Để phù hợp với đặctrưng môn học đồng thời thực hiện tốt quá trình đổi mới phương pháp giáo dụctheo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh thì việc dạy và học môn côngnghệ trong nhà tr
Trang 11 Lí do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Cũng như các môn học khác trong nhà trường phổ thông môn công nghệcũng đang đứng trước những vận hội và thách thức mới Để phù hợp với đặctrưng môn học đồng thời thực hiện tốt quá trình đổi mới phương pháp giáo dụctheo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh thì việc dạy và học môn côngnghệ trong nhà trường phổ thông muốn đạt hiệu quả cao cần phải có sự kết hợpnhuần nhuyễn trong việc khai thác hệ thống kênh chữ và kênh hình Sở dĩ nhưvậy vì kênh hình ngoài chức năng đóng vai trò là phương tiện trực quan minhhọạ cho kênh chữ nó còn là một nguồn tri thức lớn có khả năng phát huy tínhtích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập Bên cạnh đóthông qua kênh hình con đường nhận thức của học sinh được hình thành, giúpcho học sinh tự mình phát hiện và khắc sâu kiến thức Sử dụng kênh hình còngiúp cho giáo viên tổ chức việc dạy và học theo đặc trưng bộ môn nhằm đạt hiệuquả cao
Trong thời gian gần đây sách giáo khoa công nghệ đã có nhiều thay đổiphù hợp hơn với nhu cầu đổi mới dạy và học Trong đó, số lượng kênh hìnhchiếm tỉ lệ khá cao với nội dung phong phú: sơ đồ, tranh ảnh, bảng số liệu vàđược thể hiện bằng màu sắc có tính khoa học, trực quan cao đảm bảo thuận lợicho việc dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh
Để có thể khai thác được tối đa hệ thống kiến thức của sách giáo khoa việchướng dẫn cho học sinh phương pháp khai thác hệ thống kênh hình là một trongnhững nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên công nghệ Vì vậy, tôi chọn để
tài nghiên cứu: “Bổ sung hình ảnh trong dạy học phần Sâu bệnh hại cây trồng môn Công nghệ 10 ở trường Trung học phổ thông”.
Bổ sung hình ảnh trong dạy học phần Sâu bệnh hại cây trồng
môn Công nghệ 10 ở trường Trung học phổ thông
Trang 22 Mục tiêu đề tài
Việc đổi mới phương pháp dạy học luôn là vấn đề cần thiết đối với mọi môn học, bậc học trong đó sử dụng kênh hình trong giảng dạy công nghệ đang là
xu hướng được quan tâm Trong đề tài này chúng tôi chú trọng nghiên cứu việc
sử dụng kênh hình trong môn công nghệ lớp 10 Quan trọng hơn là nghiên cứu cách sửdụng kênh hình khác nhau sao cho có hiệu quả và hợp lý nhất
Trên cơ sở đó xâydựngmột số giáo án mẫu và tiến hành thực nghiệm
để thấyđược giá trị thực tiễncủa đề tài nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài lấy việc sử dụng kênh hình trong giảng dạy môn công nghệ lớp10 làm đối tượng nghiên cứu trên cơ sở đối tượng thực nghiệm là học sinh lớp 10 ở trường THPT
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Kênh hình có rất nhiều nguồn, nhiều cách phân loại khác nhau tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu đề tài khoa học của sinh viên chúng tôi đặc biệt chú trọng nghiên cứu các kênh hình trong SGK công nghệ 10
Các loại kênh hình chủ yếu được nghiên cứu là: sơ đồ và tranh ảnh có nộidung công nghệ Ngoài ra đề tài cũng mở rộng đối chiếu kênh hình từ các nguồnkhác nhau cơ bảnlà từ mạng internet
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp tài liệu: chúng tôi nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài gồm các tài liệu lí luận dạy học, các phương pháp dạy học môn công nghệ thông qua nhiều nguồn khác nhau như: sách báo, báo cáo khoa học, mạng internet, đặc biệt là các sách chuyên ngành như: sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu bồi dưỡng giáo viên Qua nghiên cứu như vậy sẽ kế thừa và phát huy được kết quả của các công trình khoa học có liên quan đến đề tài
Trang 3Từ đó xác lập được các kênh hình cụ thể và lựa chọn phương pháp khai thác kênh hình nhằm lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng.
