Ví dụ: Các tiêu chí để đánh giá đạođức môi trường thể hiện như sau: Đạo đức môi trường là những hành vi mang tínhchuẩn mực thông qua các văn bản pháp luật, các quy định, nghị định hiện h
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các
số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận vănchưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG 8
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 8
1.2 Đạo đức môi trường ở sinh viên 28
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG Ở SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNG 38
2.1 Đặc điểmTrường Đại học Hải Dương 38
2.2 Thực trạng và những vấn đề về đạo đức môi trường ở sinh viên Trường Đại học Hải Dương 41
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG Ở SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNG 63
3.1 Nâng cao hoạt động của Nhà trường trong giáo dục đạo đức môi trường cho sinh viên đại học Hải Dương 63
3.2 Tăng cường các hình thức ngoại khóa, các hoạt động ngoài giờlên lớpcho sinh viên về đạo đức môi trường 68
3.3 Đẩy mạnh hình thức khen thưởng và kỷ luật sinh viên về đạo đức môi trường 71
3.4 Huy động các nguồn kinh phí chi cho hoạt động bảo vệ môi trường 73
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 3Vấn đề đặt ra là phải làm sao đểngăn chặn vấn nạn đó? Câu hỏi này đặt rakhông chỉ đối với sự quản lý vĩ mô củachính phủ, mà còn đặt ra đối với hoạt độngcủa các ngành các cấp, với thái độ và hành
vi của toàn thể cộng đồng Đặc biệt, câu hỏiđặt ra không chỉ về phương diện kinh tế - xãhội hay pháp luật, mà còn đặt ra về phươngdiện văn hóa và đạo đức Đạo đức môitrường ngày nay là giá trị tinh thần khôngthể thiếu để các xã hội phát triển bền vững
Trang 4nước phát triển theo hướng hiện
đại hóa, công nghiệp hóa Để thúc
đẩy được đất nước phát triển thì
một điều không thể thiếu là cần
ngăn không cho môi trường tiếp
tục bị ô nhiễm, giải quyết được
vấn nạn ô nhiễm môi trường Điều
này ở một mức độ lớn, phụ thuộc
vào ý thức, văn hóa và đạo đức
của cộng đồng cũng như của mỗi
người thông qua hành động của
họ với việc bảo vệ môi trường
Nói đến thế hệ trẻ, cần thiết
phải chú ý đến lớp người rất có ý
nghĩa đối với sự phát triển đất
nước là những bạn trẻ còn đang
ngồi trên ghế nhà trường, những
sinh viên đầy nhiệt huyết, đang
mang trong mình những ước mơ,
những hoài bão lớn Đây cũng là
lực lượng có ý nghĩa lớn trong
việc góp phần giải quyết ô nhiễm
môi trường hiện nay Nghĩa là
đạo đức môi trường ở lớp người
trẻ tuổi đang là diều được xã hội
Trang 5kỳ vọng Trên thực tế, việc xây dựng đạo đức môi trường cho từng sinh viên, biến
ý thức thân thiện với tự nhiên thành hành động để bảo vệ môi trường, những nămqua đã đến được với tầng lớp sinh viên và bước đầu đã có kết quả tương đối tíchcực
Hải Dương là một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng Bắc
Bộ, được biết là vùng đất ít nhiều có tiếng về tinh thần hiếu học, tôn sư trọng đạo.Vùng đất này đã sinh ra và nuôi dưỡng nhiều bậc hiền tài cho đất nước Hải Dươnghiện có 3 trường đại học là Đại học Sao Đỏ, Đại học Thành Đông và Đại họcHải Dương cùng một số trường cao đẳng và trung cấp
Trường Đại học Hải Dương là trường đại học công lập duy nhất của tỉnhHải Dương Sinh viên của trường được chiêu sinh từ các tỉnh Thái Bình, QuảngNinh, Bắc Giang và một số tỉnh miền núi phía Bắc Thực ra, ý thức và hành vi đạođức môi trường ở sinh viên Hải Dương có được là từ nhiều kênh khác nhau; ítnhiều cũng không tự giác Do vậy, bên cạnh những sinh viên có ý thức bảo vệ môitrường thì vẫn còn không ít những em chưa có thực sự có ý thức, thái độ vàhành vi bảo vệ môi trường
Để góp phần bảo vệ môi trường, giảm thiểu ô nhiễm môi trường nói chung,
ở môi trường tỉnh Hải Dương và Đại học Hải Dương nói riêng, thì việc nghiên cứu
về thực trạng đạo đức môi trườngcủa sinh viên Trường Đại học Hải Dương, đánhgiá thực trạng và tìm các giải pháp phát huy đạo đức môi trường ở mỗi sinh viên làviệc làm vô cùng có ý nghĩa
Với những lý do nêu trên tôi chọn đề tài: “Đạo đức môi trường ở sinh viên Trường Đại học Hải Dương hiện nay: Thực trạng và những vấn đề” là đề tài
nghiên cứu luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Môi trường là hệ vấn đề đã được khá nhiều tác giả nghiên cứu, tìm hiểu và
