1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh bình thuận trong giai đoạn hiện nay

117 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 762,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã chỉ rõ: “Nhìn chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý ở vùng dân tộc và miền núi còn thiếu về số lượng, yếu về năng lự

Trang 1

VÕ THỊ LÊ

ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

Ở TỈNH BÌNH THUẬN TRONG GIAI ĐOẠN

HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2014

Trang 2

VÕ THỊ LÊ

ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

Ở TỈNH BÌNH THUẬN TRONG GIAI ĐOẠN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hồ Anh Dũng Kết quả nghiên cứu công trình khoa học này là trung thực và chưa từng được công bố

Tp Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 06 năm 2014

Tác giả

Võ Thị Lê

Trang 4

Trang PHẦN MỞ ĐẦU……… 1 Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ NÀY TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ……….… ….10 1.1 QUAN NIỆM VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ, CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ……… ……… 10

1.1.1 Dân tộc thiểu số…….……… …10 1.1.2 Cán bộ người dân tộc thiểu số……… ……… 18

1.2 VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Ở VIỆT NAM ………… ……….… …… ….29

1.2.1 Vai trò của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số đối với việc thực hiện các đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước……… 34 1.2.2 Vai trò của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số đối với việc xây dựng, củng

cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam……… 44

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH BÌNH THUẬN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY……….52 2.1 ĐẶC ĐIỂM, THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

Ở TỈNH BÌNH THUẬN……….52

2.1.1 Những điều kiện tác động đến việc phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Thuận………52 2.1.2 Đặc điểm đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Thuận……… …….……… 61 2.1.3 Thành tựu, hạn chế của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Thuận và nguyên nhân của nó.……….63

Trang 5

2.1.3.2 Những hạn chế của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Thuận……… …….……… 68 2.1.3.3 Nguyên nhân của thực trạng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Thuận……… …….……….70

2.2 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH BÌNH THUẬN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY………82

2.2.1 Phương hướng nhằm tiếp tục phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số

ở tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn hiện nay……… 82 2.2.2 Giải pháp nhằm tiếp tục phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn hiện nay……….89

KẾT LUẬN………101 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….…104

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia thống nhất có 54 dân tộc cùng sinh sống,

kề vai sát cánh bên nhau trong quá trình dựng nước và giữ nước Các dân tộc thiểu số ở nước ta sống rải rác trên địa bàn rộng lớn, có ý nghĩa chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng

và bảo vệ môi trường sinh thái Nhân dân các dân tộc nước ta có truyền thống đoàn kết lâu đời trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, khắc phục thiên tai và xây dựng đất nước Mỗi dân tộc có những nét văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú của nền văn hóa Việt Nam thống nhất

Ngay từ khi mới được thành lập cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc

có vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp cách mạng nước ta Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng ta đã đề ra chủ trương, chính sách dân tộc, với những nội dung cơ bản: “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển” Một trong những nội dung quan trọng để giải quyết tốt vấn đề dân tộc là phải xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có đầy đủ phẩm chất và năng lực, vững mạnh về số lượng và chất lượng Bởi đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số là những chiến sĩ xung kích của Đảng và Nhà nước ở vùng người dân tộc thiểu số là lực lượng quan trọng trong việc xây dựng, củng cố khối đoàn kết dân tộc

Thực tiễn đã chứng minh rằng nếu không xây dựng được đội ngũ cán

bộ người dân tộc thiểu số vững mạnh, có đủ phẩm chất và năng lực đảm đương nhiệm vụ cách mạng thì mọi chủ trương, chính sách của Đảng

Trang 7

không thể đi vào cuộc sống, không thể phát huy được nội lực của đồng bào các dân tộc, không đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước Từ việc xác định đường lối đúng đắn đó, trong những năm qua, Đảng ta đã chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số cho vùng dân tộc thiểu số Nhờ vậy, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số đã dần dần phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng, có nhiều đồng chí từ Trung ương cho đến địa phương, góp phần to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, vùng dân tộc và miền núi nói riêng

Tuy nhiên, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ ở vùng dân tộc và miền núi còn nhiều bất cập và hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới hiện nay Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã chỉ rõ: “Nhìn chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý ở vùng dân tộc và miền núi còn thiếu về số lượng, yếu về năng lực

tổ chức, chỉ đạo thực hiện: công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số chưa được quan tâm” [27, 34] và văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đánh giá: “…Một bộ phận cán bộ, đảng viên,

kể cả một số cán bộ chủ chốt, yếu kém về phẩm chất và năng lực, vừa thiếu tính tiên phong, gương mẫu, vừa không đủ trình độ hoàn thành nhiệm vụ” [30, 186] Đây là thực trạng chung của cả nước trong đó có tỉnh Bình Thuận

Bình Thuận là một tỉnh duyên hải cực Nam Trung Bộ, thuộc vùng kinh tế Đông Nam Bộ, nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của địa bàn kinh

tế trọng điểm phía Nam Phía Đông Bắc và Bắc giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Bắc và Tây Bắc giáp Lâm Đồng, phía Tây giáp Đồng Nai, phía Tây Nam giáp Bà Rịa - Vũng Tàu, phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông Theo số liệu thống kê năm 2010, Bình Thuận có diện tích 7.836,9 km2, gồm 1 thành phố và 10 huyện thị với tổng dân số 1.176.913 người Bình Thuận là tỉnh

Trang 8

có 8/10 huyện miền núi vùng cao, có 30 xã đặc biệt khó khăn Toàn tỉnh có hơn 34 dân tộc cùng chung sống, trong đó 6 dân tộc đông nhất là: Việt (Kinh), Chăm, Hoa, Raglay, Kơho và Tày, nhiều dân tộc lại có ngôn ngữ riêng, chữ viết riêng và bản sắc văn hóa riêng, tạo nên một bức tranh đời sống đa dạng và phong phú Là một tỉnh mới tách ra từ tỉnh Thuận Hải vào 20/10/1991 nên Bình Thuận còn gặp nhiều khó khăn trên nhiều lĩnh vực Đặc biệt, trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, bên cạnh những thành tựu bước đầu, cũng còn không ít những vấn đề yếu kém, bất cập, trong đó có những yếu kém về công tác phát triển đội ngũ cán

bộ người dân tộc thiểu số

Trong quá trình xây dựng, Đảng đã đề ra mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tại chỗ có phẩm chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu của địa phương; củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong việc tham gia thực hiện tốt các chính sách dân tộc” [29, 36] Mục tiêu đó đang đặt ra những nhiệm vụ bức xúc cho các vùng dân tộc, miền núi nói chung, tỉnh Bình Thuận nói riêng Do đó, phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số từ việc xây dựng, công tác quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đến bố trí, sử dụng và luân chuyển một cách có hiệu quả đội ngũ cán bộ này là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trên cả phương diện lý luận cũng như thực tiễn

Chính vì lý do trên, tôi chọn vấn đề “Đội ngũ cán bộ người dân tộc

thiểu số ở tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn

thạc sĩ chủ nghĩa xã hội khoa học

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây, nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở nhiều góc độ và khía cạnh

Trang 9

khác nhau Trong đó, có một số công trình nghiên cứu của một số tác giả như:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về dân tộc và dân tộc thiểu số

Trong chủ đề này có các tác phẩm như:

“Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong

phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay” do GS.TS Hoàng Chí Bảo

chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Nội dung cuốn sách phân tích và đánh giá thực trạng công bằng, bình đẳng và hợp tác giữa các dân tộc

ở miền núi và các vấn đề thực hiện chính sách dân tộc ở miền núi nước ta trong thời kỳ đổi mới

PGS TS Nguyễn Quốc Phẩm và GS TS Trịnh Quốc Tuấn (1999) có

công trình “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc

ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Đây là một cuốn sách tham

khảo, có nghiên cứu một cách sâu sắc vai trò của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số đối với việc xây dựng và phát huy vai trò hệ thống chính trị các vùng dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay

Luận văn thạc sĩ “Thực hiện chính sách dân tộc trong quá trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bình Thuận” của tác giả Văn Thị Thanh Hà

(2010) Luận văn làm rõ thực trạng của việc thực hiện chính sách dân tộc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh Bình Thuận; trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt chính sách dân tộc ở tỉnh Bình Thuận trong thời gian tới

