1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Dự án Phát triển nghề nuôi cá lồng bằng vật liệu đảm bảo sóng gió và thân thiện với môi trường

29 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 280,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Dự án Phát triển nghề nuôi cá lồng bằng vật liệu đảm bảo sóng gió và thân thiện với môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 20152017”. Dự án là một việc làm hết sức cần thiết và cấp bách, nhằm góp phần bảo vệ môi trường, đảm bảo an toàn lao động, nâng cao năng suất, sản lượng cá biển phục vụ cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu;

Trang 1

1 Mở đầu

1.1 Sự cần thiết thực hiện dự án

Quảng Ninh nằm trong dải hành lang biển lớn của Bắc Bộ, trên đó cómạng lưới đường bộ, đường sắt và cảng biển lớn đang được mở rộng và pháttriển Cùng với Hải Phòng, Quảng Ninh giữ vai trò cửa mở lớn ra biển cho cảvùng Bắc Bộ Tỉnh nằm trong giới hạn toạ độ 106 - 108o kinh độ đông,

20o40’21” vĩ độ bắc; Đông Bắc giáp Trung Quốc, có đường biên giới dài khoảng132,8 Km, phía Nam giáp vịnh Bắc Bộ, có chiều dài bờ biển 250 Km, phía TâyNam giáp thành phố Hải Dương, phía Tây Bắc giáp các tỉnh Lạng Sơn, BắcGiang và Hải Dương Địa hình Quảng Ninh mang tính chất là một vùng miềnnúi, trung du và ven biển, hình thành 3 vùng tự nhiên rõ rệt: vùng núi có diệntích gần 3.000 km2; vùng biển Quảng Ninh có diện tích trên 619 km2, với hơn20.000 ha eo vịnh và 2.077 hòn đảo lớn nhỏ là điều kiện lý tưởng cho nghề nuôi

cá lồng trên biển phát triển

Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ưu đãi, Quảng Ninh là một trongnhững địa phương có nghề nuôi cá lồng hình thành từ rất sớm với các địaphương trong cả nước Tuy nhiên trong hoạt động nuôi biển, nhìn chung chưađược phát triển được tiềm năng sẵn có, sản phẩm chủ yếu là tiêu thụ nội địa vàxuất khẩu tiểu ngạch qua biên giới với Trung Quốc; kỹ thuật nuôi cá lồng biểncủa người dân còn hạn chế Hình thức nuôi còn thủ công, thức ăn chủ yếu là tươisống, thức ăn công nghiệp cũng được sử dụng nhưng còn ít Mô hình nuôi tựphát theo sự thành công của những hộ nuôi trước, đơn giản, quy mô nhỏ Trangthiết bị phục vụ nuôi biển chưa phát triển Môi trường nuôi chưa có các giảipháp quản lý phù hợp và chưa có các khảo sát đánh giá có hệ thống Tình hìnhbệnh dịch thường xuyên xảy ra Mâu thuẫn với sự phát triển từ các ngành kinh tếbiển khác đã có tác động lớn đến sự phát triển bền vững của nghề nuôi cá biển

Vật liệu làm lồng bằng gỗ, phao xốp hoặc phao phi chiếm đa số do có ưuđiểm giá thành rẻ, dễ làm, dễ quản lý và nguồn nguyên liệu sẵn có, phù hợp vớitrình độ quản lý của lực lượng sản xuất Tuy nhiên, các loại vật liệu trên tuổi thọthấp, không bền vững với môi trường, chống chịu kém với tác động của sónggió, thuyền bè va đập cộng với ý thức chưa cao của người nuôi về công tác bảo

vệ môi trường gây ảnh hưởng đến cảnh quan du lịch trên biển; thiếu vốn, côngnghệ, kỹ thuật trong tái đầu tư để sửa chữa, nâng cấp hệ thống nuôi nên trong

Trang 2

quá trình nuôi nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực như tình trạng ô nhiễm môi trường,mất an toàn lao động khi biển động

Từ những thực trạng nêu trên, Chi cục Nuôi trồng thủy sản - Sở Nông

nghiệp và PTNT Quảng Ninh xây dựng “Dự án Phát triển nghề nuôi cá lồng bằng vật liệu đảm bảo sóng gió và thân thiện với môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015-2017” Dự án là một việc làm hết sức cần thiết và

cấp bách, nhằm góp phần bảo vệ môi trường, đảm bảo an toàn lao động, nângcao năng suất, sản lượng cá biển phục vụ cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu;phát triển bền vững nghề nuôi trồng thủy sản; góp phần thực hiện Nghị quyết số13-NQ/TU ngày 06/5/2014 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh vềphát triển kinh tế thủy sản đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030

1.2 Đôi nét về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tại vùng thực hiện dự án

