1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá của giảng viên và sinh viên trường cao đẳng nghề nha trang về công tác lấy ý kiến đánh giá của người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên

125 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- TRỊNH THỊ VIỆT HÀ ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NHA TRANG VỀ CÔNG TÁC “

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRỊNH THỊ VIỆT HÀ

ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NHA TRANG VỀ CÔNG TÁC “LẤY Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI HỌC VỀ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN”

LUẬN VĂN THẠC SĨ

QUẢN LÝ GIÁO DỤC

TP Hồ Chí Minh - năm 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-TRỊNH THỊ VIỆT HÀ

ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NHA TRANG VỀ CÔNG TÁC

“LẤY Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI HỌC VỀ HOẠT

ĐỘNG GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN”

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Tác giả trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến :

- Ban giám hiệu, quý thầy cô, cán bộ viên chức trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Nhân Văn Tp Hồ Chí Minh đã trực tiếp giảng dạy và tổ chức học tập cho lớp Cao học Quản Lý Giáo Dục khóa 03

- Các thầy cô, cán bộ quản lý và sinh viên trường Cao Đẳng Nghề Nha Trang đã tạo điều kiện, giúp đỡ, góp ý, cung cấp số liệu và cho ý kiến điều tra góp phần cho luận văn được hoàn thành

- Các anh chị học viên cao học khóa 03 – Khoa Quản Lý Giáo Dục - Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Tp Hồ Chí Minh

- Tất cả các thành viên trong gia đình đã động viên, tạo điều kiện cho tôi học tập

- Đặc biệt, xin chân thành cám ơn TS Nguyễn Ánh Hồng đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tháng 7 năm 2014

Trịnh Thị Việt Hà

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là Trịnh Thị Việt Hà, học viên cao học khóa 03, chuyên ngành Quản Lý Giáo Dục trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn TP Hồ Chí Minh Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong đề tài này là do tôi thực hiện Các số liệu và kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn chưa từng được công bố ở công trình nghiên cứu khoa học nào

Tháng 7 năm 2014

Trịnh Thị Việt Hà

Trang 5

BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT

HĐLYKĐGCNH Hoạt động lấy ý kiến đánh giá của người học LYKĐGCNH Lấy ý kiến đánh giá của người học

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 1.1 Các hình thức đánh giá chất lượng 25

2 Bảng 2.1 Đánh giá của GV về việc nhận kết quả

phản hồi từ SV 48

3 Bảng 2.2 Cách thức nhận thông tin phản hồi 48

4 Bảng 2.3 Nơi cung cấp kết quả phản hồi cho GV 51

5 Bảng 2.4 Mức độ đồng ý của GV về cách thức

thông báo kết quả đánh giá 54

6 Bảng 2.5 Đánh giá của GV về cách thức thông báo

kết quả đánh giá của SV đến GV 55

thiết khi thêm 07 nội dung về HĐGD (TB) 64

11 Bảng 2.10 Mong muốn của SV sau khi đánh giá GV 70

12 Bảng 2.11 Mức độ quan tâm của GV về kết quả

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

15 Biểu đồ 2.1 Đánh giá của GV và SV về mức độ cần

thiết của việc LYKĐG 41

16 Biểu đồ 2.2 Đánh giá của GV và SV về cách thức

LYKĐG 43

17 Biểu đồ 2.3 Mức độ hài lòng của GV và SV về cách

thức LYKĐG 45

18 Biểu đồ 2.4: Đánh giá mức độ quan tâm phản hồi

với cách thức nhận thông tin phản hồi 50

19 Biểu đồ 2.5 Đánh giá của GV và SV về thời điểm

LYKĐG 52

20 Biểu đồ 2.6 Đánh giá của GV về cách thức thông

báo kết quả tính theo tuổi nghề 56

21 Biểu đồ 2.7 Đánh giá của GV và SV về mức độ cần

thiết của việc LYKĐG dành cho SV năm cuối 58

22 Biểu đồ 2.8 Đánh giá của GV và SV về việc xin ý

kiến đóng góp cho phiếu hỏi 66

23 Biểu đồ 2.9 Đánh giá của GV và SV về các ND

đang dùng để LYKĐG 67

24 Biểu đồ 2.10 Đánh giá của SV về nội dung

LYKĐG theo học lực 68

Trang 8

MỤCLỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 6

1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước……… 9

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 16

1.2.1 Khái niệm Đánh giá 16

1.2.1.1 Phân loại đánh giá 18

1.2.1.2 Các nguyên tắc đánh giá 20

1.2.1.3 Ưu và nhược điểm của các hình thức đánh giá……… 21

1.2.1.4 Đánh giá chất lượng trong nhà trường 24

1.2.2 Hoạt động giảng dạy của giảng viên 26

1.2.2.1.Chuẩn bị đề cương môn học 26

1.2.2.2.Phương pháp giảng dạy 27

1.2.2.3.Phương pháp kiểm tra đánh giá 28

1.2.3 Hoạt động lấy ý kiến 30

1.2.3.1 Tình hình thực tế việc sinhviên đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên 30

1.2.3.2 Lấy ý kiến đánh giá 33

Trang 9

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG LẤY Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ GIẢNG VIÊN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NHATRANG 2.1 Vài nét về trường Cao Đẳng Nghề Nha Trang 36 2.2 Đánh giá của GV và SV về công tác lấy ý kiến đánh giá của

người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên tại trường

CĐ nghề Nha Trang 40 2.2.1.Nhận thức của nhà quản lý, GV và SV về sự cần thiết

2.2.2 Thực trạng đánh giá của GV và SV về quy trình

của HĐLYKĐGCNH về HĐGD của GV 42 2.2.3 Thực trạng đánh giá của GV và SV về nội dung

của HĐLYKĐGCNH về HĐGD của GV 58 2.2.4 Thực trạng đánh giá của GV và SV về hiệu quả

của HĐLYKĐGCNH về HĐGD của GV 68

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Một xu hướng quan trọng trong thế giới ngày nay là toàn cầu hóa về tri thức Đất nước ta đang trên đường hội nhập quốc tế và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Một đất nước phát triển, một xã hội hiện đại, văn minh thì không có con đường nào khác là giáo dục và đào tạo phải phát triển nhanh, mạnh và hiệu quả để thực hiện thắng lợi mục tiêu: Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

Thủ tướng chính phủ vừa phê duyệt” Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020” với mục tiêu tổng quát đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện

Đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, sẽ điều chỉnh cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, phấn đấu đến 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề nghiệp

và Đại học đạt khoảng 70%

Để đạt được các mục tiêu chiến lược cần thực hiện tốt 8 giải pháp, trong đó các giải pháp đổi mới quản lý giáo dục là giải pháp đột phá và giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là giải pháp then chốt

Một trong các nội dung đổi mới quản lý giáo dục là bảo đảm dân chủ hóa trong giáo dục Thực hiện cơ chế người học tham gia đánh giá người dạy, giáo viên và giảng viên tham gia đánh giá cán bộ quản lý

Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 2 khóa VIII đã xác định “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục” Do đó, việc đánh giá hoạt động giảng dạy (HĐGD) của giảng viên (GV) là một yêu cầu tất yếu đối với các cơ sở đào tạo với mục đích: thứ nhất là góp phần thực hiện quy chế dân chủ trong các cơ sở giáo dục, xây dựng đội ngũ GV có phẩm chất đạo đức, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn cao, phương pháp và phong cách giảng dạy tiên tiến, hiện đại; thứ hai là

Trang 11

tạo thêm kênh thông tin giúp GV điều chỉnh hoạt động giảng dạy, nâng cao tinh thần trách nhiệm của GV trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của cơ sở giáo dục; thứ ba

là tăng cường tinh thần trách nhiệm của người học với quyền lợi, nghĩa vụ học tập, rèn luyện của bản thân, tạo điều kiện để người học được phản ánh tâm tư, nguyện vọng, được thể hiện chính kiến về hoạt động giảng dạy của GV

Trong đánh giá HĐGD, bên cạnh các hình thức như: Tự đánh giá của GV, đánh giá của đồng nghiệp, lãnh đạo, qua hồ sơ giảng dạy, kết quả học tập của SV v v thì hình thức đánh giá qua ý kiến phản hồi từ sinh viên (SV) đang được các trường và xã hội quan tâm Đây là hình thức đánh giá có ý nghĩa quan trọng vì SV vừa là trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là đối tượng của HĐGD Hơn bất cứ đối tượng nào khác,

SV là đối tượng hưởng thụ trực tiếp chất lượng của HĐGD, là sản phẩm của chính quá trình đào tạo

Như vậy, việc lấy ý kiến phản hồi (LYKPH) từ SV về HĐGD là một yêu cầu không thể thiếu đối với một cơ sở đào tạo Đây không còn là vấn đề mới trên thế giới, tuy nhiên đối với nước ta, hoạt động này mới chỉ được thực hiện trong những năm gần đây