- Phương pháp điều tra: đối tượng điều tra là các em học sinh và giáo viên trực tiếp giảng dạy Thông qua việc xây dựng bảng hỏi đo thái độ và các phiếu khảo sát hiện trạng giúp người nghiên cứu nắm được thực trạng hiện nay
-Phương pháp phân tích hình ảnh: dựa vào hình ảnh để từ đó làm rõ đượcnội dung kiến thức mà ta cần truyền đạt, hình ảnh sinh động giúp học sinh đểnắm bắt, tiếp thu hơn
5 Giả thuyết khoa học
- Đề tài thiết kế một số hình ảnh phục vụ môn công nghệ 10-phần sâu bệnh hại cây trồng nhằm nâng cao hiệu quả học tập và giảng dạy môn học này,
đề tài được áp dụng vào thực tế có thể gây hứng thú cho học sinh, giúp học sinh tiếp thu bài hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu của người học, nâng cao chất lượng dạy và học ở trường THPT
Trang 4NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận của việc bổ sung hình ảnh trong dạy học phần
Sâu bệnh hại cây trồng môn Công nghệ 10 ở trường Trung học phổ
thông
1 Tình hình bổ sung hình ảnh trong dạy học ở Việt Nam và thế giới
1.1 Tình hình trên thế giới
Trên thế giới hoạt động giảng dạy luôn có những khó khăn, thách thức
Đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng giảng dạynhư: Tác giả P.V.Zimin, M.I.Kođakhốp, N.I.Saxerđôlôlốp nhận định: “công tácquản lý hoạt động giảng dạy, giáo dục trong nhà trường là khâu then chốt tronghoạt động quản lý trường học”
Quản lý hoạt động giảng dạy trong nhà trường phổ thông không chỉ chútrọng đến việc quản lý phương pháp giảng dạy, quản lý nội dung chương trình màcòn phải chú trọng đến nhiều yếu tố khác vì chúng có mối quan hệ hỗ trợ chonhau về nội dung kiến thức Bổ sung kênh hình thu hút sự chú ý, tò mò của họcsinh, góp phần làm cho tiết dạy thêm sinh động, hấp dẫn Thực tế cho thấy với độingũ GV có năng lực chuyên môn vững vàng, thường xuyên được bồi dưỡng nângcao tay nghề thì công tác đào tạo sẽ đạt hiệu quả cao
1.2 Tình hình ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nhận thức được vai trò to lớn của công tác QLGD (quản lýgiáo dục) đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, nhiều công trìnhnghiên cứu về quản lý nói chung và QLGD nói riêng đã có nhiều đóng góp về lýluận và thực tiễn, tiêu biểu là các tác giả: Phạm Minh Hạc,Đặng Quốc Bảo, TrầnKiểm, Hà Sỹ Hồ, Vỗ Quang Phúc…
Nhiều tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu về quản lý hoạt động giảng dạy trong
đó có các vấn đề liên quan như tổ chức quản lý hoạt động giảng dạy trong đó cácvấn đề liên quan như tổ chức quản lý tốt các hoạt động giảng dạy trong nhàtrường bao gồm: điều kiện phương tiện phục vụ tốt cho hoạt động dạy và học,
Trang 5quản lý việc chuẩn bị giờ lên lớp, giảng dạy một cách khoa học…thực hiện kiểmtra thường xuyên các hoạt động giảng dạy của GV, phát hiện và phổ biến kinh
Trang 6nghiệm giảng dạy, các biện pháp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để xây dựngtiềm lực giảng dạy cho đội ngũ GV, đánh giá tầm quan trọng của công tác thi đuakhen thưởng trong quá trình quản lý nhà trường nhằm động viên, phát huy hếtkhả năng, trí tuệ của GV…
Một số đề tài luận văn gần đây về PPDH, chất lượng giảng dạy của các tác
giả ở Huế, TP Hồ Chí Minh, Cà Mau, Cần Thơ rất đáng quan tâm, các tác giảcủa luận văn này đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, thực tiễn và đề ra nhữngbiện pháp nâng cao chất lượng dạy học dưới những góc độ khác nhau
2 Một số khái niệm cơ bản
2.1 Dạy học tích cực
2.1.1 Khái niệm tích cực
- Tích cực là khái niệm chỉ phẩm chất, thể hiện sự chủ động, sự lạc quan, nhiệttình hăng say, hoạt động theo hướng phát triển
-Tính tích cực là phẩm chất vốn có của con người, con người không chỉ
tồn tại mà còn cải tạo xã hộivì vậy việc hình thành phát triển tính tích cực conngười là nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, là một điều kiện đồng thời là kết quảquá trình phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục
- Tích cực là một nét quan trọng của nhân cách, là một đức tính rất quý báucủa con người
2.1.2 Tích cực trong học tập
- Bắt đầu bài học khi mà mọi học sinh đều được tham gia, tổ chức các hoạtđộng học tập có ý nghĩa, thú vị và mang tính thách thức, lôi cuốn mọi học sinhtham gia vào hoạt động học tập, tạo môi trường học tập thoải mái và thânthiện cho học sinh
- Tính tích cực trong học tập là quá trình học có mục đích có sự tiếp thu kiếnthức Ngoài việc tiếp thu kiến thức, trong học tập còn có sự tương tác và họctập hợp tác giữa thầy và trò, hoạt động này cần được tăng cường, tương tácgiữa giáo viên với học sinh và tương tác giữa học sinh với học sinh
Trang 7- Giáo viên đưa ra các hướng dẫn rõ ràng và dể hiểuscho các hoạt động làm bàitập
- Tính tích cực liên quan đến động cơ học tập, động cơ tạo hứng thú, hứng thú làtiền đề cho tính tự giác Hứng thú và tự giác tạo nên hai yếu tố tâm lí tích cực
-Tích tích cực sản sinh nếp sống tư duy độc lập, suy nghĩ độc lập là mầmmống của sự sáng tạo, phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triểntích tự giác, hứng thúbồi dưỡng động cơ học tập
- Biểu hiện của tính tích cực là sự hăng hái, phát biểu xây dựng bài…nó đạt từcấp độ từ thấp đến cao: bắt chước,tìm tòi,sáng tạo
- Tính tích cực bao gồm cả phương pháp dạy và học, hướng tới việc hoạt độnghóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, phát huy tính tích cựccủa người học chứ không phải phát huy tính tích cực của người dạy
2.1.3 Hoạt động của giáo viên, học sinh trong phương pháp dạy học tích cực 2.1.3.1.Hoạt động của giáo viên
- Hoạt động dạy của giáo viên là hoạt động do thầy làm chủ thể Dạy học tíchcực là một hình thức dạy học mà giáo viên không đưa ra tri thức cho họcsinh dưới dạng có sẵn mà hướng dẫn, tổ chức cho các em tự tìm ra tri thứcbằng các phương pháp dạy học tích cực và để tránh tình trạng kiến thứcchuyên môn của giáo viên còn chưa sâu nên sự tìm tòi và khai thác chưa hếttác dụng của kênh hình, giáo viên sử dụng kênh hình chưa đúng lúc, đúngchỗ và đúng phương pháp sử dụng, giáo viên cần có sự chuẩn bị kỹ càng vềbài giảng trước khi lên lớp, không bỏ qua kênh hình cũng không chỉ chú ý đếnkênh chữ…
2.1.3.2 Hoạt động của học sinh
-Hoạt động học do học sinh làm chủ thể Đây là một hoạt động cơ bản, cótính chất chủ động ở lứa tuổi học sinh phổ thông Học sinh phải thực hiện cácthao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá…).Qua các hoạt động này mà học sinh giải quyết được nhiệm vu học tập, chiếmlĩnh tri thức, hình thành và phát triển nhân cách
Trang 8- Nếu như học sinh không biết cách phân tích kênh hình, không quan tâm đếnkênh hình trong lúc học do giáo viên chưa đề cao được vai trò của kênh hìnhtrong giảng dạy, giả sử như sự thường xuyên sử dụng kênh hình trong giảngdạy của giáo viên còn ít nhưng phản ứng từ phía học sinh khi được học bằngkênh hình thì rất tích cực và các em cũng đánh giá việc học khi có sử dụngkênh hình hiệu quả hơn, gây hứng thú hơn, kích thích được tính tò mò, sựchú ý của các em.
vì tính xác thực trực tiếp và tính nhanh chóng của nó
2.2.2 Vai trò của hình ảnh trong dạy học
2.2.2.1 Cập nhật, bổ sung, mở rộng kiến thức trong sách giáo khoa
-Theo đánh giá chung của Bộ, chương trình phân ban là theo đúng quan điểm,lập trường của chủ nghĩa Mac–Lenin, có cập nhật tư liệu mới, đảm bảo tínhkhoa học chính xác và phù hợp với trình độ của học sinh Hạn chế củachương trình là môn học còn yêu cầu cao, nặng về kiến thức mà chưa “mở” đểphát huy tính tích cực của học sinh, ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế
Trang 9Những hạn chế trên được các cấp, các ngành rút kinh nghiệm triển khai cho cácđợt đổi mới sách giáo khoa tiếp sau.