Quảng Ninh tỉnh địa đầu vùng Đông Bắc tổ quốc có vị trí địa lý chiếnlược về kinh tế, xã hội và quốc phòng an ninh Quốc gia, có tiềm năng thế mạnhphát triển ngành thuỷ sản Quảng Ninh là cửa ngõ hội nhập thế giới của Vùngkinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nằm trong khu vực hợp tác “Hai hành lang, một vànhđai với Trung Quốc”; có biên giới trên đất liền và dưới biển với Trung Quốc(khoảng 120 km trên đất liền, 191 km trên biển); có cửa khẩu quốc tế Móng Cái,

3 khu kinh tế cửa khẩu (Móng Cái, Hoành Mô, Bắc Phong Sinh), 4 cảng khẩutrên biển (Cẩm Phả, Cái Lân, Hòn Gai, Vạn Gia) Là một trong các tỉnh có cácđảo, quần đảo thuộc Vịnh Bắc Bộ gần đường phân định Vịnh Bắc Bộ với TrungQuốc giúp Quảng Ninh trở thành trung tâm trung chuyển hàng hoá xuất khẩucủa Miền Bắc sang thị trường quốc tế đặc biệt với Trung Quốc Với vị trí này,Quảng Ninh trở thành địa bàn có vị trí chiến lược về phát triển kinh tế kết hợpvới an ninh quốc phòng

Khí hậu:

Khu vực tỉnh Quảng Ninh thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa hènóng và ẩm, mùa đông khô và lạnh Tuy nhiên, do đặc điểm về vị trí địa lý vàđịa hình bị chi phối bởi khí hậu duyên hải, chịu ảnh hưởng và tác động nhiềucủa biển, tạo cho khu vực có những đặc trưng khí hậu riêng, những tiểu vùngsinh thái hỗn hợp miền núi, ven biển Theo số liệu do Trung tâm Dự báo Khítượng Thuỷ văn Quảng Ninh thì Quảng Ninh có đặc trưng khí hậu như sau:

Trang 3

+ Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm là 230C Nhiệt độ cao nhất trong nămthường vào tháng 6 và tháng 7 dao động từ 26-300C và nhiệt độ thấp nhất trongtháng 1, trung bình khoảng từ 140C - 180C

+ Chế độ nắng: Khu vực tỉnh Quảng Ninh có khoảng 1.600  1.700 giờnắng trong năm Tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 8, tháng 9 và tháng 10.Tháng có số giờ nắng thấp nhất là tháng 2 và tháng 3 Trong những tháng mưaphùn số giờ nắng rất ít (khoảng 20%) Nhìn chung, từ tháng 5 đến tháng 9, sốgiờ nắng đều đạt từ 150 - 180 giờ/tháng

+ Chế độ mưa: Mùa mưa nhiều bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10, mùa ít mưa bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau Mưa tập

trung chủ yếu vào các tháng mùa hè với lượng mưa tháng trên 200mm, tháng cómưa nhiều nhất là tháng 7 và tháng 8 Mùa đông, tháng mưa ít nhất vào tháng 12

và tháng 1, tháng 2 năm sau Lượng mưa trung bình của một ngày mưa tính cho

cả năm dao động từ 14  20 mm, vụ hè thu 16  25 mm, mùa đông 4  8 mm.Lượng mưa lớn nhất của một ngày có thể đạt 350  450 mm, chỉ xảy ra trongnhững ngày chịu ảnh hưởng của áp thấp, bão, dải hội tụ nhiệt đới

+ Bão: Hàng năm, vào tháng 6 đến tháng 11, trong vùng Quảng Ninhthường có lốc, áp thấp nhiệt đới và bão đổ bộ Vùng biển Quảng Ninh mỗi nămtrung bình chịu ảnh hưởng của 3 đến 5 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, thường xảy

ra vào tháng 7,8,9 Các cơn bão này ngoài bị thiệt hại về người, tải sản ở vùngven biển còn ảnh hưởng lớn đến hoạt động nuôi trồng, khai thác thuỷ sản

+ Độ ẩm không khí: Quảng Ninh có độ ẩm không khí tương đối cao, trị số

bình quân năm 80  85% Có chênh lệch độ ẩm giữa các vùng phụ thuộc vào độcao, địa hình nhưng không lớn Độ ẩm có sự phân hoá theo mùa, mùa mưa độ

ẩm không khí cao hơn mùa ít mưa

Khí hậu và thời tiết Quảng Ninh vừa thuận lợi với sản xuất nông nghiệp

và thuỷ sản, nhưng đồng thời cũng chứa đựng nhiều nguy cơ vì sự thay đổi thấtthường của thiên tai, bão lũ Mùa bão ở Quảng Ninh thường sớm hơn so với cácđịa phương khác trong nước, tập trung nhiều vào các tháng 6, 7, 8 trong năm

Sông ngòi và thuỷ văn:

+ Quảng Ninh có đến 30 sông, phần nhiều đều là những sông nhỏ Diện

tích lưu vực thông thường không quá 300 km2, trong đó có 4 con sông lớn là hạlưu sông Thái Bình, sông Ka Long, sông Tiên Yên và sông Ba Chẽ Mỗi sông

Trang 4

hoặc đoạn sông thường có nhiều nhánh Các nhánh đa số đều vuông góc vớisông chính Sông suối ở Quảng Ninh thường ngắn, nhỏ, độ dốc lớn Lưu lượng

và lưu tốc rất khác biệt giữa các mùa Mùa đông, các sông cạn nước, có chỗ trơghềnh đá nhưng mùa hạ lại ào ào thác lũ, nước dâng cao rất nhanh Lưu lượngmùa khô 1,45m3/s, mùa mưa lên tới 1500 m3/s, chênh nhau 1.000 lần

+ Vùng biển Quảng Ninh nằm trong vịnh Bắc Bộ, là một vịnh lớn nhưng

có nhiều lớp đảo che chắn nên sóng gió không lớn so với vùng biển miền TrungViệt Nam Chế độ thuỷ triều là nhật triều điển hình, biên độ thủy triều trung bìnhcho toàn vùng biển Quảng Ninh là 2,3 m, cao nhất 4,5 m Trong vịnh Bắc Bộ tồntại một dòng hải lưu lạnh chảy theo hướng Bắc - Nam, vì vậy vùng biển này lànơi có nhiệt độ nước trung bình thấp nhất của Việt Nam, nhiệt độ nước vào mùaĐông có khi xuống dưới 140C

Đặc điểm khí hậu của huyện chịu ảnh hưởng chung của vùng nhiệt đới giómùa cận chí tuyến Bắc, có mùa đông lạnh từ tháng 10 tới tháng 3 năm sau vàmùa hè nắng nóng từ tháng 5 tới tháng 8, tháng 4 và tháng 9 là kì chuyển tiếpkhí hậu ôn hòa

+ Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22,4-22,80C nhiệt độ cao nhất là 28 –

360C, nhiệt độ thấp nhất vào khoảng 14-170C

+ Tổng lượng mưa hàng năm trung bình từ 220mm – 240mm, trung bình

có khoảng 130 – 160 ngày mưa /năm Mưa tập trung vào các tháng mùa hè,tháng có nhiều mưa nhất là tháng 7 và tháng 8, tháng ít mưa nhất vào tháng 12

và tháng 1 năm sau

Trang 5

+ Độ ẩm không khí không có sự chênh lệch nhiều trong năm, độ ẩm trungbình năm khoảng 82 %, thấp nhất 18%.

Về thủy văn: Sông Tiên Yên có ảnh hưởng trực tiếp và lớn nhất tới chế độthủy văn phần biển Vịnh BTL qua cửa sông Mô Các đảo của Vịnh BTL đều cóquy mô nhỏ, trên đó không có dòng chảy mặt thường xuyên, chỉ có một số suốingắn và dốc hình thành trong mùa mưa Chế độ thủy triều và mực nước biển khuvực Vịnh BTL có 2 đặc điểm nổi bật: (1) có chế độ thủy triều toàn nhật đều điểnhình với đặc trưng mỗi tháng có 2 kỳ nước cường và 2 kỳ nước kém; (2) mựcnước khu vực này có biên độ dao động lớn nhất nước ta, mực nước lớn nhất cóthể đạt tới 4,8m

Huyện Đầm Hà

Huyện nằm phía đông bắc tỉnh Quảng Ninh, có diện tích tự nhiên rộng41.436 ha Phía bắc là huyện Bình Liêu, phía đông bắc là huyện Hải Hà, phía tâynam là huyện Tiên Yên, phía nam và đông nam giáp biển

Khí hậu ở Đầm Hà vừa chịu ảnh hưởng của núi cao vừa mang tính chất biển + Nhiệt độ ở Đầm Hà khác với nhiều nơi trong tỉnh Quảng Ninh Mùa hènóng, mùa đông lạnh nhiệt độ giảm dần từ nam đến bắc, từ vùng thấp lên vùngcao Nhiệt độ có lúc xuống tới 6 - 80C và có sương muối kéo dài từ 2 - 4 ngàygây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống sinh hoạt của nhân dân.Nhiệt độ trung bình năm 22,50C, mùa đông nhiệt độ trung bình tháng 1 là14,30C; mùa hè nhiệt độ trung bình tháng 7 là 280C Biên độ nhiệt hàng nămtrung bình dao động từ 6 - 80C, biên độ nhiệt ngày khá lớn trung bình dao động

từ 10 - 120C

+ Lượng mưa trung bình 2.000 - 2.200 mm/năm; năm có lượng mưa lớnnhất đạt 2.900 - 3.200mm, năm có lượng mưa ít nhất 1.100 - 1.600mm Lượngmưa ở Đầm Hà phân hóa theo hai mùa rõ rệt trái ngược nhau Mùa mưa nhiềukéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 84 - 86% tổng lượng mưa cả năm Mùamưa ít nhất từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa rất thấp chỉ chiếm 14 -16% lượng mưa cả năm Tháng có lượng mưa ít nhất thường là tháng 12 vàtháng 1 trong năm

