Thực hiện vấn đề công bằng xã hội trong sự tác động đa chiều của nền kinh tế thị trường, nhằm đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Thành phố Hồ Chí Minh đóng một vai trò đặc biệt quan t
Trang 1
BÙI TÁ THẠNH
CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Thành phố Hồ Chí Minh - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, chưa được
ai công bố, dưới sự hướng dẫn của TS HỒ ANH DŨNG Tư liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực
TÁC GIẢ
BÙI TÁ THẠNH
Trang 41.2.1 Quan niệm về kinh tế thị trường 30 1.2.2 Quan niệm về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 35
1.3 Quan hệ giữa việc phát triển kinh tế thị trường với việc đảm bảo công bằng xã hội 45 Kết luận chương 1 54
2.1.1 Quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Thành phố Hồ Chí Minh 59 2.1.2 Những nhân tố tác động đến việc đảm bảo công bằng xã hội ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 74
Trang 5nay 82
2.2.1 Những thành tựu và hạn chế trong việc đảm bảo công bằng xã hội ở Thành phố Hồ Chí Minh 82
2.2.2 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế 94
2.3 Phương hướng và giải pháp tiếp tục đảm bảo công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 99
2.3.1 Phương hướng tiếp tục đảm bảo công bằng xã hội ở Thành phố Hồ Chí Minh 99
2.3.2 Giải pháp tiếp tục đảm bảo công bằng xã hội ở Thành phố Hồ Chí Minh 100
Kết luận chương 2 112
KẾT LUẬN 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
PHỤ LỤC 127
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề công bằng xã hội luôn thu hút sự quan tâm ở mọi quốc gia trên thế giới, nó đã được đề cập đến từ rất lâu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người Nó luôn là khát vọng chính đáng của biết bao thế hệ; thế nhưng, trong mỗi giai đoạn lịch sử nó được đặt ra ở những khía cạnh, mức độ khác nhau Cho đến nay nó vẫn còn mang tính thời sự cấp bách Cũng chính vì thế, tổ chức Nhân lực Quốc tế, Liên Hiệp Quốc cùng với cộng đồng quốc tế đã lấy ngày
20/02 hằng năm là “Ngày quốc tế về công bằng xã hội” Trong giai đoạn hiện
nay, các nước đi lên chủ nghĩa xã hội luôn coi công bằng xã hội là một trong những mục tiêu cơ bản cần vươn tới, đồng thời là một trong những động lực phát triển của xã hội
Nền kinh tế thị trường trải qua hàng trăm năm phát triển, luôn biểu hiện tính hai mặt của nó Mặt tích cực của kinh tế thị trường là ở chỗ: Thứ nhất, nó làm cho con người luôn phải năng động, tích cực để có thể tự ứng phó được với
sự biến động mau lẹ, phức tạp và sự cạnh tranh khốc liệt của nó Thứ hai, vì phải thực hiện giá trị, thu lợi nhuận ngày càng nhiều mà người ta buộc phải quan tâm đến nhu cầu của người tiêu dùng và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng tốt hơn Thứ ba, kinh tế thị trường đòi hỏi mọi người ngày càng phải học tập, nghiên cứu nâng cao tri thức khoa học, kỹ thuật, vận dụng những tri thức ấy vào quá trình sản xuất kinh doanh Nhờ vậy, lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng, của cải vật chất được sản xuất ra ngày càng nhiều, mẫu mã, chất lượng sản phẩm ngày càng được cải tiến, nâng cao
Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường lại có mặt trái, mặt tiêu cực như: Vì lợi nhuận mà người ta có thể bất chấp luân thường, đạo lý, coi thường kỷ cương, pháp luật gây hại cho người tiêu dùng, dẫn đến tình trạng luôn nẩy sinh những bất công trong xã hội
Trang 7Việt Nam từ một nước mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Muốn đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, tất yếu chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường
Song, để phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, đảm bảo công bằng xã hội thì phải phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Mục tiêu cao cả của cách mạng nước ta là xây dựng xã hội “Dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Để đạt được mục tiêu cao cả đó,
Đảng ta chủ trương: “Kết hợp chặt chẽ, hợp lý các mục tiêu kinh tế với các mục
tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương, thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế” [18, tr.101]
Như vậy, việc đảm bảo công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực mạnh mẽ trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Thành phố
Hồ Chí Minh “Chiếm 0,6% diện tích và hơn 8,56% dân số cả nước, nằm
trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là trung tâm kinh tế lớn của cả nước Thành phố là nơi hoạt động kinh tế năng động nhất, với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nếu như năm 1991 tốc độ tăng trưởng GDP của thành phố là 9,1% thì đến năm 2007 tăng lên 12,6% và năm 2008 là 10,7%, tính bình quân giai đoạn 1991 – 2008 thành phố đạt mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 11,14%” [80, tr.6] “Thành phố đóng góp 21,3% GDP cả nước, 29,38% tổng thu ngân sách nhà nước, 22,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội” [98] Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh thành
của Việt Nam năm 2011 thì Thành phố Hồ Chí Minh xếp ở vị trí thứ 20/63
tỉnh thành [99]
Trang 8Với những thành tựu đó đã đưa Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một trong những trung tâm kinh tế hàng đầu của cả nước Tuy nhiên, Thành phố cũng đang đứng trước những thách thức lớn bởi sự tác động đa chiều của nền kinh tế thị trường đối với việc đảm bảo công bằng xã hội, trên các phương diện phân phối; giáo dục – đào tạo; y tế; khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa nông thôn và thành thị ngày càng gia tăng Thời gian gần đây giá cả tư liệu sinh hoạt ngày càng tăng gây không ít khó khăn đến cuộc sống người dân, nhất là nhóm dân cư có thu nhập thấp…mà Thành phố cần phải giải quyết
Nghiên cứu làm rõ về lý luận và thực tiễn vấn đề công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Thành phố Hồ Chí Minh
là một việc làm cần thiết, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu cao cả của toàn dân tộc
Thực hiện vấn đề công bằng xã hội trong sự tác động đa chiều của nền kinh tế thị trường, nhằm đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Thành phố
Hồ Chí Minh đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam hiện nay Việc nghiên cứu và phân tích vấn
đề này không chỉ dừng lại ở lý luận, mà còn mang tính thực tiễn, đưa ra một cách nhìn tổng quan về vấn đề, từ đó định hướng trong hoạt động thực tiễn,
đó cũng là lý do tôi chọn đề tài “Công bằng xã hội trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, ngoài những quan điểm chỉ đạo mang tính toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, vấn đề công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nói chung cũng như quan điểm của từng địa phương đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà kinh tế học, xã hội học, triết
Trang 9học với nhiều bài viết trên các báo, tạp chí, thậm chí cả luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ cùng nhiều công trình khoa học khác dưới dạng sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu hội thảo, tham luận… Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu đã được công bố trong những năm gần đây:
* Nhóm các công trình nghiên cứu về vấn đề công bằng xã hội:
- “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc thực hiện công
bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê Hữu Tầng (Tạp chí Triết
học, số 1 tháng 1/2008) Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay Những vấn đề đó là: 1 Khái niệm công bằng xã hội, những điểm tương đồng và khác biệt giữa nó và khái niệm bình đẳng xã hội; 2 Công bằng xã hội theo chiều dọc và công bằng xã hội theo chiều ngang; 3 Công bằng về cơ hội và bình đẳng về cơ hội; vai trò của trình độ phát triển kinh tế trong việc thực hiện công bằng xã hội; 4 Phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế; 5 Phân phối theo cống hiến cho xã hội; 6 Công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế; 7 Vấn đề thực hiện công bằng xã hội và bình đẳng xã hội
- “Công bằng xã hội, tránh nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội trong sự
nghiệp đổi mới ở Việt Nam” của tác giả Trần Đức Cường (Tạp chí Triết học,
