Dưới sự s áng tỏ của những phát hiện này,một câu hỏi được đặt ra là liệu có là nhữ ng công cụ khác ngoài chính sách tài khóa có thể được áp dụng cho các thao túng bầu cử trước cử tri mà
Trang 1ĐẠI HỌ C KINH TẾ TP.HCM M KHOA TÀI CH ÍNH DOANH N GHIỆP
Nguyễn Hữu Nhân Nhân
Lê Đặng Huỳnh Như ư Nguyễn Quang Sơn
Nguyễn Hoàng Nhật Tân Tân Nguyễ n Thị Thùy
L ớp : Cao Học Ngày 2
TP.HCM, 09/2012
Trang 2Tóm tắt
Chúng tôi xem xét mối quan hệ giữa bầu cử và các dạng điều hành k hácnhau của 30 nền kinh tế OECD từ năm 1993 đến 2007 Chúng tôi tập trung vào cácchỉ tiêu điều hành bao gồm các ngành công nghiệp năng lượng, giao thông vận tải
và thông tin liên lạc mà có nhiều sự đóng góp của khu vực công Chúng tôi chỉ rabằng chứng cho thấy rằng bầu cử có tác động tích cực đến nhữ ng hoạt động điềuhành tổng thể của các lĩnh vực trên K ết quả này được giải thích như là chiến lượcthao túng trước bầu cử trên danh nghĩa của các nhà cầm quyền Lợi ích kinh tế đượcduy trì thông qua các t ác động tích cực đóng vai trò như các công cụ chính sách thaythế cho việc chuyển giao tài khóa t rư ớc khi bầu cử Những phát hiện trên là tồn t ại
và bền vững ngay cả ở các quốc gia có thể chế dân chủ lâu đời nơi mà chu kỳ ngânsách chính trị ít có khả năng xảy ra
1 Giới thiệu:
N hững biến động theo chu kỳ trong chính sách tài khóa của chính phủ gây
ra bởi các sắc l ệnh hiến pháp trong các cuộc bầu cử định kỳ xảy ra đư ợc mô tảthông qua thuật ngữ chu kỳ kinh tế chính trị Sự xuất hiện của những chu kì này là
do hành vi cơ hội của những người đương nhiệm trước khi bầu cử Các chính trị giatrong chính phủ thông qua việc thao túng có chiến lược t rong các công cụ chính sách
và đặc biệt là mở rộng tài chính nhằm nỗ lực t ạo ra các lợi thế kinh tế cho các cửtri N ghiên cứu thực nghiệm gần đây đã xác định thao túng có chiến lược các chínhsách tài khóa trư ớc khi bầu cử, thay mặt Chính phủ, trong các nền dân chủ m ớithành lập (Brender và Drazen,2008) Một số các đặc điểm thể chế khác, như thamnhũng và không minh bạch đã được kiểm định thực nghiệm và tìm thấy ý nghĩa thống
kê trong việc giải thích chu kỳ ngân sách chính trị và cũng có thể đúng cho nhữngquốc gia có cơ chế chính trị còn non trẻ Dưới sự s áng tỏ của những phát hiện này,một câu hỏi được đặt ra là liệu có là nhữ ng công cụ khác ngoài chính sách tài khóa
có thể được áp dụng cho các thao túng bầu cử trước cử tri mà không có rối loạnquá mức trong cân đối ngân sách của chính phủ và nó có tồn t ại trong nền dân chủ
cũ hay không Chúng tôi cho rằng quy định kinh tế và các lợi ích kinh tế theo sauđược tạo ra thông qua sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế có thể là mộtcông cụ Alesina et al (2008) cung cấp bằng chứng yếu cho 21 quốc gia mà các cuộccải cách xảy ra vào lúc bắt đầu của một nhiệm kỳ mới, kết quả là nó bị giới hạn trongcác lĩnh vực nhất định của nền kinh tế và không liên hệ được với chu kỳ ngân sáchchính tr ị Họ gán các phát hiện của họ với hiệu ứng tuần trăng mật trong cải cáchnhững năm qua đã gặp sự phản đối mạnh mẽ Trong bài báo này, chúng tôi cungcấp bằng chứng m ạnh mẽ cho 30 nền kinh tế OECD trong đó xu hướng tổng thểtiến tới bãi bỏ quy định làm kiềm hãm các hoạt động kinh tế trong những năm bầu
cử và đó là sự lựa chọn mang t ính chiến thuật của nhữ ng nhà cầm quyền Hơn nữachúng tôi kiểm định điều này có phải là do cơ chế chính trị còn non trẻ và t ác độngcủa nền dân chủ như m ô tả của Brender & Drazen (2008) hay không
Trang 3K ết quả của chúng tôi cho thấy sự kìm hãm các hoạt động kinh tế cũng có mặttrong nền dân chủ đã đư ợc thành lập lâu đời một kết quả kiểm định giả thuyếtnhững quy định của chính phủ đư ợc xem như là m ột công cụ thay thế cho nhữngthao túng trước bầu cử.