+ Độ ẩm không khí: do có lượng mưa lớn nên độ ẩm không khí khá cao,trung bình hàng năm là 81%, độ ẩm không khí cao nhất là 92% vào tháng 3 vàtháng 4 hàng năm, độ ẩm thấp nhất tháng 10 và tháng 11 chỉ đạt 70 - 75%

Trang 6

Thủy triều: Huyện chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ nhật triều khu vựcvịnh Bắc Bộ, biên độ dao động thuỷ triều trung bình 0,6m Đầm Hà có chế độnhật triều thuần nhất, trong một ngày có 01 lần nước lên 01 lần nước xuống,biên độ triều dao động từ 3,0-4,0 m (Móng Cái 4,25m), thuỷ triều mạnh trongnăm vào các tháng 1, 2, 6, 7, 8 và 10, trong một tháng âm lịch có 2 kỳ nướccường xen lẫn 2 kỳ nước kém (biên độ dao động 0,5 - 1,0m) Từ tháng 6 - 8dòng triều chủ yếu song song với đường bờ, tốc độ cực đại có thể lên đến100cm/s Về mùa hè nước thường lên vào buổi chiều, còn mùa đông nướcthường lên vào buổi sáng trong ngày.

1.3 Đôi nét về nghề nuôi cá lồng trên biển trong và ngoài nước

Nuôi trồng thủy sản là nghề truyền thống ở Việt Nam nhưng đến nhữngnăm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX, đặc biệt là sau năm 2000 nuôi trồng thủysản ở Việt Nam mới phát triển nhanh chóng Trong nuôi trồng thủy sản, cơ cấuchủ yếu vẫn là nuôi tôm nước lợ, cá tra, nuôi cá biển chưa phát triển mạnh.Nghề nuôi cá lồng biển đã phát triển từ 140 năm trước, đầu tiên từ Campuchia,Nhật Bản và dần lan rộng sang các nước khác trên khắp thế giới Với ưu điểmnhư tận dụng mặt nước biển còn nhiều, không chiếm đất nông nghiệp, năng suất,sản lượng cao, hiệu quả kinh tế cao, giải quyết vấn đề suy giảm nguồn lợi cábiển do khai thác quá mức… nên nghề này ngày càng có xu hướng mở rộng

Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có nuôi trồng thủy sảnphát triển nhanh nhất thế giới Quyết định số 1523/QĐ-BNN-TCTS ngày 08tháng 7 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V/vphê duyệt Quy hoạch phát triển nuôi cá biển đến năm 2015 và định hướng đếnnăm 2020: “Quy hoạch nuôi lồng bè quy mô công nghiệp: sử dụng các lồng cókích thước 1000 m3/lồng, chịu sóng gió cấp 11-12 hoặc có thể đánh chìm Lồng1.200 m3 có đường kính 15m, độ sâu nước trong lồng 8-10m, mỗi ha có 50 lồng

Từ năm 2010 đến 2015 tập trung tại các vịnh lớn, bán kín, sóng gió không quálớn nhưng có độ sâu > 10m ở Đà Nẵng (Vịnh Đà Nẵng), Phú Yên (vịnh XuânĐài, Vùn Rô), Khánh Hoà (Vịnh Bình Ba- Cam Ranh) và Kiên Giang (PhúQuốc, Thổ Chu) Thí điểm nuôi lồng ở một số đảo ở quần đảo Trường Sa(Khánh Hoà) Vùng vịnh Bái Tử Long (Quảng Ninh) và vịnh Cát Bà (HảiPhòng) chỉ nuôi ở một số vùng không nuôi hàu, chủ yếu là tập hợp, nuôi vỗ đàn

cá bố mẹ để cung cấp cá bố mẹ, trứng thụ tinh, cá bột cho miền Bắc và cả nước

Trang 7

Đối tượng nuôi của hình thức này là những loài có giá trị kinh tế cao, sản phẩm

có thể đông tươi nguyên con hoặc chế biến đồ hộp: cá Giò, cá Song, Chim VâyVàng, Hồng Bạc, Hồng Mỹ, Cam, Vược…”

