Chính vì vậy, tìm hiểu nghiên cứu, lý luận, phê bình trên báo Lục tỉnh tân văn là một cần thiết nhằm đưa ra cái nhìn tổng quát về diện mạo văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XX, cũng như đóng gó
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***********
BÙI THANH VÂN
NGHIÊN CỨU, LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH
VĂN HỌC TRÊN “LỤC TỈNH TÂN VĂN”
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***********
BÙI THANH VÂN
NGHIÊN CỨU, LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH
VĂN HỌC TRÊN “LỤC TỈNH TÂN VĂN”
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NHDKH: PGS.TS VÕ VĂN NHƠN
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Bùi Thanh Vân
Trang 4XÁC NHẬN CHỈNH SỬA LUẬN VĂN
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Xuân
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
PGS TS Võ Văn Nhơn
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sĩ này đánh giá hai năm học tập và nghiên cứu của tôi tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM Tuy nhiên đây không chỉ là kết quả của cá nhân tôi mà còn là sự đóng góp của rất nhiều người Vì vậy, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến những người đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn thư viện Quốc gia Việt Nam, thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng tư liệu Khoa Văn học và ngôn ngữ, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc tìm kiếm tài liệu để thực hiện luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè đã luôn bên cạnh quan tâm, ủng hộ và động viên tôi trong quá trình học tập
Xin gửi tấm lòng tri ân đến các Thầy Cô – người đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức bổ ích trong suốt những năm tháng qua Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Võ Văn Nhơn - người đã tận tâm hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Sau cùng, xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình – nơi luôn là chỗ dựa vững chắc để tôi có thể tự tin thực hiện mọi ước mơ của mình
Tình yêu thương của gia đình, thầy cô, bạn bè sẽ luôn là nguồn động viên, khích lệ cho tôi trên những chặng đường phía trước
Thành phố Hồ Chí Minh tháng 4 năm 2014
Học viên thực hiện
BÙI THANH VÂN
Trang 6MỤC LỤC
DẪN NHẬP 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 2
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
4 Ý NGHĨA ĐỀ TÀI 5
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: XÃ HỘI VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX VÀ SỰ HÌNH THÀNH BÁO CHÍ QUỐC NGỮ NAM BỘ 8
1.1 Bối cảnh lịch sử Nam Bộ cuối thế kỉ XIX nửa đầu thế kỉ XX 8
1.1.1 Bối cảnh chính trị 8
1.1.2 Xã hội Nam Bộ với những thay đổi sâu sắc 9
1.2 Lịch sử hình thành báo chí Quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỉ XX 10
1.2.1 Điều kiện hình thành báo chí Quốc ngữ Nam Bộ 10
1.2.2 Một số tờ báo Quốc ngữ tiêu biểu ở Nam Bộ 12
1.2.3 Đóng góp của báo chí đối với đời sống chính trị - xã hội 14
1.3 Vai trò của báo chí Nam Bộ trong sự phát triển văn học Việt Nam 14
1.3.1 Báo chí Nam Bộ với vai trò “bà đỡ” cho nền văn học 14
1.3.2 Báo chí thúc đẩy quá trình hiện đại hóa văn học 16
1.4 Báo Lục tỉnh tân văn 17
1.4.1 Hoàn cảnh ra đời và quá trình phát triển 17
1.4.1.1 Ngày ra đời và đình bản 17
1.4.1.2 Các nhà chủ trương và giai đoạn phát triển 19
Trang 71.4.2 Nội dung và hình thức 21
1.4.2.1 Nội dung phong phú 21
1.4.2.2 Hình thứcổn định 22
Tiểu kết 23
CHƯƠNG 2.: NGHIÊN CỨU, LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC TRÊN LỤC TỈNH TÂN VĂN: NỘI DUNG 25
2.1 Nghiên cứu, lý luận văn học – hoạt động sôi nổi trên Lục tỉnh tân văn 26
2.1.1 Quan niệm về văn chương đương thời 26
2.1.1.1 Văn chương là gì ? 26
2.1.1.2 Văn chương bình dân 27
2.1.1.3 Văn chương nữ giới 28
2.1.1.4 Bàn về mẹo luật và cách thức làm văn 30
2.1.2 Xác lập những giá trị cho văn chương 33
2.1.2.1 Nhận định về tình hình văn chương đương thời 33
2.1.2.2 Vai trò và chức năng của văn chương 34
2.1.2.3 Giá trị của văn chương truyền thống 36
2.1.2.4 Nhận định giá trị Thơ mới và thơ cũ 39
2.1.2.5 Khảo cứu về chữ Quốc ngữ 42
2.1.2.6 Vai trò của dịch thuật trong văn chương 43
2.1.3 Vai trò của nhà văn trong xu thế phát triển văn học hiện đại 45
2.1.3.1 “Nghề văn sĩ” 45
2.1.3.2 “Tư cách người dụng bút” 47
2.1.4 Tiểu thuyết và những luận bàn sôi nổi trên văn đàn 50
2.1.4.1 Thời đại thịnh hành của tiểu thuyết 50
2.1.4.2 Vấn đề sáng tác và tiếp nhận 52
2.1.4.3 Những định hướng cho một nền tiểu thuyết mới phát triển 55
Trang 82.1.5 Kịch – thể loại mới mẻ 57
2.2 Phê bình văn học trên Lục tỉnh tân văn 59
2.2.1 Quan niệm về phê bình văn học 59
2.2.1.1 “Thế nào là phê bình ?” 59
2.2.1.2 “Tư cách nhà phê bình” 61
2.2.2 Phê bình tác phẩm 63
2.2.2.1 Các tác phẩm thơ và văn xuôi 63
2.2.2.2 Phê bình kịch bản sân khấu 66
2.2.3 Phê bình tác giả 69
2.2.3.1 Các tác giả trong nước 69
2.2.3.2 Các tác giả nước ngoài 73
2.2.4 Các cuộc bút chiến góp thêm sinh khí mới cho nền văn chương 75
2.2.4.1 Lục tỉnh tân văn trong cuộc bút chiến với các báo khác 75
2.2.4.2 Các cuộc bút chiến trên Lục tỉnh tân văn 77
Tiểu kết 80
CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU, LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC TRÊN LỤC TỈNH TÂN VĂN: VAI TRÒ, Ý NGHĨA VÀ ĐẶC ĐIỂM 82
3.1 Những đóng góp cho nền lý luận, phê bình văn học thời kỳ đầu 82
3.1.1 Lý luận văn học – những quan niệm văn chương mới mẻ 82
3.1.2 Phê bình mở ra hướng đối thoại sinh động cho văn học 91
3.1.3 Lục tỉnh tân văn đặt trong bối cảnh lý luận văn học Nam Bộ đương thời 96
3.2 Lực lượng nghiên cứu, lý luận, phê bình văn chương 100
3.2.1 Người bắc chiếc cầu nối giữa hai nền văn hóa Đông – Tây 100
3.2.2 Người tiếp nối truyền thống và hiện đại 102
3.2.3 Những cây bút tiêu biểu 106
3.2.3.1 Việt Bằng – ngòi bút sắc sảo 106
Trang 93.2.3.2 Lê Quang Vân – một sức lao động bền bỉ 109
3.2.3.3 Song Bình – cây bút cần mẫn 111
3.2.3.4 Nguyễn Thúc Lang – cây bút phê bình tác giả 114
3.2.3.5 H.T.B – cây bút cá tính 116
3.2.3.6 B.Đ.P – cây bút tài năng 118
3.2.3.7 Đóng góp của những cây bút nữ 120
3.3 Đặc điểm của nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học trên Lục tỉnh tân văn 126
3.3.1 Tốc độ phát triển nhanh chóng 126
3.3.2 Gắn với quá trình hiện đại hóa văn học 129
Tiểu kết 133
KẾT LUẬN 135
TÀI LIỆU THAM KHẢO 139
PHỤ LỤC
Trang 10DẪN NHẬP
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cuối thế kỉ XIX, Việt Nam bước vào một cuộc giao lưu lớn với văn hóa phương Tây, mà đại diện là văn hóa Pháp Hệ tư tưởng Nho giáo mất dần vị trí độc tôn để nhường ngôi cho những tư tưởng tiến bộ, văn minh hơn Chính vào thời điểm này, đời sống xã hội văn hóa nước ta có nhiều biến đổi lớn Đặc biệt, văn chương cũng lĩnh hội được những tư tưởng mới mẻ
Các công trình nghiên cứu lịch sử hình thành báo chí ở Việt Nam cho thấy nghề
báo xuất hiện sớm ở Nam Bộ với một số tờ báo tên tuổi như: Gia Định báo, Nông cổ
mín đàm, Phụ nữ tân văn, Công luận báo… Báo chí thời kì này ngoài việc đưa tin tức
chính trị xã hội, còn góp phần quan trọng trong việc phổ biến chữ Quốc ngữ vào đời sống một cách thông dụng và hiệu quả nhất Đặc biệt, báo chí là diễn đàn quan trọng để các tác giả bày tỏ, tranh luận những quan niệm sáng tác văn chương, đăng tải các tác phẩm mới đáp ứng thị hiếu của độc giả
Trong số những tờ báo của Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, chúng tôi
đặc biệt quan tâm đến báo Lục tỉnh tân văn, bởi đây là tờ báo tồn tại khá lâu trong lịch
sử báo chí Nam Bộ (từ 1907 đến 1944) Ngoài việc đưa tin tức thời sự, Lục tỉnh tân văn
đã góp phần cổ vũ cho phong trào Minh Tân một cách mạnh mẽ Mảng văn nghệ cũng được chú ý đáng kể Bên cạnh việc đăng tải những sáng tác mới thì hoạt động nghiên cứu, lý luận, phê bình đã được lưu tâm Dẫu còn non trẻ và chưa hoàn thiện nhưng quan
niệm về văn chương trên Lục tỉnh tân văn đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc
hình thành nên nền lý luận, phê bình văn học Việt Nam hiện đại
Chính vì vậy, tìm hiểu nghiên cứu, lý luận, phê bình trên báo Lục tỉnh tân văn là
một cần thiết nhằm đưa ra cái nhìn tổng quát về diện mạo văn học Nam Bộ đầu thế kỉ
XX, cũng như đóng góp của báo chí trong sự phát triển của văn học giai đoạn này Đây
chính là lý do chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học trên Lục
tỉnh tân văn”
Trang 112 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Những công trình, những bài viết nghiên cứu về Lục tỉnh tân văn cho thấy, các
tác giả đã tập trung theo hai hướng tiếp cận chính:
- Nghiên cứu về sự ra đời và tồn tại của Lục tỉnh tân văn với tư cách một tờ báo
Nam Bộ đầu thế kỉ XX:
Công trình 120 năm báo chí Việt Nam của Hồng Chương nghiên cứu về sự ra
đời của các tờ báo Trong đó, tác giả đã khảo sát ngày ra đời và đình bản, hình thức của
Lục tỉnh tân văn những số đầu Đây là công trình nghiên cứu khá đầy đủ về báo chí của
nước ta trong buổi đầu hình thành
Tô Huy Rứa, chủ biên Thư tịch báo chí Việt Nam, đã khảo sát về báo chí Việt
Nam từ lúc khởi thủy Trong đó, Lục tỉnh tân văn được nhắc đến với những thông tin
tương tự như các công trình đã được nêu ở trên
Huỳnh Văn Tòng trong Lịch sử nghiên cứu báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến
trong đó với báo Lục tỉnh tân văn ông viết như sau: “Số đầu tiên của Lục tỉnh tân văn
được phát hành vào ngày 15-11-1907 Đầu tiên mỗi tuần một lần, sau 3 lần vào ngày thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu”
Đỗ Quang Hưng với công trình Lịch sử báo chí Việt Nam 1865 – 1945 trình
bày lịch sử hình thành và phát triển các tờ báo ở Việt Nam giai đoạn 1865 – 1945, cùng những đánh giá, nhận xét về giá trị mà báo chí thời gian này mang lại Trong đó có báo
Lục tỉnh tân văn
Khóa luận tốt nghiệp: Lịch sử hình thành và phát triển của báo Lục tỉnh tân
văn của Hồ Thị Nguyên Thảo đã khảo sát rất đầy đủ và hệ thống về Lục tỉnh tân văn,
quan tâm đến đặc điểm ra đời, phát triển, nội dung, hình thức của tờ báo này Qua đó, khóa luận đã đưa ra những số liệu đầy đủ, chính xác
Sơn Nam với công trình Phong trào Duy Tân ở Bắc, Trung, Nam và Miền
quá trình ra đời và hình thành của tờ báo Bên cạnh đó, Sơn Nam còn có nhiều bài trích
dẫn để chứng minh Lục tỉnh tân văn là một tờ báo đã cổ xúy cho phong trào Minh Tân
vào những năm đầu thế kỉ XX ở Miền Nam
Trang 12Những công trình nghiên cứu về Lục tỉnh tân văn với phương diện là một tờ báo
tin tức thời sự, văn hóa, xã hội đầu thế kỉ XX, hầu hết đều khảo sát về năm ra đời, năm đình bản, người sáng lập, chủ bút… cùng với những đặc điểm nổi bật về nội dung và hình thức của tờ báo Các công trình nghiên cứu có những ý kiến khác nhau nhưng đã
cho thấy lịch sử hình thành và đóng góp của Lục tỉnh tân văn đã làm phong phú thêm
cho làng báo Nam Bộ những năm đầu thế kỉ XX
- Nghiên cứu về hoạt động văn học trên báo Lục tỉnh tân văn:
Thời kì đầu mới ra đời, báo chí nước ta bên cạnh việc đăng tải những tin tức,
xã hội, văn hóa còn là nơi ươm mầm cho văn chương phát triển Chính vì vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động văn chương trên báo chí Nam Bộ Trong đó,
hoạt động văn học trên báo Lục tỉnh tân văn cũng được nhiều tác giả chú ý
Ái Lan với bài viết: Làng báo miền Nam, bốn mươi lăm năm về trước, đã đưa
ra nhận định những chuyên mục, những bài tranh luận về “văn minh” của hai báo Nông
cổ mín đàm và Lục tỉnh tân văn
Nguyễn Huỳnh Kiều Nguyệt Diễm Cầm với khóa luận tốt nghiệp Tìm hiểu
tiểu thuyết trên Lục tỉnh tân văn đầu thế kỉ XX đã mang đến cái nhìn khái quát về diện
mạo của tiểu thuyết được đăng trên Lục tỉnh tân văn giới hạn trong khoảng thời gian từ
1920 – 1930 và Lê Hoàng Mưu được chọn là tác giả tiêu biểu về tiểu thuyết trong giai đoạn này
Luận văn Khảo sát tiểu thuyết trên báo “Lục tỉnh tân văn” giai đoạn 1930 –
1944 của Trương Ngọc Thúy tập trung nghiên cứu về tiểu thuyết trên Lục tỉnh tân văn
giai đoạn 1930 – 1944 Chương 2: Lý luận và phê bình tiểu thuyết trên báo Lục tỉnh tân
văn giai đoạn 1930 – 1944 Tác giả đã đi vào nhận định những bài nghiên cứu về thể
loại tiểu thuyết trên báo Lục tỉnh tân văn Bên cạnh việc đánh giá về nội dung và nghệ
thuật của tiểu thuyết đã đăng trên báo, luận văn của Trương Ngọc Thúy và khóa luận của Nguyễn Huỳnh Kiều Nguyệt Diễm Cầm đã hệ thống đầy đủ về sự tồn tại của tiểu
thuyết trên Lục tỉnh tân văn trong giai đoạn thể loại này phát triển rực rỡ nhất ở Nam
Bộ nói chung và trên tờ Lục tỉnh tân văn nói riêng
Khóa luận Lý luận và phê bình trên báo chí Nam Bộ 1930 -1945 của Hà Thị
Dịu đã khảo sát và nhận định về tình hình lý luận văn học trên ba tờ báo Nam Bộ: Công
luận báo, Phụ nữ tân văn và Lục tỉnh tân văn Khóa luận đã trích dẫn khá nhiều nhận
Trang 13định về văn chương trên Lục tỉnh tân văn Qua đó, có thể nhận thấy vai trò của Lục tỉnh
tân văn trong diện mạo chung của nền lý luận phê bình văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XX
Bài viết Những vấn đề của văn học đại chúng: so sánh tiểu thuyết Feuilleton
ở Nam Bộ trước 1945 và tiểu thuyết chương hồi của Phan Mạnh Hùng, nhận xét về
tầm quan trọng của báo chí trong việc hình thành nên tính hiện đại của tiểu thuyết Bài
viết đã khảo sát các báo Nam Bộ đầu thế kỉ XX, trong đó có Lục tỉnh tân văn để đưa ra
những kết luận cho nhận định của mình
Võ Văn Nhơn có bài viết: Báo chí Quốc ngữ La tinh với sự hình thành và
phát triển của tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, đã chỉ ra những
đóng góp quan trọng, cũng như ảnh hưởng của báo chí Nam Bộ đến việc hình thành và
phát triển tiểu thuyết Lục tỉnh tân văn cũng là tờ báo nằm trong đối tượng được khảo sát Theo đánh giá của tác giả thì: “Lục tỉnh tân văn cũng là tờ báo có uy tín bậc nhất ở
Nam kỳ vào thời kỳ đó Nhều cây bút của xứ Bắc, Trung đã từng vào Sài Gòn học nghề làm báo ở tờ này…”
Trong báo cáo tổng kết kết quả đề tài nghiên cứu khoa học Khảo sát, đánh giá,
bảo tồn di sản văn hóa Quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỉ XIX – đầu XX của Đại học
Quốc gia, Đại học khoa học Xã hội và nhân văn do Đoàn Lê Giang làm chủ nhiệm, phần chương 6: Lý luận phê bình văn học Nam Bộ 1930 – 1945 do Nguyễn Thị Thanh Xuân phụ trách, đã trích dẫn những quan điểm nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học
trên báo chí Nam Bộ, trong đó, có rất nhiều bài đăng của báo Lục tỉnh tân văn Tác giả cho rằng tình hình nghiên cứu văn học trên Lục tỉnh tân văn đã có những quan điểm
phù hợp với thời đại và có đóng góp không nhỏ vào việc hoàn thiện bức tranh lý luận, phê bình văn chương buổi đầu
Luận văn Sự nghiệp văn học và báo chí của Trần Chánh Chiếu của Nguyễn
Hồng Giang, đã nghiên cứu về cuộc đời sự nghiệp sáng tác văn học và báo chí của Trần
Chánh Chiếu với tư cách chủ bút đầu tiên của Lục tỉnh tân văn
Phạm Quang Trung có bài viết: Đời sống lý luận, phê bình văn chương buổi
đầu ở Nam Bộ Qua việc khảo sát báo chí ở Nam Bộ đầu thế kỉ XX, tác giả đưa ra nhận định về phương pháp lý luận, phê bình văn chương buổi đầu ở Nam Bộ, tạo tiền đề cho
bộ môn lý luận, phê bình văn học hiện đại Tác giả bài viết đã có trích dẫn từ báo Lục
tỉnh tân văn để khẳng định cho những nhận định của mình
Trang 14Ngoài ra, còn có một số những công trình nghiên cứu có nhận định rất khái
lược về tình hình phát triển văn chương trên Lục tỉnh tân văn như Bùi Đức Tịnh trong
Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, tiểu thuyết và Thơ mới, Nguyễn Q Thắng
trong Tiến trình văn nghệ Việt Nam, Mã Giang Lân cùng công trình Quá trình hiện
đại hóa văn học Việt Nam (1900 – 1945), Dương Quảng Hàm với Việt Nam văn học
sử lược… các ý kiến đều nhìn nhận những đóng góp về mặt văn học của tờ báo này
Tuy nhiên, đây cũng chỉ là những nhận định mang tính khái quát và sơ lược
Báo Lục tỉnh tân văn đã có đóng góp vô cùng quan trọng trong việc hình thành
và phát triển lịch sử báo chí Việt Nam Bên cạnh đó, nó còn là một diễn đàn văn học với các tác phẩm, bài nghiên cứu, lý luận, phê bình… Tuy nhiên, những nghiên cứu đi
trước chỉ khảo sát báo Lục tỉnh tân văn như một hiện tượng chung của văn học miền
Nam, mà chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về việc nghiên cứu, lý luận,
phê bình văn học trên báo Lục tỉnh tân văn một cách riêng biệt
Những công trình kể trên đã đặt những bước đầu tiên và đưa ra nhiều gợi ý cho chúng tôi khi thực hiện đề tài này
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là các bài nghiên cứu, lý luận, phê bình văn
học trên báo Lục tỉnh tân văn từ số 1 ngày 14/11/1907 đến số 7741 ngày 30/9/1944
(Riêng các số báo của 2 năm 1908, 1909 thiếu hoàn toàn nên chúng tôi chưa khảo sát được)
Ngoài ra, luận văn cũng khảo sát một số tờ báo cùng thời với Lục tỉnh tân văn
nhằm so sánh đối chiếu để làm nổi rõ hơn những ý kiến nghiên cứu, lý luận, phê bình văn chương Việt Nam đầu thế kỉ XX
4 Ý NGHĨA ĐỀ TÀI
Đề tài nhằm cung cấp cái nhìn khái quát về tình hình nghiên cứu, lý luận, phê
bình văn học trên Lục tỉnh tân văn, qua đó, chỉ ra những yếu tố riêng biệt ảnh hưởng
đến nền lý luận, phê bình văn học Nam Bộ đầu thế kỷ XX