-Nhưng mặc dù có những cải tiến nhất định, sách giáo khoa trung học phổthông vẫn không tránh được những hạn chế nhất định Năm 2012, trong bài viết
đã báo cáo cho hội thảo: “Đổi mới sách giáo khoa để chấn hưng giáo dục”, TS
Hồ Thiệu Hùng đã nói lên tình trang sách giáo khoa cấp 3 bị các nhà trường là:
1 Nội dung ôm đồm, dư nhiều kiến thức chưa thiết thực (thậm chí xa rời nhucầu thực tế), nhưng thiếu nhiều kiến thức rất cần cho cuộc sống hiện tại và tươnglai
2 Thiếu tính tích hợp các kiến thức
3 Hình thức chưa thu hút người học, sau khi học xong không đọng lại gì tronglòng
4 Xu hướng muốn chiếm vị trí độc tôn suốt mọi bậc học
-Sách giáo khoa được xuất bản nhằm phục vụ việc dạy học trong 1 giai đoạnlịch sử với trình độ phát triển nhất định của xã hội Xu hướng này mạnh hay yếucòn tùy thuộc vào ý thức của người dạy, vì vậy cần phải liên tục bổ sunghình ảnh phục vụ cho giảng dạy
-Như vậy, qua sơ lược lịch sử giáo dục Việt Nam đặc biệt là ở trung học phổthông, ta thấy sách giáo khoa mặc dù có những cải cách, để ra các ưu điểmnhất định nhưng đồng thời cũng “trả lại” cho giáo dục Việt Nam khá nhiềukhuyết điểm cần được khắc phục
2.2.2.2 Củng cố, hoàn thiện kiến thức
-Khi nghiên cứu bài viết của sách giáo khoa, giáo viên cần căn cứ vào các ý trongnội dung để xây dựng cấu trúc bài giảng nhằm giúp học sinh nắm vững kiếnthức cơ bản, dễ học và dễ nhớ Muốn vậy, các công việc giáo viên cần làm là:
Trang 10-Đối với các bài viết quá dài mà không thể tách thành các mục nhỏ, để giúp họcsinh dễ theo dõi bài và nắm vững kiến thức, giáo viên tách nhỏ các ý, tìm cáctiêu đề sát hợp trên cơ sở hệ thống kiến thức cơ bản của sách giáo khoa.
-Nếu cấu trúc trong nội dung bài viết của sách giáo khoa có nhiều điểm chưa thậthợp lý, giáo viên có thể thay đổi, gộp lại, thêm hoặc bớt các mục nhỏ (tùy theo
sự sáng tạo của giáo viên)
-Sử dụng sơ đồ để khai thác nội dung bài viết trong sách giáo khoa là một biệnpháp sư phạm có ý nghĩa quan trọng Nó giúp giáo viên tránh được xuhướng vẫn thường xảy ra là thoát ly sách giáo khoa hoặc nói lại nội dung sáchgiáo khoa Giải quyết tốt mối tương quan giữa nội dung bài viết trong sách giáokhoa và nội dung bài giảng của giáo viên sẽ làm bài giảng sinh động, hấp dẫn đểphát huy tính tích cực của học sinh, góp phần nâng cao hiệu qua dạy học bộmôn
-Trong sách giáo khoa, thông thường đến cuối mỗi đề mục, cuối bài học thìnhững người soạn sách đặt ra các câu hỏi Mục địch của các câu hỏi này làgiúp học sinh củng cố kiến thức đã nắm được khi học xong phần đó hay mục đó,
và giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học vào các vấn đề thực tế (cũng thuộcnội dung bài học) Thông thường, giáo viên căn cứ vào vị trí nội dung câu hỏi,mục đích đặt câu hỏi để hướng dẫn học sinh trả lời Để làm được điều này,chúng tôi gợi ý một số cách sử dụng:
- Sử dụng câu hỏi trong sách giáo khoa, thường là ở cuối bài để làm bài tập nêu vấn đề.
Điều này có tác dụng rất lớn, thu hút sự chú ý, động viên khả năng nhậnthức của học sinh vào bài mới và câu hỏi dạng này thường là kiến thức cơ bảnhọc sinh cần nắm vững trong bài học Để làm được điều này, giáo viên cần:
+ Trả lời được các câu hỏi để nắm nội dung chính của bài
+ Gia công sư phạm một số câu hỏi thành các bài tập nhân thức
Ví dụ, khi dạy bài 17 “phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng” giáo viên có thểhỏi những câu đại loại như: “Nguyên lý cơ bản và các biện pháp chủ yếu sử
Trang 11dụng trong phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng?” giáo viên có thể dựa vàosách giáo khoa, sách giáo viên kết hợp các câu hỏi cuối mục để tìm ra nội dungchính của bài giúp học sinh nhận thức, từ đó xây dựng bài tập nêu vấn đề.