Trường Cao đẳng Nghề Nha Trang đã thực hiện lấy ý kiến người học về HĐGD của GV và chủ trương này được thực hiện từ tháng 9 năm 2010 Từ đó đến nay, việc này được tiến hành định kỳ trên phạm vi toàn trường Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau khi đánh giá về hoạt động này Cho tới nay, vẫn chưa có nghiên cứu hoặc báo cáo đánh giá giúp giải đáp những băn khoăn liên quan tới việc LYKPH từ SV trong những năm qua Vậy hiệu quả của hoạt động này như thế nào, những tồn tại trong quy trình thực hiện là gì? Để trả lời câu hỏi đó, tôi lựa chọn đề tài: Đánh giá của giảng viên và sinh viên trường Cao Đẳng (CĐ) Nghề Nha Trang về công tác “lấy ý kiến đánh giá của người học (LYKĐGCNH) về hoạt động giảng dạy của GV”

Trang 12

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở phân tích đánh giá của GV và SV về hoạt động LYKĐGCNH, từ đó

đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động LYKĐGCNH tại trường Cao đẳng Nghề Nha Trang

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài

3.2 Khảo sát thực trạng hoạt động lấy ý kiến đánh giá của SV về hoạt động giảng dạy của GV trường Cao Đẳng Nghề Nha Trang

4 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU

4.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Chúng tôi tìm hiểu đánh giá của GV và

SV hệ chính quy về nội dung đánh giá, quy trình tổ chức đánh giá và hiệu quả của hoạt động LYKĐGCNH

4.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu

- 05 CBQL đang tham gia quản lý trong trường

- 50 GV đ a n g tham gia giảng dạy tại các khoa trong trường

- 150 sinh viên đ a n g t h e o h ọ c t ạ i 04 khoa: Khoa Cơ Khí, Khoa Du Lịch Thương Mại, Khoa Điện – Điện tử và Khoa Công Nghệ Môi Trường

và Công Nghệ Sinh Học, trong đó có 10 SV đang học năm 1, 75 SV đang học năm 2 và 65 SV đang học năm 3

5 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

+ Đối tượng nghiên cứu của đề tài: đánh giá của GV và SV về

HĐLYKĐGCNH của Trường Cao đẳng Nghề Nha Trang

+ Khách thể nghiên cứu của đề tài: GV và SV Trường Cao đẳng Nghề Nha

Trang

Trang 13

6 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

- Ý kiến đánh giá của GV và SV Trường Cao đẳng Nghề Nha Trang về HĐLYKĐGCNH rất đa dạng

- Bên cạnh những mặt tích cực, nhìn chung HĐLYKĐGCNH còn nhiều hạn chế cần cải tiến

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến lý luận về đánh giá, hoạt động giảng dạy của giảng viên, hoạt động lấy ý kiến đánh giá của sinh viên về hoạt động giảng dạy của giảng viên Từ đó phân tích, tổng hợp xây dựng cơ sở lý luận liên quan đến

đề tài nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm quản lý

Nghiên cứu các văn bản, báo cáo của lãnh đạo nhà trường, phòng Khảo thí và đánh giá chất lượng về công tác lấy ý kiến đánh giá của sinh viên về hoạt động giảng dạy của giảng viên

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

+ Có hai bảng hỏi dành cho GV và SV Bảng hỏi được khảo sát trên 50 giảng viên đang tham gia giảng dạy tại các khoa và bảng hỏi cho 150 sinh viên là năm thứ nhất, năm thứ hai và năm thứ ba tại 04 khoa: Khoa Cơ Khí, Khoa Du Lịch Thương Mại, Khoa Điện – Điện tử và Khoa CNMT & CNSH

+ Bảng hỏi dành cho giảng viên gồm 2 phần: phần 1 l à thông tin cá nhân của giảng viên, phần hai là những vấn đề liên quan đến đề tài

+ Bảng hỏi dành cho sinh viên cũng có hai phần: phần 1 là thông tin cá nhân của sinh viên, phần 2 là những câu hỏi được xây dựng tương đồng với câu hỏi dành

Trang 14

cho GV để so sánh

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn

+ Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu công tác lấy ý kiến đánh giá giảng viên của 05 nhà quản lý, 06 giảng viên và 10 sinh viên về những vấn đề liên quan đến đề tài

7.2.4 Phương pháp xử lý dữ liệu nghiên cứu

+ Đối với dữ liệu định lượng được xử lý bằng phần mềm SPSS

+ Đối với dữ liệu định tính được xử lí theo phương pháp phân tích nội dung

- Là tài liệu tham khảo cho GV, SV trường CĐ nghề Nha Trang trong hoạt động LYKĐGCNH về HĐGD của GV

Trang 15

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến đánh giá chất lượng dạy học nói chung, đặc biệt về hoạt động lấy ý kiến đánh giá của

SV về giảng dạy của GV nói riêng Có thể kể đến các tác giả và các công trình nghiên cứu sau:

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc việc SV đánh giá hoạt động giảng dạy của GV Hầu hết các chuyên gia đều đánh giá cao giá trị ý kiến phản hồi từ SV

 Nghiên cứu liên quan đến sự cần thiết của việc SV đánh giá GV có các nghiên cứu của Terry D.Buss (1976)[41], nghiên cứu của Bộ Giáo dục Mỹ năm 1991 Các nghiên cứu này đều cho thấy hoạt động SV đánh giá GV là rất cần thiết

- Kết quả nghiên cứu của Terry D.Buss cho thấy phần lớn các trường Đại Học ở Hoa Kỳ đã sử dụng việc đánh giá người học để cải tiến chất lượng giảng dạy và nội dung chương trình đào tạo, tuy nhiên cũng có 9.706 sinh viên và 277 giảng viên được điều tra cho biết là họ đã đoán trước những phản hồi của người học về chất lượng giảng dạy nên không cần thiết phải tiến hành trong trường

- Theo nghiên cứu của Bộ Giáo dục Mỹ dựa trên khảo sát của 40.000 GV ĐH thì 97% các GV cho rằng cần sử dụng đánh giá của SV để thẩm định công tác HĐGD Đây không chỉ là một hình thức mang tính tự nguyện mà việc thu thập ý kiến SV về HĐGD của GV từ lâu đã trở thành một quy định bắt buộc tại nhiều nơi trên thế giới

Trang 16

 Nghiên cứu liên quan đến các tiêu chí và hình thức đánh giá có các nghiên cứu của Centra (1993) [29], Braskamp và Ory (1994) [27], Marsh (1984) [35] Các nghiên cứu đã đưa ra các khía cạnh và tiêu chí để khảo sát

- Kết quả nghiên cứu của Centra, Braskamp và Ory xác định các yếu tố thường thấy trong các phiếu đánh giá của SV: lập kế hoạch và tổ chức môn học, kỹ năng giao tiếp/thông tin , quan hệ giữa GV và SV, độ khó của môn học, khối lượng bài tập, xếp loại học tập và các bài kiểm tra, sinh viên đánh giá quá trình học tập

- Kết quả nghiên cứu của Marsh về SV đánh giá chất lượng giáo dục SEEQ có 9 khía cạnh: học tập, sự nhiệt tình, cách tổ chức, tương tác nhóm, mối quan hệ giữa các cá nhân, tài liệu, các bài kiểm tra/xếp loại, bài tập và khối lượng công việc

 Nghiên cứu liên quan đến đặc trưng của các đánh giá sinh viên có các nghiên cứu của Marsh (1987)[36] và Costin, Greenough và Menges (1971) [31], Marsh, H.W

và Hocevar, D (1991) [37] , Murray (1985) [38]

- Nghiên cứu của Marsh và Costin, Greenough và Menges cho thấy giá trị của việc SV đánh giá GV, độ tin cậy cũng như những ảnh hưởng của hoạt động SV đánh giá GV liên quan đến chất lượng giảng dạy của GV

- Nghiên cứu của Marsh, H.W và Hocevar , D cho thấy kết quả đánh giá một

GV có xu hướng không thay đổi theo thời gian

- Nghiên cứu của Murray chỉ ra rằng các đánh giá của SV có đủ độ tin cậy, có sự thống nhất giữa kết quả SV đánh giá GV với kết quả đánh giá của chính GV đó

 Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả SV đánh giá GV có những nghiên cứu của Marsh (1991) [28], Cashin, W.E (1995) [32] Các nghiên cứu này

đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sinh viên đánh giá giảng viên

- Kết quả nghiên cứu của Marsh khi tiến hành khảo sát 1364 lớp học để tìm hiểu xem khi SV đánh giá GV liệu nhận xét của SV có gắn liền với bản thân môn học hoặc với GV dạy môn học đó không Mash đã kết luân: SV đánh giá GV gắn liền chủ yếu với bản thân GV chứ không phải với môn học được khảo sát

