Còn Đêmôcrít lại nhận thức về vấn đề tất yếu được thể hiện ở mọi sự tồn tại trong thế giới, tính tất yếu thể hiện như một quy luật nó không tự nhiên sinh ra và biến mất, nó tồn tại đều
Trang 1VÕ NGUYỄN ANH THI
BIỆN CHỨNG GIỮA TỰ DO VÀ TẤT YẾU TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2014
Trang 2VÕ NGUYỄN ANH THI
BIỆN CHỨNG GIỮA TỰ DO VÀ TẤT YẾU TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS ĐỖ THỊ NGỌC LAN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học
của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Đỗ Thị Ngọc Lan Nếu có gì
không đúng tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Võ Nguyễn Anh Thi
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN CHỨNG GIỮA TỰ DO VÀ TẤT YẾU, VỀ DÂN CHỦ VÀ QUY CHẾ DÂN CHỦ 10
1.1 Quan điểm trước Mác về biện chứng giữa Tự do và Tất yếu 10
1.1.1 Quan niệm Đêmôcrít 10
1.1.2 Quan niệm của Êpiquya 13
1.1.3 Quan niệm của Xpinôda 16
1.1.4 Quan niệm Hêghen 22
1.2 Quan điểm mácxít về biện chứng giữa tự do và tất yếu 31
1.2.1 Quan niệm về tất yếu 31
1.2.2 Quan niệm về tự do 32
1.2.3 Mối quan hệ giữa tự do và tất yếu 34
1.3 Quan niệm về dân chủ và quy chế dân chủ 40
1.3.1 Quan niệm về dân chủ 40
1.3.2 Quan niệm về Quy chế dân chủ 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 61
CHƯƠNG 2: BIỂU HIỆN CỦA MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TỰ DO VÀ TẤT YẾU TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ 64
2.1 Sự ra đời của Quy chế dân chủ ở cơ sở và quá trình thực hiện quy chế này ở Việt Nam 64
2.1.1 Sự ra đời của Quy chế dân chủ ở cơ sở 64
2.1.2 Quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của Việt Nam 66
2.2 Mối quan hệ giữa tự do và tất yếu trong quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 82
2.2.1 Sự biểu hiện trên lĩnh vực kinh tế 82
2.2.2 Sự biểu hiện trên lĩnh vực chính trị 100
Trang 52.2.3 Sự biểu hiện trên lĩnh vực văn hóa - xã hội 114
2.3 Ý nghĩa của việc giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa tự do và tất yếu trong quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 128
2.3.1 Ý nghĩa mối quan hệ biện chứng giữa tự do và tất yếu là thống nhất quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 128
2.3.2 Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đảm bảo vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay 136
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 139
KẾT LUẬN 142
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 146
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang bước vào thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với phát triển kinh tế tri thức nhằm xây dựng cơ sở vật chất –
kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Đó là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân Vì thế, điều quan trọng, có ý nghĩa quyết định là phải tạo điều kiện để nhân dân lao động ngày càng được thực sự làm chủ, phát huy cao độ tính tích
cực xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Dân chủ có vai trò đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến sự thành công trong trong sự nghiệp đổi mới đất nước Dân chủ là bản chất của chủ nghĩa xã hội, là mục tiêu và động lực phát triển xã hội và hướng
con người đến tự do Được sống trong tự do hạnh phúc là khát vọng lớn
nhất của mỗi con người Từ khi xã hội có sự phân chia giai cấp, có sự nô dịch và áp bức giữa người với người, thì nhu cầu vươn tới tự do đã trở thành động lực mạnh mẽ nhất thôi thúc con người phải vùng lên đấu tranh xóa bỏ cường quyền để giành lấy tự do Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:
“Không có gì quý hơn độc lập, tự do.” Đó là chân lý bất hủ và mang ý
nghĩa sâu sắc
Tự do là cơ sở nền tảng của dân chủ, tạo ra mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội được công bằng hơn trên các phương diện của cuộc sống Từ đó, con người cần phải nâng cao năng lực nhận thức của
mình để hành động phù hợp với hiện thực khách quan
Trong 28 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, bộ mặt xã hội có nhiều thay đổi rõ rệt, quyền lợi của nhân dân lao động ngày càng được quan tâm, việc thực hiện phát huy dân chủ ngày càng được mở rộng Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu rất đáng tôn trọng, hiện nay trong xã hội còn tồn tại nhiều khó khăn, bức xúc
Trang 7và bất công Trên thực tế, quyền làm chủ của nhân dân chưa được tôn trọng
và phát huy đầy đủ trong đời sống xã hội, không những hiện tượng mất tự
do dân chủ, dân chủ hình thức, bệnh quan liêu, tư tưởng phong kiến, gia trưởng còn nặng nề Đồng thời, cũng xuất hiện khuynh hướng dân chủ cực đoan, dân chủ không đi liền với thực hiện kỷ cương pháp luật Pháp luật chưa được cụ thể hóa và hoàn thiện, chưa tạo được cơ sở pháp lý vững chắc cho nhân dân phát huy quyền làm chủ Tình hình đó do nhiều nguyên nhân như: Đời sống kinh tế khó khăn từ thói quen lối sống, tập tục sản xuất nông nghiệp lạc hậu, mặt bằng dân trí thấp, pháp luật còn nhiều chồng chéo và
thiếu đồng bộ chưa phù hợp với cuộc sống
Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay, đã vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào những vấn đề cụ thể của đất nước, đưa dân tộc tới những thắng lợi trước các đế quốc hùng mạnh như: Pháp, Mỹ, Nhật… giành độc lập cho dân tộc, lãnh đạo nhân dân ta đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân
chủ, công bằng, văn minh
Đảng cộng sản Việt Nam nhấn mạnh vấn đề giữ vững và phát huy được bản chất tốt đẹp của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, làm cho họ tham gia tự giác, tích cực vào việc quản lý nhà nước; tham gia kiểm
kê, kiểm soát, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng là khâu quan trọng, cấp bách cả trước mắt và lâu dài Đặc biệt
là việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, vì cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách rộng rãi, trực tiếp và phổ biến nhất với những mục tiêu đó; Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ, các bộ, ngành trong thời gian qua đã ban hành nhiều văn bản, quy chế pháp luật nhằm tiếp tục cụ thể hóa đường lối của Đảng, chính sách
Trang 8pháp luật của Nhà nước trong việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở nước
ta
Hiểu rõ mối quan hệ biện chứng giữa tự do và tất yếu trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng giúp chúng ta có cơ sở lý luận khoa học nhằm phát huy cao độ quyền làm chủ của nhân dân, tạo động lực mạnh mẽ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Vì thế, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Biện chứng giữa tự do và tất yếu trong việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay” làm đề
tài luận văn thạc sỹ triết học
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin khi nghiên cứu mối quan
hệ biện chứng “tự do và tất yếu” đã đặt nền móng khoa học cho việc giải quyết mối quan hệ cơ bản này, việc vận dụng những quan điểm cơ bản đó trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội luôn được Đảng cộng sản và các nhà lý luận từng bước làm rõ Đặc biệt, trải qua những giai đoạn chiến tranh lịch sử cũng như quá trình đổi mới và phát triển đất nước, vấn đề về mối quan hệ biện chứng giữa tự do và tất yếu và quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam là những đề tài được nhiều nhà chính khách, nhiều nhà lý luận quan tâm nghiên cứu ở những góc độ khác nhau Có thể phân chia các công
trình nghiên cứu theo các hướng như sau:
Hướng tiếp cận thứ nhất: Các công trình nghiên cứu lý luận chung về tự do, về tất yếu và mối quan hệ biện chứng giữa tự do và tất yếu:
Nguyễn Trần Bạt (2004), Biện chứng của “tự do”, Khoa học và Tổ quốc, số 23 (24); Nguyễn Tấn Hùng (2009), Chủ nghĩa tự do: Qua trình phát triển và ảnh hưởng của nó đối với thế giới hiện đại”, sinh hoạt lý luận; (6), hhtp://www.chungta.com; Nguyễn Văn Phúc “Tự do và trách nhiệm
Trang 9trong hoạt động của con người”, Triết học, số 3 (202); Đỗ Minh Hợp,
“Khái niệm tự do trong triết học Hêghen”, Triết học, số 126; PGS,TS Đinh Ngọc Thạch (2005) “Về tự do với tư cách phạm trù của triết học Xã hội”, chungta.com.v.v; Vương Thị Bích Thủy (2004), Tất yếu và tự do - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn; RôGiê Garôđi, (1963), Tự do, Nxb Sự thật, Hà
Nội
Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu những tác phẩm trên, tác phẩm
