LỜI MỞ ĐẦUSự bùng nổ dân số những năm 80 của thế kỷ trước dẫn đến những năm quadân số - đặc biệt là số người bước vào độ tuổi lao động của các nước đang pháttriển tăng nhanh, trong đó có
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH THÁI NGUYÊN
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ MÔ TẢ VÀ PHƯƠNG PHÁP DÃY SỐ THỜI GIAN ĐỂ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG
NGUỒN LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM TẠI ĐỊA PHƯƠNG.
Họ tên: Nguyễn Đỗ Quyên
Mã SV: DTE1253101010382Môn: Thống kê kinh tế
Lớp: 01
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Sự bùng nổ dân số những năm 80 của thế kỷ trước dẫn đến những năm quadân số - đặc biệt là số người bước vào độ tuổi lao động của các nước đang pháttriển tăng nhanh, trong đó có Việt Nam Mà số người ra khỏi độ tuổi lao độngkhông nhiều dẫn đến sự gia tăng cao lực lượng lao động trong nền kinh tế Cùngvới đó, cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu ở Mỹ vào tháng 12 năm 2007 đã lanrộng ra toàn thế giới khiến cho nền kinh tế càng thêm bất ổn, số người thấtnghiệp ngày càng cao
Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho biết nền kinh tế thế giới phải đốimặt với tỷ lệ thất nghiệp cao nhất trong vài thập kỷ: tính đến tháng 2 năm 2009
tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ đã tăng lên đến 8,1% - mức cao nhất kể từ 25 năm trở lạiđây; tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam là 6,53%
Trong hoàn cảnh kinh tế xã hội hiện nay việc chủ động trong xây dựng vàthực hiện kế hoạch, đi trước đón đầu những vấn đề xã hội phát sinh, giải quyết
có hiệu quả các chính sách và công tác xã hội là rất cần thiết Thực hiện tốt cácchính sách và công tác xã hội, góp phần giữ vững ổn định an ninh quốc phòng -
xã hội là nhân tố quan trọng thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế.Thực hiện Nghị Quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Nghị QuyếtĐại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVI về phát triển kinh tế xã hội tỉnhđến năm 2015, phấn đấu đưa Thái Nguyên thoát khỏi tình trạng kém phát triển,nâng cao một bước rõ rệt về đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, tạo tiền đề
cơ bản để Thái Nguyên trở thành tỉnh Công nghiệp trước năm 2020 Trong điềukiện kinh tế hiện nay của toàn tỉnh, việc giữ vững kế hoạch đề ra, thay đổi cácbiện pháp thực hiện cho phù hợp với xu thế kinh tế mà tỉnh cùng cả nước đangđối mặt là việc làm cấp thiết
Trang 3I PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ
Thống kê mô tả được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữliệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau.Thống kê mô tả và thống kê suy luận cùng cung cấp những tóm tắt đơn giản
về mẫu và các thước đo Cùng với phân tích đồ họa đơn giản, chúng tạo ra nềntảng của mọi phân tích định lượng về số liệu Để hiểu được các hiện tượng và raquyết định đúng đắn, cần nắm được các phương pháp cơ bản của mô tả dữliệu Có rất nhiều kỹ thuật hay được sử dụng Có thể phân loại các kỹ thuật nàynhư sau:
- Biểu diễn dữ liệu bằng đồ họa trong đó các đồ thị mô tả dữ liệu hoặc giúp
so sánh dữ liệu
- Biểu diễn dữ liệu thành các bảng số liệu tóm tắt về dữ liệu
- Thống kê tóm tắt (dưới dạng các giá trị thống kê đơn nhất) mô tả dữ liệu.Khi tạo các trị thống kê mô tả, người ta có thể nhằm 2 mục tiêu:
- Chọn một trị thống kê để chỉ ra những đơn vị có vẻ giống nhau thực ra cóthể khác nhau thế nào Các giáo trình thống kê gọi một giải pháp đáp ứng mụctiêu này là thước đo khuynh hướng trung tâm
- Chọn một trị thống kê khác cho thấy các đơn vị khác nhau thế nào Loạitrị thống kê này thường được gọi là một thước đo phân tán thống kê
Khi tóm tắt một lượng như độ dài, cân nặng hay tuổi tác, người ta hay dùngcác trị thống kê như số trung bình cộng, trung vị, mốt Đôi khi, người ta chọnlựa những giá trị đặc thù từ hàm phân bố tích lũy gọi là các tứ phân vị
Các thước đo chung nhất về mức độ phân tán của dữ liệu lượng là phươngsai, tức là độ lệch chuẩn; khoảng; khoảng cách giữa các tứ phân vị; và độ lệchbình quân tuyệt đối
Khi thực hiện một trình diễn đồ họa để tóm tắt một bộ dữ liệu, cũng có thể
áp dụng cả 2 mục tiêu nói trên
Trang 4II PHÂN TÍCH DÃY SỐ THỜI GIAN
Các hiện tượng kinh tế - xã hội luôn luôn biến động qua thời gian Ðểnghiên cứu sự biến động này người ta dùng phương pháp dãy số thời gian Dãy
số thời gian là dãy các trị số của một chỉ tiêu nào đó được sắp xếp theo thứ tựthời gian
Căn cứ vào đặc điểm về mặt thời gian, người ta thường chia dãy số thời gianthành hai loại :
- Dãy số thời kỳ: là dãy số biểu hiện sự thay đổi của hiện tượng qua từngthời kỳ nhất định
- Dãy số thời điểm: là dãy số biểu hiện mặt lượng của hiện tượng vào mộtthời điểm nhất định Dãy số thời điểm còn có thể được chia thành dãy số thờiđiểm có khoảng cách thời gian bằng nhau và dãy số thời điểm có khoảng cáchthời gian không bằng nhau
Phương pháp phân tích một dãy số thời gian dựa trên một giả định căn bảnlà: sự biến động trong tương lai của hiện tượng nói chung sẽ giống với sự biếnđộng của hiện tượng trong quá khứ và hiện tại, xét về mặt đặc điểm và cường độbiến động Nói một cách khác, các yếu tố đã ảnh hưởng đến biến động của hiệntượng trong quá khứ và hiện tại được giả định trong tương lai sẽ tiếp tục tácđộng đến hiện tượng theo xu hướng và cường độ giống hoặc gần giống nhưtrước
Do vậy, mục tiêu chính của phân tích dãy số thời gian là chỉ ra và tách biệtcác yếu tố đã ảnh hưởng đến dãy số Ðiều đó có ý nghĩa trong việc dự đoán cũngnhư nghiên cứu quy luật biến động của hiện tượng Phương pháp phân tích dãy
số thời gian cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà kinh doanh trong việc
dự đoán cũng như xem xét chu kỳ biến động của hiện tượng Nếu biết kết hợpcác phương pháp phân tích thống kê khác cộng với bản lĩnh, kinh nghiệm và sựnhạy bén trong kinh doanh, phương pháp dãy số thời gian sẽ là một công cụ đắclực cho các nhà quản lý trong việc ra quyết định
Trang 5III PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG DÂN SỐ VÀ NGUỒN LAO ĐỘNG
Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