Ủy ban dân tộc và miền núi xuất bản cuốn sách “Về vấn đề dân tộc và

công tác dân tộc ở nước ta”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Nội

dung cuốn sách đưa ra vấn đề tìm hiểu quan điểm chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta và nêu những yêu cầu, nhiệm vụ đối với đội ngũ cán

bộ làm công tác dân tộc hiện nay

Trang 10

Đề tài khoa học cấp Nhà nước: KX-05: “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay” (sách tham khảo) do GS TS Phan Hữu Dật (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Có đề cập đến vấn đề cán bộ người dân tộc thiểu số trong nội dung chương 3 và chương 4

Chương 3: Đề cập đến cán bộ dân tộc khi nghiên cứu chính sách dân tộc dưới bài học kinh nghiệm sử dụng con người trong lịch sử dựng nước

Công trình “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ

cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

của PGS TS Nguyễn Phú Trọng Trên cơ sở các quan điểm lý luận và tổng kết thực tiễn, cuốn sách đã phân tích, lý giải, hệ thống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, từ đó đưa ra những kiến nghị về phương hướng, giải pháp nhằm củng cố, phát triển đội ngũ này cả về chất lượng, số lượng

và cơ cấu cho phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

PGS TS Nguyễn Thế Nghĩa có bài viết “Nguồn nhân lực, động lực

của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Tạp chí Triết học số 1/1996

Tác giả đã đi sâu phân tích nguồn nhân lực, xem đó là yếu tố quyết định cho sự thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Qua đó đưa

ra một số giải pháp nhằm nâng cao nguồn nhân lực ở nước ta

Trang 11

Tác giả Nguyễn Thế Tư có bài viết “Về công tác đào tạo, bồi dưỡng

cán bộ công chức người dân tộc thiểu số ở Ninh Thuận hiện nay” – Tạp chí

Dân tộc học số 76, tháng 4/2007 Bài viết đã chỉ ra những thực trạng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức người dân tộc thiểu số ở Ninh Thuận, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức dân tộc thiểu số của tỉnh đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới

Tác giả Hà Quế Lâm với bài viết “Đổi mới chính sách đào tạo, bồi

dưỡng cán bộ công chức dân tộc thiểu số là nhiệm vụ cấp bách trong tình hình hiện nay”, Tạp chí Dân tộc học, số 44, tháng 8/2004 Tác giả đã chỉ ra

nhiệm vụ quan trọng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi đó là đào tạo đội ngũ cán bộ công chức dân tộc thiểu số và miền núi Vai trò của họ trong hệ thống chính trị là biểu hiện rõ nét nhất trong mối quan hệ bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc tạo ra niềm tin tưởng của đồng bào các dân tộc thiểu số đối với Đảng và Nhà nước ta Qua đó, Đảng và Nhà nước cần phải có chính sách đào tạo, bồi dưỡng hợp lý để tạo ra đội ngũ cán bộ có chất lượng

PGS TS Lê Hữu Nghĩa có công trình “Một số vấn đề xây dựng đội

ngũ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện các dân tộc ở Tây Nguyên”, Nxb Chính

trị Quốc gia, Hà Nội, 2001… đã khái quát một số năng lực cần có của đội ngũ cán bộ công chức cấp tỉnh, cấp huyện đồng thời nêu lên các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tổ chức thực tiễn của họ

Tác giả Hoàng Công Dung với bài “Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ

dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc” – Tạp chí Dân tộc học số

65, tháng 5/2006 Bài viết đã đề cập đến những khuyết điểm và tồn tại của công tác đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số, đồng thời nêu ra một số giải

Trang 12

pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số tại chỗ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

Thứ ba, các công trình nghiên cứu về cán bộ người dân tộc thiểu số

ở tỉnh Bình Thuận Trong nội dung này có công trình nghiên cứu như: Luận

văn thạc sĩ “Vai trò trí thức Chăm trong phát triển kinh tế - xã hội vùng

đồng bào Chăm ở tỉnh Bình Thuận” của tác giả Thanh Thị Minh Hiền

(2010) Tác giả đã chỉ ra vai trò, ảnh hưởng của của trí thức Chăm trong phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đề ra giải pháp và kiến nghị có cơ sở khoa học góp phần giúp các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý hoạch định các chủ trương, chính sách phù hợp với trí thức Chăm trong tình hình mới

Bên cạnh đó còn có những luận văn, luận án liên quan đến đề tài này

như: Luận văn thạc sĩ “Đổi mới chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong

đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc nước

ta hiện nay” của tác giả Lô Quốc Toản (1993); Luận án tiến sĩ “Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới” của tác giả

Trịnh Quang Cảnh (2002) Nhìn chung, các tác giả đã đề cập đến vấn đề tạo nguồn cán bộ người dân tộc thiểu số, và đề xuất một số giải pháp để phát triển nguồn cán bộ người dân tộc thiểu số và phát huy vai trò trí thức người dân tộc thiểu số

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, trực tiếp, riêng biệt về đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Thuận Vì vậy, đề tài không trùng lặp với các công trình đã được tuyên bố Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những công trình nghiên cứu, các bài viết của các tác giả, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần, bổ sung làm rõ thực trạng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Thuận để từ đó xác định phương hướng và đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số của tỉnh

Trang 13

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

* Mục đích của luận văn

Luận văn làm rõ đặc điểm, thực trạng của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Thuận, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và một

số giải pháp nhằm tiếp tục phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay

* Nhiệm vụ của luận văn

Để thực hiện được mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết những vấn đề sau:

Thứ nhất, luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về cán bộ, vai trò

của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Thứ hai, phân tích làm rõ đặc điểm, thực trạng, nguyên nhân và

những yêu cầu phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Thuận hiện nay

Thứ ba, đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm tiếp tục

phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Thuận đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước

* Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số tỉnh Bình Thuận thông qua công tác quy hoạch, đào tạo, bồi

dưỡng, sử dụng và luân chuyển đội ngũ cán bộ này từ 2002 đến nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

* Cơ sở lý luận của luận văn

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cán bộ và công tác cán bộ

Trang 14

* Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu như: logic – lịch sử, phân tích – tổng hợp, so sánh, đối chiếu

Đồng thời, luận văn sử dụng các báo cáo, tổng kết, thống kê của tỉnh Bình Thuận, các kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan đến đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Thuận

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

* Ý nghĩa khoa học

Luận văn góp phần chỉ ra thực trạng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Thuận, đề xuất những phương hướng cơ bản và một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số để đáp ứng yêu cầu mới trong giai đoạn hiện nay

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho học viên cao học, sinh viên các chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học, chính trị học và những ai quan tâm đến vấn đề cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Thuận

* Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn có thể cung cấp những luận cứ khoa học giúp cho cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Bình Thuận tham khảo để xây dựng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng, luân chuyển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm có: phần mở đầu, hai chương, 4 tiết, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo

Trang 15

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU

SỐ VÀ VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ NÀY TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT

TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

1.1 QUAN NIỆM VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ, CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1.1 Dân tộc thiểu số

Dân tộc là một trong những hình thái cộng đồng người, được hình thành trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử xã hội loài người và đang là một trong những vấn đề quan trọng, nổi lên trên thế giới

C.Mác và Ph.Ăngghen đã nghiên cứu một cách tường tận sự ra đời,

tổ chức và hoạt động của các hình thức cộng đồng người xuất hiện đầu tiên trong lịch sử, sự phát triển của nó dẫn tới hình thành dân tộc và các quốc gia dân tộc Theo quan điểm của Mác – Ăngghen, dân tộc là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc

Thị tộc là hình thức cộng đồng xã hội đầu tiên trong lịch sử loài người, bao gồm tập hợp một số người cùng chung huyết thống, các thành viên trong thị tộc cùng lao động, sử dụng các công cụ lao động, những đồng cỏ, cánh rừng chung và cùng hưởng thụ sản phẩm làm ra theo lối bình quân

Bộ lạc, đó là hình thái cộng đồng bao gồm một số thị tộc hay bào tộc thân thuộc có chung một tên gọi, và có vùng cư trú riêng

Bộ tộc là một hình thức tổ chức cộng đồng dân cư được hình thành

từ sự liên kết của nhiều bộ lạc và liên minh các bộ lạc trên cùng một vùng lãnh thổ nhất định Mỗi bộ tộc có tên gọi và có những đặc điểm về kinh tế,