Drazen & Eslava (2006) và K atsimi & Sarantides (2010) xem xét các hìnhthức vận động bầu cử thông qua thao túng t ài khóa mà không ảnh hư ởng đến thâmhụt tổng thể của quốc gia nhưng chủ yếu nhắm vào các thành phần chi tiêu củachính phủ Các chính trị gia có thể không làm như vậy để tránh sự trừng phạt trongbầu cử của n hững cử tri N hư Drazen và Eslava (2006) cho rằng "chi tiêu ngân sách cho thịt lợn trong 'năm bầu cử như vậy có nghĩa là chính sách, pháp luật nhắmmục t iêu vào các nhóm cử tri cụ thể để đạt đư ợc sự ủng hộ chính trị của họ và đượcxem như là một thành phần đặc biệt quan tr ọng của việc thao túng trong bầu cử
"(p.1) Họ phát triển một mô hình tập trung vào các thao túng bầu cử thông qua cáckhoản chi t iêu mục tiêu của chính phủ mặc dù họ đã xác định từ trước trư ờng hợpcác hành động pháp lý đặc biệt thiên về ủng hộ cho một số nhóm lợi ích Quy địnhđối với các hoạt động kinh tế là một ví dụ của m ột hành động pháp lý đặc biệt màchính phủ nhắm mục tiêu vào một nhóm cử tri nào đó với chi phí của người khác.Quy định như một quá trình tạo ra lợi ích cho một số ít với toàn bộ chi phí của toàn
xã hội và không chỉ bằng ngân sách của chính phủ Blanchard & Giavazz i (2003)cho ví dụ liên quan đến lợi ích được tạo ra bởi quy định s ản xuất m à cả hai bên lànhà cầm quyền và liên đoàn lao động đều thích bởi vì liên đoàn lao động là m ột trởngại trong quá trình bãi bỏ quy định
H ơn nữ a, như Hillamn & Riley (1985) lập luận "chính sách của chính phủ
có thể tạo ra lợi ích và được bảo đảm, ví dụ các yếu tố đặc biệt trong ngành côngnghiệp được hưởng lợi từ sự bảo hộ của chính phủ, hoặc nhữ ng nhà sản xuất đòithặng dư sản xuất là những ngư ời được hư ởng lợi từ chính sách bảo hộ và điềuchỉnh "(p.17) Mô hình giới thiệu khái niệm định giá phần thưởng bất đối xứ ng(trong khái niệm tranh dành lợi ích chính trị) của các đại lý cạnh tranh Một giá trịlớn hơn cho phần thưởng chính trị bởi hành động của ngư ời tham gia nào đó đư
ợc xem như một rào cản gia nhập cho những người tranh cử này chỉ nhận một giátrị thấp hơn cho nó Vì vậy, theo các tác giả các nhà cầm quyền có lợi thế rõ rệt hơncác ứng cử viên tiềm năng của họ M ột kết luận nổi bật quan trọng là " bảo vệ chuy
ển giao thu nhập từ nhóm này sang nhóm khác, và ngư ời thua cuộc từ một chínhsách bảo hộ phải chịu một mất mát ngay cả khi họ đã không hoạt động tích cự ctrong việc chống lại vận động hành lang của những người hưởng lợi từ việc bảohộ"(p.188) N guyên do như vậy mà chu kì điều
chỉnh1 trong bối cảnh mô hình Drazen & Eslava (2006) không có thâm hụt tổng thể
Trang 5làm gia tăng vận động bầu cử Trong bài báo này chúng tôi kiểm định sự tồn t ại củacác hành vi thao túng trước bầu cử trong 30 nền kinh tế OECD cho giai đoạn 1991-
2007 bằng cách sử dụng một phương pháp tiếp cận dữ liệu bảng biến động Chúngtôi kiểm tra giả thuyết rằng quá trình bãi bỏ quy định làm kiềm hãm các hoạt độngkinh tế