- Sử dụng câu hỏi trong sách giáo khoa làm câu hỏi gợi mở trong quá trình tiến hành bài học.
Các câu hỏi trong sách giáo khoa chủ yếu yêu cầu học sinh nắm vữngnhững vấn đề cụ thể, giúp học sinh hiểu từng bộ phận, từng phần ở trong bài Sửdung các câu hỏi này giúp học sinh tìm được những ý cần thiết để trả lời vấn đềđặt ra ở đầu bài học Ví dụ ở bài 17, “em hãy cho biết tác dụng của các biệnpháp phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng là gì?” Trả lời được những câu hỏinày tức là học sinh đã nắm vũng những ý cần thiết cho bài tập nêu vấn đề ở đầubài Trong trường hợp câu hỏi trong sách quá dài, giáo viên gia công thêm chocâu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu và học sinh dễ trả lời, nếu cần thiết giáo viên có thể bổsung các câu hỏi khác
Đối với học sinh thì người giáo viên phải hướng dẫn học sinh biết cách sửdụng sách giáo khoa trong việc học môn công nghệ 10
2.2.2.3 Góp phần đa dạng hoá phương tiện và đổi mới phương pháp dạy học
- Nói chung, trong quá trình dạy học, phương tiện - đồ dùng dạy học giảm nhẹcông việc của giáo viên và giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cáchthuận lợi Có được các phương tiện, đồ dùng thích hợp, người giáo viên sẽ pháthuy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt độngnhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, tạo ra cho học sinhnhững tình cảm tốt đẹp với môn học
- Do đặc điểm của quá trình nhận thức, mức độ tiếp thu kiến thức mới của họcsinh tăng dần theo các cấp độ của tri giác: nghe-thấy-làm được (những gìnghe được không bằng những gì nhìn thấy và những gì nhìn thấy thì không bằngnhững gì tự tay làm), nên khi đưa những phương tiện vào quá trình dạy học, giáoviên có điều kiện để nâng cao tính tích cực, độc lập của học sinh và từ đó nâng
Trang 12cao hiệu quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kĩ năng kĩxảo cho các em.
- Tính chất của phương tiện – đồ dùng dạy học biểu thị nội dung thông tin học,hình thức thông tin và phương pháp cho thông tin chứa đựng trong phươngtiện- đồ dùng và phải dưới sự tác động của giáo viên hoặc học sinh tính chất đómới đựơc bộc lộ ra Như vậy đã có mối liên hệ chặt chẽ giữa tính chất và chứcnăng của phương tiện dạy học
- Trong quá trình dạy học, chức năng của các phương tiện – đồ dùng dạy học thểhiện sự tác động đạt được mục đích dạy-học
2.2.2.4 Góp phần gây hứng thú học tập cho học sinh
- Việc sử dụng sơ đồ vừa có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn sâu sắc, giúp giáoviên khắc phục được mâu thuẫn trong quá trình dạy học, tránh được tìnhtrạng quá tải và tạo hứng thú cho học sinh trong dạy học, góp phần nâng caochất lượng dạy học Tuy nhiên, giáo viên cũng nên lưu ý rằng việc sử dụng sơ
đồ cần linh hoạt, không công thức, tùy theo nội dung bài giảng và trình độ cụ thểcủa học sinh cũng như điều kiện cụ thể của dạy học
- Cùng với việc sử dụng bài viết trong sách giáo khoa (kênh chữ), giáo viêncũng quan tâm đến việc sử dụng kênh hình Bởi vì, kênh hình không chỉ làmnội dung sách giáo khoa thêm sinh động, bài giảng hấp dẫn mà còn là nguồnkiến thức, một bộ phận không thể tách rời khỏi bài viết Do đó kênh hình có tácdụng không chỉ là giáo dục mà còn tác dụng về giáo dưỡng và phát triển Vấn đềđặt ra ở đây là làm thế nào sử dụng được kênh hình trong sách giáo khoa
- Sử dụng lược đồ: Để sử dụng tốt hình ảnh trong sách công nghệ vào bài giảng, giáo viên cần làm các công việc sau:
+ Chuẩn bị: Đối với sách giáo khoa có kèm theo hình ảnh in sẵn dùngchung cả lớp thì giáo viên phải nghiên cứu hình ảnh này Nếu trong sách giáokhoa có hình ảnh nhưng không có hình phóng to, giáo viên và học sinh có thể tự
vẽ trên giấy khổ lớn (khổ A1, A0) hoặc vẽ ra bảng phụ
Trang 13+ Xác định phương pháp, cách sử dụng và thời điểm sử dụng Trong khi
sử dụnghình ảnh, giáo viên luôn chú ý đến sự tri giác của học sinh, giúp các emđọc được ký hiệu, phân tích, rút ra kết luận khái quát… về kiến thức được phảnánh trong hình ảnh
- Sử dụng tranh ảnh trong sách giáo khoa công nghệ 10: khai thác nội dungtranh ảnh trong dạy học công nghệ là một biện pháp sư phạm quan trọng, giúphọc sinh hình dung rõ hơn được kiến thức, làm phong phú kiến thức cho các
em Song công việc này cũng hết sức khó khăn với giáo viên, nó đòi hỏigiáo viên phải có trình độ hiểu biết nhất định để trình bày một tranh ảnh Trênthực tế không ít giáo viên không nắm được nội dung tranh ảnh và dùng nhưphương tiện minh họa cho học sinh ngắm nhìn, bàn tán mà không giúp các emhiểu được chính xác kiến thức được phản ánh qua tranh ảnh, học sinh gây ồn ào,mất trật tư và làm ảnh hưởng đến chất lượng bài giảng Do đó, để sử dụng tranhảnh có hiệu quả phải chuẩn bị kỹ nội dung, xây dựng các bài tường thuật, miêutả
- Cùng với chữ viết, tranh vẽ dần dần được phổ biến Điều này thật dễhiểu,bởi con người cần thiết phải sử dụng giác quan để tìm hiểu thực tại
và mở rộng tri thức.Nhưng “trăm nghe không bằng một thấy” ảnh đã rađời để đáp ứng nhu cầu này
2.2.2.5 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
1 Những yêu cầu sư phạm cần tuân thủ khi đánh giá kết quả học tập của học sinh:
khai
giá
- Đánh giá phải xuất phát từ mục tiêu dạy học
- Công cụ đánh giá phải đảm bảo mức độ chính xác nhất định
- Đánh giá phải mang tính khách quan, toàn diện, có hệ thống và công
- Đánh giá phải đảm bảo tính thuận tiện của việc sử dụng công cụ đánh
Trang 142 Những nguyên tắc để đánh giá kết quả học tập của học sinh:
- Đánh giá là quá trình tiến hành, có hệ thống để xác định phạm vi đạt đượccủa các mục tiêu đề ra Vậy, phải xác định rõ mục tiêu đánh giá là gì?
- Khi đánh giá phải chọn mục tiêu đánh giá rõ ràng, các mục tiêu phải đượcbiểu hiện dưới dạng những điều có thể quan sát được
- Giáo viên cần phải biết rõ những hạn chế của từng công cụ đánh giá để sửdụng chúng có hiệu quả
- Đánh giá bao giờ cũng gắn với việc học tập của học sinh, nghĩa là trước tiênphải chú ý đến việc học tập của học sinh Sau đó mới kích thích sự nỗ lực họctập của học sinh, cuối cùng mới đánh giá bằng điểm số
- Đánh giá bao giờ cũng đi kèm theo nhận xét để học sinh nhận biết nhữngsai sót của mình về kiến thức kỹ năng, phương pháp để học sinh nghiên cứu,trao đổi thêm kiến thức
- Qua những lỗi mắc phải của học sinh, giáo viên cần rút kinh nghiệm để pháthiện ra những sai sót trong quá trình dạy và đánh giá của mình để thay đổi cáchdạy sao cho phù hợp với học sinh
- Trong đánh giá nên sử dụng nhiều phương pháp và hình thức khác nhau nhằmtăng độ tin cậy và chính xác
- Giáo viên phải thông báo rõ các loại hình câu hỏi để kiểm tra đánh giá giúphọc sinh định hướng khi trả lời
- Phải dựa trên những cơ sở của phương pháp dạy học mà xem xét kết quả củamột câu trả lời, của một bài kiểm tra, kết hợp với chức năng chẩn đoán hoặcquyết định về mặt sư phạm
- Phương pháp và cách thức tiến hành kiểm tra đánh giá phải diễn ra trong hoàncảnh thoải mái, học sinh cảm thấy tự nguyện, không lo lắng hay sợ sệt
- Không nên đặt những câu hỏi mà bản thân giáo viên không thể trả lời mộtcách chắc chắn được