Trang 16

văn hóa riêng Khác với bộ lạc và thị tộc, bộ tộc có vùng lãnh thổ tương đối

ổn định, dân cư đa dạng và đan xen, đa ngôn ngữ và văn hóa, trong đó ngôn ngữ của bộ lạc nào chiếm vị trí trung tâm của sự giao lưu và phát triển kinh

tế sẽ trở thành ngôn ngữ chung của cả bộ tộc Ngoài ra, điểm khác nhau căn bản giữa thị tộc, bộ lạc với bộ tộc còn thể hiện ở chỗ: thị tộc, bộ lạc chưa

có sự phân chia giai cấp, chưa có nhà nước; còn bộ tộc có sự phân chia giai cấp, có nhà nước Thị tộc, bộ lạc là những hình thức cộng đồng người tồn tại trong hình thái kinh tế - xã hội cộng sản nguyên thủy; còn bộ tộc là hình thức cộng đồng người ra đời và tồn tại trong hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ hoặc phong kiến Thời kỳ hình thành bộ tộc là thời kỳ đánh dấu sự tan rã hoàn toàn của xã hội công xã nguyên thủy, sở hữu tư nhân và chế độ tư hữu ra đời thay thế sở hữu tập thể của thị tộc, bộ lạc Hình thức cộng đồng người phát triển sau bộ tộc là dân tộc

Ở phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập thay thế phương thức sản xuất phong kiến Ở một

số nước phương Đông, do tác động của hoàn cảnh mang tính đặc thù, nhất

là do sự thúc đẩy của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, dân tộc

đã hình thành trước khi chủ nghĩa tư bản được xác lập Loại hình dân tộc tiền tư bản chủ nghĩa xuất hiện trên cơ sở một nền văn hóa, một tâm lý dân tộc đã phát triển tương đối chín muồi và trên cơ sở một cộng đồng kinh tế tuy đã đạt tới một mức độ nhất định song nhìn chung còn kém phát triển và

ở trạng thái phân tán

Thuật ngữ dân tộc được hiểu theo hai nghĩa là dân tộc với nghĩa cộng đồng tộc người (ethnic, ethnie) và dân tộc với nghĩa quốc gia dân tộc, một cộng đồng chính trị - xã hội (nation)

Thứ nhất, (nghĩa hẹp: dân tộc – tộc người) để chỉ một cộng đồng tộc

người có chung ngôn ngữ, lịch sử - nguồn gốc đặc điểm sinh lý, tâm lý, đời

Trang 17

sống văn hóa và ý thức dân tộc Theo nghĩa này, dân tộc được hiểu như một tộc người trong một quốc gia đa dân tộc như dân tộc Kinh (Việt), dân tộc Tày, dân tộc Thái…

Thứ hai, (nghĩa rộng: dân tộc – quốc gia) để chỉ một cộng đồng

người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ quốc gia, có nền kinh tế thống nhất, có quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước Theo nghĩa này, ta có dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa… Quốc gia – dân tộc bao gồm nhiều tộc người – đa số và thiểu số được hình thành trong lịch sử, ổn định trong điều kiện đa ngôn ngữ, thường lấy ngôn ngữ của dân tộc đa số làm ngôn ngữ phổ thông – làm công cụ giao tiếp chủ yếu, đồng thời có chung một lãnh thổ, cùng chung một vận mệnh lịch sử, gắn bó vận mệnh của tộc người riêng với vận mệnh chung của quốc gia – dân tộc, cùng chung lợi ích về chính trị, kinh tế, cùng chung một nền văn hóa vừa thống nhất, vừa đa dạng của quốc gia đa dân tộc

Trong một quốc gia dân tộc có nhiều tộc người khác nhau, bao giờ cũng có một tộc người có số dân đông nhất, gọi là dân tộc đa số và có một hay nhiều dân tộc có số dân ít hơn số dân của dân tộc đa số, gọi là dân tộc thiểu số Trong những quốc gia này, dân tộc đa số chiếm vai trò cực kỳ quan trọng, làm hạt nhân trung tâm tập hợp và phát huy sức mạnh của các dân tộc anh em; nhưng vai trò này sẽ không có được nếu không có sự đoàn kết, gắn bó và tạo dựng sự đồng thuận phát triển của các dân tộc thiểu số

Dân tộc thiểu số là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến

trên thế giới hiện nay Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc với nghĩa là những tộc người có dân số ít

Trang 18

Khái niệm dân tộc thiểu số bắt nguồn từ phương Tây vào thế kỷ

XIX, khi chủ nghĩa thực dân bắt đầu bành trướng sang các nước chậm phát triển để mở rộng thuộc địa Để dễ khai thác và thống trị thuộc địa, chủ nghĩa đế quốc né tránh vấn đề giai cấp và kích động, chia rẽ giữa những người ở các nước thuộc địa Điều đó khiến cho một số dân tộc nhỏ ở nhiều nơi rơi vào tình trạng bị thống trị hay lệ thuộc Họ bị coi là những người lạc hậu, chậm tiến, có địa vị thấp, khác biệt về nòi giống, ngôn ngữ, tôn giáo

Cùng với quan điểm này, năm 1945, Lu – I – Quớt (Louis Whirth), Giáo sư trường Đại học Chicago (Mỹ) đã đưa ra khái niệm về dân tộc thiểu

số như sau: Dân tộc thiểu số là một nhóm người có một số nét đặc thù về

ngoại hình, thể chất hay văn hóa, bị đối xử khác biệt, bất bình đẳng so với các thành viên khác của xã hội và do đó tự coi mình là đối tượng của sự kỳ thị tập thể [18, 65]

Những khái niệm trên đều nói lên sự phân biệt và kỳ thị đối với dân tộc thiểu số Đó là sự phân biệt đối xử của dân tộc đa số với dân tộc thiểu

số Vì vậy, để khắc phục sự kỳ thị, phân biệt đối xử trong những thập niên gần đây, khái niệm dân tộc thiểu số được hiểu theo những quan điểm mới Dân tộc thiểu số được hiểu là một cộng đồng được hình thành trong lịch sử

và mang đầy đủ những giá trị về quyền làm người, được tôn trọng và bình đẳng với dân tộc đa số

Năm 1982, nhằm góp phần giải quyết vấn đề kỳ thị dân tộc đang có nguy cơ bùng nổ trên thế giới, Tiểu ban đặc biệt về phòng chống nạn nhân phân biệt chủng tộc và bảo vệ các dân tộc của Liên Hiệp Quốc đã đưa ra

định nghĩa về dân tộc thiểu số như sau: dân tộc thiểu số là tập hợp những

người có lịch sử và diện mạo văn hóa riêng; tồn tại và phát triển trên vùng lãnh thổ thường là cách biệt với các vùng trung tâm cho đến trước khi bị xâm nhập bởi các xã hội từ bên ngoài Họ tồn tại như những bộ phận xã

Trang 19

hội dễ bị tổn thương và dễ nằm ngoài lề của sự phát triển (UNDP, 1999)

Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB): dân tộc thiểu số là nhóm người

có đặc điểm xã hội, văn hóa khác biệt với các dân tộc đa số khác Các đặc điểm này làm cho họ bất lợi trong quá trình phát triển của mình [18, 65]

Định nghĩa về dân tộc thiểu số của Liên hợp Quốc và Ngân hàng Phát triển Châu Á đã phản ánh những đặc điểm của dân tộc thiểu số Đặc điểm đó là dễ bị tổn thương, nằm ngoài lề, bất lợi trong quá trình phát triển, nên xã hội cần có sự quan tâm hơn nữa đối với sự tồn tại và phát triển của dân tộc thiểu số

Ngân hàng thế giới (WB) đã đề cập tới khái niệm dân tộc thiểu số

như: dân tộc thiểu số là các cộng đồng người có những đặc điểm riêng biệt

liên quan tới tính gắn bó với đồng đại của tổ tiên, với các thiết chế xã hội truyền thống, sản xuất tự cung tự cấp, có ngôn ngữ, nhận dạng, bản sắc xã hội và văn hóa khác hẳn với những người đa số [18, 65]

Sản xuất tự cung tự cấp là đặc điểm kinh tế riêng biệt và do những hoàn cảnh riêng, họ thường có địa vị xã hội và kinh tế thấp Tất cả những điều đó làm hạn chế khả năng bảo vệ các lợi ích và chủ quyền về đất đai và nguồn lực sản xuất khác, hạn chế khả năng tham gia và hưởng lợi từ quá trình phát triển của chính họ, cũng như làm cho họ dễ bị thiệt thòi trong quá trình phát triển về mặt đời sống và thu nhập Các dân tộc thiểu số là bộ phận cư dân nghèo nhất trong xã hội