số 1 tháng 1/2008) Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra những đánh giá khái quát về thành tựu và hạn chế trong thực hiện công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội ở Việt Nam trước và trong những năm đổi mới đất nước; đồng thời, gợi mở những vấn đề cần thảo luận để việc thực thi công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội không chỉ là một mục tiêu phấn đấu, mà còn là một động lực mạnh mẽ để phát triển đất nước
và đảm bảo cho sự phát triển của Việt Nam là một sự phát triển bền vững
Trang 10- “Bảo đảm công bằng xã hội vì sự phát triển bền vững” của tác giả
Nguyễn Ngọc Hà (Tạp chí Triết học, số 2 tháng 2/2009) Trong bài viết này, tác giả đã phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam coi công bằng
xã hội là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội Để có được công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường cần phải xác định và thực hiện đúng nguyên tắc phân phối phù hợp như Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra Để phát huy vai trò động lực của công bằng xã hội, theo tác giả, cần khắc phục những thiếu sót trong việc thực hiện công bằng xã hội hiện đang còn tồn tại Công tác lý luận cần hướng vào việc nghiên cứu và giải quyết nhiệm vụ đó
- “Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội” của tác giả Nguyễn Minh
Hoàn do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành, năm 2009 Trong cuốn sách này, tác giả đã chia cuốn sách thành 3 phần: Phần I: các khái niệm về công bằng xã hội và tiến bộ xã hội, ở phần này tác giả đưa ra các quan niệm thời kỳ trước Mác, các quan điểm hiện đại của các học giả phương Tây và quan điểm của Mác - Ăngghen và tư tưởng của Hồ Chí Minh về công bằng
xã hội; Phần II: Vai trò và vị trí của công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội, phần này tác giả cho rằng, công bằng xã hội là động lực của tiến bộ xã hội, công bằng xã hội không chỉ gắn với nội dung phát triển kinh tế mà còn phải gắn với nội dung phát triển xã hội, công bằng xã hội tạo điều kiện cho mỗi
cá nhân sử dụng và phát huy cao nhất năng lực của mình, thúc đẩy sự phát triển theo hướng tiến bộ xã hội Bên cạnh đó, công bằng xã hội cũng chính
là thước đo về mặt xã hội của tiến bộ xã hội Trình độ của công bằng xã hội đạt được trong mỗi thời kỳ lịch sử nhất định chính là thước đo về mặt xã hội của tiến bộ xã hội tương ứng với thời kỳ lịch sử ấy; Phần III: Vấn đề thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay, tác giả khẳng định, công bằng xã hội và tiến bộ xã hội là mục tiêu được Đảng ta xác định ngay từ những ngày
Trang 11đầu khi nước ta tiến hành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Ở thời kỳ trước đổi mới, Đảng ta chủ trương xây dựng chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ tư hữu và phân phối theo lao động để xã hội không còn bóc lột, bất công và bất bình đẳng xã hội Ở thời kỳ sau đổi mới, Đảng ta đã nhận thấy những chủ trương, chính sách sai lầm trong cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, cả về chế độ sở hữu, chế độ phân phối và cơ chế quản lý…
* Nhóm các công trình nghiên cứu về vấn đề mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội:
- “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam
thời kỳ đổi mới”, của tác giả Nguyễn Thị Nga, Nhà xuất bản Lý luận chính
trị, Hà Nội, năm 2007 Trong cuốn này, tác giả nêu ra việc tăng trưởng kinh
tế và công bằng xã hội là mục tiêu vươn tới của xã hội văn minh, giữa chúng
có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, nếu chúng ta quá chú trọng đến tăng trưởng kinh tế mà không quan tâm những vấn đề của xã hội thì những hậu quả để lại cho xã hội là khó lường; ngược lại nếu quá chú trọng đến vấn
đề xã hội mà không quan tâm đến tăng trưởng kinh tế thì triệt tiêu động lực phát triển cho xã hội Cuối cùng tác giả cho rằng muốn thực hiện tốt mối quan hệ giữa chúng thì phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, đó là: giữ vững sự lãnh đạo của Đảng; phát huy vai trò của các đoàn thể và các tổ chức xã hội; kết hợp thực hiện tốt hệ thống chính sách kinh tế và hệ thống chính sách xã hội…
- “Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam” của
tác giả Hoàng Đức Thân, Đinh Quang Ty (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010 Trong cuốn này, ngoài việc nêu khá đầy đủ về vấn
đề tăng trưởng kinh tế; thực trạng gắn kết tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội ở Việt Nam hiện nay tác giả còn giới thiệu một số kinh nghiệm của các nước Châu Á và nêu ra điều kiện để thực hiện giải pháp gắn kết hợp lý
Trang 12giữa phát triển kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn sắp tới, đặc biệt tác giả đưa ra một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện công bằng xã hội là mở rộng và phát huy dân chủ, nâng cao hiệu quả chống tham nhũng, lãng phí và làm ăn phi pháp…
- “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội - Lý thuyết và thực tiễn ở
Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Đỗ Phú Trần Tình, Nxb Lao Động,
2010 Trong công trình này, ngoài một số vấn đề lý luận chung về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội; kinh nghiệm cũa một số quốc gia thì tác giả đã khái quát tình hình tăng trưởng kinh tế ở Thành phố Hồ Chí Minh qua các giai đoạn đồng thời đề xuất những quan điểm chủ yếu để giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội cho Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn tới…
* Nhóm các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa vấn đề công bằng xã hội và kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa:
- “Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của tác giả Phạm Xuân Nam (Tạp chí
Triết học, số 2 tháng 2/2008) Trong bài viết này, tác giả đưa ra và luận giải:
1 Việc giải quyết mối quan hệ giữa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội ở một số mô hình kinh tế tiêu biểu trên thế giới, như
mô hình kinh tế thị trường tự do, mô hình kinh tế thị trường xã hội, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung phi thị trường; 2 Những thành tựu và những vấn đề đặt ra trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hơn 20 năm đổi mới; cụ thể hóa quan điểm và đề xuất những giải pháp về thực hiện công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong những năm tiếp theo
Trang 13Những công trình trên ở góc độ này, góc độ kia đã đề cập đến vấn đề công bằng xã hội; vấn đề tăng trưởng kinh tế, vấn đề nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa chúng, trong đó những công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập đến từng vấn đề riêng lẻ, hoặc về mối quan hệ giữa
chúng nhưng đa phần là công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa công bằng
xã hội và tăng trưởng kinh tế Những công trình đó đã góp một phần không nhỏ vào việc xây dựng cơ sở lý luận, làm sáng tỏ từng bước con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề công bằng xã hội gắn liền với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Thành phố Hồ Chí Minh Chính vì vậy, về mặt lý luận và thực tiễn, một lần nữa tôi muốn nghiên cứu vấn đề này với mong muốn học hỏi, tìm hiểu những nội dung mới cho bản thân, đồng thời góp phần làm rõ cơ sở
lý luận cho quá trình đảm bảo công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Thành phố Hồ Chí Minh
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Mục đích của luận văn: Luận văn tập trung làm rõ vấn đề công bằng
xã hội trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ đó đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm đảm bảo vấn đề công bằng xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
* Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt được mục đích trên, luận văn thực
hiện các nhiệm vụ sau:
Một là, làm rõ nội hàm các quan niệm về công bằng xã hội;
Hai là, làm rõ các khái niệm kinh tế thị trường và kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa;
Trang 14Ba là, chỉ ra thực trạng việc thực hiện công bằng xã hội trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Thành phố Hồ Chí Minh Trên
cơ sở đó đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm đảm bảo công bằng xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