“Tất yếu và tự do – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Vương Thị Bích Thủy đã chỉ ra được những tiền đề lý luận trong lịch sử trước Mác một cách cơ bản về tất yếu và tự do để hiểu rõ sự phát triển của các nhà sang lập chủ nghĩa Mác – Lênin về các khái niệm này Tác giả Vương Thị Bích Thủy cũng rút ra được ý nghĩa có giá trị thực tiễn đối với đường lối lãnh đạo của cách mạng Việt Nam, hệ thống chính trị Việt Nam cần phải
thực hiện đúng mối quan hệ giữa tự do và tất yếu
Tác phẩm “Tự do”, của RôGiê Garôđi chứng minh được các giá trị của các nhà triết học trước Mác về quan niệm tự do và lấy đó làm cơ sở khi thực hiện so sánh với các quan điểm của Chủ nghĩa Mác tạo nên hướng đi mới trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, hướng tới tự do một cách tích cực
cho con người
Các tác phẩm còn lại đều được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, phương pháp khác nhau về quan niệm tự do và tất yếu, đồng thời nêu lên được những mục đích, ý nghĩa của việc hướng con người tới tự do, và làm tiền đề lý luận cho Đảng, Nhà nước cũng như đường lối cách mạng, hệ thống chính trị Việt Nam xây dựng xã hội Việt Nam phù hợp với xu hướng
phát triển tất yếu của thời đại
Trang 10 Hướng tiếp cận thứ hai: Các công trình nghiên cứu về dân chủ
và quy chế dân chủ ở cơ sở:
Vấn đề Dân chủ và Dân chủ ở Việt Nam hiện nay: Nguyễn Duy Qúy và
Nguyễn Tất Viễn (2008); “Một số khía cạnh của khái niệm dân chủ” của
TS Đỗ Trung Hiếu (Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 231, 2002);
“Một số cách tiếp cận khái niệm dân chủ” của tác giả Nguyễn Đăng Quang (Tạp chí Thông tin lý luận, số 175,1992); Khái niệm dân chủ; Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị, Quốc Gia Hà Nội; N.M Voskresenskaia - N.B Davletshina (2009), Chế độ dân chủ nhà nước và xã hội, Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội; Hồ Bá Thâm (2007), “dân chủ hóa, phân quyền hóa cơ cấu
hệ thống quyền lực nhà nước theo tư duy pháp quyền biện chứng”, nghiên cứu lập pháp, 22 (159); Nguyễn Thị Thu Thủy (2007) Dân chủ hóa đời sống xã hội trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước Pháp quyền của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam hiện nay; http://www.nclp.prg.vn; Hồ Bá Thâm (2007), Dân chủ hóa và phát huy nội lực, Nhà xuất bản Phương Đông Bến tre; Cuốn sách “Dân chủ và việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở” (TS Lương Gia Ban) (Chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Tư tưởng dân chủ về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của V.I Lênin có ý nghĩa lí luận và thực tiễn, do đó Khoa Triết học, Trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Tư tưởng dân chủ của V.I Lênin và ý nghĩa của nó đối với quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay” từ kết
quả nghiên cứu đã tập hợp thành cuốn sách “Tư tưởng của V.I Lênin về
dân chủ” (PGS.TS Doãn Chính, TS Đinh Ngọc Thạch, TS Trần Hùng,
TS Trần Chí Mỹ) (đồng chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004; Các qui định về dân chủ ở cơ sở, Nhà xuất bản chính trị quốc
Trang 11gia, Hà nội - 2001; Hỏi và đáp, về giám sát đầu tư giám sát cán bộ tại cộng đồng khu dân cư, nhà xuất bản chính trị quốc gia - 2009; Tìm hiểu về Văn hóa kinh tế thị trường nhà nước và pháp luật, chương trình giáo dục các chuyên đề lý luận dành cho cơ sở; Hướng dẫn thực hiện các qui định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, Uỷ ban kiểm tra trung
ương, Nhà xuất bản lao động - xã hội
Có những công trình đề cập đến quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
về dân chủ và kế thừa di sản tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ, tạp chí trình bày về dân chủ và các công trình đề cập đến vấn đề quy
chế dân chủ cơ sở và phát huy dân chủ ở Việt Nam hiện nay:
Tác phẩm “Tư tưởng của V.I Lênin về dân chủ” (PGS.TS Doãn
Chính, TS Đinh Ngọc Thạch, TS Trần Hùng, TS Trần Chí Mỹ) (đồng chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004 Trong tác phẩm này tác giả đã nêu bật quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ, và chỉ ra sự khác nhau cơ bản giữa dân chủ tư sản và dân chủ vô sản, từ đó đưa ra phân tích
những bài học đối với quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội ở Việt Nam
Tác phẩm “Dân chủ và việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở” (TS
Lương Gia Ban) (Chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003
đã thể hiện được những tiền đề lí luận về dân chủ và đồng thời xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, tác giả đã nêu lê được ý nghĩa trong việc thực hiện quy chế dân chủ trước tiên cần mở rộng việc thực hiện quy chế dân chủ cơ
sở, đưa vai trò của nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình
Ngoài ra có những tác phẩm, tạp chí trên các tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở,
đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quy chế dân chủ cơ sở
Có nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu trong việc đóng góp, hoàn hiện đường lối, chính sách và đưa ra những phương hướng nhằm phát huy
Trang 12vai trò của Đảng và Nhà nước, cho từng tổ chức chính trị ở góc độ lý luận
trong việc so sánh với thực tiễn để nghiên cứu, hoàn thiện
Hướng tiếp cận thứ ba: Về những công trình nghiên cứu về biểu hiện mối quan hệ biện chứng giữa tự do và tất yếu trong các lĩnh vực đời sống xã hội
Vương Thị Bích Thủy (2004), Tất yếu và tự do - Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn; TS Đoàn Thế Hùng, “ Quan hệ giữa kinh tế thị trường với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”; Nguyễn Công Bá Đạt, “Biện chứng giữa tự do và tất yếu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay” Nguyễn Trần Bạt (2004), Biện chứng của “tự do”, Khoa học và Tổ quốc, số 23 (24); Hồ Anh Dũng,
“Phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay”
Trong đó tác phẩm: “Tất yếu và tự do – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của TS Vương Thị Bích Thủy (chủ biên) đã thể hiện được mối quan
hệ giữa tự do và tất yếu trong đời sống thực tiễn, quy định đường lối, chính sách và các giải pháp đổi mới trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội đảm bảo quy luật khách
quan
Tác phẩm: “Quan hệ giữa kinh tế thị trường với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” của TS Đoàn Thế Hùng (chủ biên) đã chỉ ra sự biểu hiện quan hệ này là tuân thủ các quy luật khách quan của kinh tế thị trường Đó là hệ thống đầy đủ, đồng bộ thị trường, tự
do cạnh tranh, đảm bảo được sự tự do theo quy luật, tạo điều kiện để môi trường kinh tế vận hành bình thường Chính mối quan hệ này đã chỉ ra được mối quan hệ biện chứng tất yếu và đi đến tự do trong sự phát triển
kinh tế ở Việt Nam hiện nay
Trang 13Công trình: “Biện chứng giữa tự do và tất yếu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Công Bá Đạt là thể hiện cơ sở nhận thức và vận dụng những nội dung của cái tất yếu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì sẽ đạt được tự do, biện chứng của tất yếu và tự do là cơ sở xác lập, củng cố các quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất tạo nên tính chất xã hội hóa ngày càng cao, là cơ sở xây dựng một đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Song, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu biện chứng giữa tự do và tất yếu trong việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam Tôi cố gắng để có thể khắc phục khoảng trống
này
3 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của luận văn
Mục đích của luận văn
Góp phần làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa “tự do và tất yếu” trong việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam nhằm phát triển dân chủ
trong đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay
Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ:
Trình bày có hệ thống các tiền đề lí luận trong lịch sử trước Mác cũng như các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ biện chứng giữa tự do và tất yếu và vấn đề dân chủ cơ sở
Giới hạn của luận văn
Tự do và tất yếu bao hàm những nội dung, ý nghĩa, cấu trúc và mối quan hệ với các lĩnh vực của đời sống xã hội rất đa dạng Tuy nhiên, để thực hiện được mục đích và hoàn thành được nhiệm vụ đề tài đặt ra, luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung chủ yếu trong mối quan hệ biện
Trang 14chứng giữa tự do và tất yếu mà nó tác động đến việc thực hiện quy chế dân
chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
* Về phương pháp luận: Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối
chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
* Về phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phối hợp các phương
pháp như phương pháp thống nhất giữa logic và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp so sánh
và đối chiếu v.v…Để nghiên cứu và trình bày luận văn
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học của luận văn là góp phần làm rõ cơ sở lý luận của mối quan hệ biện chứng giữa tự do và tất yếu trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam hiện nay, từ đó luận văn đã khẳng định tính khoa học của việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như đường lối của Đảng và chính sách pháp luật Nhà nước Việt Nam
trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn là cơ sở cho việc xây dựng các chính sách, chỉ đạo thực tiễn trong việc thực hiện quy chế dân chủ của các chính
quyền cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay
Luận văn có thể dung làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên
các chuyên ngành Triết học, chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục và tài liệu tham khảo, luận văn
được chia làm 2 chương với 6 tiết
Trang 15CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN CHỨNG GIỮA TỰ DO VÀ TẤT YẾU, VỀ DÂN CHỦ VÀ QUY CHẾ DÂN CHỦ 1.1 Quan điểm trước Mác về biện chứng giữa Tự do và Tất yếu
Trước Mác có ba nhà triết học tiêu biểu bàn đến các khái niệm tất yếu
và tự do Chúng ta sẽ xem xét quan niệm với những giá trị và hạn chế của từng người
1.1.1 Quan niệm Đêmôcrít
Đêmôcrít (460 – 370 TCN) là một trong số các nhà duy vật lớn nhất
thời cổ đại, là nhà triết học “chẳng những không lánh xa thế giới mà trái
lại, ông nghiên cứu một cách thực nghiệm giới tự nhiên và là một bộ óc bách khoa đầu tiên trong những người Hy Lạp”[104,11] Ông còn nổi tiếng
với thuyết nguyên tử luận và học thuyết nguyên tử, mà trong đó có thể hiện
tư tưởng về cái tất yếu
Đêmôcrít kế thừa quan niệm về nguyên tử (atoma) của Lơxíp và từ đó phát triển lên thành học thuyết nguyên tử cho riêng mình, học thuyết của ông là đỉnh cao và phát triển mạnh trong thời kì cổ đại và có thể coi đó là một bước đột phá trong giai đoạn này ở Hy Lạp Trong học thuyết nguyên
tử Đêmôcrít đã chỉ ra nguyên nhân vật chất, nội tại của các sự vật, hiện tượng và các quá trình trong thế giới vật chất, ông đã đưa ra lý luận về cấu tạo nguyên tử (atoma) Căn cứ vào đó ông đã chỉ ra được tính tồn tại khách quan của vật chất, tính phổ biến, tất yếu của tự nhiên tồn tại trong thế giới này Từ đó Đêmôcrít cho rằng giữa các sự vật tồn tại khách quan luôn vận
động và diễn ra theo trình tự nhất định thông qua sự “va chạm nhau, đẩy
nhau, rồi xoắn vào nhau, tan hợp hợp tan giữa những nguyên tử’’ [99,67]
Học thuyết nguyên tử của Đêmôcrít đã khắc phục được những hạn chế về những quan niệm mang tính tâm lý của thế giới mà chính con người là nạn
Trang 16nhân cho những tư tưởng không có căn cứ khoa học, và cho rằng mọi trật
tự diễn ra trong thế giới đều phục tùng tính tất yếu Dù tính tất yếu đó là hiện tượng tinh thần của con người, hay sự vận hành của con người trong học thuyết về nguyên tử linh hồn Chính sự ra đời của học thuyết nguyên tử
đã biến sự năng động của con người trước những đấng thần linh thành con người của tự nhiên, xã hội chi phối ngược trở lại các hiện tượng tự nhiên
“quan niệm tất yếu của Đêmôcrít đã xóa nhòa ranh giới giữa cái tâm lý và vật lý Tính năng động của đời sống tinh thần được đặt dưới quyền lực của quyết định luận chung, đã trở thành phổ biến trong tất cả các hiện tượng tự nhiên; tính tất yếu từ các lực lượng thần thánh thống trị số phận con người,
đã biến thành cơn lốc nguyên tử, thành sức mạnh chi phối tất cả các hiện tượng tự nhiên” [89,14] Chính ông đã loại bỏ cái gọi là ngẫu nhiên trong
học thuyết của mình và cho rằng sự tồn tại của một quá trình đều có sự tương tác một cách tất yếu trong sự vận hành của nguyên tử Như vậy, theo Đêmôcrít tất cả các sự vật sinh ra đều tuân theo quy luật nhân quả và coi đó
như là quy luật tất yếu Ông đã phê phán; “người ta đã nghĩ ra ngẫu nhiên
và dùng nó như chiếc lọng che đậy tính chất phi lý nơi mình” [99,71]
Chính Arítxtốt đã chỉ ra những yếu tố mà Đêmôcrít đã bàn đến đó là cái tất yếu tự nhiên, và không đề cập đến cái tất yếu trong đời sống xã hội, mục đích sống của con người trong xã hội là một cơ sở để con người hướng đến
cái tất yếu tạo cơ sở để con người được tự do, ông viết: “Đêmôcrít đã bác
bỏ nguyên nhân mục đích, quy tất cả những cái mà giới tự nhiên sử dụng vào tính tất yếu” [104,15] Còn Đêmôcrít lại nhận thức về vấn đề tất yếu
được thể hiện ở mọi sự tồn tại trong thế giới, tính tất yếu thể hiện như một quy luật nó không tự nhiên sinh ra và biến mất, nó tồn tại đều có cơ sở của
nó, Đêmôcrít đã thể hiện được tính quy luật trong quá trình tồn tại của sự vật, coi quy luật như là sự vận hành tạo thành cái tất yếu, cái tất yếu như là
Trang 17cái thể hiện nguyên nhân của mọi sự tồn tại, “không có gì xuất hiện một
cách ngẫu nhiên, mọi sự vật mà tất cả chúng ta cho rằng đã nảy sinh một cách tự phát hay ngẫu nhiên, thực ra đều có nguyên nhân nhất định”
[39,76] Hơn nữa, Đêmôcrít đã thể hiện nguyên nhân của tất yếu như là sự xuất hiện mọi tồn tại trong thế giới là do sự xoay chuyển, liên kết của các nguyên tử, coi đó như là nguyên nhân tất yếu tự thân, tất yếu của từng bộ phận khác nhau là do những nguyên nhân khác nhau hình thành nên và tạo được sự chuẩn xác trong quá trình tồn tại như một tất yếu của bộ phận đó, thế giới vũ trụ bao la, sự tồn tại của nguyên nhân, kết quả bao la và tất yếu
cũng được hình thành từ những nguyên nhân và kết quả đó, “tự thân vũ trụ
đã hàm chứa một cái gì đó chuẩn xác, trật tự, là môi trường rộng lớn, nơi mỗi thực thể đều chiếm một vị trí nhất định” [99,72] Đêmôcrít đã đưa ra
những nguyên nhân để hình thành nên cái tất yếu, nhưng lại không giải quyết được câu hỏi về nguồn gốc và nguyên nhân của vận động như một quy luật của phạm trù tất nhiên - ngẫu nhiên, ông đã loại khỏi cái ngẫu nhiên trong đời sống xã hội, bỏ qua việc bàn đến tự do và mục đích của đời sống xã hội để đi đến cái tất yếu trong tự nhiên Có thể ở góc độ nhận thức manh nha về tự do của con người bị giới hạn vì quy định của tính tất yếu Đêmôcrít đã phớt lờ đi cái ngẫu nhiên và coi ngẫu nhiên như không có ý nghĩa gì với đời sống xã hội và của con người, xem nó như là mặt khác của tất yếu trong thế giới bao la mà con người đang tồn tại Vì vậy, trong quan niệm của Đêmôcrít đã không thoát khỏi những qui luật tự nhiên, sự tồn tại của con người như là sự thừa nhận sức mạnh tự nhiên mà con người phải gánh chịu, phải thừa nhận chính cái định mệnh, số phận mà con người đang tồn tại
Trang 181.1.2 Quan niệm của Êpiquya
Êpiquya (341 -279 TCN) là một nhà triết học có ảnh hưởng to lớn đến đời sống tinh thần của người Hy lạp cổ đại ở thời kỳ suy thoái của xã hội chiếm hữu nô lệ (thế kỷ III – I trước CN), thời kì này các mâu thuẫn xã hội chiếm hữu nô lệ ngày một trở nên gay gắt, chiến tranh xâm lược thường xuyên diễn ra Khủng bố, cướp bóc triền miên, tạo ra các hình thức áp bức chính trị, tinh thần thô bạo Từ đây, Êpiquya luận chứng cho sự không phụ thuộc của con người vào số phận đã trở thành một tư tưởng chủ đạo trong triết học thời kì này
Êpiquya đã kế thừa và phát triển có chọn lọc nguyên tử luận của Đêmôcít, ông xem nguyên tử là bản nguyên của mọi sự tồn tại, hơn nữa sự tồn tại của nguyên tử là sự hợp thành kể cả linh hồn con người Chính những yếu tố đó đã tạo ra cái mới trong quá trình nhận thức của Êpiquya,
một hướng đi mới của tư duy con người,“linh hồn như là một dạng nguyên
tử đặc biệt, tinh túy, trơn trượt, vận động nhanh Sự sống và cái chết, do
đó, chẳng qua là sự hợp nhất hay phân rã các nguyên tử” [99,222] Chính
từ đó ông đã loại bỏ những quan niệm của con người về linh hồn bất tử cũng như loại bỏ sự can thiệp của thần linh vào đời sống con người Ông đã đưa quá trình nhận thức của con người lên một hướng phát triển mới đó là phát triển thêm về cách thức và nguồn gốc của sự vận động của các nguyên
tử để đưa ra tư tưởng “Tự do và tất yếu’’ và ‘‘tất yếu của cái ngẫu nhiên”