Trang 155 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp thống kê – phân loại: khảo sát và thống kê nhằm tìm ra những ý
kiến, tranh luận, bàn bạc, phê bình, lý luận văn học trên báo Lục tỉnh tân văn, từ đó,
phân loại và sắp xếp thành hệ thống một cách khoa học nhất
5.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp: Qua việc khảo sát trực tiếp với những văn
bản trên báo Lục tỉnh tân văn, chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm trình bày
những nhận định, rút ra kết luận về hoạt động nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học trên báo
5.3 Phương pháp so sánh đối chiếu đồng đại và lịch đại: Chúng tôi dùng phương
pháp này nhằm so sánh vấn đề trên các báo cùng thời Để từ đó, rút ra đặc điểm riêng
của hoạt động nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học trên báo Lục tỉnh tân văn
5.4 Phương pháp so sánh liên ngành: Chúng tôi nghiên cứu đối tượng bằng
phương pháp liên ngành bao gồm sự kết hợp của nhiều phương pháp khác nhau trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như ngữ văn học, văn hóa học, xã hội học, lịch sử… nhằm nghiên cứu bối cảnh xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX, cũng như tác động của lịch sử, xã hội đến báo chí, văn học Từ đó rút ra mối quan hệ xã hội - báo chí
Trang 166 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn chia thành 3 chương như sau:
THÀNH BÁO CHÍ QUỐC NGỮ NAM BỘ (16 trang)
Tìm hiểu về bối cảnh lịch sử, chính trị của Nam Bộ những năm đầu thế kỉ XX,
và nêu lên vai trò của báo chí đối với sự phát triển văn học Việt Nam Đồng thời, chúng tôi cũng đưa ra cái nhìn tổng quát về sự ra đời, phát triển, nội dung và hình thức của
báo Lục tỉnh tân văn
Ở chương này, đối tượng khảo sát chính của chúng tôi là những bài viết về
nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học trên báo Lục tỉnh tân văn Sau đó, chúng tôi
bước vào tổng thuật lại những vấn đề trên một cách hệ thống
TỈNH TÂN VĂN: VAI TRÒ, Ý NGHĨA VÀ ĐẶC ĐIỂM (53 trang)
Trong chương này, chúng tôi dành để đánh giá tình hình nghiên cứu, lý luận, phê
bình văn học trên báo Lục tỉnh tân văn, khái quát những thành tựu đạt được cũng như
những hạn chế của lý luận, phê bình văn học trên tờ báo này Đồng thời, so sánh với báo chí đương thời để có cái nhìn khách quan nhất Ở chương này, luận văn cũng nêu ra tên tuổi và những đóng góp cho lý luận, phê bình văn học của một số cây bút tiêu biểu
Trang 17NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: XÃ HỘI VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX VÀ SỰ HÌNH
THÀNH BÁO CHÍ QUỐC NGỮ NAM BỘ
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, đất nước ta có nhiều biến động lớn do sự xuất hiện của kẻ xâm lăng Trước bối cảnh đó, Đảng cộng sản Đông Dương ra đời và lãnh đạo phong trào đấu tranh giành quyền tự do ở khắp nơi Như một lẽ tất nhiên, lịch sử, chính trị với những thay đổi đã tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội, văn hóa
Vào thời gian này ở Nam Bộ, báo chí ra đời để tuyên truyền cho nhà cầm quyền thực dân Nhưng với sự khôn khéo, nhanh nhạy của những nhà trí thức mới, báo chí đã phát triển mạnh mẽ và tham gia phục vụ đắc lực cho đời sống xã hội, góp phần cổ vũ mạnh mẽ cho văn chương phát triển
Giới thiệu về bối cảnh xã hội, tình hình chính trị những năm đầu thế kỉ XX cùng với lịch sử hình thành báo chí Nam Bộ, vai trò của nó trong xã hội và văn chương những năm đầu khi mới ra đời, chương một luận văn nhằm phác họa một cách khái quát
về loại hình truyền thông mới mẻ này Bên cạnh đó, chương một đã đi vào tìm hiểu sự
lịch sử ra đời, tồn tại và những đóng góp giá trị của báo Lục tỉnh tân văn trong đời sống
xã hội Nam Bộ những năm đầu thế kỉ XX
Tìm hiểu, phân tích và kế thừa ý kiến từ nhiều nhà nghiên cứu đi trước, chương
lý thuyết của chúng tôi, vì thế, có ý nghĩa tổng thuật nhằm giới thiệu những vấn đề chung nhất của bối cảnh lịch sử, xã hội và báo chí Qua đó để hiểu rõ hơn mối quan hệ
xã hội – báo chí – văn chương
1.1 Bối cảnh lịch sử Nam Bộ cuối thế kỉ XIX nửa đầu thế kỉ XX
1.1.1 Bối cảnh chính trị
Năm 1858 Pháp nổ phát súng đầu tiên vào nước ta tại Đà Nẵng Ngày
17-2-1859, Pháp đánh chiếm toàn bộ thành Gia Định Ngày 24 – 6-1867 chính quyền Huế đã
để mất tiếp 3 tỉnh miền Tây vào tay Pháp Từ đây Nam Bộ đã thuộc phần quản lý của
Pháp, chúng lập chế độ cai trị thực dân với tên gọi “Nam Bộ thuộc Pháp”, chia thành 4
khu vực hành chính, mọi quyền hành đều do người Pháp chỉ đạo
Trang 18Sau khi chiếm được toàn bộ nước ta, thực dân Pháp tiến hành “chia để trị”
chúng chia nước ta thành 3 xứ: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam Bộ với những chế độ cai quản khác nhau
Năm 1930 Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Người đã chủ trương thống nhất các tổ chức yêu nước thành một Đảng duy nhất để lãnh đạo toàn thể nhân dân Việt Nam trên con đường cách mạng, giải phóng dân tộc và tiến bộ cùng xu thế chung của nhân loại
Năm 1939, chiến tranh thế giới lần II nổ ra, nhận thấy sự phức tạp của cuộc chiến, Đảng đã đưa ra những chiến lược chính trị cho cả dân tộc ta Nhiệm vụ đầu tiên
là liên kết giai cấp công nhân và nông dân để tạo nên sức mạnh quần chúng lật đổ chính quyền thực dân đế quốc và phong kiến
Tháng 11-1940, khởi nghĩa nhanh chóng phát triển tại nhiều nơi Ở Nam Bộ, nhân dân đã đứng lên cướp chính quyền bất chấp những cuộc đàn áp dã man của thực dân Pháp, nhiều chiến sĩ yêu nước đã hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc
Năm 1941, Bác Hồ trở về nước và lập căn cứ ở Cao Bằng Người cho ra đời tờ
báo Việt Nam độc lập để tuyên truyền giáo dục nhân dân, đưa ra nhiệm vụ đoàn kết các
dân tộc, tạo thành sức mạnh vô song chiến đấu với kẻ thù
Ngày 14-8-1945 phát xít Nhật đầu hàng vô điều kiện các nước đồng minh, nhận thấy tình hình thuận lợi Đảng đã lãnh đạo nhân dân đứng lên giành chính quyền trong
cả nước Ngày 19-8-1945 khởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Nội thành công, rồi lần lượt đến các thành phố lớn trong cả nước Cách mạng Tháng 8 thắng lợi đã mang lại ý nghĩa to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta và nhân dân lao động trên thế giới Sau tổng khởi nghĩa thành công, cả nước hăng hái bắt tay vào xây dựng một đất nước độc lập, tự do, hạnh phúc
1.1.2 Xã hội Nam Bộ với những thay đổi sâu sắc
Đặt ra chính sách “dùng người Việt đánh người Việt”, thực dân Pháp tiến hành
tuyển chọn trong đám địa chủ phong kiến người Việt cho cầm đầu làng, tổng để dễ bề thu thuế, trấn áp nhân dân lao động Pháp thực hiện chính sách ngu dân, biến dân ta thành những con người có đầu óc u mê, những cỗ máy lao động nhằm thu lại nguồn lợi cho chúng
Trang 19Thực dân Pháp cho phát triển hệ thống giao thông vận tải, mở nhiều tuyến đường
bộ, đường thủy, đường sắt… để dễ dàng vận chuyển tài nguyên, nguyên liệu mà chúng
đã vơ vét ở nước ta Pháp chú trọng đến nền công nghiệp nặng, thủ tiêu những ngành nghề truyền thống và đặt nhiều thứ sưu thuế vô cùng tàn ác
Hàng trăm cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân diễn ra trong cả nước, ở Sài Gòn có cuộc nổi dậy lịch sử của công nhân xí nghiệp đóng tàu Ba Son do Tôn Đức Thắng lãnh đạo
Qua hai cuộc khai thác thuộc địa của Pháp đã khiến cho xã hội Việt Nam có sự phân hóa sâu sắc:
Kết quả của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2 của thực dân Pháp ở Việt Nam là một sự hòa trộn xen ghép hỗn hợp các quan hệ tư bản thực dân với các quan hệ tiền tư bản, chủ yếu là quan hệ phong kiến làm cho tính chất xã hội Việt Nam khi
đó mang đậm nét xã hội thuộc địa nửa phong kiến; và sự phân hóa cũng trở nên sâu sắc giữa các giai tầng trong xã hội Việt Nam [41,316]
1.2 Lịch sử hình thành báo chí Quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỉ XX
1.2.1 Điều kiện hình thành báo chí Quốc ngữ Nam Bộ
Dưới sự khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp, xã hội Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, khiến nhân dân ta vô cùng căm phẫn Đặc biệt là giới trí thức đã ý thức được sự đau đớn của kiếp người bị mất tự do ngay trên mảnh đất quê hương, điều này càng thôi thúc họ đứng lên đấu tranh Ngoài việc đấu tranh bằng quân
sự, họ đã góp sức mình vào công cuộc đấu tranh bằng những áng văn thơ giàu lòng yêu nước, căm thù giặc và quyết tâm chống giặc ngoại xâm Bọn thực dân đã xây dựng nhiều trường học để dạy tiếng Pháp và phổ biến chữ Quốc ngữ với mục đích đồng hóa dân chúng thuộc địa bằng văn minh Tây Âu Chữ Quốc ngữ được dùng trong mọi công văn giấy tờ, khiến nó trở nên thông dụng Điều này đã làm chữ Hán dần mất đi vị trí độc tôn của mình trong đời sống xã hội