Từ xa xưa Việt Nam đã là một quốc gia đa dân tộc Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam, dù nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa có khác nhau, song luôn đoàn kết chống xâm lăng Khi đất nước hòa bình thì cùng nhau làm ăn sinh sống trong sự hòa hợp, khi chiến tranh thì đoàn kết chống quân xâm lược Trải qua những khó khăn khắc nghiệt của thiên tai và chiến tranh đã làm cho các

Trang 20

dân tộc anh em gắn bó lại với nhau, không phân biệt dân tộc đa số hay thiểu số Tinh thần đoàn kết ấy đã trở thành truyền thống lịch sử, là giá trị tinh thần cực kỳ to lớn của nhân dân Việt Nam Chính vì vậy, Việt Nam là một quốc gia từ rất sớm đã có những quan niệm rất đúng về vấn đề dân tộc Với nghĩa đó “dân tộc thiểu số là dân tộc chiếm dân số ít so với dân tộc chiếm số dân đông nhất trong một quốc gia nhiều dân tộc” [67, 239]

Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam cũng đã nêu: “Dân tộc thiểu số (dân tộc), dân tộc có số dân ít (có thể từ hàng trăm, hàng nghìn cho đến hàng triệu) cư trú trong một quốc gia thống nhất có nhiều dân tộc, trong đó,

có một dân tộc số dân đông nhất Trong các quốc gia có nhiều thành phần dân tộc, mỗi dân tộc thành viên có hai ý thức: ý thức về Tổ quốc minh sinh sống và ý thức về dân tộc mình Những dân tộc thiểu số có thể cư trú tập trung hoặc rải rác, xen kẽ, thường ở những vùng ngoại vi, vùng hẻo lánh, vùng điều kiện phát triển kinh tế xã hội còn khó khăn Vì vậy, nhà nước tiến bộ thường thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc nhằm xóa dần những chênh lệch trong sự phát triển kinh tế - xã hội giữa dân tộc đông người và các dân tộc thiểu số” [85, 655]

Trong các định nghĩa trên về dân tộc thiểu số, chúng tôi tán thành và

sử dụng định nghĩa của Từ điển Bách khoa Việt Nam 1 của Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam: dân tộc thiểu số là dân tộc có số dân ít

cư trú trong một quốc gia thống nhất có nhiều dân tộc, trong đó, có một dân tộc có số dân đông nhất

Việt Nam là một quốc gia gồm 54 thành phần dân tộc, trong đó có một dân tộc đa số và 53 dân tộc thiểu số Trong lịch sử đấu tranh, đồng bào dân tộc thiểu số đóng vai trò to lớn trong việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân

Trang 21

Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay chiếm 1/8 dân số cả nước,

cư trú chủ yếu trên các vùng rừng núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa và chiếm khoảng ¾ diện tích đất đai của cả nước Đây là khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế to lớn mà trước hết là tiềm năng về rừng và đất rừng Miền núi còn là nơi có điều kiện để phát triển cây công nghiệp, cây

ăn quả, cây dược liệu, chăn nuôi đại gia súc, giàu tài nguyên khoáng sản Không những thế, miền núi còn có vai trò đặc biệt quan trọng về môi trường sinh thái đối với cả nước như điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước, bảo vệ lớp đất màu trong mùa lũ và là lá phổi về môi trường của cả nước Tuy nhiên, ngày nay, môi trường sinh thái ở vùng dân tộc và miền núi đang bị suy thoái nghiêm trọng Mật độ đa dạng sinh học bị giảm sút, nguy cơ rừng bị tàn phá, đất đai bạc màu, xói mòn xảy ra ở nhiều nơi, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức dẫn đến nguy cơ bị cạn kiệt, nguồn nước bị ô nhiễm, cân bằng sinh thái bị phá vỡ Chính vì vậy, việc bảo vệ môi trường sinh thái có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết

Vị trí chiến lược quan trọng của miền núi đã được thực tế lịch sử khẳng định Từ xưa đến nay, các thế lực thù địch bên ngoài đều sử dụng địa bàn miền núi để xâm lược, xâm nhập, phá hoại sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta Rừng núi đã từng là căn cứ địa cách mạng trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Trong giai đoạn hiện nay, miền núi - biên giới là thành lũy vững chắc của Tổ quốc, là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, chống âm mưu xâm nhập, bạo loạn, lật đổ của kẻ thù, nhằm bảo

vệ môi trường hoà bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội

Ở vùng biên giới, một số dân tộc có quan hệ đồng tộc với dân tộc của các nước láng giềng nên họ có nhu cầu thăm thân nhân, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ở hai bên biên giới Chính sách dân

Trang 22

tộc của Ðảng và Nhà nước ta không chỉ vì lợi ích các dân tộc ít người mà còn vì lợi ích của cả nước, không chỉ là đối nội mà còn là đối ngoại, không chỉ về kinh tế - xã hội, mà cả về chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi đất nước ta mở cửa hội nhập với quốc tế

Hồ Chí Minh đã tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể nước ta và tìm ra con đường giải phóng dân tộc Tư tưởng cốt lõi của Người về vấn đề dân tộc được thể hiện qua tư tưởng bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc Vận dụng một cách sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về cương lĩnh dân tộc vào điều kiện

cụ thể nước ta, Hồ Chí Minh cho rằng: “Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ… Chính sách dân tộc của chúng ta là nhằm thực hiện sự bình đẳng giúp đỡ nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên Chủ nghĩa xã hội” [57, 433]

Tư tưởng về bình đẳng dân tộc luôn luôn được Hồ Chí Minh nêu lên trong những bài viết, bài phát biểu của Người: “Tất cả các dân tộc đều có quyền làm chủ nước nhà”; “Các dân tộc được tự do bày tỏ nguyện vọng”;

“Trong Quốc hội phải có đủ đại biểu các dân tộc”[57, 200] Trong Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plây Cu, ngày 19-4-1946, Người viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau,

no đói giúp nhau” [58, 217-218]

Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc thì khái niệm dân tộc thiểu số không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của

Trang 23

các dân tộc không phụ thuộc vào số dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc

Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan niệm nhất quán của mình về vấn đề dân tộc, thể hiện rõ trong các chính sách đối với dân tộc thiểu số Theo quan niệm của Đảng, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc Khái niệm “dân tộc thiểu số” cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm

vi khu vực và thế giới Một dân tộc người có thể được quan niệm là “đa số”

ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác Như người Việt (Kinh) được coi là “dân tộc đa số” ở Việt Nam, nhưng lại được coi là “dân tộc thiểu số” ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ 1/55 dân tộc thiểu

số của Trung Quốc); ngược lại người Hoa (Hán), được coi là “dân tộc đa số” ở Trung Quốc, nhưng lại là dân tộc thiểu số ở Việt Nam (người Hoa chiếm tỉ lệ 1/53 dân tộc thiểu số của Việt Nam) Như vậy, quan niệm về

“dân tộc thiểu số” và “dân tộc đa số” cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất và nó cũng được vận dụng xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tùy theo quan niệm và mối quan

hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia dân tộc Song, những nội dung được quan niệm như đã phân tích ở phần trên về cơ bản là tương đối thống nhất không chỉ ở nước ta mà trong cả giới nghiên cứu dân tộc học trên thế giới

1.1.2 Cán bộ người dân tộc thiểu số

Khái niệm “cán bộ người dân tộc thiểu số”, hiện nay cũng được dùng tương đối phổ biến ở nước ta Để hiểu được khái niệm này, trước hết,

chúng ta phải thống nhất khái niệm “cán bộ”

Trang 24

Khái niệm cán bộ xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta vào những năm 30 của thế kỷ XX, để chỉ một lớp người, những chiến sĩ cách mạng chịu hy sinh, gian khổ, đấu tranh giành độc lập dân tộc, và sau này, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, được dùng phổ biến để chỉ những người thoát ly tham gia hoạt động kháng chiến, để phân biệt với nhân dân

Theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm “cán bộ” có hai nghĩa cơ bản:

“Cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước

Cán bộ là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ” [88, 109]

Trong suốt cuộc đời làm cách mạng của mình, Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn đề cán bộ và công tác cán bộ Người coi vấn đề cán bộ là một trong những vấn đề then chốt quyết định đến sự thành bại của cách mạng Trong bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hoá ngày 20/2/1947, Người có viết: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt Cán bộ là những người đem chính sách của Chính Phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách dù hay cũng không thể thực hiện được”[53, 54]

Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: cán bộ là những nhân viên công tác cơ bản trong một tổ chức Cán bộ là con người - là những cá nhân có trách nhiệm, có tư cách cụ thể, rõ ràng, gắn với một tổ chức nhất định Khi tách rời tổ chức đó, người cán bộ sẽ mất đi tư cách của mình, do