Trang 17

- Kết quả nghiên cứu của Cashin, W.E đã đi đến kết luận các yếu tố nhỏ tuổi, giới tính và số năm học của SV tác động không đáng kể đến kết quả đánh giá của

SV GV dạy các môn khoa học xã hội thường được SV đánh gá cao hơn các GV dạy các môn khoa học tự nhiên Sinh viên các lớp sau ĐH thường đánh giá GV cao hơn các SV bậc ĐH Những môn học tự chọn được SV đánh giá cao hơn các môn học bắt buộc

 Các nghiên cứu liên quan đến hiệu quả, tác động của việc SV đánh giá GV và việc sử dụng kết quả SV đánh giá GV có Cohen (1980) [28], Murray (1997) [39], Cashin, W.E (1999) [32], Michele Marincovich (1999) [34] các nghiên cứu này

đã chỉ ra các tác động cũng như tính hiệu quả của hoạt động SV đánh giá GV

- Cohen đã áp dụng phương pháp phân tích đa chiều để kết hợp những phát hiện tới 22 phép so sánh về hiệu quả của SV đánh giá GV Kết quả cho thấy những phản hồi có ảnh hưởng quan trọng đến giảng dạy Những GV nhận được kết quả

SV đánh giá giữa kỳ có điểm trung bình đánh giá cuối kỳ cao hơn những GV không nhận được kết quả đánh giá của SV

- Nghiên cứu của Murray cho thấy chất lượng giảng dạy của GV được cải thiện sau khi có hoạt động SV đánh giá GV

- Nghiên cứu của Cashin, W.E nêu rõ kết quả SV đánh giá GV được sử dụng cho nhiều mục đích như giám sát chất lượng giảng dạy và giúp GV nâng cao chất lượng giảng dạy, tuyển chọn GV hàng năm, đánh giá GV hàng năm Tuy nhiên cần tham khảo thêm các nguồn thông tin khác, không nên chỉ sử dụng kết quả SV đánh giá GV

- Trong nghiên cứu của mình Michele Marincovich đã chỉ ra rằng có sự thay đổi

về hành vi của GV sau khi nhận được kết quả đánh giá của SV Song để có sự thay đổi mạnh mẽ hơn thì cần có sự kết hợp giữa hoạt động SV đánh giá GV với các hình thức khác như GV tự đánh giá, đồng nghiệp đánh giá

Trang 18

Như vậy, trên thế giới các nghiên cứu liên quan đến hoạt động SV đánh giá GV

là rất nhiều, đủ các khía cạnh của hoạt động này từ các vấn đề đến sự cần thiết, các tiêu chí, hình thức, đặc trưng của hoạt động SV đánh giá GV cho đến các yếu tố ảnh hưởng kết quả, hiệu quả, sự tác động của hoạt động SV đánh giá GV

1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước

Tại Việt Nam việc SV đánh giá HĐGD của GV là vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn Việc đánh giá HĐGD qua ý kiến SV mới được Bộ Giáo Dục và Đào Tạo quy định từ năm 2008 và đến nay đã có một số công trình nghiên cứu trong nước về vấn đề này

- Nghiên cứu sâu về công tác này, có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Đức Chính (2002), Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học [8],

Vũ Thị Quỳnh Nga (2009) [21] với “Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc đánh giá

của sinh viên đối với hoạt động giảng dạy của GV”, tác giả Lã Văn Mến(2005)

với “Đánh giá phương pháp giảng dạy của GV [16] Tác giả Vũ Thị Quỳnh Nga (2009) với Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc đánh giá của sinh viên đối

với hoạt động giảng dạy của GV

- Cuốn sách“ Giáo dục đại học: Đảm bảo, đánh giá và kiểm định chất lượng”

do PGS.TS Nguyễn Phương Nga và PGS.TS Nguyễn Quý Thanh [19] đồng chủ biên và có sự tham gia của 15 tác giả khác Cuốn sách gồm 3 phần: Phần I: Kiểm định chất lượng và xếp hạng trường đại học; Phần II: Một số vấn đề về đảm bảo chất lượng giáo dục đại học; Phần III: Một số vấn đề về đánh giá chất lượng giáo dục Cuốn sách là công trình tập thể của nhiều tác giả, những người đã có nhiều năm nghiên cứu trong lĩnh vực đám bảo chất lượng giáo dục nói chung, đánh giá

và kiểm định chất lượng giáo dục nói riêng

- Nhóm tác giả: GS TS Nguyễn Đức Chính, PGS TS Nguyễn Phương Nga, PGS TS Lê Đức Ngọc, Th.S Trần Hữu Hoan, GS John J.McĐonal (2002)[8]

Trang 19

với cuốn sách “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học“ Cuốn sách gồm hai phần: 1 Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học Việt Nam; 2 Kiểm định

chất lượng trong giáo dục đại học thế giới Ngoài việc cung cấp cơ sở khoa học

về kiểm định, đảm bảo chất lượng và các mô hình quản lý chất lượng giáo dục đại học, chương 2 và chương 3 còn giới thiệu về Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng

và điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo trong các trường đại học Việt Nam và hướng dẫn tiến hành quy trình kiểm định chất lượng Bộ tiêu chí đánh giá gồm 26 tiêu chí với hơn 120 chỉ số đánh giá bao quát toàn bộ 8 lĩnh vực hoạt động chính của một trường đại học được xây dựng trên cở sở lý luận khoa học tiên tiến và cơ

sở phân tích xử lý số liệu điều tra khảo sát của 47 trường đại học thuộc các nhóm ngành đào tạo Độ tin cậy và giá trị của bộ tiêu chí đã được hội đồng khoa học nhà nước đánh giá rất cao và đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo sử dụng như một tài liệu tham khảo chính để thiết kế công cụ đánh giá chất lượng và điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo của các trường đại học trong năm 2005 Phần 2 giới thiệu

về mục đích, vai trò và cách thức tiến hành quy trình đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục đại học của các nước có nền giáo dục đại học tiên tiến ở Châu Âu

và Hoa Kì Đây là những kinh nghiệm hết sức quý và hữu ích cho chúng ta trong việc triển khai đánh giá chất lượng giáo dục đại học

- PGS.TS Nguyễn Phương Nga [20] với “Kiểm định chất lượng giáo dục ở Việt

Nam: Hệ thống các chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật Cuốn sách

được tổng hợp và biên soạn với những đóng góp quý báu của TS Phạm Xuân Thanh, Phó Cục Trưởng Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo Cuốn sách này được chia làm ba Phần: Phần I giới thiệu vài nét về sự hình thành hệ thống đảm bảo chất lượng tại Việt Nam, Phần II bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật về kiểm định chất lượng giáo dục ở Việt Nam tính đến hết năm 2009, Phần III mô tả sơ lược về hệ thống đảm bảo chất lượng và các văn bản do Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ban hành về công tác đảm

Trang 20

bảo chất lượng nói chung và kiểm định chất lượng nói riêng của Đại học Quốc gia Hà Nội

 Ở Việt Nam hoạt động đánh giá giảng dạy của GV nói riêng và hoạt động đảm bảo chất lượng giáo dục diễn ra khá muộn so với các nước trong khu vực và trên thế giới Hoạt động đảm bảo chất lượng chỉ được chú ý đến từ những năm đầu của thế kỷ 21 khi Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập hệ thống đảm bảo và kiểm định chất lượng ở cấp quốc gia Năm 2004, việc ban hành bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã quyết định một bước ngoặc về việc hình thành hệ thống đảm bảo và kiểm định chất lượng Giáo dục Đại học (GDĐH) ở nước ta Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TPHCM là hai cơ sở đào tạo lớn, đã tiên phong trong việc triển khai đánh giá các hoạt động đào tạo Một số đề tài tiêu biểu như:

- Tại ĐHQG Hà Nội, một đề tài cấp nhà nước đã được thực hiện từ năm 1998

đến năm 2002 mang tên “Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo

dùng cho các trường đại học và cao đẳng Việt Nam” do GS.TS Nguyễn Đức

Chính, nguyên Phó Giám đốc ĐHQG Hà Nội làm chủ nhiệm đề tài Đề tài này

đã có vai trò lớn trong việc nâng cao ý thức về vai trò quan trọng của hoạt động đánh giá trong hệ thống GDĐH, đồng thời đã phác họa được những nét lớn của một bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường đại học mà Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành sau đó

- Một trong những nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam về việc LYKPH từ SV về

HĐGD của GV là “Khảo sát khả năng có thể sử dụng ý kiến phản hồi của SV

trong trường ĐH Sư phạm Tp.HCM” được TS Nguyễn Kim Dung thực hiện

năm 1999 Nghiên cứu đã khảo sát ý kiến của cán bộ quản lý và GV về giá trị,

sự tin cậy của ý kiến SV Kết quả khảo sát cho thấy phần đông các nhà quản lý

và GV cho rằng phản hồi của SV phải được sử dụng như một phần của việc

Trang 21

đánh giá giảng dạy Ngoài ra, những người tham gia trả lời còn cho rằng nhìn chung, ý kiến của SV là có giá trị [9]