2 C ác n ghiên cứu trướ c đây
Bài nghiên cứ u này t ập trung vào thuật ngữ chu kỳ ngân sách chính trịbắt nguồn từ các tài liệu về chu kì kinh t ế chính trị xuất hiện vào giữa những nămbảy mươi Các giả định trước đây của những tài liệu này là tác động của khái niệm
bỏ phiếu kinh tế Đó là biến kinh tế đóng vai trò quan trọng trong quá trình ra quyếtđịnh của cử tri trước cuộc bầu cử M ột số nghiên cứu thực n ghiệm đã xác địnhrằng điều kiện trước bầu cử này đã có ảnh hưởng lớn đến cuộc bầu cử trong mộtloạt các quốc gia Kramer (1971) tập trung vào cuộc bầu cử quốc hội từ 1896 đến
1964 cho thấy rằng tổng số phiếu bầu cử cho đảng cầm quyền bị ảnh hư ởng tiêucực bởi tỷ lệ lạm phát như ng ảnh hư ởng tích cực bởi tốc độ t ăng trưởng thu nhậpthực tế bình quân đầu người St igler (1973) đặt vấn đề tính bền vững của những kếtquả này cho cuộc bầu cử quốc hội một lập luận đư ợc giải thích bởi Crain, D eat on
và T ollison (1978) như là m ột dấu hiệu cho th ấy rằng các cử tri không chịu tráchnhiệm trước đại biểu quốc hội về hiệu suất kinh tế vĩ m ô Fair (1978) (được cậpnhật trong Fair 1982, năm 1988) lập
luận rằng nếu một liên kết nhân quả giữa hiệu suất kinh t ế và đảng cầm quyền đư
hiện ra rằng những thay đổi trong GNP thực bình quân đầu người hoặc tỷ lệ thấtnghiệp đã t ác
động đến bầu cử tổng thống Một số nghiên cứu khác đã mở rộng phân tích nàycho các quốc gia khác và đã chứ ng minh thự c nghiệm rằng bầu cử theo lợi íchkinh tế không chỉ xuất hiện trong cuộc bầu cử Mỹ M adsen (1980) tìm thấy kếtquả tương tự cho các nước Bắc Âu (Na Uy, Th ụy Điển và Đan Mạch), Lewis-Beck(1988) cho Anh, Pháp, Tây Đức, Ý và T ây Ban Nha
yếu (chỉ có 2 trong số 6 ngành theo nghiên cứu cho kết quả có ý nghĩa thống kê ở
kì mới Ô ng cho rằng kết quả này là do sự lo sợ rủi ro mất mát trong bầu cử vì kếtquả của tự do hóa hoặc cải cách t ài chính bảo thủ
rằng "kinh tế vĩ mô điều kiện chỉ ảnh hưởng đến công dân bỏ phiếu như thế nàokhi các công dân khá có thể giữ một người hoặc một bên chịu trách nhiệm về nhữngđiều kiện "(p.437)
Trang 6Chúng t a phải thừ a nhận rằng hoạt động kinh tế có ý nghĩa quan trọng trongcuộc bầu cử đã cung cấp khuyến khích các chính trị gia sử dụng các chiến thuật
để thao túng nền kinh tế trư ớc khi bầu cử Việc thao túng như vậy có mục t iêuchính là cải thiện phúc lợi của người dân và được xem như là một sản phẩm phụlàm t ăng cường khả năng t ái tranh cử M ô hình đầu tiên về chính trị cơ hội là củaNordhaus (1975) và Lindbeck (1976) Trong mô hình Nordhaus, cũng như những
mô hình gần đây về chu kì kinh tế chính trị cơ hội, các công cụ chính s ách đư ợc ápdụng là chính sách tiền tệ và các điều kiện kinh t ế có lợi cho cử tri đư ợc bắtnguồn thông qua khai thác đường cong P hillips ngắn hạn Đó là với những kỳvọng về lạm phát quá khứ những nhà cầm quyền cơ hội có động cơ kích thích nềnkinh tế giả tạo bằng cách gây ra một sự bùng nổ kinh tế trong giai đoạn trước bầucử