- Về nội dung: Vấn đề công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa
- Về không gian: Tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Về thời gian: Chủ yếu từ khi thực hiện đường lối đổi mới của Đảng
(1986) đến nay
4 Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
* Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận là thế giới quan và
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam
* Phương pháp của luận văn: Luận văn sử dụng kết hợp một số phương
pháp như: thống kê, tổng hợp và xử lý số liệu, phương pháp lịch sử - logic, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp, so sánh và đối chiếu…bên cạnh đó kế thừa những thành tựu của những công trình trước để hoàn thiện luận văn
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận vãn
* Ý nghĩa khoa học: Luận văn được hoàn thành sẽ góp phần cung cấp
những cơ sở lý luận về vấn đề công bằng xã hội, về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mối quan hệ biện chứng giữa quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với việc đảm bảo công bằng xã hội
Trang 15* Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn khi được hoàn thành sẽ góp phần xây
dựng cơ sở lý luận để chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh tham khảo trong việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế gắn với các chính sách xã hội Đồng thời, có thể làm tư liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành triết và những ai quan tâm đến
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cấu thành 2 chương, 6 tiết
Chương 1: Lý luận về công bằng xã hội và kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa
Chương 2: Thực trạng, phương hướng và giải pháp đảm bảo công bằng
xã hội trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Thành phố Hồ
Chí Minh hiện nay
Trang 16CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1.1 Quan niệm về công bằng xã hội
Công bằng xã hội là vấn đề đã được đặt ra từ lâu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, từ khi con người ý thức được những sự bất công diễn
ra trong xã hội có sự nô dịch, áp bức giai cấp Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, khi lực lượng sản xuất phát triển đến một giai đoạn nhất định, năng suất lao động ngày càng cao, sản phẩm làm ra không chỉ dừng lại ở việc đáp ứng nhu cầu cho sự tồn tại của con người mà còn dư thừa tương đối, cùng với sự phát triển đó, con người chiếm đoạt thành quả lao động của nhau, tạo nên sự bất công trong xã hội Sự phân chia giai cấp nẩy sinh, có một bộ phận dân cư không tham gia trực tiếp vào quá trình lao động để tạo ra của cải cho xã hội, mà luôn luôn được hưởng nhiều hơn so với những bộ phận dân cư khác Thực tiễn đặt ra chúng ta phải nhận thức, lý giải thấu đáo vấn đề này, từ đó có những định hướng đúng đắn nhằm khắc phục, hạn chế sự mất công bằng đó, tạo động lực thực sự cho sự phát triển xã hội bền vững
Quan niệm về công bằng xã hội là một vấn đề mang tính lịch sử xã hội,
bị quy định bởi những điều kiện lịch sử nhất định Trong các thời kỳ lịch sử khác nhau con người có quan niệm khác nhau về công bằng xã hội
Ph.Ănghen đã viết: “Công lý luôn luôn chỉ là biểu hiện trên lĩnh vực
quan niệm và siêu hình, của những điều kiện kinh tế hiện có, khi thì về phương diện bảo thủ, khi thì về phương diện cách mạng của những điều kiện kinh tế đó Công lý của người Hy Lạp và người La Mã cho rằng chế độ nô lệ
là công bằng; công bằng của những nhà tư sản năm 1789 đòi hỏi thủ tiêu chế độ phong kiến, vì chế độ ấy không công bằng” [52, tr.379] Quan niệm
Trang 17về công bằng xã hội của con người tuy có sự khác nhau, nhưng ước mơ về một xã hội công bằng là khát vọng chính đáng của biết bao thế hệ và là mục tiêu phấn đấu của toàn nhân loại E Durkheim (1858 – 1917) – một nhà xã hội
học người Pháp cuối thế kỷ XIX đã viết: “Các xã hội hiện đại chỉ có thể ổn
định nếu tôn trọng công bằng xã hội” [68, tr 28]
* Trong chế độ xã hội công xã nguyên thuỷ con người chưa có khái
niệm về công bằng xã hội Mọi người đều tuân theo trật tự đã được cộng đồng thừa nhận, những cá nhân của cộng đồng nếu vi phạm sẽ bị xử phạt, và sản phẩm của lao động của cộng đồng làm ra đều là sở hữu chung, ai cũng được hưởng thụ Người ta chưa có ý thức rõ ràng về quyền lợi và nghĩa vụ,
vì thế vấn đề công bằng xã hội chưa được đặt ra
Khi xuất hiện sở hữu tư nhân con người bị áp bức bất công thì vấn đề công bằng xã hội bắt đầu được đặt ra Sự công bằng ở đây được xem xét trong mối quan hệ với địa vị xã hội, hiển nhiên lẽ phải thuộc về giai cấp thống trị của xã hội
* Quan niệm về công bằng xã hội trong xã hội chiếm hữu nô lệ
- Quan điểm của Platon (427 – 347 TCN) cho rằng, không thể có sự
bình đẳng giữa những tầng lớp người khác nhau về địa vị trong xã hội Bởi
vì, từ chính sự đa dạng trong nhu cầu của con người nên xã hội phải duy trì nhiều hạng người khác nhau, thực hiện những dạng phân công lao động xã hội khác nhau để thỏa mãn các nhu cầu đó, và vì vậy nên không thể nào có
sự bình đẳng giữa họ Platon xem sự bất bình đẳng như một điều tất yếu
trong xã hội chiếm hữu nô lệ
Chính vì sự nhấn mạnh đến sự phân chia đẳng cấp khác nhau trong xã hội nên Platon cho rằng xã hội dù có sự bất bình đẳng, nhưng vẫn có sự công bằng Theo ông công bằng ở chỗ, mỗi cá nhân trong xã hội dù có ở địa
vị khác nhau như thế nào thì cũng phải làm hết trách nhiệm và bổn phận của
Trang 18mình ở địa vị đó, biết sống đúng với tầng lớp của mình và biết được bổn phận của mình Như vậy, đối với Platon, công bằng xã hội là công bằng giữa những cá nhân cùng địa vị trong xã hội đó, chứ không phải công bằng giữa
những người khác nhau về địa vị Ông cho rằng: “Sự bình đẳng giữa những
người không bình đẳng là tệ xấu chủ yếu của nền dân chủ” và “Đối với những người không bình đẳng, sự bình đẳng trở thành không bình đẳng”
[96, tr 57]
- Theo Arixtốt (384 – 322 TCN), công bằng là sự bình đẳng giữa những
người có cùng địa vị xã hội với nhau Còn sự bất bình đẳng những người không có cùng địa vị xã hội cũng được Arixtốt coi là biểu hiện của sự công bằng Arixtốt đã đẩy sự bình đẳng và bất bình đẳng lên thành thước đo của
sự công bằng Từ đó, ông đưa ra thước đo của sự công bằng nằm trong chính
cơ sở kinh tế của xã hội, ông cho rằng: cơ sở của công bằng xã hội là sự công bằng trong trao đổi sản phẩm lao động cho nhau, đây cũng chính là sự
khác biệt trong quan điểm của Arixtốt và Platon Ông nói: “Sự trao đổi
không thể có được nếu không có sự bằng nhau, nhưng sự bằng nhau lại
không thể có được nếu như không thể do chung được” [54, tr 97]
Theo Arixtốt, thước đo trong trao đổi hàng hóa chính là biểu hiện của giá trị, tuy nhiên ông chỉ dừng lại ở việc nêu biểu hiện ra bên ngoài của sự trao đổi đó là hình thái tiền tệ, mà ông chưa thấy được mấu chốt của vấn đề chính là sức lao động của con người ẩn chứa bên trong mỗi hàng hóa ấy, nó mới là thước đo chung cho sự công bằng và bình đẳng trong quan hệ trao đổi
hàng hóa Hạn chế đó của Arixtốt là do “Xã hội Hy Lạp hồi đó dựa trên lao
động nô lệ và vì thế cơ sở tự nhiên của xã hội đó là sự bất bình đẳng giữa
người với người và giữa những sức lao động của họ” [54, tr 98]
Mặc dù vậy, những đóng góp nhất định của Arixtốt được C.Mác đánh
giá rất cao: “Thiên tài của Arixtốt chính là ở chỗ, trong biểu hiện giá trị của
Trang 19các hàng hóa, ông đã tìm ra được một quan hệ bình đẳng Chỉ có những giới hạn lịch sử của xã hội mà ông đang sống mới ngăn cản không cho ông thấy được “trong thực tế”, mối quan hệ bình đẳng đó là cái gì” [54, tr 97-98]
Quan điểm này của Arixtốt đã trở thành quan điểm chủ đạo trong suốt lịch
sử tồn tại của các xã hội có sự phân chia giai cấp
* Các nhà tư tưởng của giai cấp phong kiến trong lịch sử cũng nói về
công bằng xã hội, nhưng đó là sự công bằng có tôn ti, trật tự, trên dưới rõ ràng, là sự nối tiếp quan điểm công bằng theo địa vị xã hội, bảo vệ lợi ích của giai cấp chúa đất phong kiến, đó xem như công bằng và bình đẳng trong
xã hội phong kiến
Vào giai đoạn cuối của chế độ phong kiến, khi mà kinh tế tự cung tự cấp bắt đầu nhường chỗ cho thời kỳ tiền công nghiệp, giai đoạn mà trao đổi hàng hóa diễn ra với một tốc độ chóng mặt Cơ sở kinh tế đó đã khiến cho nội dung của những tư tưởng về công bằng xã hội không còn bị bó hẹp trong phạm vi của những đòi hỏi về quyền bình đẳng ở địa vị xã hội để được đối