đó sẽ mất tín nhiệm với đồng nghiệp và với nhân dân

Trong một thời gian dài ở nước ta, khái niệm cán bộ gần như được dùng thay thế cho khái niệm công chức Theo cách hiểu thông thường, cán

bộ được coi là tất cả những người thoát ly, làm việc trong bộ máy chính

Trang 25

quyền, Đảng, đoàn thể, quân đội; dưới góc độ hành chính, cán bộ được coi như người có mức lương từ cán sự trở lên, để phân biệt với nhân viên có mức lương thấp hơn cán sự

Theo quan niệm của Đảng ta hiện nay, “cán bộ” được hiểu là những người công tác trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị, bao gồm:

bộ máy Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị, có trách nhiệm và nghĩa vụ tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì lợi ích của Đảng và dân tộc Để trở thành cán bộ, mỗi cá nhân phải rèn luyện và học tập theo những tiêu chuẩn quy định, giữ vững phẩm chất, tư cách, tự tu dưỡng và trau dồi đạo đức cách mạng

Trên cơ sở hai khái niệm: “dân tộc thiểu số” và “cán bộ”, về thực chất cho thấy, “cán bộ dân tộc thiểu số” là tập hợp của hai khái niệm “cán bộ” và “dân tộc thiểu số” Đây là một khái niệm kép dùng để chỉ những người đang công tác trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị có thành phần xuất thân là các dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Tiêu chí để phân biệt “cán bộ dân tộc thiểu số” trong “đội ngũ cán bộ” của hệ thống chính trị là thành phần dân tộc xuất thân của người cán bộ đó thuộc “dân tộc thiểu số” Tiêu chí đó không có ý nghĩa phân biệt trình độ, năng lực hay địa vị xã hội của người cán bộ Khi đã trở thành cán

bộ thì dù có xuất thân từ “dân tộc đa số” hay “dân tộc thiểu số” đều phải đảm nhận những công việc được giao phó và đều phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện cần thiết đối với mỗi cương vị công tác của mình

Từ những phân tích như trên, có thể đi đến một quan niệm chung về cán bộ dân tộc thiểu số như sau:

Cán bộ dân tộc thiểu số là những người công tác trong một tổ chức

xác định của hệ thống chính trị, có thành phần xuất thân từ các dân tộc

Trang 26

thiểu số ở Việt Nam; có trách nhiệm, quyền hạn nhất định được tổ chức và nhân dân giao phó; có trình độ và năng lực đáp ứng các yêu cầu của nhiệm

vụ được giao; có phẩm chất đạo đức cách mạng; có nghĩa vụ tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì lợi ích tối cao của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân

Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác dân tộc có sử dụng đồng thời hai khái niệm:

“Cán bộ người dân tộc thiểu số” và “cán bộ dân tộc thiểu số” Một số Văn

kiện khác của Đảng và của Nhà nước cũng sử dụng tương tự như vậy Về thực chất, đây là hai cụm từ đồng nghĩa, cùng chỉ chung đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, chúng có thể thay thế cho nhau khi dùng

Trong thực tế chúng ta còn thấy khái niệm “Đội ngũ cán bộ dân tộc

thiểu số”, “Đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số” Đây là khái niệm dùng

để chỉ một tầng lớp người có năng lực, trình độ nhất định, có phẩm chất đạo đức cách mạng và có năng lực hoàn thành trách nhiệm được giao trong các dân tộc thiểu số hiện nay Nhìn chung, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số từ cấp huyện trở lên, đa số đã có trình độ học vấn cao đẳng, đại học và trên đại học Vì vậy, cũng có thể xếp họ thuộc đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số Dù vậy, so với yêu cầu để phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì lực lượng cán bộ là người dân tộc thiểu

số tại chỗ hiện nay vẫn còn quá ít và có nhiều hạn chế

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn toàn xã hội

“Chúng ta phải cố gắng đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số và giáo dục đồng bào thiểu số” [59, 18], phải coi công tác cán bộ là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, là “cái gốc của phong trào” Chính vì vậy, phải “chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc cán bộ dân tộc thiểu số miền núi” [61, 418] để anh

Trang 27

em có thể vươn lên tự đảm đương được công việc quản lý ở địa phương Chỉ có làm được như vậy chúng ta mới tạo ra được một đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có đủ đức, đủ sức và đủ tài đảm đương được yêu cầu, nhiệm vụ, mau chóng đưa miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số phát triển và hoà nhập với sự phát triển chung của đất nước, thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước

Vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đề ra những chủ trương và chính sách nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số phù hợp với nhiệm vụ cụ thể của từng giai đoạn

Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã tạo ra được một đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số luôn gắn bó với đồng bào các dân tộc, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng đã có những đóng góp xứng đáng trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, cuộc kháng chiến chống quân xâm lược và trong sự nghiệp xây dựng đất nước đi lên Chủ nghĩa xã hội

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (tháng 2/1951), Đảng ta đã khẳng định: “Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều được bình đẳng

về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết giúp đỡ nhau để kháng chiến và kiến quốc; chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đánh bại mọi hành động gây hằn thù chia rẽ giữa các dân tộc…” [25, 440]

Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

II, tháng 8/1952, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết chuyên đề về chính sách dân tộc thiểu số của Đảng Bản Nghị quyết này đã đề cập đến năm nội dung lớn và cấp bách nhằm giải quyết triệt để vấn đề dân tộc thiểu số ở nước ta trong quá trình thực hiện cách mạng

Trang 28

Về chính sách xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc, Nghị quyết đã nêu:

“Để thực hiện đầy đủ nguyên tắc các dân tộc bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, chính quyền ở xã phải gồm đầy đủ đại biểu các dân tộc trong xã

Từ xã đến tỉnh, tùy theo nhân số các dân tộc ở địa phương nhiều hay ít mà định số đại biểu các dân tộc đó tham gia chính quyền (Nhưng cũng có khi

ở địa phương có một dân tộc nào đó, tính nhân số thì rất ít, song cũng nên

có đại biểu trong chính quyền để đảm bảo đoàn kết và thi hành chính sách cho khỏi thiên lệch) Đặt nghĩa vụ đóng góp công bằng cho các dân tộc, tuy nhiên không nên máy móc đặt mức nhất loạt mà phải châm chước đối với các dân tộc trình độ sinh hoạt và giác ngộ còn thấp kém

Vận động nhân dân lựa chọn những phần tử tích cực trong thành phần trung, bần, cố nông vào cơ quan chính quyền; đồng thời cũng đưa một

số ít thổ ty, lang đạo tương đối tiến bộ, có uy tín trong nhân dân, tham gia chính quyền Nếu cần thiết lắm thì cán bộ người Kinh mới tham gia cơ quan chính quyền địa phương, còn thường chỉ nên giúp đỡ các đại biểu chính quyền địa phương và dần dần làm cho cơ quan chính quyền ở địa phương đó hoàn toàn do đại biểu các dân tộc thiểu số đảm nhiệm”[26, 268-269]

Từ thực tiễn công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở các địa phương, Bộ Chính Trị đã tổng kết kinh nghiệm và đưa ra những định hướng về xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu

số trong tình hình mới: “Khi mới bắt đầu công tác ở địa phương, cố nhiên cần cán bộ nơi khác đến giúp đỡ Nhưng muốn rõ tình hình và mau vận động quần chúng nhân dân địa phương, đồng thời làm cho phong trào địa phương do người địa phương tự đảm nhiệm, thì cần gấp rút đào tạo cán bộ địa phương Có cán bộ địa phương làm việc sẽ làm cho nhân dân nơi đó không nghi ngờ, hoặc hiểu lầm là bị người Kinh đến “cai trị”

Trang 29

Muốn có cán bộ dân tộc thiểu số thì mỗi cán bộ nơi khác đến phải kèm theo một hay hai cán bộ địa phương để dìu dắt họ ngay trong công tác thực tế Trong tổ chức quần chúng hoặc chính quyền, nên để họ làm chánh, mình làm phó, hoặc nếu cần thì mình làm chánh, họ làm phó, song dù ở chức vụ gì chăng nữa, cán bộ nơi khác đến cũng chỉ nên làm nhiệm vụ giúp

đỡ cán bộ địa phương, chứ không nên bao biện, làm một mình Đồng thời lựa chọn một số thanh niên nam nữ tích cực công tác mở lớp huấn luyện, đào tạo họ thành cán bộ