Các mô hình cơ hội của chu kỳ kinh tế chính trị thì dựa vào chính sách tiền
tệ đã đư ợc kiểm định thực nghiệm rộng rãi Các nghiên cứu thực nghiệm đã kiểmtra cả hai công cụ chính sách và kết quả kinh tế với kết quả không đủ mạnh để hỗtrợ cho mô hình này M ột loạt các nghiên cứu thự c nghiệm kiểm tra sự tồn tại của P
BC trong hoạt động kinh t ế thong qua đo lường GNP và biến động thất nghiệp ở Mỹ
và các quốc gia khác trước khi tới cuộc bầu cử Alesina, Roubini và Cohen (1997)cung cấp m ột bản tóm tắt các kết quả về sự thao túng t ình trạng thất nghiệp và tăngtrưởng kinh tế và kết luận rằng nghiên cứu thự c nghiệm cho thấy thiếu bằng chứng thực nghiệm để ùng hộ cho lý thuyết vì thế không có bằng chứng cho sự gia tăngcác hoạt động kinh tế trước bầu cử Lewis-Beck (1988) và P aldam (1979) mở rộngphân tích ra bên ngoài nước M ỹ một lần nữa không có kết quả có ý nghĩa để xácminh sự gia tăng trong hoạt động kinh tế Lạm phát s au bầu cử mà các mô hình dựđoán đã mở rộng mặc dù thiếu tính phổ biến đem lại tính bền vững cho lý thuyết.Ales ina et al (1997) tìm thấy dấu hiệu của lạm phát cao hơn sau bầu cử ở cácnước OECD và cho rằng lạm phát sau bầu cử ở M ỹ là một hiện tượng có thể đư ợcnhận thấy trong cuộc bầu cử trước năm 1979 Bằng chứng về các công cụ chínhsách tiền tệ phù hợp với những phát hiện về lạm phát sau bầu cử Một số nghiêncứu đã điều tra cung t iền bằng cách đo lường thay đổi về khối lượng M 1 M ộtlần nữa Alesina et al (1992) tìm thấy bằng chứng như vậy cho 18 nền kinh tếOECD, Berger và Woitek (1997) cho Đức, và Allen (1986) cho Mỹ Grier (1989) vàBeck (1987) đã đư a ra phản chứng lên sự gia t ăng cung tiền M 1 và tranh luậnrằng việc lựa chọn trong khoảng thời gian khảo s át thì quan trọng đối với mức ýnghĩa thống kê của kết quả Ông kết luận rằng việc thao t úng như vậy được thể hiệntrong dữ liệu cho khoảng thời gian từ năm 1960 và 1980 Frans ese (2006) đã quykết cho việc thiếu các bằng chứng thực nghiệm để hỗ trợ các ý tưởng của P BC trongkết quả thực được xem như là một bằng chứng cho thấy các nhà chính trị ưu tiên chochính sách mục tiêu và đúng thời điểm (của những nhà ầm quyền đối với cử tri)chính sách có thể thao túng đư ợc (của những nhà cầm quyền), rõ ràng (cho cử tri)
và có thể quy kết (bởi cử tri đối với người đư ơng nhiệm) (p.549)
Trang 7Các thiếu sót về thực n ghiệm trong nghiên cứu về các thao túng hoạt độngtiền tệ để tăng cường khả năng t ái tranh cử kết hợp với việc xác định rằng cácchính trị gia ưu ái cho các chính sách nhắm mục tiêu và rõ ràng được kết hợp vớiviệc thao t úng chính sách tài khóa tạo ra chu kỳ kinh tế theo sự biến động chính trị.Tuft e (1978) xác định một số rắc rối của các thao tác mang tính cơ hội trong cácchính sách tài khóa trước bầu cử T heo Tuft e những chính sách này bao gồm chuy