- Cùng liên quan tới vấn đề sử dụng ý kiến phản hồi của SV, đề tài “Sử dụng ý

kiến phản hồi của SV về chất lượng giảng dạy tại trường ĐH Sư phạm Tp.HCM” do TS Nguyễn Kim Dung thực hiện năm 2005 Đề tài đã tiến hành

khảo sát tại 16 khoa thuộc trường ĐH Sư phạm Tp.HCM đại diện cho các chuyên ngành: Tự nhiên, Xã hội, Ngoại ngữ và Giáo dục chuyên biệt Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 108 cán bộ quản lý khoa và GV đại học, phỏng vấn cán bộ quản lý cấp trường và 392 SV đang học tại trường Kết quả của nghiên cứu một lần nữa khẳng định lợi ích của việc sử dụng ý kiến phản hồi của SV

Đa số các nhà quản lý và GV cho rằng, phản hồi của SV phải được sử dụng như một phần của việc đánh giá giảng dạy Đa số những người tham khảo sát cho rằng ý kiến phản hồi của SV về chất lượng giảng dạy là có giá trị Tuy nhiên nghiên cứu cũng cho thấy rằng, việc sử dụng ý kiến phản hồi của SV về chất lượng giảng dạy trong các khoa của Trường là không đồng nhất, một số khoa nếu có sử dụng, chưa sử dụng một cách chính thức và hiệu quả [10]

- Tháng 3-2002, công trình nghiên cứu đề tài cấp Nhà nước: “Nghiên cứu xây

dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo dùng cho các trường ĐH Việt Nam” đã được Hội đồng khoa học nhà nước nghiệm thu chính thức [8] Ngày

2/12/2004, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số 38/2004/QĐ-BGD&ĐT ban hành Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học [1] Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục ĐH của Việt Nam có tiêu chí liên quan đến việc SV đánh giá HĐGD như Tiêu chuẩn 4 “Các hoạt động đào tạo”; Tiêu chuẩn 5: “Đội ngũ cán bộ quản lý, GV và nhân viên của Nhà trường” và Tiêu chuẩn 6 - “Người học” [4]

- Năm 2003 TS Lê Văn Hảo tại trường ĐH Nha Trang đã nghiên cứu việc lấy

ý kiến SV về HĐGD của GV Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số GV và nhất là

Trang 22

tuyệt đại đa số SV đều đánh giá cao sự cần thiết của việc làm này, đồng thời nguồn thông tin từ phía SV được chứng minh là có độ tin cậy tốt Sau khi số liệu thu thập từ SV được phân tích, mỗi GV được nhận một phiếu tổng hợp cá nhân trong đó cho biết kết quả nhận xét của SV đối với mỗi tiêu chí và kết quả xếp loại đối với từng GV Qua theo dõi những GV được SV nhận xét, đa số các điểm yếu đều được các GV cải thiện, có 32% từ chỗ “Khá” trong năm học 2005-2006 đã vươn lên thành “Giỏi” trong năm học 2006-2007 Kết quả nhận xét của SV về HĐGD được xem là một trong những kênh thông tin chính thức

để đánh giá thi đua năm học đối với GV [21, tr24-29]

- Bên cạnh giá trị đã được nhiều nhà nghiên cứu khẳng định, hình thức SV đánh giá HĐGD cũng có những hạn chế nhất định Liên quan tới vấn đề này có

nghiên cứu về “ Một số ưu và nhược điểm của việc SV đánh giá GV” của Thạc

Sĩ Mai Thị Quỳnh Lan Ý kiến đánh giá của SV cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố.[14]

 Hoạt động mới gần đây về công tác đánh giá GV là các hội thảo liên quan đến công tác đánh giá Một số hội thảo điển hình như:

- Hội thảo trực tuyến ”Lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy

của giảng viên” diễn ra vào sáng ngày 28 tháng 5 năm 2013 do bộ Giáo dục và

Đào tạo đã tổ chức qua mạng trực tuyến tại 3 điểm cầu: Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh Đại học Đà Nẵng được chọn là đơn vị chủ trì điểm cầu tại Đà Nẵng với sự tham dự của đại diện lãnh đạo và chuyên viên trực tiếp triển khai công tác lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên của các trường đại học, cao đẳng Nội dung trọng tâm của Hội thảo tập trung thảo luận kết quả triển khai công tác lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên tại các trường đại học và cao đẳng trong thời gian qua; góp ý dự thảo tiêu chí lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên của Bộ GD & ĐT; trao đổi tình hình đánh giá giảng viên nói

Trang 23

chung và lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên nói riêng; chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về thực hiện đánh giá giảng viên và tổ chức lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên

- Hội thảo Ngày 19/6/2012, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn

(ĐHQG-HCM) tổ chức Hội thảo Đảm bảo chất lượng năm 2012 Tại Hội

thảo, các đại biểu đã nghe báo cáo Đảm bảo chất lượng đào tạo ở khâu đánh giá kết quả học tập của TS Trần Long – Giảng viên Khoa Văn hóa học; Báo cáo Nâng cao chất lượng đào tạo các vấn đề thực tiễn và cụ thể của PGS.TS Phạm Đình Nghiệm – Trưởng Phòng QLKH&DA; Báo cáo Xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong và văn hóa chất lượng tại ĐH KHXH&NV một số quan sát và đề xuất của TS Lê Văn Hảo - Trưởng phòng Đả m bảo chất lượng (ĐBCL) và Khảo thí, Trường ĐH Nha Trang và một số báo cáo khác xoay quanh vấn đề kiểm định chất lượng Hội thảo cũng đã bàn luận một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, giáo dục đại học có thể áp dụng ngay như: sắp xếp thời khóa biểu học hợp lý hơn; định kỳ tổ chức sinh hoạt chuyên môn ở các tổ bộ môn; giám sát chặt chẽ việc tuân thủ kỉ luật của giảng viên ở trên lớp; tổ chức ra đề thi, kiểm tra bài và chấm bài độc lập với việc giảng dạy môn học…Hội thảo cũng đặt ra các giải pháp cần hướng tới như bố trí các loại lớp, giờ học khác nhau cho cùng một môn học, hoàn thiện mảng công tác khảo thí của Phòng khảo thí và đảm bảo chất lượng của nhà trường

- Hội thảo khoa học “Lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy

của giảng viên” được tổ chức tại Trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương ngày

17 tháng 4 năm 2014 Các ý kiến trao đổi cho rằng để việc lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên đạt hiệu quả tốt, cần ban hành quy định, xây dựng quy trình triển khai phù hợp với đặc thù của trường; tuyên truyền sâu rộng đến toàn thể cán bộ, giảng viên và sinh viên; thống nhất tư tưởng của giảng viên và sinh viên, giảng viên cần nhìn nhận đúng về vai trò của người

Trang 24

học và đánh giá của sinh viên là đánh giá khách quan; cần chú ý đến thời điểm, đội triển khai phát phiếu đánh giá tới sinh viên; hệ thống câu hỏi cần tuân theo một logic nhất định; nội dung câu hỏi cần chặt chẽ, ngắn gọn, xúc tích, nên có câu hỏi mở; cần phải đưa nội dung này vào nhiệm vụ năm học của Nhà trường và

tổ chức đánh giá kết quả thực hiện cũng như đưa kết quả thực hiện vào tiêu chí đánh giá thi đua hàng năm của giảng viên và sinh viên

 Điểm qua các công trình nghiên cứu công tác đánh giá GV, chúng tôi nhận thấy các tác giả trong nước và ngoài nước đã đề cập đến rất nhiều các vấn đề liên quan đến đánh giá, các thuyết đánh giá Hầu hết các nghiên cứu đều khẳng định rằng ý kiến phản hồi của SV là có giá trị và là một nguồn thông tin hết sức bổ ích và cần thiết cho việc nâng cao chất lượng đào tạo Tuy nhiên, các vấn đề về đánh giá

GV chỉ được các tác giả đề cập ở bình diện tổng quát, mang tính nguyên tắc chứ chưa cụ thể cho công tác đánh giá GV trong thực tiễn Cụ thể chưa có công trình nghiên cứu nào về đ á n h g i á h o ạ t đ ộ n g g i ả n g d ạ y c ủ a G V ở trường CĐ -

ĐH Mặt khác do đặc thù riêng của các trường CĐ-ĐH nên việc đ á n h g i á

H Đ G D đang là vấn đề quan tâm cấp thiết đối với các trường nói chung và trường

CĐ Nghề Nha Trang nói riêng Từ những phân tích trên, chúng tôi nhận thấy cần phải nghiên cứu cụ thể công tác đánh giá hoạt động giảng dạy tại trường Cao Đẳng Nghề Nha Trang