Trong quá trình tồn tại của quy luật tự nhiên về học thuyết nguyên tử Êpiquya đã đưa ra quan niệm về tính dao động của một dạng vật chất được tách ra từ một dạng thức ban đầu của nguyên tử Với quan niệm này, trong
ý thức trước đó của Êpiquya đã xuất hiện ý tưởng về tự do mà ở đây là sự liên tưởng đến năng lực tự do nội tại xuất hiện từ ý chí của con người đến một dạng vật chất khách quan như một quy luật tất yếu để mở ra một phạm
Trang 19trù tự do cho mục đích tồn tại về ý tưởng xuất hiện trong ý thức của mình
Từ đó, Êpiquya cho rằng: “Điều bất hạnh là sống trong sự tất yếu, nhưng
sống trong sự tất yếu lại tuyệt nhiên không phải là điều tất yếu Những con đường dẫn đến tự do đều rộng mở ở khắp nơi, có nhiều con đường ấy, chúng ngắn và dễ dàng, chúng ta hãy cảm ơn thượng đế vì không thể giữ được ai trong cuộc sống, ngăn ngừa chính sự tất yếu - đó là được phép [81,
tư duy biện chứng về mối liên hệ giữa tự do và tất yếu, từ quan niệm về dao động tự do trong mối liên hệ với phương thức vận động thẳng tất yếu của các nguyên tử ông đã mở rộng đến mối liên hệ biện chứng các vấn đề đạo đức, pháp quyền để xây dựng trong ý tưởng về khế ước xã hội Từ đó, khế ước xã hội là kiểu nhà nước thể hiện quyền con người với con người trong
một xã hội “Êpiquya là người đầu tiên đã đưa ra quan niệm cho rằng nhà
nước dựa trên sự giao ước giữa người với người, một khế ước xã hội”
[70,185 -186]
Bên cạnh tự do là tất yếu được thể hiện trong học thuyết “giao động tự
do” của Êpiquya thì theo Bưkhốpxki đã đánh giá rằng:“Việc thừa nhận ngẫu nhiên trong học thuyết của Êpiquya về sự chệch khỏi hướng thẳng khi rơi xuống của nguyên tử là nhằm chống lại số phận, tính tiên định… là hướng vào việc giải phóng con người khỏi ý thức cam chịu, chủ nghĩa khắc
kỷ, là đưa gần tới việc đặt ra vấn đề tự do và tất yếu” [89,26] Có thể thấy
rằng Bưkhốpxki đã đánh giá cao sự thể hiện tự do (ngẫu nhiên) của
Trang 20Êpiquya trong học thuyết giao động tự do như là sự khẳng định quan niệm
tự do trong học thuyết triết học của Êpiquya là một định hướng cơ sở để hướng con người thoát khỏi những ràng buộc cơ bản trong cuộc sống trong
xã hội Chính các nhà triết học Xô Viết trước đây đã đánh giá cao ý định luận chứng một cách duy vật cho tự do và tất yếu trong định hướng đạo đức học ở phép biện chứng của Êpiquya
Theo đánh giá của PGS.TS Đinh Ngọc Thạch: “Quan niệm của
Êpiquya về dao động tự do của nguyên tử như điều kiện cần thiết cho tự do của con người là quan niệm ấu trĩ, mộc mạc, nhưng nó có ý nghĩa nhân văn sâu sắc: Tự nó gắng với bản chất con người là cái phẩm giá do tự nhiên ban tặng, trở thành “thiên bẩm”, không thể bị tước đoạt ” [99,227]
Bên cạnh sự kế thừa quan điểm duy vật về bản thể trong nguyên tử luận của Đêmôcrít, Êpiquya đã vượt qua tính tất yếu máy móc của Đêmôcrít để đưa đến một cái nhìn tổng quát biện chứng của mình để khẳng định sự vận động của các nguyên tử không chỉ diễn ra theo những khuynh hướng tất
yếu phổ biến mà nó còn thể hiện sự tự do theo quy luật của nguyên tử “có
sự giao động tự do” [104,23] Êpiquya đã bước xa hơn Đêmôcrít trong sự
nhận thức, Êpiquya đã thừa nhận nguyên nhân của những cái ngẫu nhiên như chịu sự chi phối của cả tính tất yếu Chính từ đó ông đã chỉ ra ba dạng
vật chất vận động của nguyên tử đó là: Vận động thẳng do trọng lực, vận
động hổn độn do va chạm, vận động dao động tự do nội tại, tách khỏi các
dạng thức ban đầu “quá trình tự nhiên chịu sự chi phối của cả tính tất yếu
(vận động thẳng do trọng lực, vòng xoáy lốc do va chạm của các nguyên tử) lẫn mối liên hệ ngẫu nhiên, xác suất (dao động tự do nội tại, tách ra dạng thức ban đầu của các nguyên tử)’’ [99,227] Êpiquya trong khi đề cập
đến vấn đề tất yếu ông đã đưa ra những dẫn chứng về tự tồn tại khách quan của cái ngẫu nhiên, chính cái ngẫu nhiên trong tư duy của ông là cơ sở để
Trang 21hình thành nên cái tất yếu Do đó, khi xem xét về hai nhà nguyên tử luận
Đê môcrít và Êpiquya thì quan niệm về tất yếu chính là sự vận hành cùa các quy luật khách quan, nội tại của các nguyên tử “vận động tự do tách khỏi dạng thức ban đầu” của nguyên tử, nó quyết định mọi dạng thức tồn tại của các sự vật hiện tượng và các quá trình trong thế giới hiện thực và cả thế giới tinh thần của con người Từ đó, Êpiquya đã đi đến giải thích bản chất, nguyên nhân thế giới vật chất, góp phần chứng minh tính khách quan, nội tại của vật chất trong sự tồn tại của thế giới Tuy nhiên, bên cạnh những
gì mà Êpiquya có được trong tiền đề lý luận của mình thì nó còn có những hạn chế trong quan niệm của ông về tất yếu đó là: quan niệm về vật chất và các dạng thức tồn tại và liên kết của nguyên tử tạo nên tính tất yếu của thế giới, đã cho thấy sự hạn chế của Êpiquya kể cả Đêmôcrít còn mang nặng tính phỏng đoán, trực quan cảm tính và siêu hình Cho nên, những tiền đề
lý luận của ông cũng thật sự chưa vững chắc trong tư duy biện chứng, chứng minh cho tính khách quan rõ ràng tương đối giữa hai mặt tất yếu và ngẫu nhiên trong quá trình vận động và phát triển hết sức phong phú đa dạng của hiện thực khách quan, bỏ qua khả năng nhận thức của con người với khả năng nắm bắt được cái tất yếu như là một quy luật
Trước tình thế như vậy, con người đã làm chủ được cái tất yếu để được
tự do cải tạo thế giới hiện thực khách quan, phục vụ cho mục đích sống của mình, tạo cho con người có hướng đi từ vị thế khuất phục định mệnh để hướng tới tự do và làm chủ số phận của chính mình
1.1.3 Quan niệm của Xpinôda
Xpinôda (1632 – 1677) là một nhà triết học Hà Lan nổi tiếng, người gốc Do Thái, nhà duy vật vô thần, nhà tư tưởng của tầng lớp dân chủ tư sản Xpinôda được coi là một trong những nhà duy lý vĩ đại nhất của triết học thế kỉ 17
Trang 22Xpinôda đứng trên quan điểm nhân bản chủ nghĩa để phủ nhận tự do ý chí và ông cho rằng mọi hoạt động, mọi hành vi của con người đều có tính quy luật tất yếu và có tính biện chứng về mối liên hệ giữa tự do và tất yếu
Tư tưởng đó được ông thể hiện trong khái niệm “tính tất yếu và tự do” và theo ông: “tự do là đồng nhất với sự hiểu biết, cho nên mọi nổ lực vươn
đến sự tự hiểu biết đều là khát vọng tự do của con người”[37,91] Về vấn
đề con người Xpinôda đứng trên lập trường của chủ nghĩa tự nhiên ông xem vũ trụ thì bao la, vô tận và con người chỉ là bộ phận của tự nhiên, một mảnh của bộ máy thế giới, với sự tồn tại của con người trong thế giới tự nhiên bao la tạo nên sự ràng buộc của con người với thế giới bên ngoài, sự biến đổi của thế giới tự nhiên dù như thế nào cũng chi phối và tác động đến con người không ít thì nhiều Quan điểm này được gắn với khuynh hướng duy vật của ông khi giải thích hoạt động tư tưởng của con người Theo
Xpinôda: “Sự phụ thuộc của tư duy của con người vào trạng thái cơ thể
của nó được thấy rõ ở giai đoạn cảm tính, cảm tính là giai đoạn nhận thức đầu tiên của tri thức, cũng còn gọi là ý kiến (dư luận) nhận thức cảm tính thường đưa đến sự nhầm lẫn Nhưng dù là phản ánh không chính xác khách thể, thì trong nhận thức cảm tính vẫn chứa đựng yếu tố chân lý”
[37,90] Chính sự tác động qua lại của con người với thế giới tự nhiên gây nên sự “ham muốn” trong tinh thần của con người Sự “ham muốn” ấy là kết quả cảm thụ tinh thần thông qua thể xác do những yếu tố tác động khách quan bên ngoài của con người, cũng có lúc con người còn mơ hồ trước những ham muốn, thúc đẩy đến sự ham thích mù quáng và đó là con đường hướng con người trở thành nô lệ cho những ham thích đó Ông viết:
“tôi gọi sự bất lực của con người trong việc làm chủ và kềm hãm những
“ham muốn” của mình, là sự nô dịch Bởi vì một người tuân phục những ham thích thì không làm chủ được mình nữa…; sự bất lực của con người là
Trang 23ở chỗ con người bị chi phối với những khách thể tồn tại bên ngoài mình, và con người bị những khách thể đó quyết định trong hành động mà tình hình toàn bộ những khách thể ấy xui nên, chứ không phải bị quyết định bởi bản chất con người đúng như nó mang trong bản thân nó”[39,174] Sự tác
động đến con người dù ở phương diện nào cũng được thể hiện bởi hoàn cảnh bên ngoài, trong linh hồn của con người như là một dạng tư duy có thể nắm bắt được tất cả những gì của thực tế, tuyệt nhiên không có gì là ý
chí tuyệt đối hay tự do cả “mà linh hồn bị quyết định phải muốn cái này
hay cái nọ, bởi một nguyên nhân mà bản thân nguyên nhân này lại bị quyết định bởi một nguyên nhân khác và cả nguyên nhân khác cũng lại bị quyết định bởi nguyên nhân khác nữa, và cứ thế đến vô tận”[39,175] Như vậy,