đề cập tới bởi tính cần thiết và cấp bách ngày càng nghiêm trọng của nó Đã cónhiều công trình nghiên cứu đi vào cả chiều sâu và chiều rộng của vấn đề, đi từ
Trang 6chuyên ngành đến đa ngành và liên ngành với nhau Trong đó, từ góc độ khoahọc xã hội
Trang 7nhân văn và từ chuyên ngành triết học, chúng tôi thấy có một số công trình
nghiên cứu đáng chú ý sau đây:
Trước tiên cần phải nhắc đến: “Báo cáo môi trường quốc gia” Đây là
những báo cáo hàng năm về vấn đề môi trường do Bộ tài nguyên và Môi trườngthực hiện Từ báo cáo môi trường quốc gia năm 2016 với chủ đề là môi trường đôthị cho biết tình trạng ô nhiễm môi trường ở các khu đô thị của Việt Nam đangdiễn ra rất phức tạp với sự ô nhiễm tiêu biểu hàng đầu là hoạt động của ngànhgiao thông vận tải, ngành xây dựng, ngành công nghiệp gây ra.Ô nhiễm môitrường không khí, chủ yếu là bụi gây ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến sứckhỏe của người dân sinh sống tại chính khu đô thị đó Đặc biệt là trẻ em với sức đềkháng còn yếu Bên cạnh ô nhiễm không khí là ô nhiễm môi trường nước do việc
xử lý nước thải chưa đúng quy định và do việc vứt rác thải xuống sông, hồ ven khu
đô thị gây nên tình trạng bốc mùi hôi thối, nước sông hồ chuyển màu đen làm ảnhhưởng tới đời sống sinh hoạt của người dân và làm xấu đi hình ảnh đẹp của khu
đô thị Ngoài ra còn ô nhiễm do chất thải rắn gây ra, đó là hiện tượng thu gom vàvận chuyển rác thải chưa nhanh chóng và kịp thời làm bốc mùi hôi thối và mất
mỹ quan đô thị Cuối cùng là ô nhiễm môi trường đất do nước thải chưa qua xử
lý hoặc xử lý chưa đúng theo quy định, các bãi chôn lấp rác thải gây ra
Báo cáo môi trường quốc gia năm 2017 với nội dung chính đề cập tới làquản lý chất thải Theo báo cáo vấn đề quản lý chất thải còn nhiều bất cập, chỉ tính
về nước thải mới giải quyết được trên 10% tổng lượng nước thải, còn lại vẫnthải ra môi trường chưa qua xử lý hoặc chỉ mới xử lý ở mức độ đơn giản Quađây có thể thấy, môi trường đang bị ô nhiễm rất nghiêm trọng Những việc làm đó
đã góp phần làm cho nguồn nước, nguồn đất, không khí ngày càng ô nhiễm hơn.Chất thải rắn cũng là vấn đề đau đầu với các cơ quan quản lý bởi khối lượng lớn
Từ đó, kéo theo hệ lụy là hiện tượng biến đổi khí hậu đang diễn ra phức tạp, hiệntượng nước biển dâng và xâm nhập mặn đang đe dọa những khu đô thị, những tỉnh
và thành phố ven biển
Trang 8Bên cạnh các báo cáo của các tổ chức chính trị - xã hội về bảo vệ môitrường, các tác giả khác với các bài viết đã công bố khá nhiều và đề cập rất chi tiếtđến vấn đề đạo đức môi trường, bảo vệ môi trường, giáo dục bảo vệ môi trường
như: Nguyễn Thị Lan Hương[19],“Đạo đức môi trường và truyền thống mục đích luận”, Tạp chí Triết học số 12; Nguyễn Văn Phúc[30], “Bảo vệ môi trường nhìn từ góc độ đạo đức”, Tạp chí triết học số 4; Phạm Thị Ngọc Trầm, “Vấn đề xây dựng đạo đức sinh thái trong điều kiện kinh tế thị trường”, Triết học, số 3/2002; Phạm Thị Ngọc Trầm (Chủ biên), Quản lý nhà nước đối với tài nguyên
và môi trường vì sựphát triển bền vững dưới góc nhìn xã hội – nhân văn[48], Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006; Hồ Sỹ Quý[36], “Về đạo đức môi trường”, Triết học, số 9/2005; Hồ Sĩ Quý (Chủ biên) (2000)[32], Mối quan hệ giữa con người và
tự nhiên trong sự phát triển xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Lê Văn Khoa[23] (chủ biên), Môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2008; Hội thảo quốc gia“Giáo dục môi trường trong các trường học”, Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường cùng Đại học quốc gia
Hà Nội phối hợp thực hiện
Những công trình nêu trên đều khẳng định, môi trường có vai trò quantrọng như thế nào với cuộc sống thường ngày của mỗi người dân, chính vì vậy mànhiệm vụ bảo vệ môi trường, phòng chống ô nhiễm môi trường đang vô cùng cấpbách Để bảo vệ môi trường đạt kết quả tốt thì không thể thiếu được việc giáo dục
ý thức, trách nhiệm và đạo đức môi trường đến từng thành viên trong xã hội từ trẻđến già, không phân biệt tuổi tác, trình độ Vì đạo đức môi trường được thể hiện ởtất cả các phương diện của xã hội từ sản xuất, du lịch, giải trí, học tập đến sinh hoạthàng ngày của con người Hiện nay ô nhiễm môi trường không chỉ tập trung ởthành phố, các khu đô thị, công nghiệp mà đã len lỏi về tận thôn quê và trườnghọc Điều đó đòi hỏi càng phải đẩy nhanh giáo dục đạo đức môi trường cho từngngười dân Các công trình nghiên cứu trên đã nhấn mạnh đến thực trạng môitrường hiện nay, các vấn đề cần giải quyết và đưa ra các giải pháp nhằm nâng caođạo đức môi trường để bảo vệ môi trường