Hiện nay có 23 tỉnh ven biển tại Việt Nam có nuôi cá biển, tập trung chủyếu ở các tỉnh: Trà Vinh, BạcLiêu (Tây Nam bộ), Khánh Hòa, Phú Yên (Duyênhải Nam trung bộ), Hải Phòng, Quảng Ninh (Đồng bằng Bắc bộ).Đối tượng cábiển nuôi ở Việt Nam chủ yếu là cá Song (Mú), Chẽm (Vược), Giò (Bớp), Hồng, Chim vây vàng Tuy nhiên, phổ biến là 2 loại cá Song, cá Chẽm Có 2hình thức nuôi: Nuôi trong ao và nuôi bằng lồng trên biển Phương thức nuôichủ yếu là bán thâm canh, mô hình nuôi công nghiệp lớn chưa phát triển.Giốngchủ yếu tự nhiên, giống nhân tạo trong nước còn ít, giống nhập thì tỷ lệ sốngkhông ổn định… Ít Cơ sở sản xuất thức ăn, cung cấp thiết bị vật tư cho nuôi cábiển, mạng lưới thu mua chế biến yếu và hẹp, hoạt động xuất khẩu kém pháttriển vì vậy người nuôi không có nhiều lựa chọn khi mua giống, thiết bị, bán cá

và dễ bị ép giá

Trong hoạt động nuôi biển, nhìn chung chưa được phát triển mạnh do chếbiến xuất khẩu chính ngạch chưa phát triển, chủ yếu là tiêu thụ nội địa và xuấtkhẩu tiểu ngạch qua biên giới với Trung Quốc, kéo theo đó là hệ thống dịch vụnhư thu mua, cung cấp thiết bị vật tư, sản xuất giống bị chậm phát triển Kỹthuật nuôi cá lồng biển của người dân còn hạn chế Hình thức nuôi còn thủ công,thức ăn chủ yếu là tươi sống, thức ăn công nghiệp cũng được sử dụng nhưng còn

ít Mô hình nuôi tự phát theo sự thành công của những hộ nuôi trước, đơn giản,qui mô nhỏ Trang thiết bị phục vụ nuôi biển chưa phát triển.Môi trường nuôichưa có các giải pháp quản lý phù hợp và chưa có các khảo sát đánh giá có hệthống Tình hình bệnh dịch năm nào cũng phát sinh và không có chiều hướnggiảm Thiệt hại do bệnh dịch, tranh chấp và những mâu thuẫn với sự phát triển

từ các ngành kinh tế biển khác đã có tác động lớn đến sự phát triển bền vững củanghề nuôi cá biển

Vật liệu làm lồng bằng gỗ, phao xốp hoặc phao phi chiếm đa số do có ưuđiểm giá thành rẻ, dễ làm, dễ quản lý và nguồn nguyên liệu sẵn có, phù hợp vớitrình độ quản lý của lực lượng sản xuất Lồng nuôi bằng vật liệu HDPE đã xuấthiện ở một số tỉnh thành trong cả nước như Khánh Hòa, Huế, Phú Yên và đang

Trang 8

có xu hướng nhân rộng Sử dụng vật liệu HDPE đòi hỏi trình độ quản lý nhấtđịnh và mang tính công nghiệp.

Bảng 1 So sánh giữa nghề nuôi cá biển quy mô công nghiệp và truyền thống

nghiệp Nuôi truyền thống

1 Kế hoạch sản xuất Chủ động, được phân

tích, đánh giá kỹ

Theo xu hướng cộngđồng

2

doanh nghiệp, Công tyhoặc HTX

5 Hệ thống lồng nuôi Lồng chịu sóng: lồng

nhựa HDPE, lồng gỗ

Lồng gỗ chi phí thấp

6

Đối tượng nuôi Thường chỉ một loài Kết hợp nhiều loài

9 Trình độ/kỹ thuật nuôi Được đào tạo/tập huấn Theo kinh nghiệm 10

Trình độ quản lý Trình độ cao, hiểu biết

tốt về an toàn sinh học

và vệ sinh ATTP

Theo kinh nghiệm

11

Nguồn nhân lực Công nhân lành nghề,

có hiểu biết và kỹ năngvận hành hệ thốnglồng và trang thiết bịhiện đại

Bị động/phụ thuộc tiểuthương và bán tại chỗ

Trang 9

1.4 Tình hình nghề nuôi cá lồng trên biển ở Quảng Ninh

Tính đến hết năm 2014, trên toàn tỉnh có 8.385 ô lồng tập trung chủ yếutại các địa phương Cẩm Phả (2.050 ô lồng), Vân Đồn (4.500 ô lồng), Hạ Long(600 ô lồng), Đầm Hà (529 ô lồng), Hải Hà (210 ô lồng), Móng Cái (266 ô lồng)

và rải rác tại một số địa phương khác như Quảng Yên, Cô Tô, Tiên Yên Các đốitượng nuôi chính như cá Song, cá Vược, cá Giò và cá Chim vây vàng với tổngsản lượng ước đạt 2.305 tấn/năm