con người tự do là con người phải có vốn kiến thức cơ bản để nhận thức Điều đó được thể hiện trong quá trình nhận thức của con người từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, con người sẽ trở nên tự do khi chuyển từ nhận thức cảm tính, lờ mờ, hỗn độn, chủ quan đến nhận thức lý tính với mục đích thể hiện mạnh mẽ Trong nhận thức lý tính, con người như một
chuỗi khám phá thế giới khách quan của tư duy “… tất yếu của bản thân
hình tam giác phải là tổng số ba góc ấy bằng hai góc vuông” [39,178]
Trong quan điểm đạo đức của Xpinôda cũng gắn với quan điểm về tự
do, đạo đức của Xpinôda là khái niệm “con người tự do” Trong hoạt động
của mình con người chỉ có thể trở thành tự do khi được chỉ đạo bởi lý trí của chính con người, nếu con người đi ngược lại đạo đức thì con người sẽ không được tự do và gắn liền với nó là sự khổ hạnh Trong tác phẩm vĩ đại
của Xpinôda “đạo đức học được trình bày theo kiểu của Eculid trong năm
phần của nó “Về Thiên Chúa”; “Về Thiên nhiên và Nguồn gốc tinh thần”;
“Về Nguồn gốc và bản chất của Cảm xúc”; “Về sự lệ thuộc của con người, hay sức mạnh của cảm xúc”; “Về Sức mạnh của trí tuệ, hay của tự do của
Trang 24con người”[65,1073] Xpinôda là người theo thuyết tất định rõ rệt, mọi sự
xảy ra đều được định đoạt bởi hai yếu tố, thứ nhất: Bản tính thường hằng
của Thiên Chúa có nghĩa là các luật tự nhiên và các điều kiện trước đó cũng định đoạt trở đi trở lại một cách vô hạn mà ở Xpinôda không có tự do trung lập của con người nhưng có những mức độ tự do khác nhau là tự do
của con người một cách tích cực hơn, thứ hai: hiểu một các đơn giản hơn
Xpinôda coi chúng là những con người lệ thuộc theo mức độ chúng ta chịu
sự kiểm soát của những vật ngoại tại, những con người tự do theo mức độ chúng ta đối diện cuộc sống bằng sự hiểu biết sáng tạo về những gì phục vụ tốt nhất cho những mục đích và các ý tưởng thích đáng sẽ định đoạt nơi chúng ta
Với tư tưởng tự do, tự do là một quá trình nhận thức tất yếu, chính ông
là người đã đặt nền móng khởi nguyên cho mối quan hệ giữa tất yếu và tự
do một cách đúng đắn, chỉ ra một hướng đi mới cho nền triết học trong quá trình tiếp cận đến phạm trù tự do và tất yếu Xpinôda đã lấy chủ nghĩa duy vật làm cơ sở lí luận và ông khẳng định trong thế giới tính tất yếu nội tại, khách quan, tất yếu là cái có trước linh hồn, không phụ thuộc vào linh hồn còn tự do không phải ở ý chí, suy nghĩ chủ quan, tự do cũng không phải tồn tại nhờ chống lại tất yếu mà tự do tồn tại được nhờ có sự tồn tại của cái tất yếu Do vậy ở Xpinôda luôn thể hiện cái tự do trong mối quan hệ biện chứng với một cái khác, với ông không có cái tự do tuyệt đối và tối cao, mà
tự do tồn tại và song hành với cái tất yếu và chi phối cái tất yếu Chính từ
đó những phạm trù của phép biện chứng nó cũng thể hiện được những khái niệm của hình thức tư duy phản ánh những mặt, những thuộc tính cơ bản của một lớp những sự vật hiện tượng nhất định của hiện thực khách quan,
kể cả phạm trù tự do và tất yếu cũng không loại khỏi những hình thức tư duy đó Ở đây, tự do là sự nhận thức cái tất yếu, Xpinôda đã gắn liền với tự
Trang 25do với năng lực nhận thức của con người và ông chỉ ra được tự do là hoạt động con người và hoạt động đó được gọi là hoạt động nhận thức và loại bỏ suy nghĩ tự do là thuộc tính của con người
Tuy nhiên, trong sự thể hiện biện chứng của Xpinôda về tự do và tất yếu, nhưng với những hạn chế của lịch sử cho nên tư tưởng của Xpinôda không thể thoát khỏi tính chất siêu hình đang diễn ra rất mạnh mẽ vào thời
kì này Tính siêu hình của ông chính là sự thể hiện các mối liên hệ một cách máy móc, ông cho rằng tính tất yếu duy lý mang tính chất của sự vĩnh viễn, bất biến từ đó trong học thuyết của ông luôn lý tưởng hóa ý tưởng cho nên ông đã không dành một chỗ nào cho lịch sử hiện thực Chính vì thế con người trong triết học Xpinôda bị đặt ra ngoài lịch sử - xã hội và nó không
có liên lạc gì với lịch sử của nó
Hơn nữa Xpinôda còn mang trong chính tư tưởng của mình theo lối tư duy duy tâm chủ quan, và trong cụm từ tự do ông đã chỉ ra đúng về sự tự
do chủ quan đó là cái tất yếu đã có sự tự chủ, chế ngự ham muốn cá
nhân.“Theo nghĩa đó thì rất đúng khi nói là tự do là tất yếu trở thành tự
giác…nhưng ông đã không thể chỉ ra được một sự tự do khách quan, một
sự làm chủ thực sự thế giới về lịch sử bằng việc nhận thức và vận dụng những quy luật tất yếu của tự nhiên và xã hội có thể như thế nào” [39,181]
Do vậy, triết học của Xpinôda cũng chỉ dừng lại ở góc độ duy tâm và duy
lý, ông đã bỏ quên vai trò của thực tiễn, ông chỉ giải phóng con người bằng
ý thức tư duy chủ quan của mình mà không đưa ra sự gắn kết của tư duy với tự nhiên và xã hội, trong khi đó thì đối với tính khách quan của những
quy luật tự nhiên và xã hội, “thực tiễn xã hội cho phép vận dụng những quy
luật khách quan ấy khi chúng đã được nhận thức Định mệnh và sự chịu đựng chỉ có thể được khắc phục khi tự do không còn chỉ là sự nhận thức được tính tất yếu, mà là một hành động dựa trên nhận thức đó” [39,183]
Trang 26Là một trong những nhà triết học đại diện cho lập trường duy vật Xpinôda xem vũ trụ bao la, vô cùng, vô tận còn con người chỉ là một bộ phận trong thế giới bao la ấy thế giới duy nhất là thế giới vật chất chịu sự
chi phối của quy luật khách quan “không có cái gì là ngẫu nhiên trong tự
nhiên cả; mọi vật điều có tính tất yếu tự nhiên tối cao quyết định cho nó tồn tại và hoạt động theo một cách thức nhất định” [39,173] Hơn nữa,
Xpinôda đã khẳng định sự tồn tại khách quan, tất yếu của giới tự nhiên tuân theo những quy luật vốn có bên trong bản thân nó Ông đã không thấy được vai trò cùa cái ngẫu nhiên cũng tồn tại như cái tất yếu để từ đó làm nên sự vận động, phát triển phong phú của thế giới khách quan và ông đã gạt bỏ
được cái thần thánh trong thế giới tự nhiên “bản chất sự vật không có cái
gì là ngẫu nhiên, nhưng tất cả điều được quy định đối với sự tồn tại và hoạt động theo một cách thức nhất định, xuất phất từ tính tất yếu của giới tự nhiên thần thánh” [104,30]
Trong quan niệm của ông, tất yếu như là một chân lý tuyệt đối, bất di bất dịch và không biến đổi trong những quy luật tồn tại của thế giới tự nhiên Và chân lý theo quan niệm này đã vượt quá khả năng uyển chuyển
theo những quy tắc của tính tất yếu “duy trì những qui luật và những quy
tắc có chứa trong đó tính tất yếu và chân lý vĩnh cửu, mặc dù ta không thể biết được tất cả chúng” [104,29]
Xpinôda đã sai lầm khi thừa nhận tính tất yếu thuần túy, tuyệt đối trong
tự nhiên bỏ qua cái ngẫu nhiên Ông luôn lẫn lộn tính nhân quả với tính tất yếu khi đồng nhất với ngẫu nhiên với cái không có nguyên nhân, khi hòa tính nhân quả trong tính tất yếu, ông đã loại bỏ tự nhiên mọi sự thần bí nhưng đồng thời ông cũng làm nghèo đi bức tranh thế giới từ đó đã đưa tư tưởng của ông mang tính chất máy móc và siêu hình
Trang 271.1.4 Quan niệm Hêghen
G.V.F Hêghen (1770 - 1831) là một đại biểu vĩ đại của trường phái triết học về chủ nghĩa duy tâm cổ điển Đức và cuối thể kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX Triết học của ông đã bao trùm một lĩnh vực hết sức sâu rộng so với các hệ thông triết học duy tâm trước đó cho nên trong quá trình hoàn thành công trình nghiên cứu của mình, trong đó khi bàn về tự do Hêghen đã
không đối lập một cách siêu hình tất yếu nào với tự do Ông viết: “quan
niệm tự do không mang trong nó một chút tất yếu nào, và quan niệm tất yếu trần truồng, không có chút tự do nào, là những xác định trừu tượng và do
đó, là sai lầm Tự do về bản chất cụ thể, nó vĩnh viễn được quyết định từ bên trong, và do đó, nó cũng đồng thời là tất yếu [104,42-43]
Trong quan niệm về con người của Hêghen, Hêghen cho rằng con người có thể nhận thức được cái tất yếu, cùng với những qui định của cái tất yếu, cái tất yếu không phải là định mệnh quyết không cho bất kỳ tự do nào tồn tại trước nó, bên trong quá trình nhận thức của mình, con người có thể vươn tới tự do và một khi con người nhận thức được “quy luật trở thành hiện hữu tất yếu và là một đối tượng quan sát” nhận thức của con người có
sự tương thông với cái tất yếu phổ biến, khi đó con người tự do trong tất yếu, tự do của quy luật, của điều kiện khách quan ngoài ý chí của con người
Như vậy khi nghiên cứu về “tự do”: theo Hêghen thì “tự do” là một phạm trù lịch sử của tiến trình tinh thần, tư duy, là những bậc thang phát
triển của ý niệm trong lộ trình “phản tư” trở về với nguyên thể ý niệm tuyệt