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Khái niệm Đánh giá

Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã quan tâm và đưa ra quan điểm khác nhau về đánh giá như:

C.E Beeby định nghĩa: “Đánh giá là sự thu thập và lý giải một cách có hệ thống những bằng chứng dẫn tới sự phán xét về giá trị theo quan điểm hành động” [37;8] Định nghĩa này phản ánh việc đánh giá ở cấp độ chung nhất và nhấn mạnh vào khía

Trang 25

cạnh giá trị, coi đánh giá là sự thu thập và lý giải một cách có hệ thống những bằng chứng dẫn tới sự phán xét về mặt giá trị

Nhiều định nghĩa về đánh giá nhấn mạnh đến sự phù hợp giữa mục tiêu và việc thực hiện, đây là định nghĩa được quan tâm nhiều nhất Theo R Tiler: “Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu của chương trình giáo dục” [38;116]

Theo Black và William (1998) đánh giá được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm tất cả các hoạt động mà giảng viên và sinh viên đã thực hiện để thu thập thông tin Các thông tin này có thể được sử dụng theo nghĩa chẩn đoán để điều chỉnh quá trình giảng dạy và học tập (trích bản dịch của tác giả Lê Thị Thu Liễu (2007) [15] Theo TS Nguyễn Lộc (2009) Đánh giá là khả năng phán xét về những ưu và nhược điểm, phân biệt chúng theo quan điểm của bản thân [13]

Theo TS Nguyễn Kim Dung (2008) đánh giá là một hình thức chẩn đoán của việc xem xét chất lượng và đánh giá việc giảng dạy, học tập và chương trình đào tạo dựa vào việc kiểm tra chi tiết các chương trình học, cơ cấu và hiệu quả của một

cơ sở đào tạo, xem xét bên trong và các cơ chế kiểm soát chất lượng của cơ sở đó [9]

GS TS Lâm Quang Thiệp (2009) đưa ra khái niệm: đánh giá là việc nhận định sự xứng đáng của một cái gì đó, chẳng hạn việc đánh giá một chương trình, một nhà trường, một chính sách Đánh giá có thể là định lượng (quantitative) dựa vào các con số hoặc định tính (qualitative) dựa vào các ý kiến và giá trị [21]

Các định nghĩa trên đều được xem xét dưới các góc độ mục đích và đối tượng đánh giá Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về đánh giá nhưng chúng ta có thể thấy điểm chung giữa những định nghĩa này đó là: Đều nhận thấy đánh giá là một quá trình chứ không phải là một cái gì đó riêng lẻ và đối tượng của hoạt động

Trang 26

đánh giá là quá trình học tập của người học và quá trình đánh giá đều tìm các thông tin, cơ sở để đưa ra những đánh giá dựa vào các mục tiêu đã đề ra

Theo quan điểm của TS Nguyễn Lộc thì việc đánh giá cần được tiến hành theo những tiêu chí thống nhất, cần lựa chọn các thông số đánh giá và dùng các phương pháp khác nhau để đánh giá các kết quả đầu ra Phương pháp đánh giá phải phù hợp với các quan niệm về đầu ra, phương pháp đánh giá cần phải tin cậy và chính xác Các yêu cầu kiểm tra được thực hiện qua các phương pháp thích hợp có độ chính xác cao Phải có nguyên tắc đánh giá vì sự thống nhất các nguyên tắc là cần thiết Theo TS thì những nguyên tắc sau đây có thể được áp dụng trong đánh giá chương trình:

1 Việc đánh giá phải được tiến hành trên cơ sở nhất trí về các tiêu chuẩn và mô hình đánh giá

2 Đánh giá phải lựa chọn được những tư vấn và chuyên gia am hiểu cơ sở giáo dục ĐH, mục tiêu của nghành đào tạo

3 Việc đánh giá cần phản ánh sự tán đồng giữa những người tham gia khi ra quyết định về mục đích đánh giá

4 Việc đánh giá phải tôn trọng sự đa dạng của các nghành nghề, lĩnh vực của chương trình đào tạo

5 Việc đánh giá phải được chuẩn bị kỹ, nhất là cho các cuộc làm việc tại trường, giúp các thành viên tư vấn có đủ thông tin về nhà trường

6 Việc đánh giá phải được công khai hóa, cung cấp cho chương trình và nhà trường cơ hội trả lời những nhận định chưa chính xác

Đánh giá là một khâu rất quan trọng ảnh hưởng rất lớn đối với hiệu quả, kết quả của một chương trình/ hoạt động Đánh giá càng kỹ và làm càng đúng thì kết quả

Trang 27

sẽ càng tốt, càng cao Đánh giá cần được làm trước, trong và sau khi triển khai chương trình/ hoạt động, phải tiến hành thường xuyên và có hệ thống

1.2.1.1 Phân loại đánh giá

Về mặt truyền thống, có thể phân biệt hai loại đánh giá giảng dạy đó là: Đánh giá hình thành và đánh giá tổng kết [26]

Đánh giá hình thành tập trung vào việc thu thập và sử dụng thông tin nhằm

cải tiến hoạt động dạy và học Loại đánh giá này nhằm vào việc xác định những lĩnh vực cần phải cải tiến chứ không phải đánh giá những gì đã làm được hoặc khuyếch trương các thành tích giảng dạy Loại đánh giá này chủ yếu được thực hiện bởi GV ở bất kì thời điểm nào trong học kì, có thể tại lớp hoặc tại các địa điểm khác (mạng internet, phòng thí nghiệm, địa điểm đi thực tế, thực địa…) Thông tin phản hồi có thể thu được từ các nguồn khác nhau như: GV tự đánh giá,

SV đánh giá, đánh giá qua đồng nghiệp và người hướng dẫn (đối với GV trẻ và GV tập sự) Công cụ sử dụng có thể là phiếu điều tra (bằng giấy hoặc online)

Đánh giá tổng kết được tiến hành với mục đích xem xét về hiệu quả của hoạt

động giảng dạy của GV Kết quả của đánh giá tổng kết được dùng để bổ nhiệm các chức danh GV hoặc sử dụng cho việc đề bạt, khen thưởng hoặc tăng lương Lãnh đạo khoa và trường cũng có thể sử dụng kết quả này để quyết định thay đổi nội dung, chương trình đào tạo hoặc môn dạy của GV Đánh giá này thường được tiến hành sau khi kết thúc môn học hoặc vào một thời điểm nhất định trong quá trình công tác của GV Để đảm bảo tính toàn diện và tiêu biểu, việc đánh giá này được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau như:

- Thư góp ý của SV về tính hiệu quả của hoạt động giảng dạy của GV, chất lượng của những kiến thức mà SV thu được và tác dụng của chúng lên quá trình tiến bộ của SV

- Đánh giá bởi đồng nghiệp dựa trên hình thức dự giờ tại lớp

Trang 28

- Hồ sơ giảng dạy của GV

Điều cần lưu ý là hai loại đánh giá trên phải tách biệt nhau Đánh giá hình thành hướng đến tương lai, nghĩa là làm cho GV phát huy những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu đã có trong hoạt động giảng dạy của mình Ngược lại, đánh giá tổng kết hướng về quá khứ, nghĩa là nhằm mục đích đánh giá các thành tích cụ thể mà GV đã thu được Thông thường, GV sẽ tìm cách che dấu nhược điểm của mình nếu họ biết rằng kết quả của đánh giá hình thành được sử dụng để thực hiện các quyết định nào đó liên quan đến sự nghiệp của họ Nếu trong trường hợp các quyết định này cần được thực hiện thì những dữ liệu thu được phải độc lập với quá trình đánh giá hình thành Vì vậy, các thông tin thu được trong đánh giá hình thành không nên sử dụng cho đánh giá tổng kết trừ khi được GV tự nguyện đồng ý

và những người tham gia vào đánh giá hình thành không nên cung cấp thông tin cho việc đánh giá tổng kết [37] Như vậy việc lấy ý kiến phản hồi của SV là đánh giá hình thành

Theo Allan C.Ornstein và Thomas J.Lasley [3, tr.404 - 406] thì đánh giá có thể được chia làm bốn kiểu đánh giá : Đánh giá xếp loại, đánh giá sát hạch, đánh giá theo dõi, đánh giá kết quả

Đánh giá xếp loại là đánh giá giúp cho việc phân loại học sinh trước khóa

học, tiến hành vào đầu học kỳ

Đánh giá sát hạch là một phương tiện tìm hiểu và theo dõi những khó khăn

trong việc học tập, việc kiểm tra đánh giá này có thể cung cấp những thông tin

có thể tạo điều kiện cho SV vượt qua những thất bại Trong nhiều trường hợp, đánh giá sát hạch và đánh giá theo dõi mang tính chồng chéo, kiểm tra theo dõi chủ yếu liên quan đến sự tiến bộ của học sinh, nhưng việc thiếu tiến bộ có thể cho thấy một vấn đề nào đó mà phải dùng kiểu đánh giá sát hạch để tìm ra