ển giao t ài khóa trong thanh toán an sinh xã hội, phúc lợi cựu chiến binh, thuêmướn hay s a thải công, t ăng chi tiêu, trì hoãn cắt giảm Tr ái ngư ợc với các môhình trư ớc của chu kỳ kinh doanh chính trị mang tính cơ hội, nay đường congPhillips trở nên không thích hợp khi lợi ích kinh t ế của những cử tri cũng đư ợc đượccải thiện thông qua chuyển giao t ài chính trực tiếp và nhắm mục tiêu đến anh ta.Thuật ngữ chu kỳ ngân sách chính trị được dùng để mô tả biến động m angtính chu kỳ trong các chính sách tài khóa và được xem như là mộtphần của chu kỳ bầu cử
Rogoff và Sibert (1988) mở rộng mô hình chu kỳ kinh tế chính trị mang tính
cơ hội ban đầu cho các cử tri lý trí Các mô hình lựa chọn đối nghịch, họ thể hiện dự atrên giả định rằng mỗi ứng cử viên đều biết mức năng lự c của anh t a (t hấp hoặccao) Thông t in này là bất đối xứng vì những cử tri không biết được điều này và kỳvọng hợp lý đối với ứng cử viên đư ợc đánh giá dựa trên quan s át kết quả chínhsách tài khóa Trước bầu cử úng viên có năng lực cao thư ờng phát ra tín hiệu về khảnăng của họ bằng cách tham gia vào mở rộng chính sách tài khóa Cử tri nhận ramức độ năng lực cao, vì thông qua những chính sách như vậy thì tốn kém nhiều chiphí hơn những ứng cử viên có năng lực thấp, và phần thư ởng dành cho họ là bằngcách bỏ phiếu ủng hộ Rogoff (1990) lập luận rằng năng lực ra tín hiệu cũng có thểđạt được bằng cách thao túng các thành phần chi tiêu chính phủ Đó là bằng cách thay đổi chi tiêu chính phủ hướng tới thiết lập các chính sách đáng chú ý Chuyểngiao trực t iếp và chi tiêu tiêu dùng thường có kết quả ngay lập tức nên nó trở thànhcác chính sách được yêu thích của các chính trị gia có năng lực, hơn là đầu tư vànhững chính sách khó quan sát và cần nhiều thời gian để phát huy tác dụng M ặc dù
có thể xảy ra lạm phát sau bầu cử, xuất phát từ việc mở rộng t ài khóa, cử tri có lýtrí sẽ phản ứng với nhữ ng thao túng như vậy, vì vẫn còn tốt hơn là bầu cho ngư ời
có năng lực về quản lý nền kinh tế
M ặc dù các yếu tố mới mà các mô hình nói trên đã kết hợp vào, đó là tính lýtrí của cử tri và hành vi mang tính chiến lược của các chính tr ị gia và toàn bộ cử tri,hạn chế nhất định về mặt lý thuyết được xác định Cả Shi & Svensonn (2003) vàDraze (2000) đều phân biệt điểm nổi bật nhất của những m ô hình dự đoán của mộtnền kinh tế bị bóp méo bởi các chính trị gia tài năn g Hơn nữ a, chỉ có anh ấy sẽđược bầu lại N hưn g bên cạnh nhữ ng câu hỏi lý thuyết, một hạn chế nghiêm trọng
về nghiên cứu thực nghiệm được t hự c hiện là bổ s ung thông tin của các nhà chínhtrị cũng cần t hiết đưa vào để kiểm tra t ính dự báo của các mô hình
Trang 8N hững hạn chế này đã đư ợc giải quy ết thông qua một loạt các mô hình dự atrên lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đứ c P ers son & Tabellini (2000) và Shi &Svensson (2002) giới thiệu các mô hình như vậy để phân biệt các mô hình này với