Trang 9đang bị suy thoái Các giải pháp đó thể hiện ở tầm quốc gia và được thực hiện trên phạm vi cả nước với tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Trong số những nghiên cứu có liên quan đến đạo đức môi trường, chúngtôi thấy một số công trình ít nhiều có nghiên cứu sâu hơn, hệ thống hơn về đạo đức
môi trường như: Vũ Dũng, “Đạo đức môi trường ở nước ta: lí luận và thực tiễn”, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội 2010; Dự án điều tra cơ bản “Đánh giá đạo đức môi trườngở nước ta hiện nay”, do Viện Khoa học xã hội Việt Nam thực hiện (2009 – 2010); Nguyễn Văn Phúc, “Đạo đức môi trường”, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội 2013; “Xây dựng đạo đức môi trường ở Việt Nam hiện nay”,
Luận án tiến sĩ Triết học của Hoàng Thị Thanh chuyên ngành Chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Hà Nội, 2017 Đây là những công trình đềcập đến cả mặt lý luận và nhận thức về đạo đức môi trường với những khái niệm
cụ thể và chi tiết bao gồm: khái niệm môi trường, đạo đức, đạo đức môi trường vàcác tiêu chí để đánh giá đạo đức môi trường Ví dụ: Các tiêu chí để đánh giá đạođức môi trường thể hiện như sau: Đạo đức môi trường là những hành vi mang tínhchuẩn mực (thông qua các văn bản pháp luật, các quy định, nghị định hiện hànhcủa Đảng và Nhà nước về môi trường); Ý thức về nghĩa vụ của con người đối vớiviệc bảo vệ môi trường; Ý thức tự giác, tự nguyện của chủ thể đối với việc bảo vệmôi trường; Sự tác động của lương tâm chủ thể đối với việc bảo vệ môi trường;Việc bảo vệ môi trường gắn với việc hài hào về lợi ích giữa con người và tự nhiên;Chia sẻ trách nhiệm để duy trì sự toàn vẹn của môi trường toàn cầu
Nhiều tác giả cũng đã tập trung phân tích thực trạng đạo đức môi trườngđang diễn ra hiện nay và những vấn đề cần giải quyết để từ đó đưa ra các giải pháp
cụ thể để khắc phục những hạn chế còn tồn tại Tuy nhiên các giải pháp đó mangtầm quốc gia, xã hội Hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu về đạo đức môitrường ở sinh viên Trường Đại học Hải Dương: thực trạng và những vẫn đề Tuyvậy, các công trình trên chính là những tiền đề, căn cứ và cơ sở để chúng tôi vậndụng trong nghiên cứu nội dung đạo đức môi trường ở sinh viên Trường Đạihọc Hải Dương: Thực
Trang 10trạng và những vẫn đề Chúng tôi sẽ tập trung đi làm rõ về đạo đức môi trường ởsinh viên Trường Đại học Hải Dương đã và đang diễn ra như thế nào? Thựctrạng và những vấn đề đạo đức môi trường ở sinh viên Trường Đại học Hải Dươngcần được giải quyết là gì? Trên cơ sở đó sẽ đưa ra các giải pháp khắc phục nhữngtồn tại hạn chế để phát huy những ưu điểm về đạo đức môi trường ở sinh viênTrường Đại học Hải Dương góp phần cho Trường Đại học Hải Dương và quêhương Hải Dương có môi trường làm việc, học tập và sinh hoạt xanh – sạch và đẹphơn.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng đạo đức môi trường ở sinh viên Trường Đại họcHải Dương hiện nay; đánh giá những nét tích cực và hạn chế của thực trạng đó;trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế và nâng caonhận thức, thái độ, hành vi đạo đức môi trường cho sinh viên Trường Đại học HảiDương
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận vềđạo đức, đạo đức môi trường, đạo đức môi trường ở sinh viên làm cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu và phân tích thực trạng đạo đức môi trường ở sinh viên đại học Hải Dương Xác định những vấn đề đặt ra
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao đạo đức môi trường ở sinh viên đại học trong học tập và trong cuộc sống
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đạo đức môi trường (trong luận văn chủ yếu nghiên cứu môi trường tự nhiên) ở sinh viên Trường Đại học Hải Dương
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 11- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu đạo đức môi trường(luận văn chủ yếu nghiên cứu môi trường tự nhiên) ở sinh viên đại học đang họctập tại Trường Đại học Hải Dương trong những năm gần đây.