Lấy lí do canh tân đất nước, nhưng trên thực tế, Pháp cho mở rộng hệ thống báo chí từ Bắc vào Nam chỉ nhằm mục đích biến báo chí thành vũ khí chính trị, thực hiện
cho âm mưu của bọn chúng Trong 120 năm báo chí Việt Nam, Hồng Chương đã viết: “
Trang 20Từ năm 1865 đến hết thế kỷ XX, giặc Pháp sử dụng báo chí chủ yếu để phục vụ việc xâm lược nước ta Về sau, chúng sử dụng báo chí làm công cụ nô dịch nhân dân ta…”
[10,13]
Ngày 27-9-1881, Pháp đã đưa ra 10 điểm trong “đạo luật tự do báo chí”, nhằm
khuyến khích báo chí phát triển trên cả 3 miền Tuy nhiên, ngày 30-12-1898, Pháp lại ban hành sắc luật xóa bỏ mọi quyền tự do báo chí quy định trước kia Sắc luật này ra
đời sau sự kiện tờ báo tiếng Việt là Phan Yên báo đăng bài “Đòn cân Archimède” công
khai lên tiếng chống đối sự có mặt của chính phủ Pháp trên đất nước Việt Nam Thực dân Pháp đã nhận ra, báo chí không còn là công cụ để thực hiện âm mưu của chúng, mà
là vũ khí hữu ích để người dân bị trị dùng làm phương tiện đấu tranh cho quyền lợi của
đất nước mình: “chúng ta thấy rằng nội dung của sắc luật ngày 30-12-1898 hoàn toàn
trái ngược với tinh thần của đạo luật ngày 29-7-1881 về vấn để tự do báo chí Sắc luật
đã công khai hủy bỏ điều 5 của đạo luật 1881 cho phép tất cả báo đều được xuất bản ở Nam Bộ, nơi mà mọi người đều có quyền hưởng tất cả những quyền lợi của người Pháp
ở mẫu quốc” [79, 37]
Vào giai đoạn này, chữ Quốc ngữ dần hoàn thiện và phát triển, có thể sử dụng để diễn đạt mọi hình thức văn chương thay cho chữ Hán trước kia Nghề in cũng có sự lớn
mạnh, tạo điều kiện thuận lợi để báo chí phát triển mạnh mẽ: “Theo thống kê của chúng
tôi, ở Nam Bộ trước 1945 có đến trên dưới 50 tờ báo”[23] Đỗ Quang Hưng đã nhận
xét::
Như vậy Sài Gòn – Nam Bộ là cái nôi đầu tiên của báo chí nước ta Số phận lịch
sử đặc biệt của mảnh đất cực Nam của Tổ quốc ta đã khiến nó trở thành vùng đất đầu tiên chịu ách thực dân Nhưng cũng chính mảnh đất này, văn minh phương Tây đã nhanh chóng được thiết lập vừa mới mẻ choáng lộn về kỹ thuật, vừa có tính cưỡng bức, đe dọa với nền văn hiến của dân tộc Nghề làm báo đã sớm ra đời ở đây Về căn bản là con đẻ của chế độ thuộc địa và luôn bị nó khống chế Nhưng ngay trong bước đi ban đầu này, báo chí nước ta cũng bắt đầu lộ ra là một phương tiện, một công cụ cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sắp tới… [33, 34]
Với tinh thần yêu nước, giới văn sĩ Việt Nam đã biến báo chí thành cơ quan ngôn luận để đấu tranh chống kẻ thù, đi ngược lại với mục tiêu đồng hóa dân ta của
Trang 21thực dân Pháp nên báo chí một thời gian đã bị giám sát chặt chẽ Khoảng năm
1930-1933, có một số báo ở Nam Bộ đã đưa ra những chủ trương hoạt động chống lại chế độ
tàn ác của thực dân Pháp và phải lui vào hoạt động bí mật như: Cờ đỏ, Thùng dầu, Thợ
thuyền… Tuy nhiên, chính quyền thực dân vẫn không ngăn được sự phát triển của báo
chí nước ta cả về số lượng và chất lượng Từ đây, báo chí Việt Nam bước vào sứ mệnh quan trọng của mình trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
1.2.2 Một số tờ báo Quốc ngữ tiêu biểu ở Nam Bộ
Sau hòa ước Nhâm Tuất ngày 5-6-1862, thực dân Pháp đã cho ra đời một số tờ báo bằng tiếng Pháp và tiếng Hoa Tuy nhiên, chúng nhận thấy cần thiết phải có một tờ báo bằng chữ Quốc ngữ để hoàn thiện bộ máy cai trị trên lãnh thổ Việt Nam Ngày 1- 4
- 1865, chính phủ Pháp kí nghị định cho xuất bản tờ báo mang tên Gia Định báo, nhưng
lại giao giấy phép cho một người Pháp tên Ernest Potteaux Đến 16 - 9 -1869, chuẩn đô
đốc Ohier mới ký giao hẳn tờ Gia Định báo cho Trương Vĩnh Ký toàn quyền trông coi, Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút Từ đây, Gia Định báo được coi là tờ báo Quốc ngữ đầu
tiên của nước ta và đặt nền móng cho sự phát triển của báo chí trong đời sống xã hội
Dưới sự quản lý của Trương Vĩnh Ký, Gia Định báo không chỉ đơn thuần là tờ
báo đăng tải tin tức thời sự, nghị định, công văn của chính phủ thuộc địa mà nội dung
của báo đã đa dạng hơn với những bài bàn bạc về lịch sử, văn chương… và đặc biệt Gia
Định báo đã góp phần cổ vũ cho chữ Quốc ngữ và phổ biến tiếng Việt trong quần
chúng
Chủ trương “viết như nói thường”, Gia Định báo với nội dung sinh động, đa
dạng, ngôn từ dễ hiểu, văn phong giản dị đã chiếm được sự quan tâm của độc giả Có
thể nói Gia Định báo không chỉ là tờ báo cung cấp tin tức trong nước mà đã mở đầu
cho một nền văn chương Quốc ngữ hiện đại với nhiều thể loại văn xuôi, thơ ca… sau này
Tiếp theo Gia Định báo có hàng loạt các tờ báo Quốc ngữ ra đời ở Nam Bộ với nội dung phong phú trong đó tiêu biểu như: Nông cổ mín đàm, Công luận báo, Phụ nữ
tân văn…
Nông cổ mín đàm ra đời ngày 1-8-1901, do Canavaggio làm quản lý, Lương
Khắc Ninh làm chủ bút, phát hành vào thứ năm hàng tuần, thời gian sau báo được xuất
Trang 22bản 3 số/tuần, chủ yếu bàn về nông nghiệp và thương nghiệp Ngoài ra, Nông cổ mín
đàm còn góp phần rất lớn trong việc phát triển văn chương Quốc ngữ thông qua việc tổ
chức cuộc thi viết tiểu thuyết, chú trọng việc dịch truyện và thi ca Đến tháng 11-1921
tờ báo bị đình bản
Công luận báo có số báo đầu tiên in ngày 28-8-1916 Ban đầu là tuần báo nhưng
đến năm 1918 được xuất bản thành nhật báo Trên báo xuất hiện những chuyên trang về
phụ nữ, văn chương… bên cạnh những thông tin thời sự hàng ngày Công luận báo tồn
tại đến tháng 10-1939 và phát hành được 9021 số báo Đây là tờ báo được đánh giá là
có nhiều bài viết về văn chương, góp phần cổ vũ cho văn chương Quốc ngữ ở Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung phát triển một các mạnh mẽ
Phụ nữ tân văn xuất bản số đầu tiên ngày 2-5-1929 do Nguyễn Đức Nhuận làm
chủ nhiệm Sau tờ Nữ giới chung, thì đây là tờ báo chuyên viết về nữ giới với nội dung
đề cập đến những vấn đề nữ quyền và trách nhiệm của nữ giới đối với xã hội Tuy nhiên, tờ báo cũng có đăng tải những tin tức thời sự trong và ngoài nước Cùng với sự phát triển của xã hội, ảnh hưởng văn hóa của phương Tây, người phụ nữ đã nhận thấy
tầm quan trọng của mình trong đời sống Chính vì vậy, Phụ nữ tân văn ra đời không chỉ
được đón nhận nhiệt tình ở Nam Bộ mà nó còn được biết đến rộng rãi trong cả nước, tờ báo đã trở thành cơ quan ngôn luận của nữ giới và tầng lớp bình dân trong xã hội Ngày
21-04-1935, Phụ nữ tân văn bị đình bản sau 6 năm tồn tại
Với sự phát triển của chữ Quốc ngữ cùng với nhu cầu sử dụng báo chí cho việc tuyên truyền, cổ vũ lòng yêu nước của nhân dân và truyền bá những tư tưởng tiến bộ, văn minh thế giới, báo chí nước ta đã phát triển rất mạnh mẽ, hàng loạt các tờ báo ra đời ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam Ngoài những tờ báo kể trên còn có nhiều tờ báo đã
góp phần làm phong phú cho đời sống xã hội, chính trị, văn hóa của nước ta như: Phan
Yên báo (1868), Nam Kỳ địa phận (1908), Đông pháp thời báo (1923), Đông dương tạp chí (1913)…
Ban đầu với mục đích dùng để đồng hóa dân tộc ta, nhưng đến giai đoạn này báo chí Việt Nam đã thật sự trưởng thành Điều này thể hiện rõ ở việc số lượng báo chí tăng vọt, lực lượng các nhà báo đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong việc viết bài, nội dung phong phú đề cập được nhiều khía cạnh của cuộc sống, ngôn ngữ và văn phong báo chí ngày càng được hoàn thiện Công chúng đã được làm quen với phương tiện
Trang 23truyền thông mới có khả năng thâm nhập cuộc sống một cách chân thực, sâu sắc và trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của nhân dân ta
1.2.3 Đóng góp của báo chí đối với đời sống chính trị - xã hội
Với sự phát triển mạnh mẽ của mình, báo chí góp phần rất lớn trong đời sống chính trị, văn hóa, xã hội Báo chí trong giai đoạn này đã có những bài viết chống lại hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, đề cao đời sống tự do cá nhân, tố cáo những áp bức bóc lột trong xã hội
Có nhiều tờ báo dành riêng cho phụ nữ như Nữ giới chung, Phụ nữ tân văn, Phụ
nữ thời đàm và một số tờ báo dành chuyên trang, hoặc có nhiều bài viết về phụ nữ Qua
đó, cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào nữ quyền, đề cao giá trị của người phụ nữ trong xã hội
Báo chí góp phần nâng cao dân trí bằng việc cung cấp những thông tin tiến bộ về khoa học kỹ thuật của các nước trên thế giới, giúp người dân được tiếp cận với đời sống hiện đại Thông qua báo chí, chữ Quốc ngữ được phổ biến rộng rãi trong xã hội, các tờ báo Nam Bộ đầu thế kỉ XX đã đăng nhiều bài hướng dẫn cách viết chữ, dùng chữ Quốc ngữ trong sinh hoạt và văn tự