Đánh giá theo dõi dùng để theo dõi sự tiến bộ trong suốt quá trình học, giáo

viên phải cho học sinh kiểm tra thường xuyên trong suốt một khóa học hay học kỳ,

Trang 29

trong suốt quá trình đó còn phải có những cải tiến cho phù hợp với quá trình học tập của học sinh Việc dạy học có thể được cải tiến dựa trên những phản hồi mà việc kiểm tra đánh giá theo dõi cung cấp Benjamin Bloom và các cộng sự của ông

đã mô tả việc kiểm tra đánh giá theo dõi như là một công cụ dạy học chính Đánh giá theo dõi rất quan trọng đối với kết quả học tập của học sinh Các nghiên cứu cho thấy rằng những bài kiểm tra đánh giá theo dõi nâng cao mang lại kết quả học tập đáng kể và rất có ý nghĩa đối với học sinh Nếu giáo viên chấm bài thi theo cách cho học sinh thấy được họ có thể cải thiện việc làm bài như thế nào thì việc học tập của học sinh tỏ ra thực sự và đáng khích lệ

Đánh giá kết quả là đánh giá cho biết kết quả của việc dạy và học vào cuối

mỗi học phần hay học kỳ Nó được thiết kế để xác định xem mục đích dạy học đã được học sinh lĩnh hội ở mức độ nào và nó được sử dụng chủ yếu để chứng nhận bằng cấp hay cho điểm học sinh Trong khi đánh giá theo dõi cung cấp những nhận xét có tính chưa quyết định về việc học tập đã diễn ra và việc học tập cần thực hiện, đánh giá kết quả lại diễn ra khi việc dạy và học đã xong và là sự đánh giá cuối cùng

1.2.1.2 Các nguyên tắc đánh giá

Qua tham khảo kinh nghiệm ở trong và ngoài nước, Lê Đức Phúc đã nêu các nguyên tắc chung nhất về đánh giá: Nguyên tắc tiếp cận hoạt động - nhân cách; nguyên tắc đảm bảo tính xã hội - lịch sử; nguyên tắc bảo đảm mối quan hệ giữa đánh giá và phát triển, giữa chẩn đoán và dự báo; nguyên tắc bảo đảm sự phù hợp với mục tiêu đào tạo; nguyên tắc bảo đảm sự phù hợp với đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi; nguyên tắc bảo đảm tính khách quan, độ tin cậy của phương pháp đánh giá; nguyên tắc bảo đảm sự thống nhất giữa đánh giá và tự đánh giá

Thực hiện yêu cầu của công văn số 1276 của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn tổ chức lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của giảng

Trang 30

viên, nhiều trường đại học, cao đẳng trên toàn quốc đã tiến hành hoạt động LYKPH

từ người học Đối với trường Cao Đẳng nghề Nha Trang đã thực hiện lấy ý kiến người học về HĐGD của GV bắt đầu từ tháng 9 năm 2010 Việc thực hiện này có thực sự mang lại kết quả tích cực hay không thì lúc này hoạt động đánh giá về công tác lấy ý kiến của người học mang ý nghĩa quyết định để duy trì phương thức đánh giá định kỳ hàng năm tại trường

Trong giáo dục đánh giá hoạt động lấy ý kiến nhằm xem xét những mục tiêu, hiệu quả và tính bền vững mà hoạt động này đạt được, việc đánh giá này là nhận định sau cùng nhằm thu thập và xử lý thông tin giúp duy trì và cải tiến để công tác lấy ý kiến đánh giá những lần sau cho kết quả tốt hơn

1.2.1.3 Ưu và nhược điểm của các hình thức đánh giá HĐGD của GV Đánh giá HĐGD của GV có nhiều đối tượng cùng tham gia Cho đến những năm đầu thế kỷ 21, đánh giá GV qua đồng nghiệp, chủ nhiệm bộ môn hoặc chủ nhiệm khoa, SV, cán bộ quản lý và các nhà tuyển dụng và tự đánh giá của bản thân từng GV [21, tr68] Mỗi hình thức đánh giá đều có những ưu và nhược điểm nhất định

Tự đánh giá của GV: Bản thân mỗi GV là nguồn đánh giá quan trọng về

HĐGD của chính họ Tự đánh giá là người GV tự đưa ra đánh giá về những mặt mạnh và mặt yếu kém của mình theo yêu cầu hoặc theo mẫu do chủ nhiệm bộ môn, chủ nhiệm khoa hoặc các nhà quản lý đưa ra Chỉ GV mới có thể cung cấp được những mô tả về công việc của chính họ, những suy nghĩ đằng sau công việc và tự đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu [21, tr69] Tự đánh giá của GV cung cấp những minh chứng về HĐGD của họ và để điều chỉnh cải tiến PPGD, các thông tin đánh giá liên quan trực tiếp tới mục tiêu và nhu cầu của GV Tuy nhiên tự đánh giá của GV có nhược điểm là GV chỉ đưa ra những nhận xét theo chủ quan, tính khách

Trang 31

quan không cao Có những GV miễn cưỡng khi nộp báo cáo tự đánh giá vì quan niệm đó là kết quả tự đánh giá riêng của bản thân [21, tr70]

Đánh giá của đồng nghiệp : Một trong những đánh giá của đồng nghiệp là dự

giờ và xem xét các tài liệu giảng dạy GV là những người đồng cấp, đồng nghiệp,

họ biết rất rõ những ưu nhược điểm của một GV Cùng là GV, cùng thực hiện một nhiệm vụ trong cùng một môi trường nên họ có thể đưa ra những thông tin chính xác về kiến thức, trình độ chuyên môn, PPGD đối với đồng nghiệp của họ Do vậy, việc người đồng cấp tham gia đánh giá sẽ giúp cho việc đánh giá GV có được kết quả đánh giá chính xác [13, tr12] Ưu điểm của hình thức đánh giá này là đồng nghiệp quen với giá trị, các ưu tiên và khó khăn của GV và có thể đưa ra được những gợi ý cụ thể để giúp đồng nghiệp nâng cao chất lượng hoạt động giảng day Tuy nhiên nhược điểm là kết quả đánh giá có thể bị thiên lệch bởi những định kiến

từ trước hoặc các mối quan hệ cá nhân, sự nể nang, sợ làm ảnh hưởng tới quyền lợi Đôi khi có thể có áp lực của đồng nghiệp gây ảnh hưởng đến quá trình đánh giá, thiên lệch về PPGD giống mình [21, tr69] Đối với đánh giá bằng dự giờ thì người

dự giờ chỉ có thể quan sát một giờ học nhất định mà không thể bao quát được một quá trình giảng dạy Thêm vào đó, việc dự giờ đôi khi được báo trước nên GV và

SV có sự chuẩn bị, do đó thông tin thu được có độ tin cậy không cao

Đánh giá của chủ nhiệm bộ môn hoặc chủ nhiệm khoa: Đánh giá của chủ

nhiệm bộ môn / chủ nhiệm khoa được thực hiện theo định kỳ hay theo một chương trình nào đó Chủ nhiệm bộ môn / chủ nhiệm khoa có trách nhiệm hợp pháp để đánh giá và đưa ra các quyết định liên quan và đồng nghiệp có thể so sánh các GV trong khoa / bộ môn hoặc trong trường [21, tr69] Nhược điểm của hình thức này là có thể

có thiên lệch do quan hệ cá nhân hoặc các thành kiến từ trước, quan niệm cá nhân

về các giá trị khác nhau, thiên lệch và các PPGD khác nhau [21]

Đánh giá của cán bộ quản lý: Nhà quản lý đặt ra các tiêu chuẩn để đánh giá

GV theo định kỳ hay theo một chương trình nào đó Nhưng đều có chung một mục

Trang 32

đích là đánh giá hiệu quả giảng dạy của GV để nâng cao chất lượng giảng dạy hay

bổ nhiệm cán bộ v v Ưu điểm của hình thức đánh giá này là tập hợp đánh giá từ nhiều nguồn như: Đánh giá thông qua đồng nghiệp, qua SV, qua mạng thông tin.v.v Nhưng nhược điểm của nó là không đánh giá chi tiết được mà chung chung theo một thời gian hay theo một chương trình nhất định

Sinh viên đánh giá: SV đánh giá HĐGD của GV là quan trọng nhất và có sức

thuyết phục nhất [11, tr19] Đánh giá của SV có thể sử dụng để lượng hóa một khái niệm khó là “chất lượng giảng dạy” So với các nguồn đánh giá khác, nguồn SV đánh giá chiếm ưu thế hơn (Eble, 1984, tr98) [21, tr69] Bản chất của SV đánh giá HĐGD của GV là sự đo lường hiệu quả giảng dạy của GV thông qua tiếp nhận của người học với tư cách là đối tượng của quá trình giáo dục SV là người lĩnh hội những tri thức, kiến thức trực tiếp của GV, vì vậy SV sẽ đánh giá được ảnh hưởng của HĐGD của GV đối với họ [17, tr117]