Trang 125 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ yếu là về quan hệ con ngườivới tự nhiên, về môi trường và về đạo đức môi trường
Luận văn có sự kế thừa những quan điểm và thành tựu nghiên cứu của cácnhà khoa học đi trước về môi trường và đạo đức môi trường… trong đời sống xãhội và trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hơn 30 năm qua
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài kết hợp sử dụng các phương pháp phân tích - tổng hợp; logic - lịchsử; hệ thống - cấu trúc, phân tích tài liệu thứ cấp và liên ngành khoa học xã hội
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận và danh mục TLTK luận văn còn có 3 chương
8
tiết
Chương 1: Cơ sở lý luận về đạo đức môi trường ở sinh viên đại học
Chương 2: Thực trạng và những vấn đề về đạo đức môi trường ở sinh viênTrường Đại học Hải Dương
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao đạo đức môi trường ở sinh viên Trường Đại học Hải Dương
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG 1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu
1.1.1 Đạo đức
● Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một từ Hán Việt dùng để chỉ một thành tố trong tính cách và giátrị của một con người, những tư tưởng về đạo đức học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷtrước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại Theo nghĩa Hán Việt
có thể hiểu: đạo là con đường, đức là tính tốt Khi nói một người có đạo đức tức lànói người đó đã có sự rèn luyện thực hành các lời răn dạy về đạo đức, sống cóchuẩn mực và có nét đẹp trong đời sống và tâm hồn Hiện nay, đạo đức là một vấn
đề được nhiều tác giả nghiên cứu, chúng ta có thể thấy đạo đức là một hiện tượng
xã hội được hình thành trong quá trình lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất,trong mối quan hệ giữa con người với con người nhằm điều chỉnh hành vi củamình để đảm bảo sự hoạt động của cộng đồng nói chung Đạo đức được hìnhthành dựa trên cơ sở tự giác, tự nguyện không mang tính cưỡng ép, bắt buộc.Chỉ có những hành vi được thực hiện trên cơ sở tự giác, tự nguyện và phù hợpvới lợi ích xã hội mới được coi là hành vi đạo đức
Theo Từ điển Tiếng Việt, “đạo đức” là “những tiêu chuẩn, nguyên tắc được
dư luận xà hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau
và đối với xã hội phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêuchuẩn nhất định mà có” [39, tr.464]
Theo Giáo trình đạo đức học của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh: “Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quitắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ vớinhau, với xã hội, với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai.Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của
dư luận xã hội.” [17, tr.116]
Trang 14Như vậy có thể hiểu đạo đức theo các khía cạnh sau:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, trong đó tập hợp những qui tắc,chuẩn mực xã hội và từ những quy tắc, chuẩn mực đó con người sẽ tự giác điềuchỉnh hành vi của bản thân mình để phù hợp với lợi ích và hạnh phúc củacon người, với tiến bộ xã hội
Đạo đức là hệ thống những qui tắc, nguyên tắc, chuẩn mực thể hiện sự tựgiác của con người trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người vớicộng đồng xã hội, con người với tự nhiên và con người với chính bản thân mình
Cấu trúc của đạo đức
Với tư cách là một bộ phận của triết học, đạo đức là một hiện tượng xã hội
có cấu trúc phức tạp, gồm các thành phần sau: ý thức đạo đức, hành vi đạo đức vàquan hệ đạo đức
Ý thức đạo đức: Là hệ thống những quan niệm, nguyên tắc, tri thức và
những cảm xúc, tình cảm chung của các cộng đồng người về các giá trị thiện,
ác, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc và công bằng… Mặt khác nó còn baogồm cả những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xãhội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội
Hành vi đạo đức: Là một hành động được thực hiện một cách tự giác, tự
nguyện và được xuất phát bởi một động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức Hay có thểhiểu hành vi đạo đức là những cử chỉ, hành động và việc làm của con người trongcác mối quan hệ xã hội mà phù hợp với các chuẩn mực đạo đức
Quan hệ đạo đức: Là tổng hợp những quan hệ xã hội, tác động qua lại
với nhau, đó là quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội xét về mặtđạo đức Quan hệ đạo đức có tính tự giác và tự nguyện, nó vận động, biến đổitheo quá trình phát triển của xã hội, trong phạm vi một hình thái kinh tế - xã hộihay hệ giá trị đạo đức của một giai cấp cũng có sự vận động, phát triển
Ý thức đạo đức, quan hệ đạo đức và hành vi đạo đức là những yếu tố tạonên cấu trúc của đạo đức, chúng không tồn tại độc lập, mà có quan hệ biệnchứng tác
Trang 15động qua lại với nhau Cấu trúc đạo đức không thể thiếu một tỏng ba yếu tố này Ýthức đạo đức được hình thành trong quan hệ đạo đức và là điều kiện để hình thànhhành vi đạo đức Hành vi đạo đức là quá trình hiện thực hóa ý thức đạo đức vàkhông thể tách rời quan hệ đạo đức.
Chức năng của đạo đức
Tương tự như cấu trúc của đạo đức, chức năng của đạo đức cũng có ba chứcnăng bao gồm: chức năng điều chỉnh hành vi, chức năng giáo dục và chức năngnhận thức
Chức năng điều chỉnh hành vi: Đây được coi là chức năng quan trọng nhất
của đạo đức, mặc dù là chức năng quan trọng nhất nhưng đó không phải là cái đặcquyền của đạo đức, bởi vì trong xã hội, con người tạo ra rất nhiều phương thứcđiều chỉnh hành vi của mình như: pháp luật, tôn giáo, chính trị, nghệ thuật,nhận thức khoa học Chức năng này nhằm bảo đảm hài hòa quan hệ lợi ích cộngđồng và cá nhân Nếu như sức mạnh của pháp luật là sự cưỡng chế, bắt buộc phảithực hiện thì sức mạnh của đạo đức chính là niềm tin cá nhân, là truyền thống và
dư luận xã hội
Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức được thực hiện bằng hai phươngthức chủ yếu như sau: Thứ nhất là xã hội tạo ra sức mạnh dư luận để khen ngợi,động viên những người có đạo đức và có những hành vi tốt đẹp Đồng thời cũnglên án, phê phán những hành vi gây ảnh hưởng xấu đến mọi người xung quanh vàđến cộng đồng xã hội Thứ hai là bản thân mỗi người phải tự giác, xuất phát từchính ý thức của mình để điều chỉnh hành vi thông qua những chuẩn mực đạo đức
xã hội và bản thân cũng phải tham gia các hoạt động thực tiễn để bổ sungnhận thức, rèn luyện ý chí
Chức năng giáo dục: Đây cũng là một trong những chức năng cơ bản của
đạo đức, chức năng này có tác dụng hình thành những nguyên tắc, quy tắc vàchuẩn mực đạo đức trong từng con người cụ thể và phát triển nhân cách của họ.Đây cũng là con đường đặc trưng cơ bản để loài người tồn tại và phát triển Cóthể hiểu, chức năng giáo dục của đạo đức chính là làm cho “tính người” ở mỗi
Trang 16người được nhiều lên để ngày càng có nhiều hành động đẹp cho những người kháchọc tập và noi theo.