đối, từ đó thông qua với thế giới vật chất đang tồn tại – “Sự quay trở lại với chính mình của tinh thần đang tồn tại bên ngoài mình trong tự nhiên”
[43,12] (Một chân lý, một quy luật) trong triết học Hêghen đã đưa tự do
Trang 28tuyệt đối trong cách nhìn nhận của ông “chân lý làm cho tinh thần trở nên
tự do…, còn tự do làm cho tinh thần trở nên chân thực” [43,12]
Tự do, theo Hêghen ông đã loại bỏ yếu tố lịch sử, tự nhiên, khách quan ông đã đưa vào quan niệm tự do trong tiến trình của “ý niệm”, ông xây dựng nó trong học thuyết “ý niệm” đó là “ý niệm tuyệt đối” để chứng minh cho con đường phát triển biện chứng thuần túy của tinh thần “ý niệm tuyệt
đối” với thế giới các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, “nhưng [dẫu sao]
vấn đề chuyển biến tính tất yếu khách quan thành tự do, coi như là kết quả của quá trình phát triển lịch sử, cũng đã được đặt ra, dù là dưới hình thức thần bí” [104,46] Như vậy, tự do trong triết học Hêghen thể hiện ra là tự
do chủ quan được xây dựng từ quá trình nhận thức đến năng lực tinh thần,
vì vậy cái được coi là tự do của ông được luôn bị hạn chế Để có một tự do khách quan tồn tại phù hợp: Cái tất yếu – các quy luật khách quan, hiển nhiên là cái hạn chế chủ quan Cái tự do, muốn mở rộng hơn thì cần phải
khắc phục sự hạn chế của cái tất yếu đối với tự do Bởi vì tự do hạn chế về
thực chất, đã là không tự do – đó là nỗi sợ hãi trước cái tất yếu Do vậy
trong suy nghĩ, người ta thường có hai thái độ cực đoan về cái tất yếu Thứ
nhất: đánh mất mình trong cái tất yếu định mệnh, xem “sự tất yếu, định
mệnh…; là mối quan hệ đơn giản và trống rỗng nhưng không thể chặn
đứng, không thể lây chuyển;…” và như vậy, phục tùng cái tất yếu, “chỉ đối
diện với ý thức về sự chết cứng của chính mình, chỉ “hưởng thụ” được sự tất yếu trống rỗng và xa lạ như là hiện thực chết” [40,759 – 760] Và gieo
mình cho định mệnh chết để rồi “sự hiện hữu của nó (cá nhân) là ý tưởng
về sự mất mát [sự tiêu biến] của bản thân mình ở trong sự tất yếu, hay nói cách khác là ý tưởng về bản thân mình như một tồn tại tuyệt đối xa lạ với
chính mình”[40,762] Thứ hai: là loại bỏ cái tất yếu, coi cái tất không tồn
tại hay chỉ tồn tại thờ ơ không có sự ảnh hưởng nào đến cái khác, nhưng
Trang 29xét lại thì không thể, dù là cái tất yếu đơn thuần của hình thức tư duy lý tính hay là tất yếu của sự việc chuyển từ khả năng sang hiện thực trong thế giới thực tại khách quan Bởi vì, tất yếu là quy luật khách quan trong quá trình trừu tượng hóa thành khái niệm, phán đoán về quy luật, nếu cố tình loại bỏ cái tất yếu ấy để tự do hướng đến mục đích chủ quan thì sẽ bị đáp trả của quy luật khách quan trong quá trình trừu tượng đến tư duy khái niệm, vậy có thể thấy sự tồn tại của hai khuynh hướng thái độ trên luôn tạo
nên “mâu thuẫn (gây gắt) giữa quy luật và tính cá biệt [cá nhân] Hiện
thực này, một mặt, là một quy luật với tính cá nhân riêng lẽ bị đè nén, một trật tự cưỡng chế và bạo lực của thế giới mâu thuẫn với quy luật của trái tim (sự biết rằng mình có cái phổ biến hay quy luật ở trong chính mình một cách trực tiếp ở trong tồn tại cho mình của ý thức); và mặt khác là một nhân loại bị đau khổ dưới trật tự bạo lực ấy; một nhân loại không tuân theo quy luật của cái tim mà trái lại, mà phục tùng khổ đau trước) một sự tất yếu xa lạ, đó… là mối quan hệ của một sự tất yếu tàn bạo đã áp bức lên tính cá nhân” [40,766-767] Song, với khát vọng vượt ra khỏi khuôn khổ,
con người luôn ý thức được sự tồn tại của mình dưới sự thể hiện của tính ý thức của chủ thể và mong muốn đến tự do độc lập, muốn làm những cái gì
mà mình thích không bị cản trở bởi yếu tố nào, nhằm hiện thực hóa các năng lực nhận thức và sáng tạo của mình Chính vì đó Hêghen đã tin tưởng vững chắc vào sự thống trị và thắng lợi ngày một lớn hơn của lý tính và tự
do Với ông, bản thân tự do như là một tất yếu của lịch sử xã hội, ở đó
“Chân lý của bản thân tất yếu là tự do” [40,651] Có thể thấy tự do và tất
yếu là hai mặt tích cực, tồn tại và chuyển hóa cho nhau một cách biện chứng hay trong lịch sử nó thể hiện được quá trình nhận thức cũng như hoạt động của con người, từ đó Hêghen đã luận chứng về tự do và tất yếu trên cơ sở hiện thực, tạo cho quan điểm tự do của ông đã không còn trạng
Trang 30thái đứng im bất động chết cứng như các nhà triết học mácxít phê phán phép siêu hình, hơn nữa trong triết học Hêghen nó đã thể hiện được quá trình phát triển của mình trong lịch sử và làm cơ sở, nền tảng để hình thành nên chủ nghĩa duy vật biện chứng và ông đã chứng minh cho sự chuyển hóa từ tất yếu sang tự do là một quá trình đòi hỏi có sự vận động của [lý
tính] tinh thần từ nhận thức tồn tại ở khía cạnh cái đơn nhất, cái hạn chế và cái có hạn sang nhận thức ở khía cạnh của cái phổ biến và cái vô hạn (trong con đường tìm về cái tuyệt đối) Hêghen viết: “Tinh thần với tư cách tinh
thần không phải là hữu hạn, nó có tính hữu hạn nội tại, nhưng đó chỉ là một tính hữu hạn để vượt bỏ và đã được vượt bỏ mà thôi” Do đó, để đi đến
tự do bằng con đường của cái phổ biến, cái vô hạn phải có một con đường được vạch ra sẵn trong tư duy, thông qua nhận thức và sự thoát khỏi hạn chế của tính chủ quan hữu hạn, đơn nhất để đi đến tư duy phổ biến và chân chính, nó ví như đạo đức của con người của từng cá nhân trong sự tồn tại
và tiêu vong, Hêghen viết: “Tính cá nhân riêng lẽ đi tìm khoái lạc và sự
hưởng thụ cho riêng mình, rồi trong đó mình thấy sự tiêu vong của mình và kết quả là thỏa mãn [yêu cầu của] cái phổ biến… tính cá nhân muốn trở thành quy luật tự mình và cho mình; và do ảnh hưởng của sự tự phụ ấy nó làm xáo trộn trật tự hiện tồn Tuy thế, quy luật phổ biến thành công trong việc tự bảo tồn mình chống sự tự phụ cá nhân ấy…Bấy giờ, chính từ phía đức hạnh mà cái phổ biến nhận được hiện thực đích thực của nó, nhờ sự thủ tiêu và vượt bỏ tính cá nhân” [40,785 -786] Trong logíc chủ quan của
tư duy - và con người thấy được tự do khi người ta làm chủ được cái tất yếu thì từ đó con người sẽ tự khắc phục được tính tự phụ chủ quan, mù quáng điều khiển một cách có ý thức những hành động của mình để phát triển hiện thực Hêghen đã hướng vào lĩnh vực nhận thức, chủ thể của tự do của con người, nhưng không phải là con người cá nhân độc lập, riêng lẽ mà là
Trang 31con người của dòng đời (con người nhân dân; con người xã hội), con người trong đó chứa đựng được sự thống nhất chủ quan nhất định trong những nguyên tắc khách quan trong xã hội do đó khi xã hội phát triển, tư duy con người phát triển, lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn thì tính tự phụ chủ quan của
con người sẽ hạn chế Hêghen viết: “… ý thức đã trải nghiệm trong cuộc
đấu tranh của mình rằng: Dòng đời không xấu xa như thoạt nhìn, bởi hiện thực của nó là hiện thực của cái phổ biến, với kinh nghiệm này, ý thức biết rằng không thể nào tạo ra cái thiện thông qua việc hi sinh tính cá nhân; phương tiện để làm điều đó mất đi, tính cá nhân là sự hiện thực hóa cái đang tồn tại tự - mình [cái phổ biến]; và sự đảo điên cái thiện, mà đúng hơn là mục đích đơn thuần, thành hiện thực, sự vận động của tính cá nhân
là thực tại của tính phổ biến” [40,795] Vậy tự do trong triết học Hêghen
“là một phạm trù có tính chất lịch sử, diễn ra theo vòng khâu phát triển từ thấp đến cao của cuộc đấu tranh đó, đó là quá trình đi từ thống nhất đối lập này đến đối lập khác của tiến trình cá nhân vươn đến trở thành thực tại của cái phổ biến trong dòng đời của thời kì lịch sử” [40,783-842] Sự biểu
hiện của cuộc sống trong xã hội đã thể hiện được giá trị thực tiễn đích thực của nó, tự do của con người là một quá trình nhận thức mà trong quá trình nhận thức đó con người phải biết về chính mình về tổng thể Vậy có phải tự
do mà Hêghen cắt nghĩa như là một phạm trù lịch sử, nhưng đó là quá trình
tự do của hệ qui chiếu của chủ nghĩa duy tâm nó được thể hiện trong ý niệm tuyệt đối, Lịch sử của con người và tư tưởng của con người được Hêghen xây dựng như nằm ngoài thế giới vật chất (thực tại khách quan),
theo Hê ghen “con người là kẻ chứng kiến lịch sử của mình hơn là kẻ sáng
tạo ra lịch sử của mình Tự do hoàn toàn nằm trong nhận thức: nó là tất yếu được nhận thức, và nó chỉ là thế mà thôi Sự nô dịch chỉ được xóa bỏ trong đầu óc chúng ta thôi” [39,222] Có lẽ tự do của con người thừa nhận,