Bên cạnh đó, báo chí đã góp phần không nhỏ trong việc khuyến khích tinh thần yêu nước, đấu tranh chống thực dân và giải phóng dân tộc trong cả nước Dẫu là loại hình tuyên truyền mới mẻ ở nước ta, nhưng với tính chất nhanh chóng và phổ biến rộng rãi, báo chí đã trở thành công cụ hữu hiệu cho việc tuyên truyền tư tưởng yêu nước, góp phần làm thay đổi tư duy của người dân trong xã hội Đặc biệt, báo chí chính là mảnh đất màu mỡ để chắp cánh cho văn chương đơm hoa kết quả Đóng góp của báo chí giai đoạn này đối với văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội nước ta là không nhỏ, nó đã góp phần to lớn trong sứ mệnh giải phóng dân tộc và phát triển đời sống xã hội
1.3 Vai trò của báo chí Nam Bộ trong sự phát triển văn học Việt Nam
1.3.1 Báo chí Nam Bộ với vai trò “bà đỡ” cho nền văn học
Nguyễn Đình Chú nhận định: “Báo chí chưa hẳn là văn chương Văn chương
không phải là báo chí Nhưng có thể nói trên thế giới, từ khi có báo chí tới nay, đặc biệt
Trang 24là càng về sau, báo chí và văn chương càng gắn bó, có duyên nợ với nhau như hai người bà con gần gũi nhất” [8] Điều này cũng được thể hiện rõ trong lịch sử phát triển
văn học hiện đại Việt Nam Những số báo đầu tiên của tờ Gia Định báo, các văn sĩ đã
đăng tải các tác phẩm từ truyện dịch cho đến những sáng tác mới Hoạt động văn chương trên báo chí đã được phát triển mạnh mẽ, hầu hết trên các trang báo đều có phần đăng các bài thơ, tiểu thuyết, bài nghiên cứu văn học, những cuộc bút chiến rất
đều đặn Nhiều tờ báo còn dành cho văn học những trang phụ trương riêng như Lục tỉnh
tân văn, Công luận báo…
Chính những hoạt động văn chương đã góp phần giúp báo chí được độc giả đón nhận rộng rãi hơn, cũng qua những sáng tác nhà văn có thể khéo léo gửi gắm hay tuyên truyền cho tư tưởng yêu nước, đấu tranh dân tộc mà không bị kiểm duyệt gắt gao
Với đặc điểm của mình, báo chí và văn chương khác nhau về tính lưu truyền và hình thức thể hiện, nhà báo với nhiệm vụ cung cấp sự thật cho độc giả, đưa ra cái nhìn khách quan đối với những nhận định công luận, nhà văn tái hiện sự thật ấy thông qua trí tưởng tượng phong phú của mình Chính vì vậy, cái tôi của nhà văn được thể hiện một cách rõ nét hơn Tuy nhiên, không vì thế mà báo chí và văn chương buổi đầu tách rời khỏi nhau
Báo chí có đóng góp không nhỏ trong việc hình thành nền văn chương Quốc ngữ
và tạo tiền đề cho văn học hiện đại phát triển mạnh mẽ Báo chí và văn học đã đi sâu vào khám phá những mặt trái của xã hội, lên tiếng bênh vực cho người lao động nghèo, hướng con người tới một xã hội văn minh, tốt đẹp hơn Là phương tiện truyền tải thông tin nhanh và rộng rãi, báo chí đã góp sức mình vào việc phổ biến văn chương Quốc ngữ trong buổi đầu mới hình thành, giúp các nhà văn, nhà báo rèn luyện cách hành văn, cách dùng chữ Quốc ngữ Tác phẩm được đăng tải nhiều kỳ trên báo đã tạo nên sự tương tác giữa nhà văn và bạn đọc, những phản hồi về tác phẩm sẽ kéo nhà văn và độc giả đến gần hơn nhau hơn:
Về phương diện văn học, báo chí Việt Nam đã đóng một vai trò thực sự quan trọng Trước tiên, ta thấy rằng văn học Quốc ngữ ra đời và phát triển nhờ báo chí Chính báo chí là phương tiện duy nhất lúc bấy giờ cho phép nhà văn phổ biến trong dân chúng nền văn học mới, nền văn học chữ Quốc ngữ với những tư tưởng, những học thuyết Tây Phương…có thể nói rằng cái thành quả văn học mà
Trang 25người Việt Nam thâu lượm được, chỉ là cái hậu quả của chính sách tuyên truyền văn hóa để phục vụ cho mục tiêu chính trị Tuy nhiên, trên thực tế, những nhà trí thức Việt Nam lúc bấy giờ đã biết lợi dụng chính sách văn hóa của người Pháp
để phục vụ và làm cho hoàn hảo nền văn học nước nhà còn trong tình trạng phôi thai [79, 166]
1.3.2 Báo chí thúc đẩy quá trình hiện đại hóa văn học
Báo chí đã có đóng góp vô cùng to lớn trong việc phổ biến chữ Quốc ngữ - chữ viết dễ học, dễ nhớ và hiện đại giống phương Tây Chính việc thay đổi về chữ viết mang đến cho văn học một diện mạo mới và phát triển mạnh mẽ chưa từng có trong lịch sử Văn học đã có những thử nghiệm với nhiều thể loại, đề tài, đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của độc giả Báo chí là nơi để văn chương đăng tải các tác phẩm hiện đại như tiểu thuyết, Thơ mới, phóng sự… Bài Thơ mới đầu tiên của Phan Khôi đã
được đăng trên báo Phụ nữ tân văn, từ đây mở đầu cho một phong trào thơ ca hiện đại,
với nhiều tác phẩm có giá trị và đội ngũ tác giả hùng hậu Các nhà thơ như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử… cũng được đông đảo độc giả biết đến nhờ sự xuất hiện của các tác phẩm trên báo chí
Ngoài thơ thì tiểu thuyết cũng bắt đầu sự phát triển của mình thông qua báo chí Tiểu thuyết vào giai đoạn này đã ảnh hưởng của lối viết phương Tây với đề tài hiện thực cuộc sống giản dị, gần gũi Với dung lượng hạn chế của một tờ báo nên tiểu thuyết thường được cắt nhỏ và đăng thành nhiều kỳ, có những tiểu thuyết được đăng kéo dài
hơn cả năm như tác phẩm “Oan kia theo mãi” trên báo Lục tỉnh tân văn khởi đăng từ
13 – 2 -1920 đến 24 – 8 – 1921 Độc giả đã chờ đợi từng số báo để theo dõi những tiểu thuyết hấp dẫn Chính vì vậy, tác giả càng thôi thúc có nhiều tác phẩm để đáp ứng nhu cầu của độc giả Tuy nhiên, điều này làm nhà văn đôi lúc mất đi sự sáng tạo của riêng mình mà phải đi theo xu hướng chung của số đông, nhiều tác phẩm có kết thúc chiều theo độc giả mà thay đổi hoàn toàn so với dự kiến ban đầu của tác giả Thông qua báo chí nhiều nhà văn được yêu mến, ở miền Bắc có nhóm Tự lục văn đoàn, Nam Bộ có Lê Hoằng Mưu, Hồ Biểu Chánh, Bửu Đình…
Báo chí còn là nơi để các nhà tân học thể hiện những quan niệm của mình về một nền văn chương mới mẻ Trên các trang báo có rất nhiều những bài nghiên cứu, lý
Trang 26luận, phê bình về văn chương Các bài viết về các thể loại như tiểu thuyết, thơ, nhận định về vai trò tư cách của nhà văn, nghiên cứu về chữ Quốc ngữ… đã giúp cho độc giả
có cái nhìn hoàn thiện và sâu sắc hơn về một nền văn chương hiện đại Đặc biệt trên các báo vào giai đoạn này thường có những cuộc bút chiến nảy lửa của các nhà văn, nhà phê bình và độc giả Những cuộc bút chiến này đã cho thấy văn chương vẫn đang trên đường xác lập giá trị của mình đối với lịch sử, xã hội, mà báo chí chính là nơi đầu tiên chắp cánh cho nó
Thông qua báo chí, văn chương đã thể hiện được những giá trị của mình trong bước đầu đổi mới Báo chí đã mang đến một nền văn học hiện đại, ngày càng hoàn
thiện, hòa với xu thế của thế giới Mặc dù “chính phủ Pháp lúc bấy giờ đã cố ý giúp đỡ
để phát triển nền văn học Việt Nam hiện đại không phải là vì mục đích thực sự muốn giúp dân Việt Nam đúng cái nghĩa của nó, mà chính là muốn lợi dụng văn học làm phương tiện phục vụ cho chính sách tuyên truyền văn hóa của họ nhằm thống trị lâu dài dân tộc thuộc địa mà thôi” [ 79, 166], nhưng chúng ta đã khẳng định được sự sáng
tạo và tự chủ ngay trong cả đời sống tinh thần lẫn vật chất, chính điều này, đã mang đến những thắng lợi to lớn cho dân tộc ta
1.4 Báo Lục tỉnh tân văn
1.4.1 Hoàn cảnh ra đời và quá trình phát triển
1.4.1.1 Ngày ra đời và đình bản
Đầu thế kỉ XX, Lục tỉnh tân văn đã ra đời với sự “định hướng” của chính quyền
Pháp Tuy nhiên, với lòng tự tôn dân tộc, các nhà báo đã có ý thức làm thay đổi và biến
Lục tỉnh tân văn thành những trang thông tin đáng tin cậy về đời sống, xã hội trong
nước và thế giới, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của người dân Với nội
dung phong phú, số lượng báo phát hành đều đặn kéo dài 37 năm, Lục tỉnh tân văn đã
có đóng góp không nhỏ vào bức tranh chung của báo chí Quốc ngữ Việt Nam những năm đầu hình thành
Việc xác định ngày ra đời của Lục tỉnh tân văn đến nay vẫn chưa thống nhất Một số nhà nghiên cứu cho rằng Lục tỉnh tân văn ra đời số đầu tiên vào ngày 15-11-
Trang 271907, nhưng cũng có một số công trình khác lại cho rằng báo ra đời vào ngày
14-11-1907
Hồng Chương trong công trình 120 năm báo chí Việt Nam, Huỳnh Văn Tòng
trong Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945 đều cho rằng số đầu tiên của báo Lục
tỉnh tân văn ra ngày 15-11-1907
Những công trình khảo sát về báo chí Việt Nam trước năm 1945 của Bùi Đức
Tịnh, Đỗ Quang Hưng, Tô Huy Rứa thì khẳng định số đầu tiên của Lục tỉnh tân văn ra
ngày 14-11-1907
Khảo sát nguồn báo Lục tỉnh tân văn ở Thư viện tổng hợp Thành phố Hồ Chí
Minh (bắt đầu từ số 116, ngày 14/4/1910) và phòng tư liệu của khoa Văn học và ngôn
ngữ, trường Khoa học xã hội nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh (chỉ duy nhất có năm
1907), cho thấy, ban đầu báo ra đều đặn mỗi tuần một số vào thứ năm Sau đó, tăng
thêm một số vào chủ nhật từ 1-8-1918 Từ ngày 4-7-1919 mỗi tuần báo ra 3 số vào các