SV đánh giá HĐGD của GV có điểm mạnh là thông tin tin cậy và có giá trị

về việc giảng dạy trên lớp của GV [21, tr69] Đánh giá HĐGD của GV ĐH qua SV vẫn mang tính thuyết phục nhiều hơn so với những đối tượng tham gia đánh giá khác: SV tham gia đánh giá với số lượng đông luôn luôn là đối tượng mới trong mỗi năm tham gia đánh giá, sự luôn thay đổi về chất lượng tuyển sinh (năm thứ nhất) và chất lượng đào tạo (đối với SV năm thứ 3 thứ 4 trở lên) của SV trong đánh giá HĐGD đối với GV [11 ,tr18] Phân tích thống kê cho thấy hệ số tương quan giữa hai kết quả nhận xét của SV trên cùng một mẫu GV cho phép rút ra kết luận sơ

bộ là nhận xét của SV về GV có độ tin cậy tốt [14, tr28] Giá trị của SV đánh giá

GV đã được nhiều tác giả khẳng định: hơn ai hết, SV là người trực tiếp tham gia lớp học sẽ có được đánh giá tốt về việc giảng dạy [15, tr56]

Tuy nhiên cũng như các hình thức đánh giá khác, hình thức SV đánh giá cũng

có những hạn chế nhất định Một trong những hạn chế là SV không thể có đánh giá tổng thể việc giảng dạy tại nhiều lớp học, hoặc nhiều trường học [14, tr54] Việc

Trang 33

thực hiện LYKPH khó thực hiện ở những lớp đông Thời điểm LYKPH cũng ảnh hưởng tới độ tin cậy Một số thông tin đánh giá nằm ngoài lĩnh vực am hiểu của SV như về chất lượng các tài liệu được dạy học cho môn học, SV không có kiến thức

về thiết kế các hướng dẫn nên họ khó có khả năng đánh giá vấn đề này và không thể nói được tài liệu có phù hợp với mục đích môn học không

1.2.1.4 Đánh giá chất lượng trong nhà trường:

Khi nói đến chất lượng và hiệu quả đào tạo là nói đến mục đích chính và kết quả thực tế của mọi quá trình giáo dục ở trong bất kỳ cơ sở đào tạo nào, nói rộng ra là của toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Chất lượng giáo dục trường đại học là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đại học của Luật Giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực của địa phương và cả nước [5] Đánh giá chất lượng và hiệu quả đào tạo là việc làm thường xuyên, liên tục

và hết sức thiết thân đối với mọi cơ sở đào tạo trong toàn ngành giáo dục tại Việt Nam [13] Việc đánh giá chất lượng tại các cơ sở GDĐH thường được tiến hành qua đánh giá kết quả đào tạo (sinh viên và người tốt nghiệp) Đánh giá chất lượng đào tạo và chất lượng nói chung của các cơ sở giáo dục là việc khó Đánh giá cần tập trung vào yếu tố nào là chủ yếu: đầu vào (vật lực, nhân lực và tài chính), đầu ra (người tốt nghiệp) hay chính quá trình dạy và học [13, tr34] Ví dụ khi đánh giá một chương trình đào tạo cụ thể nào đó, nhà trường sẽ tập trung đánh giá để trả lời câu hỏi liệu với đội ngũ hiện nay các khóa học có thể tiến hành để đạt được các chuẩn mực chất lượng của quốc gia hay không

Nhìn chung đánh giá được hiểu là xem xét, phân tích, phán xét các hoạt động nhất định trong một tổ chức, đơn vị nào đó Đánh giá, vì vậy là cơ sở để tiến hành bất

cứ hoạt động kiểm nhận hay nâng cao chất lượng nào khác [13, 35] Đánh giá cũng có thể được chính cơ sở GDĐH tiến hành, cũng có thể do các cơ quan bên ngoài tiến

Trang 34

hành Từ những mục đích đánh giá khác nhau, các cơ quan đánh giá khác nhau lựa chọn hình thức đánh giá phù hợp để sử dụng (Bảng 1.1)

Bảng 1.1 Các hình thức đánh giá chất lượng Hoạt động đánh giá Cơ quan chịu trách nhiệm Phương pháp và trọng tâm

1 Đánh giá đầu ra Các đơn vị trong cơ sở

GDĐH và toàn bộ nhà trường

Đánh giá tri thức, kỹ năng, thái độ của sinh viên, các chỉ

số chung về đầu ra

2 Đánh giá chương

trình đào tạo

Cơ quan nhà nước, tổ chức chuyên môn được giao nhiệm vụ hay cơ sở GDĐH

Đánh giá quá trình, đầu vào

so với mục tiêu ban đầu

Đánh giá sự phối hợp của cơ

sở GDĐH (các mặt) đối với các chương trình cấp văn bằng (đầu vào và quá trình)

4 Thẩm định ngoài Đơn vị thẩm định (được

thành lập bởi các cơ quan

có thẩm quyền)

Đánh giá và nhận xét về hệ thống bảo đảm chất lượng của cơ sở GDĐH (đầu vào và quá trình)

5 Đánh giá xếp hạng

các cơ sở GDĐH

Các tổ chức nhà nước, hiệp hội đại học hoặc các tổ chức quốc tế

Đánh giá theo các chỉ số thực hiện

Trang 35

Đánh giá đầu vào và sự thiết

kế khóa học, chương trình so với mục tiêu và chuẩn mực tương ứng

10 Thanh tra Đơn vị thanh tra của nhà

nước (Bộ)

Nhằm xem xét việc thực hiện quy chế về mặt quản lý, chuyên môn

[13]

1.2.2 Hoạt động giảng dạy của giảng viên

Quá trình dạy học là quá trình tương tác giữa hoạt động dạy của GV và hoạt động học của SV nhằm đạt tới các nhiệm vụ dạy học Để thực hiện vai trò chủ đạo của GV trong quá trình dạy học, các hoạt động cơ bản của GV là:

1.2.2.1 Chuẩn bị đề cương môn học

Một trong những việc quan trọng của HĐGD mà GV cần phải thực hiện trước hết là chuẩn bị đề cương môn học Việc này cần phải được chuẩn bị trước khi tổ chức giảng dạy cho SV Việc chuẩn bị đề cương môn học không những có ảnh hưởng lớn đến thái độ, phương pháp học tập của SV mà còn đối với cả PPGD của chính GV

Đề cương môn học là tài liệu do GV biên soạn để cung cấp cho người học trước khi giảng dạy môn học, gồm có các nội dung chủ yếu sau đây: Thông tin về

Trang 36

GV, thông tin chung về môn học, mục tiêu của môn học, tóm tắt nội dung môn học, nội dung chi tiết môn học, học liệu, hình thức tổ chức dạy học, chính sách đối với môn học và phương pháp, hình thức kiểm tra - đánh giá kết quả học tập môn học

Đề cương môn học cung cấp cho SV thông tin về mục đích, nội dung môn học và yêu cầu học tập như về cách thi, kiểm tra, trọng số các điểm thành phần Việc SV được giải thích rõ về đề cương môn học có ảnh hưởng lớn đến thái độ và phương pháp học tập của SV Khi biết trước thông tin về mục đích, nội dung môn học và yêu cầu học tập, SV sẽ chủ động tìm đọc các nguồn tài liệu liên quan đến môn học,

có kế hoạch học tập và mục tiêu phấn đấu rõ ràng Đặc biệt trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay việc tìm kiếm nguồn tài liệu bổ sung cho môn học là rất dễ dàng với SV Vì vậy, việc chuẩn bị đề cương môn học của GV giúp SV có định hướng, chủ động, có kế hoạch học tập và mục tiêu phấn đấu cho môn học Điều này

có ảnh hưởng tới chất lượng học tập của SV và PPGD của GV

1.2.2.2 Phương pháp giảng dạy

Phương pháp dạy học là một thành tố hết sức quan trọng của quá trình dạy học Khi đã xác định được mục đích, nội dung chương trình dạy học, thì phương pháp dạy và học của thầy và trò sẽ quyết định chất lượng quá trình dạy học Giảng dạy hiệu quả được hiểu là GV cần thực hiện những PPGD khác nhau phù hợp với các đối tượng khác nhau trong lớp, truyền tải để SV hiểu được khái niệm, áp dụng và tích hợp chúng Bên cạnh việc truyền tải kiến thức đến SV, GV cần chuyển đổi và

mở rộng được các kiến thức đó [17, tr67]

Trong triết học, vấn đề phương pháp được đề cập từ rất sớm và khá nhiều Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp: “Metodos”, có nghĩa là con đường, cách thức vận động của một sự vật hiện tượng [18, tr42] Trong lĩnh vực giáo dục, phương pháp dạy học không phải là một thực thể độc lập, vì mục đích tự thân, mà chỉ là hình thức vận động của một hoạt động đặc thù: Hoạt động dạy học