xử công bằng, mà quyền bình đẳng và công bằng ấy đã được mở rộng sang những đòi hỏi phải có một sự công bằng trong phân phối thành quả lao động
và quan hệ trao đổi Đặc biệt là khi mà nền sản xuất tư bản chủ nghĩa từng bước khẳng định địa vị thống trị của mình trong nền sản xuất xã hội, thì những quan điểm về phân phối và trao đổi dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá của nền sản xuất hàng hóa đã ngày càng được sử dụng như là thước đo của sự công bằng xã hội
Ở giai đoạn đầu của mình, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã thể hiện rõ bước tiến trong việc giải phóng cho người nông nô thoát khỏi tình trạng lệ thuộc vào chúa đất phong kiến, nhưng cũng chính chủ nghĩa tư bản lại cuốn
họ vào cơn lốc của sự cạnh tranh và đẩy họ vào tình trạng phá sản Vì thế để đảm bảo cho sự tồn tại của mình buộc họ phải đổ về các thành phố lớn để
Trang 20kiếm sống – họ đã trở thành những người vô sản Ăngghen nhận xét: sở dĩ
có tình trạng này là do “Cái “tự do sở hữu” được thoát khỏi xiềng xích
phong kiến, ngày nay đã được thực hiện trong thực tế, thì đối với người tiểu
tư sản và tiểu nông, chẳng qua chỉ là tự do bán cái sở hữu nhỏ của họ - cái
sở hữu bị đè bẹp bởi sự cạnh tranh mãnh liệt của đại tư bản và đại chiếm hữu ruộng đất lớn – cho chính những bọn chủ đầu sỏ ấy; do đó, đối với người tiểu tư sản và tiểu nông, “tự do sở hữu” đã biến thành tự do mất sở hữu Sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp trên cơ sở tư bản chủ nghĩa đã làm cho sự nghèo khổ và khốn cùng của quần chúng lao động trở
thành điều kiện sống còn của xã hội” [53, tr.280]
Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa người lao động tạo ra của cải cho
xã hội lại tiếp tục bị mất công bằng vì sự ràng buộc sở hữu về tư liệu sản xuất, thậm chí còn khắc nghiệt hơn nhiều so với những xã hội trước Ở đó, sức lao động của người lao động trở thành một thứ hàng hóa, nó được thể hiện ra trong quá trình nhà tư bản tiêu dùng sức lao động đó, tức là quá trình lao động của người công nhân Nhưng quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hoá sức lao động khác với quá trình tiêu dùng hàng hoá thông thường ở chỗ: Hàng hoá thông thường sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến mất theo thời gian Trái lại, quá trình tiêu dùng hàng hoá sức lao động lại là quá trình sản xuất ra một loạt hàng hoá nào đó; đồng thời là quá trình tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng
hoá sức lao động Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản
chiếm đoạt, sự chiếm đoạt nó trở thành hợp pháp trong xã hội tư bản Chính đặc tính này đã làm cho sự xuất hiện của hàng hoá sức lao động trở thành điều kiện để tiền tệ chuyển hoá thành tư bản, giá trị thặng dư trở thành nguồn gốc cho tích lũy tư bản, vì thế, giá trị thặng dư chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản hiện có C.Mác nói rằng, tư bản ứng trước chỉ là
Trang 21một giọt nước trong dòng sông của tích luỹ mà thôi, và lao động của công nhân trong quá khứ lại trở thành phương tiện để bóc lột chính người công nhân thông qua quá trình tái sản xuất mở rộng của nhà tư bản
* Các nhà tư tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán thế
kỷ XVIII đã phê phán sự bất công trong xã hội tư bản chủ nghĩa, qua đó thể
hiện quan niệm của họ về công bằng xã hội
- Saclơ Phuriê (1772 - 1837): Phuriê là một nhà xã hội chủ nghĩa
không tưởng cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỷ XIX Ăngghen cho rằng, cái vĩ đại nhất của Phuriê là ở quan điểm lịch sự về xã hội của ông Đó là việc ông chia lịch sử xã hội ra làm bốn giai đoạn phát triển: Giai đoạn mông muội; giai đoạn gia trưởng; giai đoạn dã man và giai đoạn văn minh, trong đó giai đoạn văn minh chính là giai đoạn của chủ nghĩa tư bản Xã hội ấy thực chất
“Đã mang lại cho mọi tật xấu đã có từ thời đại dã man dưới hình thức đơn
giản, một hình thức tồn tại phức tạp, ám muội, hai mặt và giả dối” [53,
tr.286] Khi đề cập đến bản chất của sự bất công và giả đối đó của xã hội tư
sản, Phurie cho rằng: “Trong giai đoạn văn minh, sự nghèo khổ được sinh ra
từ chính bản thân sự dồi dào” [53, tr.287] Hạn chế lớn nhất của Phuriê là
ông nêu hiện tượng, chỉ ra bản chất của xã hội tư bản chủ nghĩa là bất công nhưng chưa nêu phương án cụ thể để khắc phục hoặc xóa bỏ sự bất công và bất bình đẳng trong xã hội đó
- Rôbớt Ôoen (1771 - 1858): cũng là một nhà xã hội chủ nghĩa không
tưởng cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỷ XIX Vào thời kỳ Ôoen sống, sự phân chia kẻ giàu – người nghèo giữa giai cấp tư sản và vô sản diễn ra với tốc độ nhanh chóng, chính vì thế, khác với Phuriê, Ôoen đã nhanh chóng đưa ra phương án cụ thể để thực hiện lý tưởng công bằng xã hội theo quan điểm của mình, đó là thực hiện một chế độ phân phối đồng đều thành quả lao
Trang 22động cho mọi người lao động, bởi vì theo ông, mọi của cải, mọi sự giàu có của xã hội là do người lao động làm ra
Trước tình cảnh giai cấp vô sản đang sống chen chúc trong các khu dân
cư ổ chuột tồi tệ nhất giữa một thành phố có năng suất lao động cao, Ôoen
đã đưa ra mô hình xây dựng khu dân cư kiểu mẫu tại ngay thành phố New Lanark (Anh), là nơi cư ngụ của giai cấp vô sản Với ý tưởng này Ôoen cho rằng đây chính là cơ hội để thực hiện mong ước của mình Ăngghen nhận
xét: “Lực lượng sản xuất mạnh mẽ mới, lúc trước, chỉ để làm giàu cho một
số cá nhân và nô dịch quần chúng thì bây giờ, đối với Ôoen, trở thành cơ sở
để cải tạo xã hội, và với tính cách là của chung của mọi người, nên phải
được dùng để mưu đời sống hạnh phúc chung” [53, tr.290] Với những quan
điểm đó, Ôoen đã thể hiện sự phản kháng rất mạnh mẽ đối với thực tế đầy sự bất công trong xã hội tư sản
Nhìn chung, các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỷ XIX thể hiện được khát vọng mạnh mẽ của mình, mong muốn mưu cầu một xã hội tốt đẹp trong tương lai, bảo vệ lợi ích cho đông đảo người dân lao động trong chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, nhưng chính do giới hạn của thời đại, của nhận thức đã đưa tư tưởng của các ông đến sự cào bằng trong xã hội, là sự chia sẻ lợi ích giữa các thành viên
trong xã hội theo lối chủ nghĩa bình quân Một xã hội “Không ai giàu hơn
(hay nghèo hơn), mà tất cả vừa giàu – vì ai cũng có tất cả; vừa nghèo – vì ai cũng chẳng có gì cho riêng mình” [66, tr.71] Chính vì thế nó trở thành
không tưởng, và có lẽ, trước tình cảnh phân hóa giàu – nghèo quá lớn của giai cấp tư sản và vô sản diễn ra chóng mặt trong xã hội tư sản, đã đưa tư tưởng của các ông đến sự “vội vàng” khi điều kiện xã hội chưa cho phép
Trang 23Các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng thời kỳ này đã đồng nhất khái niệm công bằng với khái niệm bình đẳng Song công bằng và bình đẳng tuy có quan hệ biện chứng, nhưng là hai khái niệm khác nhau
Công bằng xã hội trong giai đoạn hiện nay được quan niệm như thế
nào? Trong Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam cũng đã nêu ra khái niệm
công bằng như sau: “Công bằng là khái niệm về ý thức đạo đức và ý thức
pháp quyền, chỉ điều chính đáng, tương xứng với bản chất và quyền con người Công bằng đòi hỏi sự tương xứng giữa vai trò của những cá nhân (những giai cấp) với địa vị xã hội của họ, giữa hành vi với sự đền bù (lao động và thù lao, công và tội, thưởng và phạt) giữa quyền và nghĩa vụ -
không có sự tương xứng trong quan hệ bất công” [78, tr.580]
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học phương tây hiện nay, thì
khái niệm công bằng xã hội được tiếp cận dưới hai góc độ: Công bằng xã
hội theo chiều ngang: Nghĩa là đối xử như nhau đối với những cá nhân có
hoàn cảnh như nhau và đóng góp như nhau Công bằng xã hội theo chiều
dọc: Đối xử khác nhau với những người có những khác biệt bẩm sinh hoặc
có các điều kiện sống khác nhau
Ở đây, nếu xem xét công bằng xã hội theo chiều ngang làm chúng ta thỏa lòng phần nào, thì việc xem xét khái niệm theo chiều dọc lại không được rõ như vậy, vì “Đối xử khác nhau với những người có các điều kiện sống khác nhau” thì mức khác nhau như thế nào sẽ được coi là công bằng?