ngày thứ 2, thứ 4, thứ 6 Từ số báo 966 ra ngày 1-10-1921, Lục tỉnh tân văn xuất bản
hàng ngày trừ chủ nhật và ngày lễ Qua tìm hiểu tài liệu, chúng tôi thấy, số đầu tiên của
báo Lục tỉnh tân văn có 16 trang nhưng lại không ghi ngày xuất bản Số báo thứ 2 do tư
liệu mờ nên chúng tôi không thể xác định ngày ghi trên báo, số 3 xuất bản ngày
28-11-1907 Tuy có nhiều ý kiến từ các nhà nghiên cứu nhưng theo chúng tôi, khả năng số đầu
tiên của báo ra ngày 14-11-1907 là thuyết phục hơn cả, theo nghiên cứu của Sơn Nam:
“Để tiện cho việc ấn công, chúng tôi ghi lại vài mốc thời gian để căn cứ vào đó mà tính
tới: Số 1 không đề ngày Số 2, đề ngày 21-11-1907” [49, 150]
Cũng giống như việc ra đời, năm đình bản của Lục tỉnh tân văn cũng có nhiều ý
kiến khác nhau
Hồng Chương nhận xét: “Báo vẫn tiếp tục ra đến tháng 12-1944 thì đình bản”
[10, 15]
Tô Huy Rứa và Huỳnh Văn Tòng đều có nhận định báo Lục tỉnh tân văn đình
bản vào tháng 12-1944 Đỗ Quang Hưng cũng có ý kiến: “báo ngừng xuất bản khoảng
cuối năm 1944” [33, 31]
Trong quá trình tìm hiểu nguồn báo giấy tại thư viện Quốc gia Việt Nam, chúng
tôi khẳng định tờ báo cuối cùng còn lưu giữ tại đây là số 7741 ra ngày 30-9-1944 Vào
thời gian này, tình hình chính trị khá phức tạp, nạn đói diễn ra từ tháng 10-1944 đến
Trang 281945 khiến đời sống của nhân dân vô cùng khó khăn, nhiều cuộc đấu tranh vũ trang
diễn ra khắp nơi Bên cạnh đó, với “cái nạn khan giấy” nên từ năm 1941, số trang của
Lục tỉnh tân văn đã giảm xuống còn 2 trang, chất lượng giấy rất kém Lục tỉnh tân văn
chịu nhiều tác động từ tình hình xã hội, chính trị cùng với việc khan hiếm tài nguyên
giấy nên số báo 7741 đã có bài “Lời kỉnh cáo cùng chư quý vị bạn đọc”
Bài viết đã nêu tất cả những khó khăn mà tờ báo phải trải qua, buộc Lục tỉnh tân
văn phải “tạm biệt một thời gian” và “hứa hẹn sẽ còn cơ hội tái ngộ” Nhưng có thể
nhận định đây là số báo cuối cùng của Lục tỉnh tân văn, khép lại 37 năm tồn tại và được
đánh giá là tờ báo được độc giả tín nhiệm ở Nam Bộ vào lúc bấy giờ, quy tụ được các nhà báo của 3 miền Bắc – Trung – Nam, đóng góp nhiều bài viết có giá trị ở mọi lĩnh vực như chính trị, văn hóa, xã hội…
1.4.1.2 Các nhà chủ trương và giai đoạn phát triển
Các nhà nghiên cứu đều có chung nhận định: Piere Jeantet chính là người sáng lập và quản lý tờ báo từ những ngày mới thành lập cùng với chủ bút Trần Chánh Chiếu
Sơn Nam đã viết trong Miền Nam đầu thế kỷ XX Thiên Địa hội và cuộc Minh
Tân: “Chủ nhơn (chủ nhiệm) là Pierre Jeantet: “quan tham biện cựu, xin nhà nước mà lập ra nhà nhựt trình này, đặt hiệu là Lục tỉnh tân văn … Chủ bút: Trần Nhựt Thăng, biệt hiệu Đông Sơ Số 36 cho biết Đặng Thúc Liêng làm phó chủ bút Số 51, G.Chiếu bị bắt nên Lương Khắc Ninh làm chủ bút thay thế” [49, 151]
Nhưng đến số 115 ngày 7/4/1910 trên báo lại có tên chủ nhiệm mới là
F.H.Schneider Ông là nhà kinh doanh giàu có và nắm trong tay nhiều tờ báo như: “Đại
Nam Đồng văn nhật báo, Đông Dương tạp chí (ở Bắc Kỳ), Lục tỉnh tân văn… ở Nam Kỳ” [70, 42]
Từ năm 1916 đến lúc đình bản, trên các số báo đều ghi tên chủ nhân Nguyễn Văn Của Và chủ nhiệm Lâm Văn Ngọ từ ngày 3/11/1927
Dù có sự thay đổi về nhân sự qua các thời kì nhưng Lục tỉnh tân văn vẫn duy trì
mục tiêu cung cấp cho độc giả thông tin về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
trong nước và thế giới để phát triển cùng xu thế chung của thời đại
Dựa vào các công trình nghiên cứu về Lục tỉnh tân văn và việc tra cứu tài liệu,
chúng tôi chia quá trình phát triển của tờ báo này thành 4 giai đoạn:
Trang 29Giai đoạn 1907 – 1908: Từ số đầu tiên ngày 14/11/1907, Lục tỉnh tân văn được
quản lý bởi Trần Nhựt Thăng (tức Trần Chánh Chiếu) Ông là người có ảnh hưởng của phong trào Đông Du nên phần lớn những bài đăng trên báo trong thời gian này đều liên quan đến nội dung Minh Tân, chống lại hủ tục… Đây là giai đoạn mà tờ báo dám đứng lên chống lại kẻ thù thực dân, nói lên những quan điểm mới mẻ của mình về đời sống,
xã hội Đến số 50 ra ngày 29/10/1908 có tin: “Chủ bút Lục tỉnh tân văn đã bị giam cầm
vì tội đại ác” Lục tỉnh tân văn đổi chủ bút mới nên có nhiều thay đổi về hình thức lẫn
nội dung cho phù hợp với tôn chỉ hoạt động và điều kiện xã hội
Giai đoạn 1909 - 1920: Từ ngày 7/4/1910 (các số báo năm 1909 và từ tháng 1 đến tháng 3-1910 bị mất nên chúng tôi không thể khảo sát), tờ báo bước sang một giai đoạn mới với những chuyên mục phong phú: Bổn hạt thời sự đăng những câu chuyện thời sự trong nước, Nam Bộ nông vụ: cách nuôi trồng, tình hình thời tiết, chọn giống lúa giống vật nuôi cho vụ mùa, dịch truyện nước ngoài, Nhàn đàm, Thai, Những điều
nên biết… Vào giai đoạn này, Lục tỉnh tân văn đã có nhiều thể loại như: thông tin báo
chí, nghị luận, bình luận, khoa học… Đây chính là nền tảng cho một thời kì phát triển rực rỡ cả về số lượng và chất lượng của tờ báo uy tín bậc nhất Nam Bộ lúc bấy giờ
Giai đoạn 1921- 1941: Từ ngày 3/10/1921, Lục tỉnh tân văn nhập với Nam
Trung nhật báo, vẫn lấy tên là Lục tỉnh tân văn nhưng phát hành hàng ngày trừ chủ nhật
và ngày lễ Đây có thể coi là thời kì phát triển mạnh mẽ nhất của Lục tỉnh tân văn, với
số lượng báo xuất bản đều đặn hàng ngày, nội dung phong phú Tờ báo đã cập nhật đầy
đủ tình hình thời sự trong nước và thế giới, cổ vũ phong trào học chữ Quốc ngữ trong
nhân dân Lục tỉnh tân văn đề cập đến nhiều đề tài đa dạng hơn như: kinh tế, y tế, văn
học nghệ thuật… Đặc biệt, vào giai đoạn này, các chuyên trang đã xuất hiện đều đặn
trên báo như Phụ trương phụ nữ, Thể thao Tháng 6/1933, Phụ trương văn chương ra
đời, tồn tại trong vòng 6 năm, đăng tải những bài phê bình văn học, những cuộc bút
chiến, những tác phẩm mới của nhiều tác giả Lục tỉnh tân văn đã xứng đáng là một tờ
nhật báo với những thông tin đa dạng góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của người dân và cũng không quên góp tiếng nói của mình vào công cuộc đấu tranh cho tự
do của dân tộc
Giai đoạn 1942 – 1944: Bắt đầu từ tháng 1/1942 mỗi tờ nhật báo Lục tỉnh tân
văn chỉ còn hai trang vì tình hình chiến tranh diễn ra liên miên, cùng nạn khan hiếm tài
Trang 30nguyên giấy Báo chí Quốc ngữ buộc phải giảm bớt số trang để duy trì hoạt động Thông tin đăng tải trên mặt báo chủ yếu viết về chiến tranh, tình hình chiến sự trong và ngoài nước Những bài văn học nghệ thuật, đời sống xã hội… không còn xuất hiện thường xuyên như trước, đây cũng là tình trạng chung cho báo chí lúc bấy giờ Với
những khó khăn như vậy, ngày 30/9/1944, chủ bút Lục tỉnh tân văn đã có bài viết chào
độc giả.Và có thể coi đây là số báo cuối cùng
Với chặng đường 37 năm thăng trầm, biến động cùng xã hội, Lục tỉnh tân văn
vẫn xứng đáng là tờ báo uy tín của Nam Bộ những năm đầu thế kỉ XX Việc xác định
các giai đoạn phát triển của báo Lục tỉnh tân văn vẫn còn nhiều ý kiến và chưa thống Qua việc tìm hiểu tài liệu, chúng tôi chia thành 4 giai đoạn phát triển của tờ báo, cách
chia này đã thể hiện rõ những thay đổi về nội dung và hình thức của báo trong cả quá trình hình thành và tồn tại
1.4.2 Nội dung và hình thức
1.4.2.1 Nội dung phong phú
Trên Lục tỉnh tân văn chúng ta có thể tìm thấy các thông tin về thời sự trong
nước và quốc tế, bàn luận về giáo dục, văn chương, nghệ thuật, kêu gọi bài trừ mê tín dị đoan… trong các mục Bổn hạt thời sự, Nam kì nông vụ, Thai, Nhàn đàm, thể thao, quảng cáo Ngoài ra các bài về mẹo nữ công gia chánh, cách phòng chữa bệnh tật… cũng thường xuyên xuất hiện lên trang báo
Lục tỉnh tân văn là tờ báo có nội dung phong phú, đáp ứng được nhu cầu thưởng
thức báo chí ngày càng tăng của nhân dân Với lời văn giản dị dễ hiểu, Lục tỉnh tân văn
ngoài những tin tức xã hội còn cung cấp lượng kiến thức lớn về khoa học kỹ thuật cho độc giả:
Để khích lệ việc mua bán và phát triển công nghệ, trên đưa ra vài sáng kiến thí
dụ như ra đề thi, ai viết bài nói rõ về cách dùng cây dừa, cây tre, cây chuối thì được thưởng một năm hoặc sáu, ba tháng nhựt trình (hạng nhứt, nhì, ba…) Bài được giải nhứt do ông Trần Văn Tề gửi đến: “Cách trồng tre và dùng nó” (số 35) Muốn trồng tre cho mau xàu thì nên bứng gốc, trồng xiêng xiêng Lại dạy cách dưỡng cho tre dày cơm Về công dụng của cây tre “từ thuở mới nứt ra đến già, đến chết” tác giả nói công dụng của măng tre, lá tre, đọt tre “Rễ tre dùng làm thuốc Nam” “Tre làm mõ đánh cũng kêu, kẻ gian tế nghe cũng hết hồn
Trang 31hoảng vía… Gốc tre dùng làm đồ để xin keo xin xăm… Tre già để làm ống viết Chẻ ra rồi vót tròn làm lồng cu, chuồng chim, lồng sáo, lồng cưởng, lồng manh manh, áo già cũng ngộ [49, 139]