Trang 37

Hoạt động dạy học là hoạt động phối hợp của hai chủ thể đó là giáo viên và học sinh Trong thực tiễn, phương pháp dạy học thường được hiểu là cách thức tiến hành các hoạt động của người dạy và người học nhằm thực hiện một nội dung dạy học đã được xác định Định nghĩa về phương pháp dạy học được diễn đạt theo những cách khác nhau theo mỗi tác giả Tác giả Phan Trọng Ngọ (2005) đã định nghĩa phương pháp dạy học một cách ngắn gọn như sau: Định nghĩa chung nhất về PPGD là những con đường, cách thức tiến hành hoạt động dạy học [23, tr145] Tác giả Phạm Viết Vượng (2000) đã đưa ra định nghĩa một cách chi tiết và cụ thể: Theo nghĩa chung nhất phương pháp là con đường, là cách thức mà chủ thể sử dụng để tác động nhằm chiếm lĩnh hoặc biến đổi đối tượng theo mục đích đã định Tóm lại, phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt động phối hợp của giáo viên và học sinh, trong đó phương pháp dạy chỉ đạo phương pháp học, nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo thực hành sáng tạo [21, tr93] Như vậy, dù được diễn đạt theo những cách khác nhau, từ những định nghĩa trên có thể rút ra những đặc trưng chung của phương pháp dạy học như sau: (1) Phương pháp dạy học là những con đường, cách thức hoạt động phối hợp của giáo viên và học sinh; (2) Nhằm thực hiện một nội dung dạy học đã được xác định; (3) Chủ thể của hoạt động dạy là giáo viên, người tổ chức mọi hoạt động học tập của học sinh Chủ thể của hoạt động học là học sinh, chủ thể tích cực trong nhận thức, rèn luyện và tu dưỡng bản thân

1.2.2.3 Phương pháp kiểm tra đánh giá

- Phương pháp kiểm tra là phương pháp xem xét thường xuyên quá trình học tập của học sinh Mục đích của kiểm tra là tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh tăng cường chất lượng học tập Kiểm tra còn là một khâu quan

Trang 38

trọng của quá trình dạy học nhằm đánh giá kết quả học tập Kiểm tra, thi cử được tổ chức nghiêm túc có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giáo dục và đào tạo [21, tr104] Kiểm tra có nhiều loại: kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định

kỳ, kiểm tra miệng, kiểm tra viết, kiểm tra lý thuyết, kiểm tra thực hành, kiểm tra trong giờ học, kiểm tra bằng một giờ học riêng, mức độ cao nhất là thi [21, tr105] Các hình thức làm bài kiểm tra phổ biến hiện nay là: kiểm tra vấn đáp; tự luận và trắc nghiệm [13, tr41]

- Phương pháp đánh giá kết quả học tập là xác định giá trị khách quan kết quả học tập của học sinh, bằng cách so sánh nó với một chuẩn (có thể là mục tiêu môn học hay mục tiêu của đơn vị kiến thức, thường diễn đạt bằng thang điểm) và gán cho nó một điểm hoặc một lời nhận xét Đánh giá là bước tiếp theo của kiểm tra và thi Kiểm tra là cầu nối giữa dạy và đánh giá, tạo thành quá trình dạy học Cũng như kiểm tra đánh giá có chức năng giáo dục Cho nên phải tiến hành tốt việc đánh giá học sinh [21, tr107]

 Kiểm tra đánh giá là một biện pháp để tạo ra thông tin ngược, kết quả kiểm tra đánh giá cho ta thấy những chỗ mạnh, chỗ yếu, cái đạt được, điều chưa đạt được trong quá trình dạy học nói chung và trong mỗi giờ học riêng Kết quả kiểm tra đánh giá có tác dụng to lớn đối với người học, người dạy và các cấp quản lý Như vậy, kiểm tra đánh giá là một phần không thể tách rời của hoạt động dạy - học Kiểm tra đánh giá không chỉ cho biết kết quả của hoạt động dạy - học mà còn

là động lực thúc đẩy người học tự điều chỉnh phương pháp

1.2.3 Hoạt động lấy ý kiến đánh giá của SV về HĐGD của GV

1.2.3.1 Tình hình thực tế việc sinh viên đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên

Có thể nói việc lấy ý kiến phản hồi của SV là một công việc khá mới mẻ đối

Trang 39

với giáo dục Đại Học nước ta Hiện nay việc lấy ý kiến phản hồi đang được hiểu

và thực hiện theo nhiều cách khác nhau ở các trường cao đẳng, đại học Một số ví dụ

về công tác lấy ý kiến phản hồi của SV ở một số trường như sau:

 Tại Hà Nội:

- Đại học Xây dựng Hà Nội từ những năm trước đã đặt ra vấn đề “lấy ý kiến sinh viên nhận xét về thầy giáo” nhưng việc này đã bị nhiều giảng viên trong trường phản đối vì lý do không thể có chuyện làm ngược là sinh viên đánh giá giảng viên Chính thói quen cho rằng “thầy luôn luôn đúng” đã làm mất khả năng sáng tạo, “phản biện” của sinh viên và dạy học trở thành việc truyền giảng một chiều

- Trường ĐH Thăng Long nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trường đã thực hiện phát phiếu nhận xét môn học cho SV Phần đánh giá môn học bao gồm

9 câu hỏi, SV có 5 lựa chọn rất không đồng ý, không đồng ý, bình thường, đồng ý, rất đồng ý [15]

- ĐH Khoa học Tự nhiên thiết kế phiếu với 30 câu hỏi về phương pháp giảng dạy của GV và sự quan tâm của GV tới lớp học

- Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội thiết kế phiếu đánh giá gồm 7 - 8 câu hỏi, tập trung vào 3 nội dung chính: Giảng dạy có phong phú không, có mở rộng vấn đề khỏi giáo trình hay không; phương pháp truyền thụ có gợi mở, hấp dẫn không; trong quá trình lên lớp GV có bao quát lớp không [14] Nhìn chung, phiếu điều tra do các trường tự thiết kế cũng khác nhau

 Tại Thành Phố Hồ Chí Minh: Một số trường ĐH ở Thành Phố Hồ Chí Minh đã tiến hành lấy ý kiến phản hồi từ năm học 2007 – 2008 [14] :

- Trường ĐH Bách Khoa (ĐH Quốc gia TPHCM) lấy ý kiến SV về GV theo chuẩn đầu ra mà nhà trường xây dựng; Trường Đại học Khoa học Tự nhiên chỉ lấy ý kiến SV qua mạng về khảo sát môn học, khóa học để đánh giá chất lượng đào tạo Trường đã triển khai “khảo sát môn học” trong SV chính quy từ

Trang 40

cuối học kỳ 2 năm học trước Theo đó, việc khảo sát này được thực hiện qua mạng lấy ý kiến đánh giá của SV Ngoài ra, trường còn phát “phiếu khảo sát khóa học” lấy ý kiến SV vừa tốt nghiệp Tuy nhiên, việc khảo sát này không ghi tên

- ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia TPHCM) lần lượt khảo sát 30% tổng số môn học (chọn ngẫu nhiên) vào cuối mỗi học kỳ bằng cách phát

“phiếu khảo sát môn học” đến tất cả SV hệ chính quy theo học các môn đó Đến nay, tất cả GV của ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM đều đã được khảo sát ít nhất một lần Phòng khảo thí - đảm bảo chất lượng trường triển khai phát “phiếu đánh giá môn học” lấy ý kiến SV chính quy trong sáu tuần cuối ngay sau khi kết thúc học phần

- ĐH Sư phạm kỹ thuật TPHCM là một trong số rất ít trường thực hiện khá bài bản và hiệu quả việc lấy ý kiến phản hồi từ người học Ngay từ đầu, ĐH Sư phạm kỹ thuật đã thành lập ban chỉ đạo và xây dựng quy định về công việc phản hồi từ SV, công bố rõ đến từng GV Trường còn quy định rõ việc sử dụng thông tin phản hồi, trách nhiệm thực hiện của mỗi người và cả chế độ lưu trữ Cách tổ chức và việc xây dựng tiêu chí rõ ràng nên được hầu hết GV ủng hộ Trường xây dựng hai loại phiếu lấy ý kiến về hoạt động giảng dạy lý thuyết và hướng dẫn thực hành của GV riêng biệt, SV dễ dàng đánh giá Sau khi xử lý, kết quả khảo sát được giao cho trưởng khoa và gửi đến từng GV Các GV có quyền đưa ra ý kiến phản hồi của mình và phải nêu ra minh chứng cần thiết cho trưởng khoa về ý kiến phản hồi của SV Đồng thời có trách nhiệm thảo luận và đăng

Ngày đăng: 04/05/2021, 23:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w