Về thực chất chức năng này là đạo đức hóa con người và xã hội loài người.Hiệu quả của chức năng này phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế, xã hội, vàomức độ tự giác của mỗi người trong quá trình giáo dục đạo đức để hướng tới nhâncách và phẩm chất cần có
Chức năng nhận thức: Ngoài hai chức năng nêu trên, đạo đức còn có chức
năng nhận thức Chức năng này bao gồm: nhận thức và tự nhận thức Nhận thứccủa đạo đức là một quá trình vừa có hướng nội, vừa có hướng ngoại Nhận thứchướng nội lấy bản thân chủ thể đạo đức làm đối tượng để nhận thức Đây là quátrình chủ thể đạo đức tự đánh giá bản thân, tự đối chiếu nhận thức cũng nhưnhững hành vi của mình với chuẩn mực đạo đức xem đã phù hợp chưa? Nhậnthức hướng ngoại là lấy chuẩn mực đạo đức làm đối tượng để nhận thức Trên
cơ sở đó, chủ thể nhận thức làm gia tăng thêm tính hướng nội của mình Còn tựnhận thức là quá trình bản thân tự thẩm định, tự đánh giá những nhận thức,hành vi đạo đức của mình với chuẩn mực giá trị chung của cộng đồng, xã hội Từhai quá trình nhận thức trên con người sẽ đi đến phân biệt những giá trị như:đúng - sai, tốt - xấu, thiện - ác và hướng tới giá trị bao quátmà con ngườimuốn vươn tới là chân, thiện, mỹ
Các chức năng của đạo đức đều có một vai trò nhất định, nhưng không phải
vì thế mà chúng tách rời nhau, không có ràng buộc với nhau mà ngược lại chúngđều có quan hệ chặt chẽ với nhau, sự vận hành của chức năng này là tiền đề, điềukiện của sự vận hành chức năng đạo đức khác Hơn nữa chúng đều hướng tới mộtmục đích chung của xã hội đó là nhân đạo hóa con người và xã hội loài người
1.1.2 Môi trường
Khái niệm môi trường
Môi trường là khái niệm rộng, bao quát nhiều nội dung và được sử dụngtrong rất nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, giáo dục theo định nghĩa thông
Trang 17thường thì môi trường được hiểu: “là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên
Trang 18và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan
hệ với con người hay sinh vật ấy [39, tr.618].
Về mặt pháp lý, theo Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kì họp thứ 7 thông qua ngày
23/6/2014 thì môi trường được định nghĩa là: "hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” Từ cách định nghĩa này của Luật Bảo vệ môi trường có thể hiểu môi
trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và nhân tạo bao quanh con người và nó
có ảnh hưởng lớn tới các hoạt động sống của con người như: sinh hoạt, sản xuất,học tập Nghĩa là có thể thấy, con người chính là trung tâm của mối quan hệ giữacon người với tự nhiên Thành phần của môi trường theo Điều 1 của Luật này
bao gồm: "là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác".
Hiện nay có hai cách hiểu đơn giản về môi trường, đó là hiểu theo nghĩarộng và hiểu theo nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, môi trường bao gồm tất cả các nhân
tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho hoạt động sinh hoạt, lao động, sản xuất của conngười như: nước, không khí, đất, ánh sáng Theo nghĩa hẹp, không xét tới tàinguyên thiên nhiên môi trường chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội tácđộng trực tiếp tới chất lượng cuộc sống con người Ví dụ: môi trường của giảngviên bao gồm nhà trường với sinh viên, đồng nghiệp, nội quy của trường, lớp học,phòng làm việc, tổ chức xã hội như Đảng, Đoàn với các điều lệ hay gia đình, họtộc với những quy định chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành
và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư
Nếu chia theo chức năng có thể chia môi trường sống của con người như sau:
Một là môi trường tự nhiên bao gồm ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả,
không khí, động, thực vật, đất, nước chúng tồn tại bên ngoài ý muốn của conngười, nhưng không phải như vậy mà không chịu sự tác động của con người màngược lại chúng vẫn chịu ít nhiều chịu tác động
Trang 19Hai là môi trường xã hội đó là tổng thể các quan hệ giữa người với người
bao gồm: luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhaunhư: quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ chức đoàn thể Môi trường xã hội giúp cho hoạt động của con người được đi theo một khuônkhổ nhất định, từ đó dần dần hình thành sức mạnh tập thể to lớn tạo thuận lợicho sự phát triển, và đây cũng là điểm khác biệt giữa cuộc sống của con người vàcác sinh vật khác
Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, đó là tất cảcác nhân tố do con người tạo ra, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như
xe máy, ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu đô thị, khu công nghiệp, các khucông viên nhân tạo phục vụ cho vui chơi giải trí
Từ những trình bày ở trên có thể hiểu môi trường sống là tất cả những gì cóxung quanh con người, đem lại cho con người điều kiện, cơ sở để tồn tại, để sống
và phát triển, như C.Mác đã từng trình bày trong tác phẩm Bản thảo kinh tế triết học năm 1844: “Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người, và chính nó
-là giới tự nhiên trong chừng mực của bản thân nó không phải -là thân thể conngười Con người sống dựa vào tự nhiên Như thế nghĩa là tự nhiên là thân thểcủa con người; để khỏi chết, con người phải ở trong quá trình giao dịch thườngxuyên với thân thể đó Sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người liên hệkhăng khít với tự nhiên, điều đó chẳng qua chỉ có nghĩa là tự nhiên liên hệ khăngkhít với bản thân tự nhiên, vì con người là một bộ phận của tự nhiên”[7, tr.91-92]