1 Số lượng nguồn lao động
Quy mô dân số của tỉnh trong thời gian qua không có biến động nhiều: năm
2005 là 1.105.830 người, năm 2010 là 1.156.500 người Tốc độ tăng dân số giaiđoạn 2005 – 2010 thấp; bình quân là 0,96%/năm và có xu hướng ổn định
Quy mô dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh chiếm khoảng 65% tổng dânsố: năm 2005 dân số trong độ tuổi lao động là 724.176 người, năm 2010 là809.220 người Tốc độ tăng bình quân hàng năm là 2,37%
Dân số hoạt động kinh tế thường xuyên của tỉnh cũng tăng từ 617.598 ngườinăm 2005 lên 723.439 người, tương ứng bình quân hàng năm tăng thêm khoảng10.465 người
Bảng 1: Lực lượng lao động của tỉnh qua các năm (Đơn vị: Người)
D/s từ 15 tuổi trở lên 853.673 875.692 885.148 910.588 927.659D/s trong tuổi lao động 724.176 741.190 758.200 775.200 792.210D/s hoạt động kinh tế 617.598 638.960 651.600 663.420 674.021
Tỷ lệ tham gia LLLĐ của dân
số trong độ tuổi lao động 82,75 86,20 85,94 85,58 85,08
Qua bảng số liệu thấy rằng phần lớn dân số hoạt động kinh tế của tỉnh TháiNguyên nằm trong độ tuổi lao động (97,03%) Tỷ lệ người trong độ tuổi laođộng tham gia lực lượng lao động giai đoạn 2006 – 2009 dao động trong khoảng
từ 82,75% - 85,07% và có xu hướng tăng lên trong các năm tiếp theo Tốc độtăng bình quân hàng năm là 1,91% - chứng tỏ số người có việc làm ngày một
Trang 6tăng lên nhưng vẫn còn chậm.
Dân số từ 15 tuổi trở lên của tỉnh năm 2005 là 853.673 người và tăng dầnlên 927.659 người năm 2009; với kết cấu dân số trẻ, số lượng người từ 15 tuổităng lên làm dân số trong tuổi lao động cũng tăng lên, năm 2005 là 724.176người đến năm 2009 là 792.210 người, bình quân cả giai đoạn 2005 - 2009 lựclượng lao động của tỉnh tăng 68.034 người
Dân số hoạt động kinh tế có số lượng thấp nhất trong ba chỉ tiêu: năm 2005dân số trong độ tuổi lao động là 724.176 người, dân số tham gia hoạt động kinh
tế là 617.598 người Điều này cho thấy có những người không hoạt động kinh tếnhưng nằm trong độ tuổi lao động, đó là người thất nghiệp, người không có nhucầu lao động, hoặc không muốn tham gia lao động vì nhiều lý do khác nhau Sốliệu về dân số hoạt động kinh tế của tỉnh Thái Nguyên: năm 2005 có 617.598người đến năm 2009 là 674.021 người, bình quân cả giai đoạn lượng người hoạtđộng kinh tế tăng lên 56.423 người Những con số này thể hiện xu hướng diễn ratrên cả nước nói chung và trong tỉnh nói riêng đó là con người tham gia vào hoạtđộng kinh tế ngày một nhiều hơn hay nói cách khác, nhu cầu việc làm ngày càngtăng lên
Nếu tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số trong độ tuổi lao độngchiếm 82,75% năm 2005 thì đến năm 2009 là 85,08% Sự tăng lên này là do sựthay đổi của người lao động trước làm nội trợ hoặc trước không muốn lao động
Xã hội ngày càng phát triển, con người muốn thích ứng với cuộc sống và nângcao vị thế của mình thì cần phải làm việc Với tư duy thay đổi, phụ nữ nói chung
và phụ nữ của tỉnh nói riêng đã tham gia vào lực lượng lao động nhiều hơn Vìvậy, số người cần việc làm trong giai đoạn này tăng lên và đồng thời kinh tế củatỉnh tăng trưởng cũng tạo ra nhiều việc làm hơn so với thời kỳ trước