từ các mô hình lựa chọn đối nghịch trước đó với hai vấn đề lớn Thứ nhất mặc dùmỗi chính trị gia đều có năng lực r iêng, người ta cho rằng năng lực này khôngquan s át được kể cả toàn bộ cử tri và các chính trị gia đương thời Thứ hai là các môhình mới đưa ra phạm vi cho các hành động chính sách tài chính ẩn m à cử tri khôngthể quan sát được ngay lập tức Vì vậy, các nhà cầm quyền có thể thay thế nhữ ng ngư
ời thiếu năng lực bằng cách các công cụ t hao túng chính sách nhằm phát tín hiệu choanh ta Ví dụ vay mượn trước bầu cử và tăng chuyển giao tài khóa và cung cấphàng hóa công như một công cụ làm tăng thu nhập trong hoạt động kinh t ế Cuộcbầu cử diễn ra sau khi kết hợp các nỗ lực chìm của người đương nhiệm và cuộcsống trở nên sung túc hơn là kết quả của chính s ách tài khóa Trong trạng thái cânbằng và m ặc dù thực tế cử tri biết ý định của những nhà cầm quyền và động cơ chocác thao túng, vay mượn quá mức có thể được thể hiện như là sự gia t ăng thâm hụtngân sách trong thời gian trước khi bầu cử Sự khác biệt đáng chú ý liên quan đếnnghiên cứu thực nghiệm đó là sự tiên đoán của mô hình cho rằng sự thao túng tàikhóa và sử dụng các công cụ chính sách liên quan không bị giới hạn bởi các ứng
cử viên có thẩm quyền cấp độ cao nhưn g có thể được sử dụng bởi t ất cả các loạicủa các chính trị gia
Các kết quả thự c nghiệm ủng hộ chu kỳ kinh t ế chính trị không được tin cậyvới các kết quả ít có ý nghĩa thông kê và nói chung là thao túng t iền tệ tác động đếnkinh tế thực thì không có mặt trong dữ liệu dưới sự kiểm định của mô hình Mặtkhác, nghiên cứu thực nghiệm về chu kỳ ngân sách chính trị đã hiểu rõ trong nhiềunăm qua, với sự trợ giúp đỡ đắc lực của các kỹ thuật kinh tế lư ợng tiên tiến đã đưa racác kết quả bền vững và có ý nghĩa thống kê cho thấy sự hiện diện của các thaotúng tài khóa trước bầu cử dưới hình thức tăng thâm h ụt ngân sách
Tufte (1978) đưa ra bằng chứng đầu tiên về sự thao túng chính sách tàikhóa trong bối cảnh chuyển giao trực tiếp Fr ey & Schneider (1978a 1978b) đưa ramột số bằng chứng kinh tế lượng đầu tiên về sự gia t ăng chi tiêu chính phủ trướckhi bầu cử cho cả Hoa Kỳ và Vương quốc A nh Đối với Keech & Pak (1989) tìmthấy chu kỳ bầu cử trong các khoản chuyển giao cựu chiến binh nhưng chỉ trong m ộtkhoảng thời gian giữa năm 1961 và năm 1978 và Alesina (1988) thông qua hồi quyOLS kết luận rằng có sự tồn t ại của chu kỳ bầu cử trong khoản chuy ển giao ròngtương đối so với GNP cho giai đoạn 1961 đến 1985 Bằng chứng về sự thao túng nhưvậy cũng là kết quả của nhiều nghiên cứu ở m ột số quốc gia riêng rẽ Krueger & Turan (1993) tìm thấy bằng chứng về các thao túng tài khóa trước bầu cử cho ThổNhĩ Kỳ trong những năm từ 1950 đến 1980, Gonzalez (2002) nhận thấy kết quảtương tự về chu kỳ trong chi tiêu chính phủ của Mexico cho giai đoạn 1958-1997