Hiện giờ có một số thanh niên thiểu số làm việc ở các cơ quan hay ở

bộ đội Nên lựa một số người có thành tích cho vào học các trường riêng của người miền núi Nên dạy họ học cả văn hóa và chính trị để rồi đây họ trở thành cán bộ cốt cán ở các địa phương miền núi

Nếu không làm được như vậy thì không thể thực hiện được đầy đủ

sự lãnh đạo của Đảng đối với các dân tộc thiểu số” [26, 272-273]

Nghị quyết về chính sách dân tộc thiểu số của Bộ chính trị vào tháng 8/1952 đã xác định rõ những nguyên tắc xuyên suốt của chính sách dân tộc

Đó là: Đoàn kết các dân tộc; Thực hiện bình đẳng dân tộc; Các dân tộc tương trợ, giúp đỡ nhau như anh em một nhà

Nội dung Nghị quyết của Bộ Chính trị luôn luôn gắn nhiệm vụ xây dựng và củng cố hệ thống đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng ở các địa phương, vùng dân tộc

Tháng 1/1953, tại Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa II, Đảng ta có đánh giá như sau: “Vấn đề đào tạo cán bộ miền núi – như trong chính sách cụ thể đã nói: đây là một vấn đề căn bản trong việc vận động đồng bào thiểu số, song vẫn chưa chú ý được đầy đủ, nhiều địa phương cán bộ miền xuôi còn hẹp hòi, bao biện, không phát huy được tính

Trang 30

tích cực của các cán bộ miền núi làm cho cán bộ xuôi ngược không được tốt đẹp

Cho nên, các địa phương cần kiểm thảo lại chính sách cán bộ ở các miền dân tộc thiểu số Muốn được cụ thể, các ngành ở trung ương và cả các địa phương đều phải có một kế hoạch đào tạo cán bộ miền núi, cần sử dụng những cán bộ trí thức miền núi, cần bổ túc văn hóa cho cán bộ kém, giáo dục chính trị cho cán bộ miền núi, cho con em họ đi học để đào tạo một lớp người làm việc sau này” [27, 117-118]

Công tác cán bộ đối với vùng cao có tầm quan trọng đặc biệt, vừa là nhân tố quyết định mọi thắng lợi, đồng thời có thể là nguyên nhân gây ra tình trạng yếu kém của vùng cao, Đảng ta đã nêu rõ nhiệm vụ cần làm về công tác cán bộ như: cần tích cực giải quyết vấn đề cán bộ vùng cao Cần phải bồi dưỡng đào tạo cán bộ vùng cao Một mặt, các địa phương cần phải

dự trù và chọn cho đủ số cán bộ cần thiết để thực hiện chế độ phụ trách xã hoặc vùng, do đó mới làm tốt công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ địa phương được Mặt khác, các ngành ở trung ương có công tác ở vùng cao cần phải thiết thực giúp đỡ bên dưới bồi dưỡng, đào tạo cán bộ vùng cao

Ngày 3/9/1964, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị số 84-CT/TW về nhiệm vụ công tác giáo dục miền núi đã nêu rõ nhiệm vụ phát triển cán bộ người dân tộc thiểu số: “Trước mắt miền núi đang thiếu rất nhiều cán bộ khoa học kỹ thuật, sau này nhu cầu cán bộ lại càng lớn hơn Kế hoạch đào tạo cán bộ đòi hỏi phải đi trước kế hoạch kinh tế và văn hóa một bước để khỏi bị động Để có điều kiện tuyển sinh vào các trường đào tạo cán bộ, một mặt cần phát triển cấp II, cấp III phổ thông, mặt khác cần tập trung cán

bộ và thanh niên ưu tú của các dân tộc để bổ túc văn hóa tới trình độ cần thiết” [35, 137]

Trang 31

Đó là một chủ trương rất đúng đắn, thể hiện rõ đường lối nhất quán của Đảng ta, tầm nhìn chiến lược trong lĩnh vực phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số lúc đó

Ngày 30/1/1975, Ban bí thư Trung ương ra Chỉ thị 216-CT/TW về chính sách cán bộ miền núi Bản Chỉ thị đã nêu rõ mục tiêu chiến lược, phân tích thực trạng và đưa ra các quan điểm chỉ đạo, giải pháp cơ bản để xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở miền núi

Phân tích về tầm quan trọng và mục tiêu chiến lược, Chỉ thị số CT/TW đã chỉ rõ: “Thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, làm cho dân tộc Kinh và các dân tộc thiểu số, giữa các dân tộc thiểu số với nhau đoàn kết chặt chẽ, bình đẳng, yêu thương và giúp đỡ nhau, chung sức phục vụ Tổ quốc Việt Nam thống nhất giàu mạnh Để hoàn thành nhiệm vụ chính trị to lớn đó, một trong những khâu then chốt là phải xây dựng đội ngũ cán bộ miền núi vững mạnh” [38,159]

216-Bản Chỉ thị số 216-CT/TW xác định: Phải xây dựng và rèn luyện được một đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có đủ phẩm chất và năng lực, trung thành với Đảng; gắn bó với quần chúng nhân dân, ngày càng nâng cao trình độ về kiến thức; Phải xây dựng một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và văn hóa miền núi; Phải coi trọng hai loại cán bộ: cán bộ dân tộc thiểu số và cán bộ dân tộc Kinh, kết hợp và đoàn kết hai lực lượng này nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng miền núi và của cả nước; Phải có đội ngũ cán bộ đông đủ các dân tộc Việt Nam thì mới phát động được nhân dân các dân tộc thể hiện sự bình đẳng và tăng cường đoàn kết các dân tộc; Đối với cán bộ người dân tộc thiểu số, phải biết bố trí đúng chỗ, đúng việc, phù hợp với năng lực, sở trường của họ; Để chuẩn bị nguồn cán bộ cho miền núi, cần đẩy mạnh giáo dục phổ thông, kiện toàn

Trang 32

trường bổ túc văn hóa công nông, phát triển trường thiếu nhi vùng cao, các trường thanh niên vừa học vừa làm

Bản Chỉ thị số 216-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương là một văn kiện thể hiện sâu sắc, toàn diện, cụ thể nhất về cán bộ người dân tộc thiểu

số của Đảng ta từ trước tới nay Từ khi giải phóng đất nước cho đến nay, thực tiễn vẫn đang chứng minh sự đúng đắn của các quan điểm chỉ đạo về công tác cán bộ người dân tộc thiểu số Nhưng do một vài sai lầm chủ quan, duy ý chí trong những năm 1976 – 1986 đã làm cho khâu tổ chức gặp nhiều khó khăn; các quan điểm đúng đắn không đi vào trong cuộc sống, hiệu quả rất thấp, có một số vùng cao đã lâm vào tình trạng cạn nguồn cán

bộ Tình trạng du canh, du cư vẫn tiếp diễn, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào gặp nhiều khó khăn, kết cấu hạ tầng yếu kém, nạn tái mù chữ gia tăng, ngay kể cả trong đội ngũ cán bộ

Thực hiện đường lối đổi mới được khởi xướng từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), trong đó có việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, vấn đề mấu chốt là đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế và văn hóa ở các vùng dân tộc; yêu cầu cấp bách nhất cần giải quyết là nhanh chóng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta đã khẳng định lại chủ trương: “Tích cực đào tạo cán bộ dân tộc ở địa phương, đồng thời điều thêm cán bộ nơi khác tăng cường cho các vùng dân tộc Tiếp tục lựa chọn, giáo dục và sử dụng hợp lý những công chức và trí thức dân tộc ít người do chế độ cũ để lại” [38,172]

Với những nhiệm vụ đầu tiên trong công cuộc đổi mới, đất nước ta

đã đạt được những thành công bước đầu, đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế -

xã hội, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa: có chính sách ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc, nâng cao năng

Trang 33

lực cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo ở các cấp chính quyền, cán bộ quản lý kinh tế; tăng cường cán bộ cho cơ sở; ban hành các chính sách khuyến khích cán bộ công tác ở vùng cao, vùng sâu, các cán bộ miền xuôi lên công tác ở miền núi; tổ chức các đội ngũ trí thức mới ra trường tình nguyện xuống các bản, làng giúp đồng bào dân tộc Các học sinh giỏi là con em các

hộ nghèo, nhất là con em đồng bào các dân tộc ít người, được ưu tiên xét chọn vào các trường dân tộc nội trú, các trường đại học, cao đẳng và ưu tiên xét học bổng hằng năm

Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX (2003) về công tác dân tộc đã khẳng định: “Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số cho từng vùng, từng dân tộc Trong những năm trước mắt, cần tăng cường lực lượng cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt đến công tác ở vùng dân tộc, nhất

là các địa bàn xung yếu về chính trị, an ninh, quốc phòng; coi trọng việc bồi dưỡng, đào tạo thanh niên sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự làm nguồn cán bộ bổ sung cho cơ sở; nghiên cứu sửa đổi tiêu chuẩn tuyển dụng,

bổ nhiệm và các cơ chế, chính sách đãi ngộ cán bộ công tác ở vùng dân tộc

và miền núi…” [24, 41]

Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định quan điểm đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số gắn với quá trình củng cố và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị của các vùng dân tộc: “Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán,

Trang 34

tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc” [25,122]

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI cũng đã nói: “Làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ trẻ, nữ, dân tộc thiểu số, chuyên gia trên các lĩnh vực; xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược” [26, 261]

Các quan điểm chỉ đạo, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được cụ thể hóa bằng các nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, các thông tư, thông tư liên tịch, các quyết định của các

bộ, ngành thuộc Chính phủ để triển khai thực hiện đến tận cơ sở, phù hợp với yêu cầu khách quan đang đặt ra với từng vùng dân tộc

1.2 VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Ở VIỆT NAM

Người đặt nền móng cho lý luận về đội ngũ cán bộ của giai cấp vô sản là C.Mác và Ph.Ăngghen Bằng sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, C.Mác đã từng viết: “Xưa nay, tư tưởng không thể đưa người ta vượt ra ngoài trật tự thế giới cũ được: trong bất cứ tình huống nào, tư tưởng cũng chỉ có thể đưa người ta vượt ra ngoài phạm vi tư tưởng của trật tự thế giới

cũ mà thôi Thật vậy, tư tưởng căn bản không thể thực hiện được cái gì hết Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn”[47, 181]

Hai ông còn chỉ rõ, giai cấp vô sản và chính Đảng của mình, muốn giành chính quyền, lãnh đạo, giữ được chính quyền phải xây dựng cho được đội ngũ cán bộ thực sự trung thành và tài năng

Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử lúc bây giờ Đảng chưa nắm chính quyền, C.Mác và Ph.Ăngghen chưa có thực tế để bàn nhiều về cán bộ, mặc

dù hai ông rất quan tâm đến việc xây dựng một đội ngũ những nhà tuyên

Trang 35

truyền, cổ động, truyền bá tư tưởng cộng sản; lãnh đạo, tổ chức phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản, trên cơ sở đó, kết hợp với phong trào công nhân để lập ra chính đảng của giai cấp công nhân

Là học trò xuất sắc của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin nhận thức

rõ vai trò to lớn của đội ngũ cán bộ, từ việc giác ngộ tư tưởng cho quần chúng, đến việc tổ chức họ lại thành một khối thống nhất giữa ý chí và hành động Trong mỗi thời kỳ cách mạng, người cán bộ có nhiệm vụ trọng đại khác nhau Nếu trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, các lãnh tụ của Đảng chủ yếu làm công tác tuyên truyền và tổ chức khởi nghĩa; thì khi giành được chính quyền, nhiệm vụ giáo dục quần chúng vẫn phải tiếp tục, nhưng nhiệm vụ trọng tâm nhất của người cán bộ là công tác tổ chức thực tiễn trong lĩnh vực kinh tế

Cán bộ luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ tiến trình cách mạng vô sản Sự lãnh đạo của Đảng trước hết thông qua đường lối chính trị, đồng thời phải thông qua con người và bộ máy tổ chức V.I.Lênin viết: “Sự lãnh đạo chính trị sẽ

là gì chứ? Ai lãnh đạo nếu không phải là những con người, lãnh đạo cách nào nếu không phải là phân phối lực lượng?” [44, 306] hay “Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” [43, 473] Người đã gắn chặt đội ngũ cán bộ, công tác cán bộ với vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò cán bộ, công tác cán bộ chỉ được thể hiện rõ ràng, cụ thể,

có hiệu lực khi gắn với đường lối nhiệm vụ chính trị của Đảng Người đã đòi hỏi, giai cấp công nhân phải xây dựng cho mình một đội ngũ những người tâm huyết: “Nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh

Trang 36

Hiện nay đó là then chốt; nếu không thế thì tất cả những mệnh lệnh và quyết định chỉ là mớ giấy lộn” [45, 449]

Vận dụng một cách sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh thực tiễn nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vị trí, vai trò của cán bộ, công tác cán bộ: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời, đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, cho chính phủ hiểu

rõ để đặt chính sách cho đúng Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [53, 269] và “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt [65, 54] nên “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” [53, 240]

Nếu có cán bộ tốt, cán bộ ngang tầm thì việc xây dựng đường lối sẽ đúng đắn và là điều kiện tiên quyết để đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi Không có đội ngũ cán bộ tốt thì dù có đường lối chính sách đúng cũng khó có thể biến thành hiện thực được Muốn biến đường lối thành hiện thực, cần phải có con người sử dụng lực lượng thực tiễn - đó là đội ngũ cán bộ cách mạng và cùng với quần chúng cách mạng, bằng sự mẫn cảm của mình để đưa cách mạng đến thành công

Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng Vai trò của cán bộ được thể hiện rõ thông qua các mối quan hệ giữa cán bộ và đường lối, với nhiệm vụ chính trị; với tổ chức

và với phong trào cách mạng của quần chúng

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được” [53, 54] và Người còn chỉ rõ:

Trang 37

“Nơi nào có cán bộ tốt thì cả vùng đó hoạt động như một bộ máy Và cả vùng đó tỏ ra một bầu không khí hăng hái, vui vẻ Nơi nào có cán bộ xoàng, thì vùng đó, như đang ngủ say Trên giấy thì cái gì cũng có Nhưng

sự thật, thì việc gì cũng uể oải, lùi xùi” [53, 139-140]

Theo Người, để có thể đem chính sách của Đảng và Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đòi hỏi người cán bộ, công chức phải có một trình độ, trí tuệ nhất định Nếu không, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, người cán bộ, công chức sẽ làm sai lệch tinh thần, nội dung của đường lối, chính sách và khi đó thì thật là nguy hiểm Ngoài tiêu chuẩn về trình độ hiểu biết nhất định, người cán bộ còn cần phải có tiêu chuẩn khác

là phẩm chất và bản lĩnh chính trị

Đối với phong trào cách mạng của quần chúng, cán bộ là người tuyên truyền vận động, tổ chức, xây dựng, duy trì và phát triển phong trào; đồng thời, phong trào cách mạng của quần chúng tạo nên một môi trường rèn luyện, thử thách và sàng lọc cán bộ Bản lĩnh của người cán bộ cách mạng là sự kết tinh những phẩm chất nhân cách ở họ, thể hiện tập trung ở tính kiên định, sáng tạo, quyết làm và biết làm Người cán bộ có bản lĩnh là người rất trung thành, kiên định với sự nghiệp cách mạng, bao giờ cũng kiên quyết làm theo mệnh lệnh của Đảng, vô luận thế nào họ cũng không thay đổi Họ là những người làm việc có tổ chức, huy động được sức mạnh của quần chúng nhân dân

Sức mạnh của mỗi người là ở tổ chức, cán bộ mạnh thì tổ chức mạnh

và nếu tổ chức mạnh thì sức mạnh của con người nâng lên gấp bội Chất lượng cán bộ phụ thuộc vào công tác tổ chức cán bộ và sự phấn đấu của chính bản thân cán bộ

Sức mạnh của cán bộ là ở mối quan hệ mật thiết với quần chúng, được quần chúng tin và ủng hộ Nếu tách khỏi quần chúng, đứng trên quần

Trang 38

chúng, không được sự ủng hộ của quần chúng thì người cán bộ cũng mất vai trò của mình Vai trò của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số cũng không nằm ngoài mối quan hệ đó

Đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số - những người con ưu tú của đồng bào các dân tộc được Đảng, Nhà nước và đoàn thể rèn luyện Họ là một lực lượng cơ bản, trực tiếp tuyên truyền, giáo dục và tổ chức đồng bào các dân tộc thiểu số phát huy tinh thần yêu nước và sức mạnh của chính mình để giải phóng chính mình trong sự nghiệp đoàn kết, giúp đỡ của các dân tộc anh em, thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng Việt Nam