“Vì vậy, không thể tán thành với ý kiến cho rằng “việc phân định và kết hợp
công bằng theo chiều dọc và chiều ngang sẽ đảm bảo công bằng xã hội thực sự” Ngược lại, theo chúng tôi, việc phân định và kết hợp công bằng như vậy sẽ thủ tiêu luôn vấn đề công bằng, khiến cho vấn đề ấy không còn cần phải xem xét nữa, vì ở khắp nơi, tất cả đều hoặc là công bằng, hoặc là không công bằng tuỳ thuộc vào các góc độ xem xét khác nhau” [79]
Trang 24Đề cập đến vấn công bằng xã hội không thể nào tách rời vấn đề bình
đẳng xã hội, chúng rất gần gũi với nhau về mặt khái niệm, vì vậy, chúng ta
rất dễ đồng nhất chúng với nhau, thực tế đã có nhiều tác giả không thống nhất ngay trong chính quan điểm của mình, lúc thì đồng nhất, lúc thì tách
biệt Như GS Lê Hữu Tầng nhận xét: “Sự lầm lẫn khi đồng nhất hai khái
niệm này với nhau đã ảnh hưởng nhất định đến việc nhìn nhận những biến đổi đang diễn ra trong sự nghiệp đổi mới của chúng ta, đặc biệt là nhìn nhận hiện tượng phân tầng xã hội đang diễn ra với mức độ ngày càng tăng hiện nay” [79]
Sự thực thì hai khái niệm công bằng xã hội và bình đẳng xã hội tuy gần
nhau nhưng chúng vẫn là hai khái niệm không thể đồng nhất với nhau một
cách hoàn toàn Đề cập đến bình đẳng xã hội, là chúng ta muốn nói đến sự
ngang bằng nhau giữa người với người về một phương diện xã hội, một trường hợp nhất định nào đó, ví như về kinh tế, chính trị, văn hóa, và nó
mang tính lịch sử xã hội rõ nét; còn khi đề cập đến sự ngang bằng nhau giữa
người với người về mọi phuơng diện, là chúng ta đề cập đến một sự bình đẳng xã hội hoàn toàn, và nó mang tính toàn diện Xét ở góc độ đó thì công bằng xã hội cũng là một dạng của bình đẳng xã hội, sự ngang bằng nhau
giữa người với người không phải về mọi phương diện, cũng không phải về một phương diện bất kỳ, mà chỉ về một phương diện hoàn toàn xác định rõ
ràng: Phương diện quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc
cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau, hay chúng ta gọi là
phương diện kinh tế
* Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin: Trên cơ sở phương pháp
luận duy vật biện chứng cùng với việc kế thừa, phát triển một cách sáng tạo những yếu tố hợp lý trong tư tưởng về công bằng xã hội trong lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin đã đưa ra một quan niệm mới, cách
Trang 25nhìn mới khoa học và toàn diện hơn về công bằng xã hội Hơn thế, các ông còn chỉ ra thực chất vai trò phương thức thực hiện công bằng xã hội trong đời sống xã hội hiện nay
Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, công bằng xã hội là sản phẩm của đời sống xã hội, là quan hệ giữa con người với con người được hình thành trong quá trình con người hoạt động sinh sống Hiểu như thế cũng có nghĩa là, quan hệ đó không phải do sự sáng tạo thuần túy chủ quan của con người, mà
nó là sản phẩm của đời sống xã hội, nó được hình thành từ tồn tại xã hội, mà đời sống xã hội của con người thì luôn luôn thay đổi trong sự vận động và biến đổi, vậy nên công bằng xã hội cũng biến đổi theo những điều kiện tồn
tại của nó Ph.Ănghen từng viết: “Công lý luôn luôn chỉ là biểu hiện trên
lĩnh vực quan niệm và siêu hình, của những điều kiện kinh tế hiện có,…khái niệm về công lý vĩnh cửu biến đổi, chẳng những cùng với thời gian và không gian, mà cả cùng với bản thân con người nữa” [52, tr.379]
Với luận điểm này cho ta thấy, quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng không có một công bằng xã hội chung chung cho mọi xã hội và cho mọi thời đại Mỗi xã hội có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, các giai cấp
cơ bản trong xã hội cũng gắn liền với những điều kiện kinh tế - xã hội và địa
vị khác nhau nên quan niệm về công bằng xã hội cũng khác nhau, và mang đậm tính giai cấp của xã hội đó (mang tính lịch sử - cụ thể)
Công bằng xã hội thực chất là mối quan hệ về mặt lợi ích của con người với con người trong xã hội Lợi ích của con người thì biểu hiện trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, nghệ thuật
nhưng trong đó thì lợi ích kinh tế được xem là mặt cơ bản nhất Vì vậy, việc
giải quyết vấn đề công bằng xã hội trên lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện công bằng xã hội trên các lĩnh vực khác của đời sống xã hội
Trang 26Để giải quyết vấn đề công bằng xã hội, trước hết phải giải quyết vấn đề công bằng xã hội trên lĩnh vực kinh tế, chúng ta không nôn nóng, mà phải thực hiện từng bước, xuất phát từ những điều kiện thực tế của sự phát triển sản xuất Nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác – Lênin vạch rõ cơ sở khách quan của sự bất công trên lĩnh vực kinh tế trong chủ nghĩa tư bản, đó là chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động Chế độ sở hữu đó quyết định chế độ phân phối trong chế độ tư bản chủ nghĩa, làm cho của cải, sự giàu có, quyền lực ngày càng tập trung trong tay giai cấp tư sản, còn sự bần cùng, nghèo nàn ngày càng tập trung về phía giai cấp vô sản, về phía đa số người lao động đã tạo
ra của cải vật chất cho xã hội
Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra rằng, trong quá trình sản xuất, bằng lao động trừu tượng (sức lực cơ bắp) của mình người công nhân đã tạo ra một lượng giá trị mới (v+m, trong công thức giá trị của hàng hóa: c + v +m) nhưng họ chỉ nhận được phần giá trị hàng hóa sức lao động của mình (v), còn lượng giá trị thặng dư (m) thì bị nhà tư bản chiếm không, sự chiếm đoạt này nó trở thành hợp pháp trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vì giai cấp tư sản nắm toàn bộ tư liệu sản xuất của xã hội Như vậy, sự bất bình đẳng diễn
ra ngay trong sự hợp pháp của xã hội tư bản chủ nghĩa “Theo quan niệm tư
sản, sự bình đẳng chỉ có nghĩa là sự bình đẳng của các công dân trước pháp luật, trong khi vẫn duy trì chế độ người bóc lột người, sự bất bình đẳng về tài sản và chính trị, tình trạng vô quyền thực tế của quần chúng lao động Những học thuyết tiểu tư sản về bình đẳng xuất phát từ chỗ mỗi người có quyền sở hữu tư nhân, nhưng dựa trên những nguyên lý ít nhiều có tính chất bình quân chủ nghĩa Cả trong hai trường hợp đều không tính đến điều chủ yếu – quan hệ đối với tư liệu sản xuất” [75, tr.43]
Trang 27Sự bất công thể hiện rõ qua nguyên tắc phân phối trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Theo C.Mác, trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ trao đổi ngang giá khi mua và bán sức lao động đối với người công nhân được các nhà tư bản xem đó là sự công bằng, vì theo họ, nguyên tắc trao đổi ngang giá đã phân chia số giá trị tăng lên thu được sau chu trình sản xuất thành tiền công của người công nhân và lợi nhuận của nhà tư bản đúng với
tỷ lệ, công sức mà đôi bên bỏ ra để tham gia vào quá trình sản xuất Nhưng thực tế, nhà tư bản trả tiền cho công nhân sau khi công nhân hao phí sức lao động để sản xuất ra hàng hóa và tiền công được trả theo thời gian lao động (ngày, giờ…) hoặc số lượng hàng hóa đã sản xuất ra Hơn thế nữa, người công nhân làm việc cho nhà tư bản sau một tuần, có khi sau một tháng mới được trả công Trong thời gian đó, số tiền công mà nhà tư bản mượn của công nhân còn được quay vòng nhiều lần Về mặt hình thức, nhìn một cách tổng thể toàn bộ lao động của công nhân hao phí đều được nhà tư bản chi trả trả đầy đủ, xã hội tư bản có vẻ là một xã hội công bằng, không ai bóc lột ai Tuy nhiên, số lượng tiền công đó chưa phản ánh đầy đủ sức lao động mà người công nhân bỏ ra cho nhà tư bản, vì nó còn tuỳ thuộc vào ngày lao động dài hay ngắn, trình độ bóc lột của nhà tư bản như thế nào, chúng ta muốn đánh giá chính xác mức tiền công đó không chỉ căn cứ vào số tiền công mà công nhân nhận được, mà phải căn cứ vào độ dài thực sự của ngày lao động và trình độ bóc lột của nhà tư bản
Hàng hóa sức lao động khác với tất cả hàng hóa khác ở chỗ: Khi sử dụng và tiêu dùng nó sẽ tạo ra một lượng giá trị lớn hơn bản thân của nó (tiền công) rất nhiều, lượng giá trị đó được chuyển thành lợi nhuận cho nhà
tư bản Chính vì vậy, chế độ trao đổi ngang giá đó không thể coi là công bằng Ngay trong quá trình sản xuất người công nhân cũng đã nhận ra sự bất công này, họ đã đấu tranh cho việc tăng tiền công khi sự bóc lột của nhà tư