Nguồn giống sử dụng cho nuôi cá biển được thu gom từ tự nhiên, mua từcác cơ sở sản xuất giống cá biển trong tỉnh hoặc đặt mua từ các tỉnh ngoài như:Hải Phòng, Nha Trang, Ninh Thuận… hoặc được nhập từ Trung Quốc về thôngqua đường tiểu ngạch Thức ăn phục vụ nghề nuôi cá lồng bè trên biển chủ yếu

là cá tạp Trình độ về nuôi trồng thủy sản lồng bè của người nuôi còn hạn chế;chủ yếu được tham gia các lớp tập huấn ngắn ngày về nuôi trồng thủy sản nóichung; số lượng người nuôi thủy sản lồng bè được đào tạo trình độ từ sơ cấpnghề trở lên ít

Công trình nuôi cá biển trên biển tại Quảng Ninh đa dạng Vật liệu làmkhung lồng đa số là gỗ, một số ít được làm từ tre và liên kết với nhau bằngbulong thép hoặc dây cước Vật liệu nổi chủ yếu là phao xốp bọc bạt để hạn chế

sự xâm hại tới môi trường nuôi và phá vỡ của sóng, gió Hình dáng lồng nuôichủ yếu là hình vuông có kích thước mỗi ô lồng khoảng 4x4x4 m và được liênkết với nhau để tạo thành hệ thống bè nuôi cá Trên bè nuôi cá có thể có nhà làmcông tác bảo vệ, chăm sóc cá nuôi Công trình nuôi cá biển dạng này rất pháttriển tại tỉnh Quảng Ninh nói riêng và cả nước nói chung do có ưu điểm giáthành rẻ, vật liệu làm dễ tìm kiếm tại địa phương, dễ vận hành… Tuy nhiên,trong quá trình vận hành việc tái đầu tư hay nâng cấp hệ thống lồng nuôi củangười nuôi cá biển vào hệ thống lồng bè nuôi rất hạn chế chưa phù hợp với xuthế phát triển chung của nghề nuôi cá lồng bè và an toàn lao động khi biển động,bảo vệ môi trường

Việc sử dụng vật liệu HDPE để làm lồng nuôi cá biển tại tỉnh Quảng Ninh

đã hình thành từ những năm 2003 khi công ty Việt Mỹ đã nhập 06 lồng tròn vớiđường kính 20m để về và thử nghiệm nuôi cá giò tại huyện Vân Đồn); năm

2012, dưới sự hỗ trợ của Chương trình hỗ trợ ngành thủy sản giai đoạn hai(FSPS II) tại Quảng Ninh đã triển khai mô hình nuôi cá biển bằng lồng tròn

Trang 10

HDPE có đường kính 20m tại Vân Đồn và Đầm Hà Tính đến tháng 03 năm

2015 thì tỉnh Quảng Ninh có 10 ô lồng tròn bằng vật liệu HDPE đường kính

20m được sử dụng để nuôi cá biển Lồng bằng vật liệu HDPE sản xuất theo

công nghệ Đan Mạch có nhiều ưu điểm vượt trội Lồng có cấu tạo nổi, hình tròn,đường kính lồng 20m, chu vi lồng cá 60m, thể tích lồng gần 1.000m3 Lồng cókết cấu gồm 2 ống nổi có đường kính 250 mm, trong đó ống nổi bên trong chènxốp polystyren chịu tất cả các tải trọng gồm lưới, chì, dây neo… sức nổi 75kg/mống Chung quanh lồng là hệ thống lan can dùng để treo lưới nhảy, treo lướilồng Lưới lồng được dùng là lưới dệt không gút, bền, không bị lão hóa và cókhả năng chống sinh vật bám, được gia cường bởi các dây diềng Toàn bộ túilưới được thiết kế, tính toán phù hợp với điều kiện vùng nuôi (lưu tốc dòng chảy,

độ sâu,….) và với từng đối tượng nuôi

Ưu điểm của lồng này là có độ bền lớn, có khả năng chịu được va chạmkhi các thuyền nhỏ va vào khung lồng, chịu được sóng gió cấp 8, 9 và thuận lợitrong việc vệ sinh lồng cũng như khi thu hoạch Với điều kiện tự nhiên như ởtỉnh Quảng Ninh hàng năm có khoảng 6-7 cơn bão Người nuôi trồng thủy sảnphải đối mặt với nhiều rủi ro về tài sản và tính mạng Vì vậy việc đưa lồng cábằng nhựa HDPE, nhựa cao cấp làm lồng là hướng đi đúng Tuy nhiên, do đặcđiểm biển Quảng Ninh là vùng vịnh, độ sâu đạt bình quân khi thủy triều thấpnhất chỉ khoảng 12 m, vì vậy việc áp dụng lồng chìm để nuôi cá là không phùhợp mà ưu tiên phát triển nuôi cá biển bằng lồng nổi