Chức năng của môi trường
Môi trường chính là không gian sống của con người và sinh vật Vậy môitrường có chức năng gì? Môi trường cho chúng ta không khí để thở và duy trì sựsống, cho đất đai để trồng trọt chăn nuôi và xây dựng nhà cửa, ngoài ra môi trườngcòn có rất nhiều loại khoáng sản ở cả trên mặt đất và trong lòng đất, đó là nguồntài nguyên rất quý phục vụ cho nhu cầu sản xuất Không chỉ phục vụ cho nhu cầusinh hoạt, sản xuất mà môi trường còn có rất nhiều danh lam thắng cảnh đẹp lànơi du
Trang 20lịch, nghỉ mát cho con người sau những ngày làm việc vất vả, cho cuộc sống củacon người tưoi đẹp và sinh động hơn Tuy nhiên khả năng cung cấp của môi trường
tự nhiên phục vụ các nhu cầu đó của con người là có giới hạn và nó phụ thuộc vàotrình độ phát triển của mỗi quốc gia và ở mỗi giai đoạn khác nhau
Ngoài ra môi trường còn là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải của conngười trong quá trình sinh hoạt, lao động sản xuất và sử dụng các tài nguyên thiênnhiên thải vào môi trường dưới dạng các chất thải Chất thải có loại ở dạng rắn, cóloại ở dạng lỏng và một số loại qua thời gian được hân hủy thành các chất vô cơ, visinh có thể phục vụ lại nhu cầu cầu của con người Ví dụ chất thải của lợn có thể
sử dụng thành ga phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của con người hay chất thải củacác loại gia súc, gia cầm có thể ủ mục thành phân bón cho các loại cây trồng đượcxanh tốt Các tài nguyên sau khi hết hạn sử dụng, chúng bị thải vào môi trườngdưới dạng các chất thải Tuy nhiên với chức năng là nơi chứa đựng chất thải củamôi trường không phải là vô hạn mà là có giới hạn Nếu con người vượt quá giớihạn này thì sẽ gây ra tình trạng mất cân bằng sinh thái và dấn đến hiện tượng ônhiễm môi trường Lúc này lại cần sự chung tay góp sức của con người đểchống lại hiện tượng ô nhiễm môi trường, để bảo vệ môi trường
1.1.3 Đạo đức môi trường
Khái niệm đạo đức môi trường
Thuật ngữ đạo đức môi trường không phải xuất hiện ngay từ thời cổ đại,thời cổ đại đạo đức môi trường mới chỉ thể hiện ở tình yêu thương của conngười với thiên nhiên, với cỏ cây hoa lá và vạn vật xung quanh nơi họ sinh sống.Cho đến khi nền kinh tế thị trường hình thành và phát triển cùng với các cuộccách mạng khoa học công nghệ đem theo sự ra đời ngày càng nhiều các loại máymóc hiện đại từ đó làm cho đời sống của con người ngày càng đòi hỏi cao hơn, họkhông bằng lòng với những gì sẵn có hiện tại của tự nhiên Họ bắt đầu khai thácsâu hơn vào nguồn tài nguyên thiên nhiên của môi trường để tìm ra nhữngnguồn nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho công việc của mình, lâu dần làm chonguồn tài nguyên thiên nhiên bị
Trang 21cạn kiệt dẫn đến việc môi trường tự nhiên không thể tự điều chỉnh, tự cân bằngđược và gây ra hiện tượng ô nhiễm môi trường Với tình trạng ô nhiễm môi trườngnhư hiện nay việc bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của từng quốc giariêng lẻ mà nó mang tính toàn cầu, mang tính quốc tế với mọi quốc gia trên thếgiới.Từ sự ô nhiễm môi trường đang diễn ra nghiêm trọng như hiện nay chúng tanhận thấy rằng mỗi quốc gia nên có thay đổi về chiến lược, chính sách, cách thức
và mô hình phát triển về kinh tế để từ đó đảm bảo được sự cân bằng, hài hòa giữacon người với xã hội và tự nhiên
Ph.Ăngghen từng phân tích: “Khi đốt rừng trên các triền núi và lấy số phântro đủ để bón cho một đời cây cà phê đem lại một số thu hoạch rất lớn, thì nhữngngười chủ đồn điền Tây Ban Nha ở Cu Ba có cần gì phải suy nghĩ rằng sau này,những trận mưa rào ở vùng nhiệt đới sẽ cuốn sạch lớp đất bên trên không có sựche chở và chỉ để lại những lớp đá trơ trụi”[8, tr 658] Có thể thấy, từ trong lịch
sử con người vì lợi ích kinh tế cũng đã bất chấp làm những hành động tàn phá tựnhiên
Do vậy, để đảm bảo được sự cân bằng, hài hòa giữa con người với tự nhiênthì bên cạnh việc khai thác tự nhiên con người cũng cần phải bảo vệ tự nhiên, bảo
vệ môi trường Muốn bảo vệ môi trường thì phải có những hành động, việc làm vềbảo vệ môi trường ví dụ như: vứt rác đúng nơi quy định kể cả ở nhà hay ở trườnghọc, bệnh viện, nơi công cộng; không đưa nước thải chưa qua xử lý ra môi trường;không bẻ cành cây, hái hoa hay dẫm lên cỏ ở những khuôn viên trường học, côngviên, khu đô thị làm xấu cảnh quan môi trường; hay rộng hơn là trồng cây phủxanh đất trống, trồng cây gây rừng, không chặt phá rừng bừa bãi, săn bắn trái phépnhững loài vật quý đang trong danh sách cần được bảo tồn Những hành động
và việc làm đó phải xuất phát từ trong suy nghĩ, nhận thức, thái độ của mỗingười và phải mang tính tự nguyện, tự giác không bắt buộc phải thực hiện Đâychính là cơ sở để hình thành và cho ra đời một cách ứng xử mới đối với môitrường thuộc về phạm trù đạo đức được mang tên là đạo đức môi trường
Trang 22Khái niệm về đạo đức môi trường được rất nhiều tác giả trong và ngoàinước nhắc tới Đầu tiên không thể không nhắc tới một luận điểm nổi tiếng và đócũng là quan niệm đầu tiên về đạo đức môi trường đưa ra năm 1949 của triết gia
người Mỹ mang tên Aldo Leopold trong 5 tập tiểu luận The Land Ethic đã đăng trên A Sand County Almanac (Niên giám một vùng đất): “Một hành động chỉ được coi là đúng nếu nó nhằm bảo vệ sự toàn vẹn, ổn định và vẻ đẹp của cộng đồng sinh vật; ngược lại thì là sai lầm” [Trích theo: 36].