Trang 9M ột lần nữa các nghiên cứu về chu kỳ ngân sách chính trị ở cấp độ đa quốcgia có kết quả ủng hộ chiến lư ợc mở rộng t ài chính trước bầu cử thay mặt chongư ời đương nhiệm Ames (1987) đưa ra bằng chứ ng ủng hộ về sự gia tăng chitiêu chính phủ ở 17 quốc gia Americal Lat in Block (2002) đã khẳng định chính sách
mở rộng tài
kết
quả tương tự về chu kỳ tài khóa cho 35 nư ớc đang phát triển Ông nhấn mạnh rằng
cơ chế yếu kém và ít có sự kiểm tra và cân bằng cho thao túng tài chính ở quốc giađang phát triển Sự khác biệt về độ lớn của chu kỳ tài khóa cũng như sự khác biệtlớn ở các quốc gia hoặc nhóm các quốc gia trong các nghiên cứu đã tạo ra các kết quảkhác nhau đã chuyển sự chú ý đến việc từ nếu chu kỳ ngân sách chính trị tồn tại thìchu kỳ này xảy ra ở đâu và lý do tại sao có sự khác biệt giữa các nước
Trong bối cảnh này, Shi & Svesson (2002, 2006) tìm thấy bằng chứng về chu
kỳ ngân sách chính trị ở cả các nước phát triển và kém phát triển với độ lớn củahiện tượng này lớn hơn nhiều so với trước đây Họ cũng chứ ng minh được sự khácbiệt có thể là do sự khác biệt về cơ chế PBCs có liên quan tích cực với lợi ích kinh
tế của các chinh trị gia trong quốc hội và tương quan nghịch với thị phần của cửtri Gonzales (2002) trong nghiên cứu ở 43 quốc gia trong giai đoạn này 1950-97kết luận rằng có một mối tương quan dương giữa mức độ chu kỳ kinh doanh chínhtrị dân chủ và minh bạch là mạnh nhất trong các quốc gia có mức độ dân chủ vừaphải Cùng với nghiên cứu A lt & Lassen (2006) cho thấy rằng thao túng t ài chínhtồn tại giữa các nền dân chủ tiến bộ trong cơ chế minh bạch ngân sách cũng như sưphân cực của các đảng phái chính trị Akhm edov & Zhuravsaya (2004) đư a ra kếtluận tương tự về tính minh bạch trong một bối cảnh của một nền dân chủ "trẻ" với sựchuyển dịch lớn trong chi tiêu trước bầu cử tương ứng với các khu vự c Nga với tínhminh bạch thấp hơn
Perss on & Tabellini (2003) trong một phân tích kết hợp 60 nền dân chủ từ
1960 đến 1998 nghiên cứu làm thế nào chu kỳ ngân sách chính trị bị ảnh hưởng bởicác hình thức chính phủ, tổng thống hoặc quốc hội, và các quy tắc bầu cử , sốđông hoặc tỷ lệ thuận Họ cho rằng chính sách tài chính bị ảnh hưởng nặng nề bởichính bản chất của hệ thống chính quyền như đặc trưn g bởi sự khác biệt
cơ bản nói trên Kết quả của họ chứng minh rằng cắt giảm thuế trư ớc bầu cử làmột hiện tượng phổ biến trong khi các điều chỉnh tài khóa sau bầu cử có thể được tìmthấy ở các nước có chế độ tổngt hống N goài ra họ thấy rằng quy tắc bầu cử t heo tỷ
lệ tư ơng quan với sự gia tăng chi phí trong chi tiêu phúc lợi trong thời giantrước bầu cử và sau bầu cử Quy tắc bầu cử theo số đông thì tư ơng quan với cắtgiảm chi tiêu trước bầu cử
Trang 104 Ông ta cũng tìm thấy bằng chứng thiên về thao túng chính sách tiền tệ