1.5 Định hướng phát triển ngành thủy sản với nghề nuôi cá lồng biển

- Phát triển nghề nuôi cá lồng bền vững cả kinh tế - xã hội và môi trường

nhằm khai thác tốt tiềm năng, nâng cao giá trị, hiệu quả và khả năng cạnh tranhCác sản phẩm hàng hóa chủ lực (cá song, cá giò, tôm hùm…), nâng cao vật chấtđời sống, tinh thần người nông dân, giảm nghèo bền vững, gắn với thực hiệnthành công chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới

- Phát triển nghề nuôi cá lồng theo hướng sản xuất hàng hóa, tập trung,trên cơ sở phát huy hiệu quả lợi thế so sánh của các địa phương Phát triển kinh

tế nuôi biển tương xứng với tiềm năng hiện có của Tỉnh

- Lấy khoa học kỹ thuật làm then chốt, từng bước hình thành các khu,vùng nuôi cá lồng ứng dụng công nghệ cao, sự dụng vật liệu, vật tư nông nghiệphiện đại, đảm bảo an toàn sóng gió, thân thiện với môi trường

Trang 11

- Chuyển đổi cơ cấu nuôi trồng sang hướng tăng diện tích nuôi lồng cácloài có giá trị kinh tế cao, thị trường tiêu thụ ổn định, phục vụ nhu cầu và thịhiếu của khách du lịch

- Gắn việc phát triển nghề nuôi cá biển nói chung và cá lồng nói riêng vớimục tiêu bảo về môi trường sinh thái vùng biển và ven biển, đảm bảo an ninhquốc phòng

2 Căn cứ pháp lý xây dựng dự án

- Quyết định số 126/2005/QĐ-TTg ngày 01/6/2005 của Thủ tướng Chínhphủ về một số chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản trênbiển và hải đảo;

- Căn cứ Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướngChính phủ Quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựngnông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020;

- Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2010 của Thủtướng Chính phủ về khuyến nông;

- Thông tư liên tịch số 183/2010/TTLT-BTC-BNN ngày 15 tháng 11 năm

2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn-Bộ Tài chính V/v Hướng dẫnchế độ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước cấp đối với hoạt độngkhuyến nông;

- Thông tư số 15/2013/TT-BNNPTNT ngày 26/02/2013 của Bộ nôngnghiệp và PTNT V/v Quy định thực hiện một số điều của Nghị định số02/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ về khuyến nông;

- Quyết định số 3824/QĐ-BNN-TCTS ngày 06 tháng 9 năm 2014 của BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn V/v Ban hành Quy phạm thực hành nuôitrồng thủy sản tốt Việt Nam (VietGAP);

- Quyết định số 3276/QĐ-BNN-KHCN ngày 24 tháng 10 năm 2008 của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn V/v ban hành quy định tạm thời một sốđịnh mức kỹ thuật cho các chương trình khuyến ngư;

- Thông tư số 97/2010/TT-BTC ngày 06/7/2010 về quy định chế độ côngtác phí, chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị đối với các cơ quan nhà nước vàđơn vị sự nghiệp công lập

- Quyết định 918/QĐ-BNN-TC ngày 05 tháng 5 năm 2014 của Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn V/v phê duyệt quy định tạm thời nội dung, mức

hỗ trợ và mức chi cho các hoạt động khuyến nông;

Trang 12

- Quyết định số 2576/QĐ-UBND ngày 26/9/2013 của UBND tỉnh QuảngNinh V/v phê duyệt báo cáo quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản mặn, lợtỉnh Quảng Ninh đến năm 2015, định hướng đến năm 2020;

- Quyết định số 2770/QĐ-UBND ngày 13 tháng 8 năm 2010 của UBNDtỉnh Quảng Ninh V/v phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể Ngành Thủy sảntỉnh Quảng Ninh đến năm 2010, xây dựng quy hoạch đến năm 2015 và địnhhướng đến năm 2020;

- Nghị quyết số 01/NQ-TU ngày 27/10/2010 của Ban Chấp hành Đảng bộTỉnh về xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020;

- Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 06 tháng 05 năm 2014 của Ban chấphành Đảng bộ tỉnh về phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Quảng Ninh đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2030;

- Quyết định số 1714/QĐ-UBND ngày 11 tháng 8 năm 2014 của UBNDtỉnh Quảng Ninh V/v ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số13-NQ/TU ngày 06 tháng 05 năm 2014 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về pháttriển kinh tế thủy sản tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;

- Quyết định 1396/QĐ-UBND ngày 25/5/2015 của UBND tỉnh QuảngNinh Quyết định phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướngnâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015-

- Quyết định số 2716/2010/QĐ-UBND ngày 09 tháng 9 năm 2010 củaUBND tỉnh Quảng Ninh V/v quy định mức chi cụ thể về công tác phí, chi hộinghị đối với các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc địa phươngquản lý