Bảng 3: Quy mô và tốc độ tăng bình quân hàng năm của dân số trong độ tuổi lao động ở tỉnh Thái Nguyên (Đơn vị: Nghìn người)
Giai đoạn Tổng số người tăng Mức tăng bình quân/ Tốc độ tăng bình
Trang 7thêm (nghìn người) năm (nghìn người) quân hàng năm (%)
độ tuổi lao động của tỉnh sẽ giảm dần, nguồn lao động cũng giảm dần Tuy nhucầu về việc làm không ít đi theo tốc độ tăng dân số, nhưng cũng giảm bớt đượctốc độ tăng của nhu cầu để cung việc làm kịp cân bằng với cầu việc làm, giảmbớt thất nghiệp trong tỉnh
2 Chất lượng nguồn lao động
a Trình độ văn hóa
Là trung tâm của vùng Đông Bắc, Thái Nguyên là một tỉnh đi đầu về giáodục đào tạo, với nhiều trường học, trường đại học, dạy nghề Vì thế, trình độ vănhóa của lực lượng lao động Thái Nguyên cao hơn so với mức chung của các tỉnhthuộc vùng Đông Bắc (năm 2008 có 30,18% LLLĐ của tỉnh Thái Nguyên cótrình độ văn hóa PTTH so với 23,18% của vùng Đông Bắc) Với hệ thống giáodục đào tạo nghề phong phú về số lượng và trình độ Trong giai đoạn 2005 -
2009 hệ thống đào tạo nghề đã đào tạo bình quân hàng năm khoảng trên 23 vạnlao động có trình độ với rất nhiều ngành nghề
Lao động có trình độ tiểu học trở xuống đang giảm dần: từ 4,41% năm 2005giảm xuống còn 1,83% năm 2009, và tỷ lệ lao động có trình độ phổ thông tănglên từ 46,67% lên 47,32% năm 2009 Tuy vậy, trong lực lượng lao động tỷ lệ laođộng nữ có trình độ phổ thông luôn thấp hơn và tỷ lệ nữ thuộc loại chưa tốtnghiệp tiểu học lại luôn cao hơn so với mức chung của lực lượng lao động Xét
về tổng thể, với hơn 70% lực lượng lao động có trình độ văn hóa dưới cấp
Trang 8THPT là một thách thức lớn đối với tỉnh trong việc phát triển nguồn nhân lực đểđáp ứng thời kỳ mới.
Bảng 4: Trình độ văn hóa của lực lượng lao động tỉnh Thái Nguyên (Đơn vị: %)
Không biết chữ và chưa
tốt nghiệp tiểu học 4,41 5,17 3,44 3,36 1,83Tốt nghiệp tiểu học 25,23 30,51 24,63 21,19 22,08Tốt nghiệp THCS 46,67 48,05 45,56 47,29 47,32Tốt nghiệp THPT 23,69 27,56 26,37 26,27 26,88
b.Trình độ chuyên môn kỹ thuật
Bảng 5: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động Thái Nguyên (Đơn vị: %)
Chưa qua đào tạo 75,84 73,98 71,43 70,52 69,58
Đã qua đào tạo nghề và tương đương 11,31 12,41 13,47 13,80 13,98Trung học chuyên nghiệp trở lên 12,84 13,60 15,09 15,67 15,87
Qua các năm, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động đang cónhững thay đổi tích cực, tuy nhiên vẫn có những khác biệt giữa nam và nữ trongtổng lực lượng lao động Chung toàn tỉnh thì tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo đãgiảm từ 75,84% xuống còn 69,58% năm 2009; thấp hơn mức chung của cả nước
là 77,48%
Cơ cấu lao động đã qua đào tạo năm 2005 đạt là 11,31% và tăng lên13,98%; luôn thấp hơn tỷ trọng lao động đào tạo trung học chuyên nghiệp trở
Trang 9lên năm 2005 là 12,8% và năm 2009 là 15,87% Cơ cấu lao động theo trình độchuyên môn kỹ thuật cho thấy một điển hình là lao động trình độ công nhân kỹthuật có bằng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ và hàng năm tăng rất chậm.