Trang 28bản trở nên quá nặng nề với họ, nhưng sự đấu tranh này xem ra không làm thay đổi được bản chất của vấn đề, có chăng thì sự thay đổi đó cũng không tương xứng với nhưng gì người công nhân đã bỏ ra, mà thậm chí còn làm giảm xuống
Để khẳng định sự thật bất công của cái gọi là “Tiền công công bằng cho
một ngày lao động công bằng” [53, tr.365], Ăngghen cũng vạch rõ, bản chất
của chế độ phân phối được cho là công bằng theo nguyên tắc trao đổi ngang giá chỉ là thể hiện sự có lợi riêng cho giai cấp tư bản, đồng thời là bất lợi cho
giai cấp vô sản trong cuộc trao đổi ngang giá đó Sự bất công là ở chỗ “Công
nhân bỏ ra nhiều, nhà tư bản chi ra ít” [53, tr.365], và Ăngghen châm biếm
rằng: “Đó là một loại công bằng hết sức đặc biệt” [53, tr.365] Theo quan
niệm của các nhà kinh tế tư sản tiền công ngày lao động là do cạnh tranh quy định, vì người công nhân có quyền tự do bán sức lao động của mình cho nhà
tư bản nào đó trên cơ sở đã được thỏa thuận từ trước, thuận mua; vừa bán, vì vậy nên rất công bằng, nhưng xét trong bình diện toàn xã hội thì thực tế người công nhân cũng không còn sự lựa chọn nào khác Ăngghen đã vạch rõ
“Sự thật không phải như vậy Nếu nhà tư bản không đồng ý với công nhân,
thì y có điều kiện để chờ đợi và sống bằng tư bản của y Người công nhân không thể làm như thế được(…) Người công nhân ngay từ đầu đã ở vào những điều kiện bất lợi trong cuộc đấu tranh Cái đói đặt anh ta vào một hoàn cảnh hết sức bất lợi Thế mà, theo khoa kinh tế chính trị của giai cấp
các nhà tư bản, đó là đỉnh cao của sự công bằng” [53, tr.367]
Để xóa bỏ sự bất công này, cần phải xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ sở hữu mới – sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Nhưng làm thế nào để xóa bỏ được chế độ sở hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất? Điều nay không đơn giản là chỉ dựa vào mong muốn chủ
Trang 29quan của con người, mà phải bằng những lực lượng thực tế của xã hội và
phải thực hiện từng bước
Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ rõ lực lượng vật chất thực tế đó chính là giai cấp công nhân, sản phẩm của nền đại công nghiệp cơ khí trong chủ nghĩa tư bản, được tổ chức một cách khoa học, để lôi cuốn, đoàn kết đông đảo nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng, thay thế xã hội tư bản bằng xã hội – xã hội chủ nghĩa Công bằng xã hội sẽ được giải quyết từng bước cùng với việc xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và xây dựng, phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
Tuy nhiên, trong lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng công nhận
một điều rằng, “Dưới chủ nghĩa xã hội cũng vẫn còn duy trì những tàn tích
của sự bất bình đẳng xã hội, đó là vì trình độ phát triển chưa đầy đủ của nền sản xuất vật chất, vì còn những sự khác biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay, giữa thành thị và nông thôn, vì nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng lao động, ” [75, tr.43]
Sự bình đẳng thực sự trong quan hệ đối với các tư liệu sản xuất chỉ xuất hiện do kết quả thắng lợi của chủ nghĩa xã hội Nhưng sự bình đẳng cộng sản chủ nghĩa không có nghĩa là một sự san bằng nào đó với tất cả mọi người, mà ngược lại, nó mở ra những khả năng vô hạn cho mỗi người tự do phát triển những năng lực và những nhu cầu của mình, tương xứng với
những phẩm chất và năng khiếu cá nhân
Trong Phê phán cương lĩnh Gôtha, khi phê phán quan điểm mơ hồ, tiểu
tư sản của Látxan (1825 - 1864) về những giải pháp xây dựng xã hội mới trong đó đảm bảo sự công bằng xã hội tuyệt đối giữa con người với nhau, Mácchorằng không thể thực hiện ngaycông bằng xã hội một cách tuyệt đối Trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, do mới thoát thai từ xã hội
tư bản, chủ nghĩa cộng sản chưa phát triển trên cở sở của chính mình, nên
Trang 30không khỏi chịu ảnh hưởng của xã hội tư bản Thực hiện phân phối theo lao động trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản là một bước tiến lớn trong việc thực hiện công bằng xã hội Tuy nhiên, chế độ phân phối đó vẫn dựa trên tiêu chuẩn của chủ nghĩa tư bản, chấp nhận sự bất công nhất định Theo Mác, điều đó là không thể tránh khỏi vì trình độ phát triển kinh tế chưa cho
phép Mác viết: “Nhưng đó là những thiếu sót không thể tránh khỏi trong
giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, lúc nó vừa mới lọt lòng từ xã hội tư bản chủ nghĩa ra, sau những cơn đau đẻ kéo dài Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định” [53, tr.35 - 36]
Mác còn chỉ rõ, khi lực lượng sản xuất chưa phát triển đến trình độ cao, con người chưa phát triển toàn diện, còn phụ thuộc vào sự phân công lao động xã hội, thì chưa thể thực hiện đầy đủ nguyên tắc công bằng xã hội – khẩu hiệu “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” Đòi hỏi thực hiện công bằng xã hội ở mức độ quá cao so với trình độ phát triển của kinh tế là ảo tưởng, phi thực tế, và điều đó sẽ cản trở sự phát triển của xã hội
Công bằng xã hội theo xu hướng vận động của nó luôn đối lập với bất công xã hội, luôn hướng tới giải quyết tốt hơn những nhu cầu căn bản của con người, đảm bảo tốt hơn những điều kiện cho sự tồn tại và phát triển toàn diện con người Do vậy, công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lựccủasựpháttriển xã hội Và có lẽ,“Sự công bằng hình như đòi hỏi cả hai bên
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể tóm gọn lại vấn đề công bằng
xã hội theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin là: Công bằng xã hội là
một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử, phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người trong việc đảm bảo kết hợp hài hòa những điều kiện, cơ
Trang 31hội phát triển, trong việc thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi, cống hiến và hưởng thụ trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
* Quan điểm của Hồ Chí Minh: trên cơ sở nền tảng của quan điểm
mácxít, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, Người rất coi trọng vấn đề công bằng xã hội, luôn gắn công bằng xã hội với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xem như vấn đề xuyên suốt trong tư tưởng của Người
Theo Hồ chí Minh, đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là phương thức duy nhất đúng, hợp lòng người để thực hiện công bằng xã hội,
Vì vậy, chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc tự do, bình đẳng bác ái, đoàn kết, ấm
no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình
và hạnh phúc Người đặt câu hỏi đồng thời giải thích cặn kẽ về chủ nghĩa xã
hội: “Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là gì? nói một cách giản đơn và dễ hiểu
là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao động ”; "Chủ nghĩa xã hội là gì? là mọi người
Trong quan điểm của mình, Người xem thực hiện công bằng xã hội là một tất yếu và bức thiết, và yêu cầu đó càng bức thiết khi cuộc sống của
nhân dân còn nhiều khó khăn Người chỉ rõ: “Có khi vật tư hàng hóa không
thiếu, mà phân phối không đúng thì gây ra căng thẳng không cần thiết
Trong công tác lưu thông phân phối có hai điều quan trọng luôn phải nhớ:
“Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng
Không sợ nghèo chỉ sợ lòng dân không yên” [55, tr.185]
Có thể thấy, trong quan niệm của Hồ Chí Minh, thì công bằng không có nghĩa là cào bằng, bình quân chủ nghĩa để tất cả mọi người đều như nhau Trong điều kiện kinh tế khó khăn, Người kêu gọi nhân dân phát huy tinh
Trang 32thần đồng cam cộng khổ, tương thân tương ái, đoàn kết, hợp tác với mục tiêu chung là xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc Tuy nhiên, Hồ Chí Minh vẫn giữ quan điểm nhất quan về công bằng và bình đẳng xã hội, cương quyết chống lại tinh thần đồng cam cộng khổ theo chủ nghĩa bình quân
Người viết: “Con người có trí tuệ, năng lực, thể chất khác nhau nên có cống
hiến khác nhau, không nên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ cũng công điểm như nhau Đó là chủ nghĩa bình quân Phải tránh
chủ nghĩa bình quân” [55, tr.143], hay “Đồng cam cộng khổ là một tinh thần
cần phải có, nhưng nếu bình quân chủ nghĩa thì lại không đúng Bình quân chủ nghĩa là gì? là ai cũng như ai, bằng hết Bình quân chủ nghĩa là trái với
chủ nghĩa xã hội, thế là không đúng” [58, tr.386]