3 Mục tiêu của dự án

3.1 Mục tiêu chung

Phát triển nghề nuôi cá lồng theo hướng tâp trung, bền vững, phát huy tối

đa tiềm năng vùng biển của tỉnh Quảng Ninh, góp phần bảo vệ môi trường sinhthái, an toàn lao động, gắn với mục tiêu bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảocủa nước ta

Trang 13

3.2 Mục tiêu cụ thể

(1) Hình thành vùng nuôi cá lồng trên biển tại huyện Vân Đồn, huyệnĐầm Hà sử dụng vật liệu đảm bảo sóng gió và thân thiện với môi trường; (2)Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm cá biển nuôi phù hợp với yêu cầucủa thị trường; (3) Nâng cao nhận thức về nuôi trồng thủy sản trên biển chonông ngư dân tại các vùng triển khai dự án về đảm bảo an toàn sinh học, bảo vệmôi trường sinh thái

4 Nội dung dự án

4.1 Một số chỉ tiêu cơ bản của dự án

- Xây dựng thành công 6.000m3 lồng nuôi với dự kiến 200m3/cơ sở tươngứng 30 cơ sở nuôi cá biển bằng lồng bè sử dụng vật liệu có kết cấu vững chắc vàthân thiện với môi trường, dự kiến tại huyện Đầm Hà 5 cơ sở, huyện Vân Đồn

25 cơ sở Ít nhất 120 lượt người được tập huấn kỹ thuật; 70 lượt người đến thamquan dự án; 50 lượt cán bộ các cấp, người tham gia vào dự án được học tập kinhnghiệm thực tế về nuôi cá lồng bè tại miền Trung - Việt Nam; 1100 tài liệu cácloại được in ấn kết hợp với truyền thông trên báo chí, truyền hình giúp nâng caonhận thức của người nuôi trồng thủy sản cũng như quảng bá nghề nuôi cá biểnbằng lồng đảm bảo an toàn thực phẩm của tỉnh Quảng Ninh đến với người tiêudùng

- Lồng bè, đối tượng nuôi, loại thức ăn sử dụng:

+ Lồng, bè nuôi: Được làm bằng các vật liệu có kết cấu vững chắc, thânthiện với môi trường như vật liệu bằng ống nhựa HDPE, ống nhựa chất lượng cao

+ Đối tượng nuôi: cá Song (nuôi đơn)

+ Thức ăn sử dụng: Thức ăn công nghiệp chiếm chủ yếu và một phần thức

Bảng 2 Định mức kỹ thuật áp dụng tạm thời cho 100 m 3 lồng nuôi:

Trang 14

Mật độ thả giống 16 con /m3

Quy cỡ thả giống >10 cm/con

Hệ số thức ăn 1,5 (thức ăn công nghiệp và thức ăn tự chế biến)

4.2 Chăm sóc và quản lý lồng nuôi cá biển

Đối với lồng nuôi

- Cần định kỳ vệ sinh lưới, loại bỏ những sinh vật bám như hà, sun, rongrêu và thay lưới có cỡ mắt lưới phù hợp với cỡ cá nuôi để đảm bảo thôngthoáng cho lồng nuôi

- Thường xuyên lặn kiểm tra lưới Dùng bàn chải có cán dài chà rửa và vệsinh lồng Có thể thả 15 - 30 con cá dìa để cá ăn các loài rong tảo bám vào lưới

- Vào mùa mưa bão, phải thường xuyên kiểm tra hệ thống neo của bènuôi Định kỳ kiểm tra các bộ phận lồng nuôi (phao, khung, dây neo, lưới…) vàkhi cần thì kịp thời bảo dưỡng hoặc thay thế để giảm thiểu rủi ro do hư hỏnglồng

- Cần phải thường xuyên theo dõi lồng Do luôn luôn ngập nước, lồng cóthể bị phá hại bởi các động vật thủy sinh như cua, rái cá, Nếu lồng bị hư hỏngphải lập tức sửa chữa hoặc thay mới

- Hàng ngày sau mỗi lần cho cá ăn phải kiểm tra nếu thấy thừa thức ăn ởđáy lồng phải vệ sinh để tránh ô nhiễm, tránh cua cá, địch hại đến phá lồng

Quan trắc môi trường vùng nuôi

Theo dõi sự biến đổi của các yếu tố môi trường như hàm lượng ôxy hoàtan, pH, độ kiềm, H2S, NH3 để có biện pháp xử lý kịp thời và thích hợp

Đối với cá

- Hàng tháng đo mẫu để xác định tăng trưởng của cá (chiều dài và khốilượng cá), qua đó xác định được tổng khối lượng đàn cá trong lồng để điềuchỉnh lượng thức ăn cho hợp lý

- Nên dành một số bè trống, để sử dụng khi cần thiết như chuyển cá giốnghay đổi lưới cho lồng nuôi khi bị tắc nước do vi sinh vật bám

Ngày đăng: 04/05/2021, 18:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w