Trang 11Brender & D raz en (2005) trong một bài báo có ảnh hưởng cũng xác nhận sựtồn tại của chu kỳ ngân sách chính trị, như ng họ kết luận rằng kết quả này là do tácđộng của nền dân chủ m ới Đó là bao gồm trong mẫu các nước có nền dân chủmới có ý nghĩa thống kê đối với chu kỳ ngân sách chính trị M ột khi các quốc gianày được loại bỏ khỏi mẫu kết quả xuất hiện là không có ý nghĩa thống kê Trải quanền dân chủ m ới là điều không thể tránh khỏi cho cả hai nền kinh tế phát triển vàkém phát triển hơn và phản ánh mức độ kinh nghiệm của cử tri đối với cơ chế dânchủ Cử tri nhiều kinh nghiệm hơn ít có khả năng tưởng thư ởng và các thao túngtài khóa trước bầu cử là "điều ngạc nhiên" trong năm bầu cử đư ợc xử lý một cáchtinh vi hơn Mặt khác cử tri thiếu kinh nghiệm ở các nền dân chủ m ới cũng nhiềukhả năng có ít dữ liệu có sẵn để rút ra những kết luận chính xác về chính sách có thểquan sát có thể sai lầm với những thao túng trư ớc bầu cử Brender & Drazen (2005)cẩn thận thừa nh ận thự c tế là các sự kiện trư ớc các t hao túng tài khóa đã có mặttrong các nền dân chủ trư ởng thành chưa xảy ra ở các nền dân chủ mới thành lập
đã lấy đi của cử tri kinh nghiệm hữu ích và quan trọng cần thiết để xác định Họcũng kết hợp kết quả của họ với nghiên cứu thực nghiệm trước đó nhấn mạnh tầmquan trọng của tính minh bạch về việc giảm các thao túng chính sách tài khóa trongbầu cử
Dưới ảnh hư ởng của nhữn g phát hiện này đã nêu lên hiện tượng chu trìnhngân sách chính trị không xuất hiện ở những quốc gia đã phát triển và có nền dânchủ lâu dài Draz en & Eslava (2006) đề xuất m ột mô hình chu kỳ tiền của chính phủ(chi cho các công trình địa phương nhằm để giành phiếu bầu) Trong mô hình của
họ các nhà cầm quyền cố gắng ảnh hưởng đến cử tri bằng cách chi tiêu trực tiếp
và có mục tiêu đối với nhóm người cụ thể với chi phí của các cử tri khác Họ chorằng một chiến lược chi t iêu nhắm mục tiêu bằng cách cắt giảm một số các chi tiêukhác để không làm t ăng thâm hụt ngân s ách tổng thể Chiến lư ợc này trở nên tối
ưu cũng như thâm hụt ngân sách vư ợt quá bị trừng phạt bởi các cử tri làm giảm cơhội tái đắc cử Các thao túng trong mô hình này diễn ra trong các thành phần chiphí với thông tin bất đối xứng không được giới thiệu về năng lực của các chính trịgia như trước, nhưng trong sự ưu đãi của những ngư ời đư ơng nhiệm trên cácnhóm cử tri khác nhau Vì vậy, chu kỳ ngân sách chính phủ có thể xuất hiện thậmchí khi có đầy đủ hiểu biết vế năng lực của các nhà chính trị và hơn nữa là sự lựachọn chính sách tài khóa của ngư ời
3.1 Dữ liệu
Chúng tôi sử dụng dữ liệu t heo năm cho 30 nước OECD từ năm 1999đến 20075 Dữ liệu này đư ợc thu thập bởi Conway & Nicoletti (2006)6 và ban đầuchỉ bao
trong thời kỳ hậu Xô Viết đã bãi bỏ những luồng tư tưởng đối nghịch nhau, do đó
Trang 12ảnh hưởng đảng phái bị hạn ch ế Thứ hai là vào thập kỷ thứ 19 là thập kỷ mà nhữngquy định lạc