắc hơn Uy thế của Giáo hội được nâng cao, các giáo sĩ trở thành những người có thế lực lớn trong xã hội Bởi lẽ Công giáo là tôn giáo rất phát triển ở châu Âu, trong đó có nước Pháp Cho nên, việc Pháp quan tâm và giúp đỡ cho một tôn giáo mà họ tôn kính là điều không khó hiểu

Mặc dù ra đời ở phương Đông nhưng rất phát triển ở phương Tây nên Công giáo đã trở thành một bộ phận của văn hóa phương Tây Chính vì thế, khi truyền sang

Trang 38

Việt Nam, Công giáo đóng vai trò như một cầu nối để chuyển tải những nét văn hóa phương Tây đến với Việt Nam Trong quá trình truyền bá đạo ở Việt Nam, mặc dù còn nhiều vấn đề cần xem xét nhưng không thể phủ định một điều rằng Công giáo đã có những đóng góp nhất định cho sự phát triển của văn hoá Việt trên nhiều lĩnh vực như kiến trúc, báo chí, văn chương, ngôn ngữ, lối sống, giáo dục…

Trải qua một quá trình hình thành và phát triển rất gian nan, trải qua nhiều biến

cố và thăng trầm của lịch sử, Công giáo ngày càng có những biến đổi tích cực để có thể hòa hợp với văn hóa Việt Kể từ Công đồng Vatican II, Công giáo Việt Nam đã thực

hiện Việt hóa đạo (hội nhập văn hóa Kitô giáo với văn hóa truyền thống Việt Nam) với

một tư tưởng xuyên suốt: canh tân và thích nghi Nội dung chủ yếu là xây dựng một nền Công giáo của người Việt, hòa nhập với phong tục tập quán của văn hóa Việt

Tóm lại, Công giáo theo chân các giáo sĩ Tây phương đến Việt Nam từ rất sớm, khoảng thế kỉ XVI nhưng gặp nhiều trở ngại và khác biệt về văn hóa nên không phát triển được Mãi đến giữa thế kỉ XIX, với sự “đỡ đầu” của người Pháp khi đến xâm lược Việt Nam thì tôn giáo này mới phát triển thuận lợi So với những tôn giáo khác như Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo,… thì Công giáo đến Việt Nam khá muộn và cũng có thời gian mang tư tưởng khác biệt với văn hóa truyền thống của người Việt Tuy nhiên sau bao nhiêu biến đổi, không thể phủ nhận tinh thần hòa nhập văn hóa tích cực và những đóng góp của Công giáo đối với văn hóa Việt Nam

“Không có sự hội nhập hay “nhập thế” của tinh thần Kitô giáo vào trong văn hóa Việt Nam, thì vẫn có một nền văn hóa Việt Nam với tất cả vẻ đẹp và những tính chất của nó, nhưng sự nhập thế của Kitô giáo vào nền văn hóa nước ta đã làm cho nền văn hóa ấy trở nên phong phú, đa dạng, cũng như Khổng giáo, Lão giáo và Phật giáo

đã làm trước kia Trong sự hội nhập này, không có cái gì mất đi, trái lại, cả nền văn hóa Việt Nam lẫn các tôn giáo và đặc biệt ở đây là Kitô giáo đều có thêm được nét độc đáo của mình” [87, tr.34]

Trang 39

1.2.3.3 Nhà thờ Công giáo

Theo khoảng 1205 của Giáo luật Công giáo được ban hành năm 1986 thì nơi thờ

tự là nơi thánh, nơi được thánh hiến (cống hiến) hay làm phép, để dùng vào việc phụng

tự Thiên chúa Khoảng 1214 thì có viết: Nhà thờ được hiểu là nơi thánh, dùng vào việc phụng thờ Thiên Chúa mà các tín hữu có quyền lui tới để làm việc thờ phượng, nhất là cách công cộng [14]