Cũng như báo chí đương thời, Lục tỉnh tân văn đã là nơi giúp sức cho văn học
phát triển Những tác phẩm sáng tác, tác phẩm dịch, những quan niệm văn chương,
những cuộc bút chiến được đăng tải thường xuyên Chuyên trang văn chương trên Lục
tỉnh tân văn đã thu hút sự chú ý của nhà báo và độc giả khắp Lục tỉnh
Ngoài ra, Lục tỉnh tân văn rất chú trọng đến những trang quảng cáo và chiếm 1/3 tổng số trang báo: “Từ số 23, Lục tỉnh cho biết sẵn sàng giới thiệu những tiệm buôn, cứ
gửi về ghi rõ hiệu tiệm, ngày khai trương, số vốn”[49, 140] Nhờ vậy nhiều nhãn hiệu
được độc giả quan tâm và lựa chọn
Tất cả những tin tức của xã hội được truyền tải nhanh chóng vào từng trang báo,
người dân tiếp xúc với một hình thức thông tin vô cùng hữu ích và hiện đại Lục tỉnh
tân văn đã đóng góp một phần không nhỏ vào việc cổ vũ cho một lối sống mới, ủng hộ
chữ Quốc ngữ phát triển trên cả nước Nơi đây đã có nhiều cây bút tài năng như Trương
Duy Toản, Trần Tuấn Khải, Lê Hoằng Mưu… Với văn phong dễ hiểu, ngôn từ giản dị
Lục tỉnh tân văn đã truyền tải trọn vẹn những thông tin của mình đến độc giả trong cả
nước, sự tồn tại của báo suốt một thời gian dài đã minh chứng được phần nào sự tin tưởng của độc giả vào một tờ báo có nội dung thiết thực, phong phú
1.4.2.2 Hình thức ổn định
“Báo không coi trọng kỹ thuật trình bày, các bài được xếp nối nhau, hết bài này đến bài khác, làm cho tờ báo đơn điệu, buồn tẻ”[10, 58]
Từ những số đầu cho đến số cuối cùng vào năm 1944, nhìn chung hình thức của
Lục tỉnh tân văn không có nhiều thay đổi Manchette chỉ có một số thay đổi nhỏ để phù
hợp với từng giai đoạn phát triển của báo
Những số đầu của Lục tỉnh tân văn được in trên khổ giấy 44x40cm Số báo cuối
cùng có khổ giấy là 55x36cm Điều đó thể hiện, tờ báo có sự lớn mạnh về nội dung nên kéo theo việc thay đổi về hình thức để phù hợp và đáp ứng nhu cầu của độc giả là một việc làm hợp lí
Từ số đầu tiên với 16 trang, sau đó, số trang báo cũng có những thay đổi theo
định hướng của từng vị lãnh đạo để phù hợp với điều kiện của Lục tỉnh tân văn Thời
Trang 32gian từ 1910 đến 2/8/1923, số trang báo thay đổi liên tục có khi 12 trang, 8 trang và 4
trang Tuy nhiên, tháng 8 năm 1923 đến hết năm 1941 mỗi tờ Lục tỉnh tân văn ổn định
với số lượng 6 trang Đến 3 năm cuối là 1942, 1943, 1944, số trang báo giảm xuống còn
2 trang, chất lượng giấy rất xấu
Giá báo Lục tỉnh tân văn thay đổi liên tục tùy theo từng hoàn cảnh kinh tế xã hội
cũng như số lượng trang in Với hai hình thức, đặt báo theo từng năm, 6 tháng, 3 tháng, thông qua thư gửi về tòa soạn hoặc mua lẻ
Giá bán của Lục tỉnh tân văn được ghi trên những số cuối như sau: một năm:
22$00, sáu tháng: 12.00, ba tháng: 6.50, mỗi tháng: 2.20
Giá báo Lục tỉnh tân văn đã thay đổi tùy theo sự chuyển động của xã hội, nhưng
điều này cũng không làm ảnh hưởng đến uy tín của tờ báo trong lòng độc giả
Tiểu kết
Tình hình chính trị cuối thế kỉ XIX, đầu XX có nhiều thay đổi, đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống văn hóa xã hội Vào giai đoạn này, chính quyền thực dân đã thực hiện những chính sách đồng hóa nhân dân ta bằng nhiều cách Trong đấy phải kể đến việc bọn chúng đã mang chữ Quốc ngữ vào nước ta thay thế cho nền Hán học từ lâu đời Với những ưu điểm dễ đọc, dễ hiểu cùng với việc khuyến khích mạnh mẽ của thực dân nên số lượng người dân trong nước biết đọc biết viết chữ Quốc ngữ đã tăng mạnh
Trải qua 37 năm tồn tại và thăng trầm, Lục tỉnh tân văn đã có những đóng góp
không nhỏ về mặt nội dung để hoàn thiện bức tranh báo chí Nam Kì những năm đầu thế
kỉ XX Cũng như các báo đương thời nó cũng góp phần không nhỏ trong việc mang lại những hiểu biết khoa học – xã hội cho con người và lên tiếng đấu tranh chống kẻ thù xâm lược Những giá trị về nội dung, tư tưởng của các bài viết, các nhà báo đã là những bài học quý cho báo chí hiện đại ngày nay tham khảo và học tập
Trong giai đoạn này báo chí đã ra đời, để thực hiện những âm mưu thôn tính nước ta của bọn thực dân nên số lượng báo chí trong cả nước các tăng mạnh Tuy nhiên, với truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm cùng với tinh thần ham học hỏi của dân tộc ta, báo chí đã góp phần không nhỏ vào việc đấu tranh và phổ biến những kiến thức khoa học hiện đại và hữu ích cho dân ta Dẫu thời gian đã trôi qua, nhưng những giá trị
Trang 33quý giá mà báo chí Quốc ngữ Việt Nam và đặc biệt là báo chí Quốc ngữ Nam Kỳ mang lại sẽ là những tài sản quý giá cho dân tộc ta rất đáng tự hào
Trang 34CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU, LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC TRÊN LỤC
TỈNH TÂN VĂN: NỘI DUNG
Sau những nỗ lực, báo chí Nam Bộ những năm đầu thế kỉ XX đã khẳng định được vị thế của mình trong đời sống chính trị, xã hội và văn hóa Báo chí chính là nơi mang lại cho độc giả những thông tin quý báu, góp phần thúc đẩy xã hội tiến bước với những quan niệm đổi mới từ phương Tây Thời gian này, văn chương đã lĩnh hội được những giá trị mới mẻ, độc đáo nhất trong lịch sử phát triển của nó
Tìm hiểu lịch sử hình thành của văn học Quốc ngữ, cho thấy, báo chí chính là phương tiện đầu tiên mang văn chương đến gần với độc giả và đi vào đời sống một các giản dị, gần gũi Văn chương trở thành một phần quan trọng trong đời sống tinh thần và phản ánh chân thực đời sống tinh thần của con người, xóa bỏ quan niệm văn chương là thú vui của bậc quyền quý trong xã hội
Khảo sát trên báo chí Nam Bộ, cho thấy, số lượng tác phẩm được đăng tải khá nhiều và đều đặn Ngoài ra, hoạt động nghiên cứu, lý luận, phê bình văn chương cũng được quan tâm đặc biệt Hầu hết trên các trang báo đều có những bài nghiên cứu về văn chương nhằm bồi đắp thêm cho những kiến thức văn chương phương Tây khi nó mới
du nhập vào nước ta, bên cạnh đó, tranh luận văn chương cũng là một phần quan trọng tạo nên sự tương tác giữa ngưới sáng tác và tiếp nhận, giúp cho văn chương phát triển
nhanh chóng Lục tỉnh tân văn cũng không nằm ngoài những quy luật ấy, những quan điểm văn chương trên tờ báo đã chứng tỏ các cây bút Lục tỉnh tân văn đã dành cho văn
chương những niềm ưu ái đặc biệt
Trong chương hai, chúng tôi xin khảo sát những bài báo về nghiên cứu, lý luận,
phê bình văn học trên Lục tỉnh tân văn, để từ đó, khái quát được tình hình nghiên cứu
văn chương trên tờ báo này và chỉ ra được những ưu điểm và hạn chế của hoạt động
nghiên cứu văn học trên Lục tỉnh tân văn
Trang 352.1 Nghiên cứu, lý luận văn học – hoạt động sôi nổi trên Lục tỉnh tân văn
2.1.1 Quan niệm về văn chương đương thời
Đạm Phương cho rằng: “Văn chương được cho là lời nói hoa mỹ; văn chương
là để đạo đạt linh tính, phát triển tinh anh năng lực của muôn loài, bao gồm các cảm giác tư tưởng mà vẽ vời nên một bức tranh truyền thần xinh đẹp vô hạn” 1
Văn chương cũng được xem như linh hồn của một dân tộc Vì vậy, định nghĩa
văn chương được gắn với lịch sử hình thành văn hóa của từng quốc gia “Văn chương là
tinh túy của một nước là hồn một dân tộc, văn chương mà phong phú thì nước thạnh văn chương mà suy biến thì nước suy văn chương rất có ảnh hưởng đến vận mạng một quốc gia, một dân tộc” 2 Văn chương chính là quốc hồn, quốc túy, “Văn chương là tinh hoa của một nước 3 Qua đó, có thể thấy, các cây bút đều gặp nhau ở một điểm khi xem
văn chương chính là nơi hội tụ những giá trị tinh thần của dân tộc
Trong bài “Chuyện vặt làng văn Bạc Liêu” trên báo số 5118, ngày 9/11/1935, C.L Bạc Liêu đã viết: “Văn chương (literature) do chữ Latin littéroe; cứ theo đó mà
thể lượng thời văn chương là gồm cả thi, ca, sách vở cổ kim trong một nước.Vậy, đã gọi
là văn chương thì vận văn (vers), tản văn (prose) phải hàm súc tư tưởng cao siêu, lời lẽ tao nhã mới gọi là văn chương được” Theo thời gian, quan niệm về văn chương đã
được C.L Bạc Liêu nhận định bài bản hơn cùng thuật ngữ tiếng Anh, thể hiện sự hiện đại và khoa học
Trang 36Từ những nhận định: ““Văn” là cái tinh anh cốt cách đẹp, “chương” là cái
vầng sáng” 1 , “Văn chương là tinh hoa của trời đất” 2 Các tác giả Lục tỉnh tân văn cho
rằng: văn chương là hiện thân cho những giá trị tốt đẹp nhất trên đời, là kết tinh những
điều kì diệu của cuộc sống
Việc định nghĩa về văn chương giai đoạn này cũng chính là đi tìm giá trị của nó đối với đời sống con người Các tác giả đưa ra những ý kiến khác nhau, tuy chưa thật khoa học và đầy đủ nhưng phần nào đã nhận định đúng bản chất của văn chương Hầu hết các quan điểm đều chỉ ra tác dụng quan trọng của văn chương trong việc hướng con người đến những giá trị tốt đẹp của cuộc sống và phản ánh đời sống tinh thần phong
phú của mỗi dân tộc