Trang 32điều đáng mong muốn là con người phải dùng trí sáng suốt của mình, rằng một sự noi theo tập quán bằng trí tuệ về lịch sử còn tốt hơn là tuân theo tập quán một cách mù quáng và máy móc và người ta cũng khó nhận thức nếu người ta bỏ qua đi cái lịch sử mà chính con người đã chứng kiến thì con người không thể thoát khỏi sự nô dịch và người ta cũng khó thừa nhận rằng việc có các xung động của riêng chúng ta với bất cứ cường độ nào dù không phải nó đem đến cho chúng ta sự cạm bẫy và như thế nào cũng thể
hiện được sự tự do của con người giống như là niềm tin Theo Hayek, “tiến
bộ của một xã hội được đo bằng sự gia tăng của “trừu tượng hóa” các quy tắc trên có thể nói rằng có trừu tượng hóa mỗi khi cá thể phản ứng theo cùng một kiểu trước những tình huống chỉ có điểm chung ở một khía cạnh”
[38,135] Về tổng thể, tự do của Hê ghen là tự do của ý niệm tuyệt đối tồn tại như chính mình – khách thể hóa (tha hóa) thành những cái khác (thế giới các sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên) trở lại tồn tại cho mình
và chính mình (thông qua nhận thức của con người – xã hội), lịch sử của con người và tư tưởng của con người dường như nằm ngoài thế giới vật chất (thực tại khách quan), nó tồn tại trong tiến trình của ý niệm tuyệt đối
của hệ thống triết học tư biện của Hêghen “Chính quan niệm của ta về sự
tất yếu sẽ quyết định sự an vui và không an vui của ta, và qua đó, quyết định chính số phận của ta nữa”[40,600] Như vậy, có thể thấy lý luận của
Hêghen về tự do luôn mang đậm tính duy tâm khách quan và chính trong
hệ thống duy tâm ấy đã thấy được hệ thống triết học của ông đầy mâu thuẫn Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố bất hợp lý và đầy mâu thuẫn đó,
tư tưởng tự do của Hêghen cũng bộc lộ những hạt nhân hợp lý, tự do của ông không dừng lại ở con người cá nhân, mà nó được bàn đến trong một quá trình phổ biến hơn đó là xã hội Hơn nữa ông cũng có công trong quá trình phê phán tư duy siêu hình nêu cao được sự vận động biến đổi và phát
Trang 33triển không ngừng, con người trong ông được bàn đến trong sự vận hành của năng lực xã hội phổ biến, tự do không những phải tự chủ được (theo quan điểm của Xpinôda) mà còn phải đạt tới việc làm chủ tính tất yếu
khách quan Ông đã khẳng định rằng: “nhờ những công cụ của mình, con
người có quyền lực đối với giới tự nhiên bên ngoài, nhưng xét về mục đích
mà con người theo đuổi thì đúng ra con người lại phục tùng tự nhiên”
[52,201-202] Với sự tồn tại tự nhiên, sự tồn tại của con người những hoạt động của con người đã tạo động lực, mục đích của con người vận động theo những quy luật tất yếu để phù hợp với tự nhiên, Hêghen đã tiến gần đến chỗ làm rõ được mối quan hệ của con người với tự nhiên V.I Lênin
cho rằng đây là “những hạt ở những trạng thái mầm mống…, phôi thai của
chủ nghĩa duy vật lịch sử ở Hêghen” [52,201-202]
Trong mối quan hệ giữa tất yếu và tự do mà Hêghen đã trình bày trong
hệ thống triết học của mình, vấn đề tất yếu được Hêghen xác định từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến ông đã khẳng định được sự liên hệ của
các yếu tố, các sự vật khi liên kết với những cái khác “tất cả mọi tồn tại,
liên hệ lẫn nhau, không phải là tách rời nhau mà làm thành những yếu tố của một tổng thể duy nhất: mỗi cái, trong khi liên hệ với tất cả những cái khác, vẫn là nó và sự thống nhất với nó” [39,217]
Như vậy, tất yếu theo Hêghen không phải là số phận ở bên ngoài mà
cái tất yếu là tính quy định bản chất của cái khả năng và là tính quy luật
của quá trình khả năng và là tính quy luật của quá trình khả năng chuyển thành hiện thực trên nền tảng của sự vận động biện chứng của vũ trụ tinh
thần và đó cũng là sự tha hóa của tinh thần tuyệt đối đã được đem đối lập với nó Biện chứng giữa lý tính thường hằng bên trong bản chất và những biểu hiện cụ thể đa dạng của những lý tính ấy ra bên ngoài hiện thực thành
Trang 34thế giới thường nghiệm Đó cũng là quá trình tự tha hóa của ý niệm tuyệt đối thành cái đối lập với nó
Theo Hêghen cái tất yếu được thể hiện như những mối liên hệ có tính quy luật khách quan, nội tại, nó không chỉ đem đến cho con người những khái niệm lý tính đơn thuần theo kiểu hình thức trống rỗng mà nó còn phải thể hiện bằng sự vận động khả năng quan sát được (khách thể hóa) và
Hêghen viết “Đối với ý thức đang quan sát, sự thật [chân lý] của quy luật
được mang lại trong kinh nghiệm giống theo kiểu sự tồn tại cảm tính là đối tượng [được mang lại] cho ý thức; sự thật ấy không phải tự - mình Nhưng, nếu quy luật không có sự thật của nó ngay trong khái niệm, nó sẽ là cái gì
đó bất tất (ngẫu nhiên), không phải một sự tất yếu, tức trong thực tế, không phải là một quy luật Nhưng, chính sự kiện: quy luật thiết yếu tồn tại trong hình thức của khái niệm không những không mâu thuẫn với sự hiện diện của nó cho sự quan sát, trái lại nhờ đó, quy luật trở thành hiện hữu tất yếu
và là một đối tượng cho sự quan sát” [40,584]
Từ đó, Hêghen đã không dừng lại ở quan hệ nhân quả máy móc mà chủ yếu vạch ra để có thể hình dung được cái bên trong của mỗi sự vật để từ đó
áp dụng nó ra hiện thực, tạo thành những quy luật mang tính tất yếu trong mối liên hệ tổng hợp bên trong lẫn bên ngoài Ông viết : “khi mọi điều kiện
có mặt, thì sự việc phải trở thành hiện thực; và bản thân sự việc là một trong những điều kiện, là cái bên trong, bản thân nó thoạt đầu chỉ là một cái
gì tiền giả định Hiện thực đã được phát triển, như là sự thay đổi thành một cái bên trong (khă năng)” và cái bên ngoài (hiện thực), hay là sự thay đổi của các vận động đối lập của chúng được hợp thành một vận động, đó là tất yếu” [40,594]
Những biểu hiện của con người qua những cảm tính, riêng lẽ, ngẫu
nhiên trong vô vàn mối liên hệ trong hiện thực theo quy luật tất yếu dần
Trang 35dần bị lộ diện để từng bước hoàn thiện thành cái tất yếu có tính quy luật
chung, có khái niệm riêng, có quá trình nhận thức và phán đoán tổng quát
hơn Hêghen viết: “Thoạt đầu quy luật tự biểu hiện trong hình thức không
thuần túy, còn bị bao bọc trong những hình thái tồn tại cảm tính, riêng lẻ;
và khái niệm là cái tạo nên bản tính của quy luật thì còn chìm đắm trong chất liệu thường nghiệm Bản năng lý tính thông qua thí nghiệm nhắm đến việc khám phá điều gì sẽ xảy ra trong tình huống này hay tình huống khác Khi làm như vậy, quy luật dường như chỉ càng tiếp tục chìm đắm sâu hơn trong tồn tại cảm tính, song thực ra, cái [võ] tồn tại cảm tính sẽ mất đi chính trong tiến trình này” [40, 387] Là nhà triết học duy tâm khách quan
nhưng Hêghen đã đặt vấn đề có biện chứng gắn kết được với lịch sử, cho nên trong quan niệm về cái tất yếu của Hêghen đã chứa đựng những vấn đề
cơ bản giúp cho các nhà triết học sau này kế thừa và phát triển một cách triệt để tư tưởng của ông với những giá trị khoa học mà ông đã để lại
Tóm lại: Tất yếu và tự do là những cặp phạm trù của triết học biểu
hiện mối quan hệ qua lại giữa hoạt động con người và các quy luật khách quan Trong lịch sử triết học những quan niệm khác nhau về các cặp phạm trù này phát triển liên tục tạo thành một chuỗi phát triển của tiến trình lịch
sử bắt đầu từ Đêmôcrít đến Hêghen Tuy nhiên, mức độ đúng đắn của những quan niệm đó phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, vị trí giai cấp, thế giới quan và phương pháp luận trong giai đoạn này; Đêmôcrít và Êpiquya đại diện cho hai quan điểm đối lập nhau ngay trong một trường phái triết học, quan điểm về tính tất yếu tự nhiên và quan điểm về tự do ý chí – ngẫu nhiên của con người Xpinôda là một trong những đại biểu xuất sắc của phép biện chứng trong triết học phương Tây thế kỉ XVII – XVIII, ông đã
có những đóng góp mới vào việc nhận thức phạm trù tất yếu và tự do và nêu lên những tư tưởng ban đầu về mối liên hệ biện chứng giữa tự do và tất
Trang 36yếu Hêghen là người đầu tiên đưa ra một quan niệm đầy đủ về sự thống nhất biện chứng giữa tự do và tất yếu Tuy nhiên, ông đã giải thích cả hai phạm trù này một cách duy tâm Vì vậy lý luận của ông mang màu sắc thần
bí, không có ý nghĩa gì với sự phát triển của con người và xã hội
Mặc dù còn nhiều điểm hạn chế nhưng các nhà triết học phương Tây trước Mác đã để lại những giá trị tích cực trong quan niệm về tự do và tất yếu Đó chính là cơ sở, là tiền đề lý luận quan trọng cho sự ra đời qua niệm của triết học Mác – Lênnin về tự do và tất yếu
1.2 Quan điểm mácxít về biện chứng giữa tự do và tất yếu