Hoàn cảnh ra đời

Những tín hữu theo đạo đầu tiên của giáo hội Công giáo thường tụ họp tại nhà riêng hay trong các hội trường Do Thái Sau khi Chúa Giêsu bị xử tử thì Công giáo bị cấm đoán Lúc này, những tín hữu phải hành đạo một cách bí mật trong các hầm mộ vốn là nơi dùng để xác chết và tổ chức tang lễ

Sau khi chính quyền Roma cho phép các tín hữu được theo Công giáo một cách công khai và hợp pháp thì việc truyền giáo được chuyển lên mặt đất Tuy nhiên vì chưa

có một công trình kiến trúc riêng nên phải thực hiện ở các nhà pháp đình (basilica) Chính vì thế, về sau, kiến trúc nhà thờ Công giáo được xây dựng theo khuôn mẫu của những tòa nhà pháp đình đã sử dụng quen thuộc trước đó

Quan điểm nhà thờ là “Nhà của Thiên Chúa” đã ảnh hưởng rất nhiều vào việc cấu tạo thánh đường Là đền đài Chúa ngự, nên thánh đường là chốn uy nghiêm, tất nhiên nó phải có một hình thức riêng biệt, độc đáo Khác hẳn với các thể loại công trình khác xung quanh, nhà thờ cần phải nguy nga, đồ sộ, lộng lẫy hơn và vượt cao trên tất cả mọi nhà cửa, dinh thự và đền đài trong một vùng

Trang 40

Đặc điểm kiến trúc

Một công trình kiến trúc nhà thờ Công giáo cần có hai thành phần quan trọng là:

ngôi nhà thờ chính và tháp chuông Nhà thờ chính là nơi diễn ra các nghi lễ thờ

phượng, bao gồm: không gian cung Thánh và không gian dành cho giáo dân dự thánh

lễ Tháp chuông có gắn Thánh giá là hạng mục cao nhất trong công trình Ngoài ra

còn có các thành phần phụ trợ khác có thể có hoặc không có trong công trình như: đài Đức Mẹ, hang đá, nhà xứ, nhà hài cốt, hội quán…

Các nhà thờ Công giáo đều thuận theo một số lối kiến trúc phương Tây quen

thuộc, tiêu biểu là: Byzantine, Roman, Gothic, Phục hưng, Baroque, Rococo…

1.2.4 Sài Gòn thời Pháp thuộc

1.2.4.1 Thực dân Pháp đánh chiếm Sài Gòn

Năm 1858, thực dân Pháp đánh chiếm Đà Nẵng nhưng không thực hiện được

âm mưu xâm lược chớp nhoáng của mình mà ngược lại còn bị tổn thất về binh lính do bệnh tật Nhận thấy “Sài Gòn có triển vọng trở thành trung tâm của một nền thương mại rộng lớn, là một xứ giàu sản vật, mọi thứ đều đầy rẫy” [68 ,tr.9], năm 1859, Pháp thay đổi kế hoạch, quyết định đem quân vào đánh Gia Định Thực ra, khi tấn công thành Gia Định, thực dân Pháp còn có âm mưu “chiếm Sài Gòn là có thể chấm dứt sự xuất khẩu gạo, việc thu thuế…là giáng một đòn nặng nề vào triều đình Việt Nam” [1, tr.61]

Tháng 2 năm 1859, Pháp đổ bộ vào tấn công thành Gia Định và nhanh chóng chiếm được thành chỉ sau hai ngày Tuy nhiên vì thành quá rộng không đủ sức phòng giữ nên thực dân Pháp đã phá thành, đốt kho tàng Năm 1860, Pháp tuyên bố mở cửa Sài Gòn cho nước ngoài vào buôn bán Lập tức, thương cảng Sài Gòn trở nên đông đúc bởi tàu thuyền của châu Âu và Trung Quốc đổ về Ngày 5-6-1862, triều đình Huế đã kí kết với Pháp Hòa ước Nhâm Tuất chấp nhận cắt nhường cho Pháp 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường

Ngày đăng: 04/05/2021, 23:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w