Năm 2005 lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp trở lên và lao động
có trình độ công nhân kỹ thuật có tỷ lệ là 1 : 0,88; đến năm 2009 tỷ lệ này là 1:0,88 Tỷ lệ này có nghĩa cứ 1 cử nhân thì có 0,88 lao động có trình độ công nhân
kỹ thuật và không biến động nhiều sau bốn năm, cho thấy tỉnh vẫn đào tạo laođộng cử nhân cao hơn so với công nhân kỹ thuật và không thấy dấu hiệu của sựcân bằng giữa hai tỷ lệ này Đây là một khó khăn cho tỉnh trong thời gian tới
3 Thực trạng việc làm của tỉnh
a Số người lao động làm việc phân theo nhóm ngành kinh tế
Bảng 6: Số liệu về số người lao động làm việc phân theo nhóm ngành kinh
tế giai đoạn 2005 – 2010 (Đơn vị: Người)
Năm Tổng số Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
Biểu đồ: Cơ cấu lao động làm việc phân theo ngành kinh tế của tỉnh Thái
Trang 1067,59 65,78 63,98 62,17
13,54 14,62 15,71
16,79 17,88 18,87 19,6 20,31 21,04 21,75
Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
Bảng 7: Năng suất lao động tính theo giá so sánh theo nhóm ngành kinh tế giai đoạn 2005 – 2009 (Đơn vị: Triệu đồng)
Trang 11đồng/lao động; năm 2009 là 2,7 triệu đồng/lao động, thấp hơn so với lao độngtrong ngành kinh tế cả nước là khoảng hơn 4 triệu đồng/lao động Năng suấtthấp chính là do trình độ của người lao động nông thôn còn thấp so với cácngành khác, lao động không được qua đào tạo Nên việc làm trong ngành có thểnhiều hơn nếu so về số lượng nhưng về sản phẩm tạo ra không có hiệu quả cao,tỉnh cần có nhiều biện pháp hơn để khắc phục tình trạng làm việc mà khôngmang lại hiệu quả kinh tế trong ngành nông nghiệp của tỉnh.
Số lao động và năng suất lao động của ngành dịch vụ là tương xứng nhấttrong ba ngành Với số lượng và tỷ trọng chiếm trong nền kinh tế tạo ra năngsuất lao động khá tương ứng là 9,9 triệu đồng/lao động năm 2005; biến động dầnqua các năm khá ổn định không có thay đổi nhiều là năm 2009 là khoảng 9,9triệu/lao động Có thể nói rằng lao động trong ngành dịch vụ có trình độ cao vàđược làm việc đúng với năng lực của người lao động Năng suất lao động trongngành này cao hơn so với lao động cùng ngành của cả nước nên đây là thuận lợicho tỉnh để tiếp tục phát triển lực lượng lao động trong ngành dịch vụ
Trong giai đoạn năm 2005 - 2009, chuyển dịch cơ cấu lao động ở TháiNguyên diễn ra theo hướng tích cực, tỷ lệ lao động làm việc trong ngành nôngnghiệp liên tục giảm dần qua các năm Tuy nhiên mức độ chuyển dịch laođộng trong ngành nông nghiệp còn chậm, bình quân hàng năm số lao độngnông nghiệp chỉ giảm 1991 người (0,47%) Số lao động trong ngành côngnghiệp và dịch vụ sẽ tăng dần qua các năm sau, trong ngành công nghiệp sẽtăng nhanh hơn so với ngành dịch vụ
b.Số người lao động làm việc phân theo loại hình kinh tế
Theo một tiêu chí khác thì việc làm được chia thành các loại việc làm khácnhau Với loại hình kinh tế thì chia thành số người lao động làm việc trong khuvực Nhà nước, khu vực ngoài Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Bảng 8: Số lượng và cơ cấu người lao động làm việc theo loại hình kinh tế giai đoạn 2005 – 2010 (Đơn vị: Người)