Kế thừa một cách có chọn lọc, có phê phán tư tưởng của các nhà triết học trong lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin đã đưa ra những kết luận khoa học về các khái niệm tất yếu, khái niệm tự do và mối quan hệ biện chứng không tách rời giữa chúng
1.2.1 Quan niệm về tất yếu
Theo C.Mác và Ph Ăngghen, Tất yếu là phạm trù triết học chỉ cái bắt nguồn từ bản chất, từ những nguyên nhân bên trong; do đó, trong những điều kiện nhất định, dứt khoát xẩy ra một sự biến đổi nhất định, mà không thể khác được
Như vậy, cái tất yếu chính là quy luật khách quan chi phối sự vận động, biến đổi của các sự vật hiện tượng hay có thể nói tất yếu và quy luật
là những khái niệm có cùng một trình độ
Đối lập với cái tất yếu là cái ngẫu nhiên Ngẫu nhiên, theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, không phải là cái không có nguyên nhân, mà bắt nguồn từ những nguyên nhân bên ngoài Ngẫu nhiên được hiểu là một phạm trù triết học, dùng để chỉ cái không bắt nguồn từ những nguyên nhân bên trong mà bắt nguồn từ những nguyên nhân bên ngoài; do đó có thể xẩy
ra sự biến đổi, có thể không có thể xẩy ra như thế này, có thể xẩy ra như thế
Trang 37khác Mặc dù cái tất yếu vẫn cứ tồn tại tự nó trong giới tự nhiên trước khi
có con người
Song, chỉ đến khi con người xuất hiện với tư cách là con người xã hội
có ý thức, luôn tác động biến đổi, cải tạo giới tự nhiên phục vụ cho mục đích của mình; thì khi đó mới nẩy sinh nhu cầu phải nhận thức và điều khiển được cái tất yếu Đồng thời, xuất hiện vấn đề: con người bị chi phối,
bị ràng buộc, lệ thuộc mù quáng vào các thế lực tự nhiên, hay con người có
tự do, làm chủ giới tự nhiên? Ở đây, trong quan hệ giữa hoạt động có ý thức, có mục đích của con người với các quy luật khách quan tất yếu, con người vấp phải một vấn đề nữa Đó là đi liền và đối lập với cái tất yếu là cái ngẫu nhiên Tuy nhiên, cả tất yếu và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan
Sự phân biệt tất yếu với ngẫu nhiên chỉ có tính tương đối, tùy theo phạm vi sự vật mà chúng ta xem xét Cái trong phạm vi này là ngẫu nhiên,
và trong phạm vi khác rộng hơn nó lại trở thành cái tất nhiên và ngược lại
1.2.2 Quan niệm về tự do
Nếu cái tất yếu là cái luôn tồn tại gắn liền với thế giới vật chất khách quan kể cả khi chưa xuất hiện, chưa có xã hội, lẫn khi xã hội loài người đã hình thành và phát triển; thì tự do chỉ xuất hiện khi con người đã hình thành
và phát triển; thì tự do chỉ xuất hiện khi con người hoạt động có mục đích cải tạo thế giới khách quan
Chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc đã tuyệt đối hóa cái tất yếu, rơi vào quyết định luận cực đoan, đã không thừa nhận hoạt động tự do của con người
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan, chủ nghĩa duy ý chí vì đã quá thổi phồng vai trò của ý thức, ý chí con người, đã coi tự do như là hoạt động tinh thần thuần túy, bất chấp quy luật khách quan
Trang 38Trên cơ sở phê phán cả các quan niệm duy vật siêu hình, máy móc, lẫn các quan niệm duy tâm chủ quan, duy tâm khách quan và duy ý chí, Ph
Ăngghen quan niệm: “Tự do không phải là ở trong sự đối lập tưởng tượng
ra đối với những quy luật của tự nhiên, mà là ở trong sự nhận thức những quy luật đó và ở trong cái khả năng – do sự nhận thức nói trên mà có – vận dụng những quy luật đó một cách có kế hoạch vào những mục đích nhất định” [2,105 -106]
Khi bàn đến tự do của con người, Triết học Mác – Lênin luôn khẳng định tự do là phạm trù được bàn đến chỉ trong lĩnh vực xã hội, tự do thể hiện được ước muốn của con người được làm chủ bản thân, chinh phục cải tạo thế giới hiện thực khách quan thông qua hoạt động vật chất có mục đích của con người nhằm đảm bảo cho người được tồn tại và phát triển Tự do của con người có thể có được khi và chỉ khi con người nắm được đúng các quy luật tất yếu, tôn trọng cái tất yếu, từ đó tự do của con người mới được thể hiện Tuy nhiên, bên cạnh đó con người phải biết nắm bắt được những cái gì có lợi và hạn chế những cái gì gây hại từ các quy luật khách quan có nguy cơ sẽ đem đến cho con người những hậu quả ảnh hưởng đến sự tồn tại của con người trong xã hội loài người
Các nhà triết học Mácxít luôn coi con người là chủ thể tích cực, con người luôn có khả năng nhận thức được thế giới làm chủ được các quy luật khách quan từ đó con người có thể làm chủ và vận dụng được cái tất yếu trong quá trình cải tạo thế giới hiện thực khách quan của mình Khi con người làm chủ được cái tất yếu thì con người có thể hoàn toàn đạt đến tự do trước cái tất yếu
Trong tiến trình phát triển của lịch sử thông qua hoạt động thực tiễn, nhờ khả năng nhận thức và sáng tạo của nhận thức con người ngày càng phản ánh một cách chủ động, tích cực hơn về thế giới khách quan làm cho
Trang 39nó ngày càng bộc lộ rõ các thuộc tính, các mối quan hệ bản chất giúp cho con người ngày càng nhận thức một cách sâu sắc hơn các hiện tượng trong thế giới, cứ thế tạo cho con người ngày càng hiểu và nắm vững được qui luật chung của tự nhiên, con người chi phối tự nhiên từ đó xác lập được vị trí của con người trước tự nhiên đưa con người bước qua một giai đoạn mới hướng tới tự do
Tóm lại: Muốn cải tạo các lực lượng tự nhiên và xã hội theo mục đích của con người để hướng tới tự do, thì con người luôn phải chủ động nhận thức cả những cái tất yếu, lẫn cái khách quan Đồng thời, phải biết vận dụng chúng một cách phù hợp trong những hoàn cảnh cụ thể
1.2.3 Mối quan hệ giữa tự do và tất yếu
Khi nói về mối quan hệ giữa tự do và tất yếu chính là nói đến quan hệ biện chứng giữa hoạt động có mục đích, có ý thức của con người với các quy luật của thế giới khách quan
Trong quan niệm về cái tất yếu thì trước hết tất yếu phải là cái tồn tại khách quan có trước ý thức và tồn tại độc lập với ý thức của con người và được ý thức con người phản ánh một cách sinh động và sáng tạo Sự phản ánh của ý thức con người không phải là sự phản ánh máy móc mà là sự phản ánh một cách logic và biện chứng, nó thể hiện được trình độ nhận thức của con người trong quá trình lịch sử
Lao động đã giúp con người nhận thức và nắm được quy luật khách quan ngày một cao hơn là nhờ ý chí hướng tới tự do, con người muốn làm chủ mình và muốn phát triển mình cho nên tạo ra sự phát triển của xã hội Dựa vào quá trình nhận thức của con người trong lịch sử trước đó, triết học Mác – Lênin đã cho chúng ta hiểu tự do chính là quá trình của cái tất yếu được phản ánh trong nhận thức, trong quá trình tồn tại và phát triển, trong hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử của con người Do
Trang 40đó, sự nhận thức và vận dụng cái tất yếu không phải máy móc, siêu hình,
mà nhận thức ở đây mang tính lịch sử- xã hội, đi từ cấp độ này đến cấp độ khác cao hơn Cho nên, khi con người có một cái nhìn về hiện thực khách quan cao hơn thì con người đã hiểu được tính tất yếu sâu sắc hơn từ đó con người tiếp cận đến cái tự do hoàn thiện hơn Tự do chính là quá trình của cái tất yếu được phản ánh trong nhận thức và được xây dựng thành hệ thống các khái niệm, các phạm trù, quy luật, phán đoán, suy luận Từ đó, cái tất yếu được vận dụng để tạo sự hoạt động năng động hơn trong quá trình thực tiễn có mục đích của con người Cho nên, có thể nói, khoa học là hình thái ý thức xã hội quan trọng bậc nhất đối với sự tồn tại của xã hội Khoa học là một quá trình con người chủ động khám phá tất yếu Khi khoa học phát triển, tri thức khoa học của con người ngày càng cao, con người trở nên chủ động hơn, tự do hơn, trước trong việc tạo ra các điều kiện để các quy luật có lợi diễn ra đáp ứng nhu cầu hoạt động vật chất của con người Thông qua đó con người làm thay đổi tự nhiên, xã hội và bản thân mình Khi đạt đến tự do là quá trình tiến lên không ngừng của sự phát triển của khoa học và công nghệ
Cùng với sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng và sự phát triển của khoa học kĩ thuật, chủ nghĩa Mác – Lênin luôn khẳng định thế giới vật chất có trước và tồn tại trước khi con người xuất hiện tồn tại khách quan và độc lập với ý thức con người Thế giới dù có đơn giản hay phức tạp như thế nào thì cũng mang trong mình những quy luật khách quan tất yếu, đi từ dạng vô cơ đến những dạng vật chất hữu cơ; trong thế giới vật chất hữu cơ cho đến những thực thể sinh học tự nhiên bậc thấp, tiến hóa thành những thực thể sinh học tự nhiên bậc cao và cuối cùng là con người Con người được coi là thực thể xã hội Sự ra đời của con người đã tạo ra một đời sống
xã hội ngày càng phong phú Con người không phải là thực thể tồn tại tự nó