Ngay trong thời kỳ đầu khi Đảng mới được thành lập và những giai đoạn tiếp theo của cách mạng nước ta đã có những đồng chí người dân tộc thiểu số tiêu biểu như: Hoàng Văn Thụ (dân tộc Tày) – Nguyên ủy viên thường vụ Trung ương Đảng khóa I; Chu Văn Tấn (dân tộc Nùng) – Nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Lê Quảng Ba (dân tộc Tày) – Nguyên Tư lệnh đầu tiên Quân khu Việt Bắc, Đàm Quang Trung (dân tộc Tày) – Nguyên Phó chủ tịch Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam… Ngoài ra, trong đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tháng 12/1944 có 34 cán

bộ, chiến sĩ trong đó có 29 người là dân tộc thiểu số (Nùng, H’Mông, Dao) sau này vẫn không ngừng thể hiện bản lĩnh của mình trong công cuộc xây dựng đất nước

Ngày nay, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số tiếp tục được xây dựng, phát triển và thể hiện vai trò của mình trong các cơ quan Nhà nước từ Trung ương cho đến địa phương nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 39

1.2.1 Vai trò của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số đối với việc thực hiện các đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước

Đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội – mỗi lĩnh vực có vai trò riêng và quan trọng trong việc thực hiện các đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước Họ là khâu then chốt, là nhân tố quyết định thành bại của sự nghiệp cách mạng Vai trò to lớn của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam:

Thứ nhất, vai trò của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số được thể

hiện thông qua việc tham mưu, tham gia, hoạch định và tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phát triển toàn diện vùng dân tộc thiểu số

Khi đã có đường lối, chủ trương đúng thì kết quả cuối cùng ở khâu tổ chức thực hiện Nhân tố quyết định kết quả thực hiện tốt hay kém đều phụ thuộc ở đội ngũ cán bộ

Trong thực hiện chức năng lãnh đạo chính trị và tổ chức, cán bộ lãnh đạo, quản lý là đối tượng mà tổ chức đảng các cấp tùy theo phân cấp quản

lý cán bộ phải có trách nhiệm chăm lo xây dựng toàn diện, từ quy hoạch, đào tạo, tuyển dụng, đến bố trí, sử dụng

Ở nước ta, nhân dân các dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn Để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi, vùng dân tộc thiểu số, nhiều vấn đề đặt ra rất bức xúc, trong đó là phát triển nguồn nhân lực, mà xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống các

cơ quan lãnh đạo Đảng và cơ quan quản lý nhà nước là vấn đề then chốt Bởi lẽ, thực tiễn cũng đã chứng minh rằng, sự phát triển chậm chạp của vùng dân tộc thiểu số không chỉ do thiếu nguồn vốn đầu tư, mà nhiều khi

Trang 40

lại do thiếu đội ngũ cán bộ có khả năng triển khai các dự án ưu tiên đầu tư của Nhà nước Một khi cán bộ tại chỗ không có đủ năng lực, trình độ vận hành các dự án, thì những ưu tiên đầu tư của Trung ương nhiều khi cũng không đem lại hiệu quả như mong muốn, thậm chí hết dự án thì đời sống của người dân tộc thiểu số lại trở về điểm xuất phát ban đầu Ngược lại, có những nơi, nhờ đội ngũ cán bộ có năng lực, đã biết biến nguồn ưu tiên đầu

tư của Trung ương trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, biến các tiềm năng, tiềm ẩn thành hiện thực, đảm bảo sự phát triển bền vững Như vậy, vai trò của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số luôn gắn với nhiệm vụ chính trị của mỗi cơ quan đơn vị cụ thể trong hệ thống chính trị

Để hệ thống chính trị hoạt động tốt, cần phải có một đội ngũ cán bộ

có năng lực Đó là yêu cầu khách quan không chỉ đặt ra đối với các vùng dân tộc thiểu số Đối với cán bộ người dân tộc thiểu số và cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số, trước tiên phải có năng lực tiếp thu đầy đủ và chính xác các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Từ đó đem vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp ở địa phương hay đơn vị mình phụ trách

Chính sách dân tộc của Đảng ta đối với các dân tộc thiểu số từ trước đến nay luôn đúng đắn và nhất quán, song ở mỗi thời kỳ, ở mỗi lĩnh vực cụ thể, địa phương cụ thể đều xuất hiện những thiếu sót, khuyết điểm trong quá trình thực hiện Điều đó là do nhận thức, khả năng vận dụng của đội ngũ cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu nên đã dẫn đến những sai lệch hay hạn chế hiệu quả chính sách

Từ Đại hội lần thứ VI (1986), Đảng ta đã có những chính sách nhằm phát triển kinh tế - xã hội của vùng dân tộc, triển khai các chương trình, dự

án phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng dân tộc như: Chương trình

Ngày đăng: 04/05/2021, 23:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Ngọc An, Lai Châu xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, Xây dựng Đảng, số 10/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng Đảng
3. Ban dân tộc, Báo cáo tổng kết 5 năm triển khai và kết quả thực hiện Nghị quyết 05 – NQ/TU ngày 27/5/2002 của Tỉnh ủy Bình Thuận về xây dựng đội ngũ cán bộ Dân tộc thiểu số và huyện Phú Quý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 5 năm triển khai và kết quả thực hiện Nghị quyết 05 – NQ/TU ngày 27/5/2002 của Tỉnh ủy Bình Thuận về xây dựng đội ngũ cán bộ Dân tộc thiểu số và huyện Phú Quý
Tác giả: Ban dân tộc
4. Ban dân tộc tỉnh Bình Thuận, Nghị định về công tác dân tộc học, binhthuan.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định về công tác dân tộc học
Tác giả: Ban dân tộc tỉnh Bình Thuận
Nhà XB: binhthuan.gov.vn
5. Hoàng Chí Bảo (2009), Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2009
6. Trịnh Quang Cảnh (2002), Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới (chủ yếu ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc), Luận án tiến sĩ Lịch sử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới (chủ yếu ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc)
Tác giả: Trịnh Quang Cảnh
Nhà XB: Luận án tiến sĩ Lịch sử
Năm: 2002
7. Trịnh Quang Cảnh (2005), Phát huy vai trò đội ngũ trí thức các dân tộc thiểu số nước ta trong sự nghiệp cách mạng hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy vai trò đội ngũ trí thức các dân tộc thiểu số nước ta trong sự nghiệp cách mạng hiện nay
Tác giả: Trịnh Quang Cảnh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
8. Trịnh Quang Cảnh, Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở vùng dân tộc thiểu số, Xây dựng Đảng, số 11/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng Đảng
9. Mai Quốc Chánh (1999, chủ biên), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Mai Quốc Chánh
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 1999
11. Cục tư tưởng - văn hóa, Tổng cục chính trị (1998), Một số vấn đề dân tộc và quan điểm chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, Nxb.Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề dân tộc và quan điểm chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
Tác giả: Cục tư tưởng - văn hóa, Tổng cục chính trị
Nhà XB: Nxb.Quân đội nhân dân
Năm: 1998
12. Phạm Hữu Dật (2001, chủ biên), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay. (sách tham khảo), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
13. Đổng Văn Dinh, Quy hoạch, đào tạo và sử dụng hợp lý cán bộ người dân tộc thiểu số giải pháp quan trọng của công tác dân tộc hiện nay, Tạp chí Dân tộc, số 85/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch, đào tạo và sử dụng hợp lý cán bộ người dân tộc thiểu số giải pháp quan trọng của công tác dân tộc hiện nay
Tác giả: Đổng Văn Dinh
Nhà XB: Tạp chí Dân tộc
Năm: 2008
14. Phan Diễn, Một số vấn đề quan trọng về công tác tổ chức và cán bộ của Đảng hiện nay, Tạp chí Cộng sản, số 31/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Cộng sản
15. Hoàng Công Dung, Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Tạp chí Dân tộc học, số 65/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Dân tộc học
16. Phạm Dũng, Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở Tiền Giang, Tạp chí xây dựng Đảng, số 4/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí xây dựng Đảng
17. Lê Duy Đại, Đội ngũ cán bộ các dân tộc thiểu số và một số vấn đề đặt ra, Tạp chí Dân tộc học, số 3/2001, tr.33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đội ngũ cán bộ các dân tộc thiểu số và một số vấn đề đặt ra
Tác giả: Lê Duy Đại
Nhà XB: Tạp chí Dân tộc học
Năm: 2001
18. Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh – Khoa Nhân học (2008), Nhân học đại cương, Nxb. Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân học đại cương
Tác giả: Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh – Khoa Nhân học
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2008
19. Đảng bộ tỉnh Bình Thuận, Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh của tỉnh Bình Thuận, binhthuancpv.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh của tỉnh Bình Thuận
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Bình Thuận
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1993
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w