Theo tác giả Ernest Partridge trong tác phẩm Giới thiệu về đạo đức môi
trường, Trường Đại học tổng hợp California, Mỹ (2008), có nhấn mạnh: “đạo đức môi trường được hiểu là, sự thể hiện trách nhiệm của con người đối với việc tôn trọng đất đai, thực vật, tài nguyên, sinh vật không phải là con người”.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu ở ngoài nước thì trong nước cũng có rấtnhiều công trình nghiên cứu về đạo đức môi trường, trong đó tiêu biểu có:
Trong công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Phúc với tác phẩm
“Đạo đức môi trường”, tác giả đã đưa ra định nghĩa về đạo đức môi trường như
sau: “Đạo đức môi trường là một hệ thống các chuẩn mực đạo đức điều chỉnhquan hệ giữa con người (xã hội) và tự nhiên vì sự phát triển bền vững” [30, tr.73]
Tác giả Hồ Sĩ Quý trong bài viết về môi trường ở tạp trí Triết học số 9 vớinội dung “Về đạo đức môi trường” tác giả cũng khẳng định: “Đạo đức môi trường
là một khái niệm rộng, phong phú, nhưng không quá đa nghĩa Trên những nét lớn,
có thể hiểu và sử dụng khái niệm này như sau:
- Đạo đức môi trường là những chuẩn mực tự nhiên, bình thường ngấmsâu trong hành vi và trong phong cách sinh hoạt, ứng xử của mỗi người và mỗicộng đồng - Con người bảo vệ môi trường, tôn trọng giới tự nhiên và cẩn trọngtrước hệ sinh thái một cách tự nhiên, không cần ai ra lệnh, không vì mục đích vụlợi nào khác
Trang 23- Đạo đức môi trường biểu hiện thiết thực trong hành vi của mỗi người, mỗicộng đồng Trình độ cao của đạo đức môi trường biểu hiện ở ý thức và kỹ năng xử
lý những vấn đề môi trường
- Có thể trong tư tưởng, trong suy nghĩ của mình, những người dân bìnhthường không hề biết các lý thuyết cao siêu nào đó về hệ sinh thái và bảo vệ môitrường; song, không hẳn vì thế mà họ kém ý thức về mặt đạo đức môi trường Đạođức môi trường, trước hết, được biểu hiện ở tình cảm tự nhiên của con người - conngười biết ửng xử thân thiện và biết tôn trọng môi trường sống quanh họ
- Đạo đức môi trường độc lập nhất định với học vấn Người có học vấn caochưa chắc đã có đạo đức môi trường ở trình độ cao Người có học vấn thấp vẫn cóthể có đạo đức môi trường đáng tôn trọng” [36]
Từ những định nghĩa về đạo đức môi trường của các tác giả trong và ngoài
nước, khái niệm đạo đức môi trường được xác định như sau: Đạo đức môi trường là một hệ thống bao gồm các quan điểm, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức
để trên cơ sở đó con người sẽ tự điều chỉnh những hành vi của bản thân một cách tự giác, tự nguyện, không cần ai chỉ đạo với môi trường nhằm hướng đến
sự phát triển hài hòa, ổn định và bền vững giữa con người với môi trường tự nhiên.
Như vậy, khái niệm đạo đức môi trường gồm một số nội dung cơ bản đángchú ý như sau:
1) Đạo đức môi trường là một hệ thống các quan điểm, quy tắc, chuẩn mựcđạo đức để hướng dẫn con người và điều chỉnh hành vi của con người đối với môitrường nhằm thực hiện những mục đích của mình với môi trường nhưng cũng vẫnbảo vệ môi trường để tạo ra sự phát triển hài hòa và bền vững giữa con người vớimôi trường
2) Trên cơ sở các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức con người đã tự giác vàchủ động điều chỉnh hành vi của mình với môi trường sa cho phù hợp với chuẩnmực đạo đức môi trường
Trang 243) Đạo đức môi trường thể hiện trách nhiệm của mỗi con người với môitrường, đó là trách nhiệm vừa khai thác vừa kiến tạo và bảo vệ môi trường Cũng làthể hiện mối quan hệ đề cao môi trường của con người trong xã hội hiện đại.