3 Vai trò của kiểm tra-đánh giá trong dạy học hiện nay:
Trang 15- Trong nhà trường hiện nay, việc dạy học không chỉ chủ yếu là dạy cái gì mà còndạy học như thế nào Đổi mới phương phá dạy học là một yêu cầu cấp bách cótính chất đột phá để nâng cao chất lượng dạy học Đổi mới phương pháp dạyhọc đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ đổi mới từ nội dung chươngtrình sách giáo khoa, phương pháp dạy học cho đến kiểm tra đánh kết quả dạyhọc Kiểm tra đánh giá có vai trò rất to lớn đến việc nâng cao chất lượng đàotạo Kết quả của kiểm tra đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạtđộng học và quản lý giáo duc Nếu kiểm tra đánh giá sai dẫn đến nhận định sai
về chất lượng đào tạo gây tác hại to lơn trong việc sử dụng nguồn nhân lực Vậyđổi mới kiểm tra đánh giá trở thành nhu cầu bức thiết của ngành giáo dục vàtoàn xã hội ngày nay Kiểm tra đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan
sẽ giúp người học tự tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập
2.2.3 Các loại tư liệu hình ảnh trong dạy học
Như trên đã phân tích, hình ảnh dạy học là các dạng vật chất được sửdụng trong dạy học Tuỳ theo tính chất, đặc điểm và cách sử dụng của các vậtchất mà hình ảnh trong dạy học được chia ra các loại khác nhau:
- Giáo viên tự thiết kế trên các phần mềm thông dụng
- Thu thập từ máy scan, máy ảnh kỹ thuật số, mạng internet…
- Từ các nguồn phim tư liệu, phim phổ biến kỹ thuật cho nông dân Từ các phimnày, giáo viên có thể biên tập lại bằng các phần mềm cắt phim, chụp ảnh theo ýmuốn phù hợp với nội dung bài học
Trang 163 Mục tiêu, cấu trúc, nội dung phần Sâu bệnh hại cây trồng
3.1 Mục tiêu
3.1.1 Về kiến thức
- Học xong phần sâu bệnh hại cây trồng học sinh phải:
+ Hiểu được nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện ổ dịch, các điều kiện vềkhí hậu về giống, về chế độ chăm sóc có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát sinh,phát triển của sâu bệnh hại cây trồng
+ Biết được đặc điểm gây hại, đặc điểm hình thái và nhận dạng được một
số sâu, bệnh hại lúa phổ biến
+ Trình bày được các nguyên lý cơ bản phòng trừ tổng hợp dịch hại câytrồng, nêu được các biện pháp chủ yếu của phòng trừ tổng hợp dịch hại câytrồng (biện pháp kỹ thuật, biện pháp sinh học, biện pháp hóa học, biện pháp cơgiới, vật lý, biện pháp sử dụng giống cây trồng chống chịu sâu, bệnh, biện phápđiều hòa)
3.2 Nội dung
-Kiến thức cơ bản của phần sâu bệnh hại cây trồng bao gồm các nội dung sau:
+ Bài 15: Điều kiện phát sinh, phát triển của sâu, bệnh hại cây trồng Nộidung bài này gồm 4 phần: nguồn sâu, bệnh hại; điều kiện khí hậu, đất đai; điềukiện về giống cây trồng và chế độ chăm sóc và điều kiện để sâu, bệnh phát triểnthành dịch
+ Bài 16: Thực hành: nhận biết một số loại sâu, bệnh hại lúa bao gồm cácquy trình thực hành giới thiệu đặc điểm gây hại, đặc điểm hình thái và nhận biếtmột số loại sâu, bệnh hại lúa phổ biến ở nước ta
+ Bài 17: Phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng có gồm 3 phần: khái niệm
về phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng, nguyên lý cơ bản phòng trừ tổng hợpdịch hại cây trồng và biện pháp chủ yếu của phòng trừ tổng hợp dịch hại câytrồng
3.2.1 Về kỹ năng
Trang 17- Học sinh biết được kĩ năng phân tích kênh hình thông qua tranh ảnh, slide,hình ảnh trong sách giáo khoa.
- Phát triển tư duy logic, sáng tạo thông qua việc phân tích, tổng hợp kênhhình liên hệ với thực tiễn
Trang 18- Phát triển kỹ năng phân tích, tổng hợp nhận biết một số loại sâu bệnh hại lúa.