Trang 12độ hưởng lương rất rõ ràng theo đúng pháp luật của Nhà nước Việt nam Nhưnghiện nay khu vực này không thu hút được các lao động vào làm nhiều do mứclàm công ăn lương quá thấp so với các khu vực khác, nên có sự so sánh về chiphí trả cho người lao động ở khu vực Nhà nước với khu vực ngoài Nhà nước Tỷtrọng lao động trong Nhà nước năm 2005 là 11,27%; năm 2006 là 11,11%; năm
2007 là 12,85%; năm 2008 là 9,97%; năm 2009 là 10,28% Số việc làm trongkhu vực này không có nhiều biến động, các năm hầu như vẫn giữ nguyên, nếunhư có sự chênh nhau thì do người lao động qua tuổi lao động về hưu và thayvào đó là các thế hệ trẻ vào học việc
Số việc làm mới hàng năm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, được tạo ra chủ yếu
ở khu vực ngoài Nhà nước Trong khu vực này, lao động làm việc chủ yếu ở cácdoanh nghiệp tư nhân: năm 2005 là 488.930 người (88,68%), năm 2009 là545.324 người (89,61%) Số lao động cũng như số việc làm trong ngành thườngxuyên biến động, tăng lên theo quy mô nền kinh tế và giảm cũng theo quy mônền kinh tế
Trang 13Lao động làm việc trong khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là thấpnhất : năm 2005 chiếm 0,05% và năm 2009 chiếm 0,11%; tăng lên không nhiều
vì lao động trong khu vực này trình độ phân công lao động rất rõ ràng Con sốnày của tỉnh Thái Nguyên còn thấp chứng tỏ trình độ tay nghề của lao động,năng lực làm việc của người lao động chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhàtuyển dụng nước ngoài đòi hỏi những lao động lành nghề và có trình độ chuyênmôn cao
Xu thế là các lao động trong khu vực Nhà nước vẫn giữ nguyên ít biến đổi,nhưng ngược lại với khu vực Nhà nước, lao động ngày càng có xu hướng vào khuvực ngoài Nhà nước làm việc, đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuhút được nhiều lao động của tỉnh hơn Lao động trong tỉnh sẽ tự nâng cao trình độtay nghề của mình để đáp ứng được các yêu cầu của nhà tuyển dụng
c Số người lao động làm việc phân theo vị thế công việc
Bảng 9: Số lượng và cơ cấu người lao động theo vị thế công việc tỉnh giai đoạn 2005 - 2010 (Đơn vị: Người, %)
Làm công ăn lương
79.921 88.327 108.040 95.532 102.41614,49 15,73 18,83 16,56 16,83Làm công không ăn lương
471.545 473.287 465.744 481.486 506.13185,51 84,27 81,17 83,44 83,17
Phần lớn lực lượng lao động Thái Nguyên làm việc trong khu vực làm côngkhông ăn lương (tự lao động, lao động gia đình ) Lực lượng lao động làmviệc trong khu vực làm công ăn lương chiếm tỷ lệ thấp hơn rất nhiều so với khuvực kia Tuy tỷ trọng của khu vực làm công không ăn lương giảm dần qua cácnăm nhưng lại tăng lên về số lượng tuyệt đối: năm 2005 là 471.545 người laođộng và tăng lên 506.131 năm 2009
Thực trạng việc làm của lao động đang có những thay đổi tích cực, đang đitheo đúng xu hướng chung của cả nước: lao động trong khu vực nông nghiệp
Trang 14giảm dần và chuyển dần sang khu vực công nghiệp Cả về số lượng và chấtlượng của lao động cũng tăng lên theo hướng trình độ tay nghề được nâng cao,
số lao động qua đào tạo tăng lên, đem lại kết quả là tỷ lệ thất nghiệp thành thị có