2.1.1.2 Văn chương bình dân
Chữ Quốc ngữ xuất hiện và phát triển nhanh chóng khiến lớp tường bao của văn chương dần được tháo bỏ, mọi tầng lớp trong xã hội đều có cơ hội được thưởng
thức tác phẩm văn chương, “chúng tôi là hạng bình dân ưa đọc sách nói chuyện bình
dân mấy ông văn sĩ hiện thời nên vì lòng công ích viết ra rồi xuất bản cho chúng tôi” 3
Từ đây, các nhà nghiên cứu văn học bắt đầu chú ý đến khái niệm“văn chương bình
dân”: “Nhưng bước vào đầu thế kỷ thứ 20, trước cái phong trào dân quyền thạnh hành lại xuất hiện một phái văn sĩ mới, định đem một cái ngòi bút mới viết ra một thứ văn mới Tức là văn chương bình dân vậy” 4
Tuy văn chương bình dân “là dùng thứ tiếng bình dân mà làm ra vậy” nhưng
“chớ lầm tưởng văn chương bình dân, chỉ nói chuyện bình dân đâu, tưởng như vậy thật
là chưa biết văn chương bình dân là thế nào cả Trái lại, văn chương bình dân thường cũng có thế, thường cũng nên ra ngoài phạm vi cái đời chật hẹp, tầm thường bình dân
mà nói những chuyện nghĩa lý cao xa, ngòi bút nhà văn sĩ bình dân một đôi khi phải tả
ra những cái trạng huống sanh hoạt của hạng người thuộc về giai cấp trên, phải mô tả
Trang 37cái tâm của họ và cái hình hài của họ” 1 Tiêu Viên đã rất sắc sảo khi nhận định vấn đề
văn chương bình dân Theo tác giả, văn chương bình dân không phải là thứ văn “chật
hẹp, tầm thường” mà nó phải là những tác phẩm phản ánh chân thực đời sống và nói
lên tiếng nói của người lao động
Trong bài Văn chương bình dân, Tiêu Viên cũng đặt ra nhiệm vụ cho nhà văn:
“Cái mục đích của các nhà văn sĩ bình dân là phá cái giai cấp kia, làm cho tất cả mọi tiếng được bình đẳng” Qua đó, văn chương góp phần vào việc giáo dục con người giúp
họ hoàn thiện hơn trong một xã hội mới: “Ta chỉ nên biết rằng văn chương bình dân là
một cái lợi khí rất tốt để truyền bá cái biết thông thường cho đại đa số quốc dân không
có tiền của thì giờ để học cho xa và nhơn đó giúp cho sự giáo dục mỹ thuật của họ nữa”
Bên cạnh những ý kiến ủng hộ thì cũng có những quan điểm cho rằng: “cái gì
không có màu phú quý thì không đẹp được” và “hại cho văn chương về thẩm mỹ”
Thông qua những bài bình luận về nghề văn, cách viết văn, các tác giả cũng luôn quan tâm đến văn chương bình dân và đưa ra quan điểm của mình về vấn đề này:
“Tôi mong các nhà cầm bút lúc viết văn nghĩ đến người đọc văn mình Những người ấy
là hạng Tây không biết, Nho không hay, mong mình dạy dỗ Vậy nên trước khi đặt câu, dùng tiếng, nên cân nhắc, nên đắn đo, xem câu đặt thế có rõ ràng dễ hiểu không? Dùng chữ Nho nầy tiếng Annam có thể thay được không?” 2 Quan niệm về văn chương bình
dân đã lấy độc giả làm đối tượng chính để hướng đến, mở ra mối quan hệ giữa nhà văn – tác phẩm – độc giả, gắn bó và bình đẳng Đây là quan điểm mới mẻ, chưa từng được quan tâm trong văn học cổ điển
2.1.1.3 Văn chương nữ giới
Với sự khích lệ của xã hội, người phụ nữ dần khẳng định mình trong cuộc sống, trình độ và năng lực thẩm mĩ của họ đã dần được nâng cao Vì vậy, văn chương nữ giới
đã được H.T.B nhận xét rất tích cực: “nữ giới ngày nay đã có học thức có tư tưởng tiến
bộ cũng thật mau, chớ không phải ù ù cạc cạc như phần nhiều nữ giới ngày xưa nữa, về buổi xây tường dựng móng cho nền Quốc văn, bạn phấn son cũng có công lao, không
Trang 38thua gì bọn mày râu, đó thật là một việc vẻ vang cho nữ giới và đáng mừng cho tiền đồ Quốc văn vậy” 1 H.T.B trong bài “Văn chương nữ giới”, đã bày tỏ sự ủng hộ của mình
và xã hội đối với việc tham gia văn chương của nữ giới
Ngoài ra, văn chương nữ giới còn được hiểu là những sáng tác hướng đến độc
giả là đối tượng nữ giới – đây là đối tượng được các cây bút lý luận đặc biệt chú ý:
“Em nên luôn luôn nhớ rằng: cảnh trong chuyện chỉ là cảnh mơ mộng khác hẳn thực
sự Nếu em tin theo chuyện mơ mộng hoang đàng, phóng phiếm thì tâm trí em sẽ bị mờ
ám, em hết chí tiến thủ, em nhọc sức phấn đấu, em chán nản tương lai, một khi em thấy thực cảnh khác xa mộng cảnh, tả trong chuyện Em nên nhớ: tuổi trẻ là tuổi sáng sủa,
là tuổi chói lọi, phải hăng hái, phải hoạt động, phải yêu đời…” 2
Phụ nữ là đối tượng dễ bị văn chương tác động Chính vì vậy, việc lựa chọn tác
phẩm phù hợp là việc làm cần thiết của đám “quần thoa”:
Em xét ra trong phụ giới nước nhà ngày nay số tác giả có giá trị đã thuộc về thiểu số mà đến người biết xem văn cũng chưa lấy gì làm đông, vì em thường được nghe các bạn chị em phê bình về sách vở một cách không được chánh đáng Một số đông các chị em ta xem những tiểu thuyết tình tự dâm ô, những vở kịch đầu Ngôn, mình Sở thì cho là hay là thú Đối với những vở kịch có ảnh hưởng đến nhân tâm thế đạo thì cho là buồn chán Vì những lẽ này mà trong xuất bản giới nước nhà càng ngày thấy xuất hiện ra nhiều sách nhảm nhí, còn sách có giá trị vẫn không thấy tăng hơn ngày trước Cái lỗi ấy một phần tại số người không biết xem văn 3
Nhà văn và độc giả sẽ có trách nhiệm cùng hoàn thiện và đổi mới văn học hiện
đại, giúp nữ giới nhận thức được giá trị của mình trong xã hội mới “Hiện nay em chưa
dám hi vọng trong văn giới nước nhà có những tay nữ thi sĩ như Hồ Xuân Hương, như
bà Huyện Thanh quan, em chỉ hy vọng rằng đại đa số chị em ta biết học tập cho đủ tư
Trang 39cách, hiểu được giá trị câu văn một cách chắc chắn không mập mờ như chị em trong xã hội ta ngày nay” 1
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của văn chương, nữ giới đã góp phần không nhỏ vào tiến trình chung ấy, giá trị và vị thế của người nữ không ngừng được nâng cao Qua
việc khảo sát Lục tỉnh tân văn, chúng tôi đã gặp những bài lý luận phê bình văn học của
các tác giả nữ như Mộng Hoàng nữ sĩ, Đạm Phương… với nhận xét về văn chương rất logic, sắc sảo Điều này cho thấy, nữ giới đã nhận thức được vai trò của mình trong công cuộc đổi mới văn chương Ngoài ra, trình độ về chữ Quốc ngữ, sự am hiểu về văn chương cổ điển lẫn hiện đại đã mang đến cho người phụ nữ kiến thức về văn học, khiến
họ đủ tự tin góp tiếng nói của mình vào nền văn chương nước nhà Đây là hiện tượng
phổ biến đối với văn học Nam Bộ trong giai đoạn này Báo Phụ nữ tân văn từng đăng
“Bài diễn thuyết của cô Nguyễn Thị Kiêm về Thơ mới” số 211 ngày 10/8/1933 và số
212 ngày 24/8/1933 Với sự hiểu biết văn chương, nữ sĩ Manh Manh đã trình bày những quan điểm của mình về Thơ mới và mở đầu cho những cuộc tranh luận về Thơ mới – Thơ cũ diễn ra khắp miền Nam
Qua đó, hiện tượng văn chương nữ giới đã xuất hiện, dần hoàn chỉnh mang đến màu sắc mới cho nền văn chương Quốc ngữ và khích lệ các nữ sĩ tham gia tích cực để văn học là sản phẩm trí tuệ của toàn dân chứ không chỉ đại diện cho một tầng lớp, một giai cấp nào trong xã hội
2.1.1.4 Bàn về mẹo luật và cách thức làm văn
Văn chương không đơn thuần là những sáng tác mang đậm cảm tính, là tiếng hát
than thân của người lao động nghèo, nó cũng không chỉ là những tác phẩm “bất đắc
chí” của bậc văn sĩ hết thời Văn học thời kì này đã dần trở thành một bộ môn khoa học
xã hội Điều đó, thể hiện qua việc sáng tạo văn chương phải dựa trên những lý thuyết về thể loại
Năm 1936, 1937, Lục tỉnh tân văn đã đăng định nghĩa về các thể văn, điệu thơ của Việt văn quy tắc do Song Bình dịch thuật Các bài viết đã xuất hiện đều đặn trong
Phụ trương văn chương – chuyên mục hàng tuần của báo
1
Tú Lan, Chị em nên biết xem văn, số 3509, 22/5/1930
Trang 40- Lối văn tả cảnh, số 5186, ngày 6/2/1936
- Lối văn trào tiếu, số 5192, ngày 13/2/1936
- Luận theo điệu văn hoa, số 5198, ngày 20/02/1936
- Lối văn tá điển, số 5204, 5210, ngày 27/2/1936, 5/3/1936
- Điệu văn siêu tuyệt, số 5222, ngày 10/3/1936
- Lối văn hùng tráng, số 5240, ngày 9/4/1936
- Lối văn mô phỏng và điều hòa, số 5245, 5251, ngày 16/4/1936, 23/4/1936
- Lối văn điệp tự, số 5257, ngày 30/4/1936
- Lối văn trường cú và đoản cú, số 5262, 5269, ngày 7/5/1936, 14/5/1936
- Thi khúc – ca khúc – ngâm khúc, số 5280, 5285, ngày 28/5/1936, 4/6/1936
- Lối văn “Xương từ”, số 5297, 5303,5309, 5315, 5325, 5331, 5337, ngày
- Lối văn độc vận, số 5422, ngày 19/11/1936
- Lối văn có âm điệu điều hòa, số 5434, ngày 8/12/1936
- Lối văn giai vẫn, số 5440, ngày 10/12/1936
- Văn tế kẻ chết gọi là văn ai, số 5446, 17/12/1936
- Lối văn xác đáng, số 5452, 24/12/1936
- Lối văn hiệp pháp, số 5456, 31/12/1936
- Lối văn so sánh, số 5460, ngày 7/1/1937, số 5466, ngày 14/1/1937
- Lối văn hài hước, số 5472, ngày 21/1/1937
- Lối văn vi trí và vi tình, số 5478, ngày 28/1/1937
- Phép “phó danh” trong nghề làm văn, số 5484, ngày 4/2/1937
- Phép “húng hoán” trong câu văn, số 5495, ngày 25/2/1937
- Lời ước yếu trong câu văn, số 5501, ngày 4/3/1937