- Minh họa một số sâu, bệnh hại cây trồng
- Minh họa điều kiện phát sinh, phát triển của sâu bệnh hại cây trồng
- Minh họa các biện pháp phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng
- Minh họa một số loài thiên địch
Trang 19Chương 2: Bổ sung hình ảnh trong dạy học phần Sâu bệnh hại cây trồng môn Công nghệ 10 ở trường trung học phổ thông
1 Nguyên tắc bổ sung hình ảnh
1.1 Bám sát mục tiêu dạy học
Mục tiêu dạy học được hiểu là cái đích và yêu cầu phải đạt được của quátrình dạy học Đó là các phẩm chất của học sinh về kiến thức, kỹ năng, thái độ.Các hình ảnh được bổ sung cho quá trình dạy học phải hướng vào mục tiêu bàihọc Tiến trình tổ chức học sinh khai thác hình ảnh đồng thời là quá trình thực hiệnmục tiêu bài học đã đề ra
1.2 Nguyên tắc khoa học
Trong dạy học, sử dụng hình ảnh là điều cần thiết, tuy nhiên hình ảnh dạyhọc phải được xây dựng trên mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạyhọc; nội dung thông tin trong hình ảnh phải chính xác, rõ ràng, phản ánh nội dungbài học và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh
1.3 Nguyên tắc sư phạm
Hình ảnh được bổ sung để phục vụ cho quá trình dạy học, do đó thông tincủa hình ảnh phải ngắn gọn, súc tích, hình ảnh phải rõ ràng, phù hợp với ý đồ sưphạm
1.4 Đảm bảo phát huy tính tích cực của học sinh
Ngày nay, việc dạy học không dừng lại ở dạy kiến thức mà quan trọng hơn
là dạy cách học cho học sinh để các em tự chiếm lĩnh tri thức, hình thành nănglực tự học, tự nghiên cứu suốt đời, từ đó trở thành con người tự chủ, năng động
Do đó phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tíchcực của học sinh Để phát huy tính tích cực thì hình ảnh bổ sung phải súc tích, rõràng, phù hợp với tâm sinh lý
Trang 20phải đảm bảo sắp sếp theo trình tự logic, có hệ thống chặt chẽ giúp học sinh tòmò,tư duy, sáng tạo.
1.6 Đảm bảo tính thực tiễn
- Trong diễn văn khai mạc lớp học lý luận khoá I tại trường Nguyễn Ái Quốc
đã nhấn mạnh cách học "lý luận phải liên hệ với thực tế" Hơn 50 năm đã trôiqua, những lời chỉ dẫn ấy vẫn nguyên giá trị, mang tính thời sự cho việc chỉ đạoquá trình học tập lí luận chính trị của các thế hệ hôm nay và mai sau
- Hoạt động giảng dạy và hoạt động học tập là 2 mặt cơ bản gắn liền với nhau,quy định lẫn nhau trong quá trình đào tạo Chủ thể của hoạt động học tập làngười học - học viên Đây là chủ thể trong nhận thức, rèn luyện và tu dưỡngbản thân thông qua sự chỉ dẫn, truyền thụ kiến thức và phương pháp trong hoạtđộng dạy của người thầy hoặc sự chỉ dẫn trong sách, báo, tài liệu và các phươngtiện thông tin đại chúng khác
- Đối tượng của hoạt động học tập là hệ thống tri thức đã được tổng kết, là kinhnghiệm thực tiễn được thể hiện dưới dạng các chương trình với nội dung theoyêu cầu đào tạo Mục đích, động cơ của hoạt động học tập là vận dụngnhững tri thức và kinh nghiệm đã được tiếp thu vào thực tế cuộc sống cá nhân vàđời sống xã hội Từ đây có thể rút ra bản chất của hoạt động học tập là tiếp nhận,thấu hiểu, nắm vững những tri thức đã được tổng kết từ thực tế và chuyển hoáthành phương pháp vận dụng, kỹ năng thực hành theo nghề nghiệp của ngườihọc trong thực tế
- Như vậy, đối với hoạt động học tập, thực tế vùa là cơ sở sản sinh ra những
"vật liệu" cho sự tiếp nhận, cho việc hình thành phương pháp tư duy và kỹnăng thực hành, vừa là mục tiêu của chính hoạt động đó để thực hiện lợi íchcủa chủ thể Thông qua thực hành và vận dụng vào thực tế của chủ thể có trithức sẽ làm cho thực tế biến đổi ngày càng phong phú, đa dạng Chính sự biếnđổi của thực tế lại tạo ra tiền đề cho việc bổ sung, hoàn thiện tri thức, lý luận đãcó