xu hướng giảm liên tục và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn tăng lên.Tuy nhiên một trong những vấn đề đặt ra cho tỉnh trong thời gian tới là hiệu quảviệc làm chưa được cải thiện nhiều, số việc làm mới hàng năm được tạo ra trongkhu vực phi nông nghiệp chưa tương xứng với số người hàng năm bước vào tuổilao động nên dẫn đến tới việc lao động vẫn tiếp tục bị dồn nén trong khu vựcnông nghiệp Thị trường lao động chưa phát triển, tỷ trong lao động làm công ănlương thay đổi chậm, tỷ trọng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ trungcấp trở lên trong tổng số người thất nghiệp đang có xu hướng gia tăng
4 Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm
Bảng 10: Một số chỉ tiêu về tỷ lệ thất nghiệp của Thái Nguyên giai đoạn
2005 - 2009 (Đơn vị: %)
Tỷ lệ thất nghiệp đô thị (%) 5,57 5,10 4,32 4,02 3,62Tổng số người thất nghiệp
Tỷ trọng thất nghiệp theo trình độ CMKT (%)Chưa qua đào tạo 25,67 25,32 21,24 18,02 17,36
Đã qua đào tạo nghề và
tương đương 25,65 18,26 13,98 21,63 20,23Trung học chuyên nghiệp
Trang 15Đông Bắc là 6,5%) Trong vùng Đông Bắc thì tỉnh Thái Nguyên là tỉnh có tốc
độ phát triển kinh tế khá cao, ổn định, môi trường và cuộc sống của người dâncủa tỉnh cũng được cải thiện hơn so với các tỉnh khác trong vùng nên tỷ lệ thấtnghiệp của tỉnh ở mức thấp Đồng thời tỷ lệ sử dụng lao động nông thôn tăng lênliên tục từ 79,81% năm 2005 lên 82,07% năm 2009 Mức thời gian ở nông thôntăng lên rất rõ ràng, lao động ở khu vực này đã tạo được nhiều việc làm hơn,người dân tự tạo công ăn việc làm cho chính mình và những lao động khác.Nhưng nếu so tỷ lệ thời gian lao động sử dụng ở nông thôn tăng lên với tỷ lệsinh hay tỷ lệ số người dân bước vào tuổi lao động ở khu vực này thì giải quyếtviệc làm vẫn là vấn đề cần quan tâm
Chất lượng của đội ngũ lao động thất nghiệp cũng thay đổi khác so với cácthời kỳ trước Giống thời kỳ trước, những người thất nghiệp tập trung vào nhómlao động trẻ có độ tuổi từ 15 – 24 tuổi Theo số liệu điều tra “Lao động – Việclàm” giai đoạn 2005 - 2009, tỷ trọng những người thất nghiệp của nhóm nàytrong tổng số người thất nghiệp tăng từ 36,37% năm 2005 lên 47,22% năm
2009 Khác so với trước là trong tổng số người lao động thất nghiệp, tỷ trọng laođộng có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ trung học chuyên nghiệp trở lên lại có
xu hướng gia tăng trong giai đoạn 2005 - 2009, tỷ trọng thất nghiệp của lao động
đã qua đạo tạo nghề và tương đương lại giảm xuống: năm 2005 là 25,65% đếnnăm 2009 còn 20,23% Những con số này của tỉnh Thái Nguyên, của cả nước vànhiều tỉnh khác cho thấy: Đối với một nước đang phát triển để tận dụng đượccác lợi thế phát triển trong thời gian tới thì cần phải đào tạo đội ngũ lao động sátvới yêu cầu thực tế, đào tạo trực tiếp các ngành nghề đang cần lao động, tránhtình trạng thừa thầy thiếu thợ
5.Nguyên nhân dẫn đến thiếu việc làm và thất nghiệp
a Do thiếu đất canh tác
Nền kinh tế tỉnh Thái Nguyên còn dựa chủ yếu vào ngành nông nghiệp nênđất đai là yếu tố đầu vào quan trọng nhất Thiếu yếu tố đầu vào, thiếu đất canhtác đồng nghĩa người lao động thiếu tư liệu sản xuất để có thể tự tạo việc làm.Dân số trong khu vực nông thôn chiếm đa số nhưng diện tích đất canh tác