Hồ Chí Minh xem công bằng và bình đẳng là một trong những mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới, nó không phải là chủ nghĩa bình quân cào bằng trong sự nghèo khổ.Mụctiêu của nghĩa nghĩa xã hội là không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân là phấn đấu: “Làm cho người nghèo
Từ sự thâm nhập, tổng kết và khái quát thực tiễn, Người khẳng định rằng
trong chế độ xã hội thực dân không có công bằng xã hội mà “ Nhân dân chỉ
có nghĩa vụ, như nộp sưu đóng thuế, đi lính đi phu mà không có quyền lợi”
[57, tr.219], công nhân, nông dân là những người chủ yếu sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, nhờ đó xã hội mới tồn tại và phát triển nhưng lại rất bất công vì họ luôn là những người nghèo khổ, trong khi đó một số ít người lại không tham gia trực tiếp vào sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội mà luôn
“ngồi mát ăn bát vàng”, và theo Người thì nguyên nhân của sự bất công đó
là “Vì một số người đã chiếm làm tư hữu những tư liệu sản xuất của xã hội” [57, tr.203] Từ đó Người khẳng định: “Nhà nước ta ngày nay là của tất cả
những người lao động Nhân dân lao động là những người chủ tập thể của
Trang 33tất cả những của cải vật chất và văn hóa, đều bình đẳng về quyền lợi và
nghĩa vụ” [57, tr.310]
Như vậy công bằng xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh thường được gắn kết với bình đẳng xã hội tức là mối quan hệ giữa quyền lợi với nghĩa vụ, bình đẳng giữa nghĩa vụ với quyền lợi, bình đẳng giữa người với người trong việc thực hiện nghĩa vụ và hưởng thụ quyền lợi ấy, đó chính là thực
hiện công bằng xã hội
Trong phân phối, công bằng theo Người đó là: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng Đây cũng là nguyên tắc phân phối công bằng cơ bản trong điều kiện nước ta hiện nay Do đó, sự bình đẳng của những người lao động trong mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, mà cụ thể là sự ngang bằng nhau về địa vị làm chủ nước nhà, làm chủ tư liệu sản xuất, bảo đảm cho mỗi người đều có thể phát huy mọi khả năng của mình để vươn tới một cuộc sống ấm no hạnh phúc Khi nói về chủ
nghĩa xã hội Người nhấn mạnh: “Chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa,
ngân hàng làm của chung Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ em Thế ta đã đến đấy chưa? chưa đến Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được
mà phải làm dần dần” [58, tr.219]
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, công bằng xã hội không những chỉ là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội mà còn là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước, là một yêu cầu bức thiết của công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội nhất là trong điều kiện nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn
Bên cạnh đó, Người rất chú trọng đến điều kiện để thực hiện công bằng
xã hội đó là lợi ích cá nhân, nhằm động viên mỗi người không ngừng phấn đấu, cống hiến nhiều cho xã hội; đồng thời đấu tranh chống lại chủ nghĩa cá nhân, bởi chính chủ nghĩa cá nhân là căn nguyên gây ra trăm thứ bệnh như
Trang 34quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, tham ô, lãng phí, chủ quan…, không nghĩ tới lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc Tuy nhiên cũng cần phân biệt rằng, chủ nghĩa
cá nhân khác lợi ích cá nhân, nếu chống chủ nghĩa cá nhân mà lại vi phạm lợi ích
chính đáng của cá nhân thì sẽ dẫn tới sai lầm, Người khẳng định rằng: “Lợi ích
cá nhân là nằm trong lợi ích tập thể, là một bộ phận của lợi ích tập thể Lợi ích chung của tập thể được đảm bảo thì lợi ích riêng của cá nhân mới có
bảo vệ điều kiện để thực hiện được lợi ích của mỗi cá nhân, tức là biện pháp nhằm đảm bảo công bằng xã hội Tư tưởng “mình vì mọi người, mọi người
vì mình” là thể hiện sự công bằng giữa lợi ích cá nhân với cá nhân, cá nhân
với tập thể và cộng đồng
Có thể nói, Hồ Chí Minh đã có quan điểm về công bằng xã hội khá toàn diện và sâu sắc, thể hiện rất sinh động, phù hợp với thực tiễn của cách mạng Việt Nam Thực chất của công bằng xã hội theo Người là không gì khác ngoài mối quan hệ giữa giữa cống hiến và hưởng thụ, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, ai làm ít thì hưởng ít, không làm thì không hưởng (trừ những người già cả, bệnh tật và trẻ em) Người cũng cho thấy rõ rằng, không nhất thiết phải xã hội giàu có thì mới thực hiện được công bằng xã hội, mà ngay khi xã hội còn chưa thật giàu có vẫn thực hiện được công bằng xã hội, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội khác nhau mà việc thực hiện công bằng
xã hội khác nhau
Người cũng chỉ rõ, công bằng xã hội khác với cào bằng, bình quân chủ nghĩa, nếu đồng nhất chúng thì sẽ triệt tiêu động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế, và thực hiện công bằng xã hội là cả một quá trình, phải làm từng bước một, tránh sự nôn nóng và tránh sự trì trệ, ỷ lại, trông chờ
Tóm lại, nghiên cứu các quan niệm khác nhau về vấn đề công bằng xã hội trong lịch sử để chúng ta thấy rằng vấn đề công bằng xã hội đã được
Trang 35đặt ra từ lâu trong lịch sử phát triển xã hội loài người và các chế độ xã hội khác nhau đều đặt ra mục tiêu thực hiện công bằng xã hội, tuy nhiên, chỉ có
xã hội chủ nghĩa mới thực sự đem lại công bằng xã hội cho nhân dân lao động Phương thức duy nhất để thực hiện công bằng xã hội là đi lên chủnghĩa xãhội, công bằng xãhội là việc tạo rađiều kiện cho mỗingười có cơhội tham gia vào quá trình phát triển của xã hội và hưởng thụ những thành quả của sự phát triển, là đảm bảo quyền tự do của mỗi người trong quan hệ gắn bó với cộng đồng Công bằng xã hội phải được thể hiện đầy đủ trong việc giải quyết quan hệ giữa phát triển kinh tế và giải quyết những vấn đề
xã hội, giải quyết hài hòa giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người Công bằng xã hội là trách nhiệm chung của nhà nước, của toàn xã hội trong việc chăm lo, bảo vệ quyền lợi của nhân dân và tạo ra điều kiện thuận lợi đểnhân dân hoàn thành nghĩa vụ, quyền lợi của mình đối với nhànước và đối vớixãhội
1.2 Quan niệm về kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1.2.1 Quan niệm về kinh tế thị trường
Lịch sử phát triển sản xuất và đời sống xã hội của nhân loại đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử
khác nhau Đó là: Kinh tế tự cung tự cấp và kinh tế hàng hóa Đặc trưng của
kiểu tổ chức kinh tế tự cung tự cấp là, quá trình sản xuất mang tính khép kín theo lối truyền thống và phân tán, sản phẩm làm ra chủ yếu để phục vụ cho chính người sản xuất ra nó, ngành sản xuất chính là săn bắt, hái lượm, thủ
công, nông nghiệp sản xuất nhỏ, mục đích cuối cùng là giá trị sử dụng Kinh
tế hàng hóa – mà giai đoạn cao của nó là kinh tế thị trường, đặc trưng của
kinh tế hàng hóa là sản xuất ra để bán cho người khác, để trao đổi trên thị
Trang 36trường, ngành sản xuất chính là công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp sản xuất lớn và mục đích cuối cùng là giá trị, lợi nhuận chứ không phải giá trị sử
dụng Hai kiểu tổ chức kinh tế khác hẳn nhau về chất
Sản xuất và trao đổi hàng hóa chính là những tiền đề quan trọng ban đầu cho sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường Trong quá trình sản xuất và trao đổi, các nhân tố của thị trường như: cung, cầu, giá cả,…sẽ tác động theo cách điều tiết lưu thông và sản xuất, qua đó giúp cho việc luân chuyển, phân bố các nguồn lực sản xuất, tài nguyên thiên nhiên, vốn, đất đai, lao động,…phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất và lưu thông đó Như vậy, thị trường ở đây giữ vai trò là một công cụ phân bố nguồn lực, và khi các nguồn lực phân bố bằng phương thức thị trường thì người ta gọi nó
là kinh tế thị trường
Từ điển “Kinh tế học hiện đại” đã định nghĩa kinh tế thị trường là “Một
hệ thống kinh tế trong đó các quyết định về việc phân bố nguồn lực và sản xuất được đưa ra trên cơ sở các mức giá được xác định qua những giao dịch
tự nguyện giữa các nhà sản xuất, người tiêu dùng, công nhân và chủ sở hữu các YẾU TỐ SẢN XUẤT.” [14, tr.634]
Trên thực tế các nền kinh tế thị trường được thực hiện dưới rất nhiều
dạng thức khác nhau tùy vào điều kiện của mỗi quốc gia, tuy nhiên, chúng
đều có những đặc trưng đồng nhất rất cơ bản, đó là:
- Thị trường là cơ sở của việc phân bố nguồn lực
- Hệ thống các thị trường như: Thị trường hàng hóa, thị trường lao động, thị trường bất động sản,…trở thành đầu mối của sự hoạt động qua lại trong nền kinh tế nhất định
- Các thành phần tham gia như: Các doanh nghiệp, các cá nhân tham gia vào các hoạt động của thị trường phải tuân thủ theo quy luật của nền
Trang 37kinh tế thị trường như: quy luật cung – cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh; có quyền tự do kinh doanh, đều bình đẳng và cần được tôn trọng
- Tồn tại đồng thời nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức tổ chức sản xuất và kinh doanh với quy mô khác nhau
- Trong nền kinh tế thị trường sản phẩm hàng hóa được tự do lưu thông trên thị trường
- Nhà nước phải quản lý nền kinh tế theo hệ thống pháp luật
Xét về mặt lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội, kinh tế thị trường
đã có mầm mống từ trong xã hội chiếm hữu nô lệ, hình thành trong xã hội phong kiến và đạt đến đỉnh cao cùng với sự phát triển rộng rãi trong xã hội
tư bản chủ nghĩa
Có nhiều cách hiểu khác nhau về kinh tế thị trường, nhưng nhìn chung
đều cho rằng: Kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển cao
Mặc dù có đặc điểm riêng biệt, nhưng tất cả các phương thức sản xuất tiền tư bản chủ nghĩa đều có nét chung là kinh tế tự nhiên, sản xuất nhỏ chiếm ưu thế, trong sản xuất nhỏ thì có sản xuất tự cung, tự cấp và sản xuất hàng hóa giản đơn, mục đích là giá trị sử dụng của sản phẩm làm ra, còn nền kinh tế hàng hóa phát triển cao có nghĩa là nền kinh tế đó mọi chủ thể kinh
tế đều hoạt động, quan hệ với nhau dưới sự tác động trực tiếp của hệ thống thị trường, cho nên còn gọi là kinh tế thị trường Nền kinh tế đó chỉ đạt được
từ khi xóa bỏ các quan hệ sản xuất phong kiến, tức là trong chủ nghĩa tư bản
và chủ nghĩa xã hội Sự ra đời, tồn tại của nền kinh tế hàng hóa và nền kinh
tế thị trường là khách quan, phụ thuộc vào những điều kiện vật chất do sự phát triển của bản thân nền sản xuất quyết định, không phải do một lý thuyết kinh tế hay lý thuyết xã hội nào quyết định
Khi nghiên cứu lịch sử phát triển của sản xuất xã hội, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, thực tế đã tồn tại nhiều loại hình kinh tế thị trường: kinh tế thị
Trang 38trường tự do cạnh tranh (kinh tế thị trường cổ điển), kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước (kinh tế thị trường hiện đại) Trong kinh tế thị trường
có sự quản lý của nhà nước thì chia làm hai loại: Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa
Chủ nghĩa tư bản nhờ phát triển kinh tế thị trường nên đã đưa nền kinh
tế phát triển đến trình độ cao và đẩy nhanh sự phát triển khoa học công nghệ Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là, kinh tế thị trường đồng nhất với chủ nghĩa tư bản và chỉ tồn tại trong chủ nghĩa tư bản, chúng ta có thời kỳ đã đánh đồng khái niệm “Kinh tế thị trường” và “Kinh tế hàng hóa” của chủ nghĩa tư bản, mà chỉ có các thể chế kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hay những cách thức sử dụng kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mới là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản mà thôi Như vậy, kinh tế thị trường là thành tựu chung của xã hội loài người Điều đó khẳng định kinh tế thị trường không chỉ tồn tại trong chủ nghĩa tư bản mà còn trong các xã hội khác
Trên thực tế, kinh tế thị trường không chỉ tồn tại trong các nước tư bản
mà còn có ở các nước xã hội chủ nghĩa như Việt Nam và Trung Quốc Ở đây, cũng không nên hiểu nền kinh tế thị trường như một cỗ máy có sẵn ở đâu đó, chúng ta chỉ việc nhập nó và sử dụng ngay được trong mọi điều kiện, mà phải hiểu, đây là một mô hình tổ chức hoạt động kinh tế được hình thành dần dần trong quá trình con người hoạt động qua những giai đoạn lịch
sử khác nhau, mô hình đó không phải bất đi bất dịch mà thay đổi tùy theo điều kiện đặc thù của mỗi quốc gia Vì vậy, kinh tế thị trường của mỗi quốc gia vừa có những nét chung tương đồng với nhau vừa có những nét đặc thù riêng của nước mình Ví như, quá trình phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa trải qua hai giai đoạn chủ yếu:
Một là, giai đoạn phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tự do
kéo dài ở các nước phương Tây, từ cuối thế kỷ XVII tới đầu thế kỷ XX Đặc
Trang 39trưng chủ yếu của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa ở giai đoạn này là: Các chủ thể kinh tế tư nhân được xác lập; nền kinh tế được xây dựng chủ yếu trên hệ thống tư bản cá biệt và là tế bào nền tảng của chế độ xã hội; cơ chế thị trường trở thành cơ chế vận hành chủ yếu của nền kinh tế
Hai là, giai đoạn phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại
từ đầu thế kỷ XX tới nay Đặc trưng chủ yếu của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa ở giai đoạn này là: Có sự liên kết giữa các tư bản cá biệt trong xã hội, hình thành nên tư bản xã hội lớn; sự kết hợp của bàn tay vô hình của thị trường và bàn tay hữu hình của nhà nước; sự phát triển của các tập đoàn xuyên quốc gia và sở hữu nhà nước mà cụ thể là các doanh nghiệp nhà nước trở thành nhân tố quan trọng trong nền kinh tế Với sự lớn mạnh đó, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn này có tầm ảnh hưởng vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia nhất định
Ngày nay, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đã phát triển tới giai đoạn khá cao trong các nước tư bản chủ nghĩa phát triển Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa có những mặt trái, có khuyết tật
cố hữu xuất phát ngay từ bản chất của nó do chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa quy định Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản ngày càng bộ lộ sâu sắc: Các vấn đề xã hội không những không giải quyết được mà còn bị đẩy lên thành những tình huống có vấn đề, sự bất công và bất ổn của xã hội tăng lên, hố sâu ngăn cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng lớn Hơn thế nữa, trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đã trở thành sự thống trị của một số ít nước lớn hay một số tập đoàn xuyên quốc gia đối với
đa số các nước nghèo, làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các nước giàu và nước nghèo, đồng thời còn ràng buộc các nước kém phát triển
Trang 40Hiện tại, mặc dù chủ nghĩa tư bản đã và đang tìm mọi cách để tự điều chỉnh, tự thích nghi bằng cách phát triển “Nền kinh tế thị trường hiện đại”,
“Nền kinh tế thị trường xã hội”, tạo ra “Tư bản chủ nghĩa xã hội”, “Chủ nghĩa tư bản nhân dân”, “Nhà nước phúc lợi chung” , tức là phải có sự can thiệp trực tiếp của nhà nước và cũng phải chăm lo vấn đề xã hội nhiều hơn, nhưng do mâu thuẫn thuộc về bản chất, chủ nghĩa tư bản không thể tự giải quyết được Có chăng thì nó cũng chỉ dừng lại ở mức độ tạm thời xoa dịu được phần nào mâu thuẫn mà thôi
Nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại đang ngày càng thể hiện xu hướng tự phủ định và tự tiến hóa để chuẩn bị chuyển sang giai đoạn hậu công nghiệp, theo xu hướng xã hội hóa Đây là tất yếu khách quan, là quy luật phát triển của xã hội Nhân loại muốn tiến lên, xã hội muốn phát triển thì dứt khoát không thể dừng lại ở kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Trên thực tế, nền kinh tế thị trường phi tư bản chủ nghĩa: Kinh tế thị trường
xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hình thành ở Trung Quốc và Việt Nam đã minh chứng cho điều đó Đúng như C.Mác đã phân tích và dự báo: Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tất yếu phải nhường chỗ cho một phương thức sản xuất, một chế độ xã hội mới văn minh hơn, nhân đạo hơn – chủ nghĩa cộng sản văn minh
1.2.2 Quan niệm về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
* Quá trình hình thành đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
Trong bối cảnh toàn thế giới có nhiều thay đổi lớn về mọi mặt, để đạt được mục tiêu tối thượng và khát vọng thiêng liêng của toàn dân tộc về một
xã hội mới – xã hội chủ nghĩa; một xã hội thực sự của dân, do dân và vì dân; Đảng và Nhà nước ta một mặt, vẫn kiên trì con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã được lựa chọn; mặt khác, luôn không ngừng tìm tòi, đổi mới, tổng kết