Qua đây, có thể coi đạo đức môi trường là một sự đánh giá mang tính hệthống các mối quan hệ đạo đức giữa con người và môi trường tự nhiên xung quanhcon người Từ đó xác lập lên các chuẩn mực nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữacon người với tự nhiên theo hướng hài hòa lợi ích giữa con người và tự nhiên Nóicách khác là đảm bảo lợi ích của con người mà không làm tổn hại giới tự nhiên
Và đạo đức môi trường là sự thể hiện hành vi của con người thông qua ý thứccủa họ đối với môi trường, nó vừa mang tính tất yếu lại vừa mang tính tự giác
Tại sao đạo đức môi trường lại có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong đờisống con người và xã hội? Vì nó là những chuẩn mực dành cho tất cả mọi ngườikhông phân biệt tầng lớp trí thức hay nông dân, là người giàu hay người nghèo,
là người già hay người trẻ, là ngưoif theo tôn giáo hay không theo tôn giáo.Những chuẩn mực đó mang tính cộng đồng và xã hội vì môi trường là của tất cảmọi người không phải là của riêng ai Như vậy thực hiện các hành vi với môitrường theo những chuẩn mực đó được coi là trách nhiệm, là nghĩa vụ của mỗingười đối với môi trường, xuất phát từ ý thức, suy nghĩ và lương tâm của mọingười với môi trường
Bên cạnh tính tất yếu đạo đức môi trường còn mang tính tự giác Tính tựgiác ở đây là thể hiện sự tự bản thân mỗi người tự có những hành động đốivới môi trường chứ không do tổ chức xã hội hay người nào khác ép buộc họ thựchiện các hành vi với môi trường Hành động của mỗi người đối với môi trường ởđây xuất phát từ trong suy nghĩ, trong lương tâm của họ Nếu những người yêumôi trường, muốn bảo vệ môi trường họ sẽ có những hành động để bảo vệ môitrường như: không vứt rác bừa bãi, không bẻ cành, hái hoa hay dẫm lên cỏ ởnhững nơi công cộng và ngược lại là những người không muốn bảo vệ môitrường Để nhận biết
Trang 25được một người có đạo đức môi trường hay không chỉ cần thông qua hành động vàviệc làm của họ đối với môi trường.
Như vậy để thực hiện được đạo đức môi trường đòi hỏi mỗi người cần trang
bị cho mình những tri thức khoa học không chỉ về lĩnh vực môi trường mà còn baogồm các lĩnh vực khác, từ đó phát huy sức sáng tạo của mình để khai thác và bảo
vệ tự nhiên sao cho hợp lý và mỗi con người cũng cần đạo đức và tinh thầntrách nhiệm với hành động của mình
Những chuẩn mực cơ bản của đạo đức môi trường
Nói đến đạo đức không thể không nói đến chuẩn mực đạo đức Chuẩn mựcđạo đức có tư cách là sự thể hiện những yêu cầu, những đòi hỏi của xã hội đối vớihành vi cá nhân và chuẩn mực đạo đức thể hiện một cách tập trung chức năng điềuchỉnh của đạo đức Vai trò điều chỉnh của các chuẩn mực đạo đức biểu hiện nhưsau: những đòi hỏi, những yêu cầu của xã hội (ngăn cấm hoặc khuyến khích) thểhiện trong chúng tạo nên giới hạn cho hành vi, xác định điều gì cần làm và điều gìkhông được làm trong những hoàn cảnh, những tình huống cụ thể nhất định Chuẩnmực đạo đức, do vậy, là yếu tố trung tâm của ý thức đạo đức Đồng thời nó cũngphản ánh những yêu cầu về mặt đạo đức của xã hội đối với con người Bởi vậy,một hệ chuẩn mực đạo đức nhất định sẽ xác định đặc trưng của một nền đạođức nói chung hay một lĩnh vực đạo đức cụ thể
Ở đây, có thể thấy đạo đức môi trường là một lĩnh vực đạo đức đặc thù, vìvậy đi kèm với nó là một hệ thống chuẩn mực đạo đức đặc thù phản ánh những đặcthù của việc bảo vệ môi trường Mặc dù mang tính đặc thù nhưng chuẩn mực đạođức môi trường không biệt lập với các chuẩn mực đạo đức khác mà vẫn có mốiliên hệ với các chuẩn mực đạo đức đó Như đã biết mọi quan hệ trong xã hộiđều là quan hệ động, chính vì vậy quan hệ giữa con người và môi trường, xãhội và tự nhiên cũng là quan hệ động Vì vậy, các chuẩn mực đạo đức môi trườngcũng biến đổi theo chiều hướng mở rộng về nội dung và gia tăng về số lượng dotính phức tạp của quan hệ này ngày càng gia tăng Vị trí, vai trò, chức năng củamỗi chuẩn mực
Trang 26đạo đức môi trường trong hệ thống các chuẩn mực đạo đức môi trường không phảilúc nào cũng cố định mà có sự biến đổi theo từng thời kỳ, từng địa vực nhất địnhkhác nhau Có những chuẩn mực sẽ tồn tại rất lâu nhưng có những chuẩn mực sẽnhanh bị thay đổi do tồn tại xã hội thay đổi, chính trị, văn hóa thay đổi Ở mỗi thời
kỳ, mỗi địa vực nhất định vấn đề môi trường nào nổi lên cấp bách thì những chuẩnmực đạo đức điều chỉnh việc giải quyết vấn đề môi trường đó trở thành chuẩn mựcchủ yếu và cấp bách nhất Mặc dù vậy, cũng như những lĩnh vực đạo đức khác, đạođức môi trường có những chuẩn mực chung chi phối các phương diện cụ thể củaquan hệ giữa con người và môi trường Nhưng quan hệ đạo đức trong đạo đức môitrường có tính chất đặc biệt, đó là nó phải vượt lên trên mối quan hệ giữa người vớingười để vươn tới quan hệ đối với giới tự nhiên Trong điều kiện môi trường hiệnnay, những chuẩn mực sau đây có thể coi là những chuẩn mực chung căn bảnnhất:
* Tôn trọng và bảo vệ sự hài hoà của hệ thống con người - xã hội
- tự nhiên
Chuẩn mực này có thể coi là chuẩn mực chung nhất, chi phối, định hướngcác chuẩn mực đạo đức môi trường khác, tạo cơ sở, nền tảng cho quan hệ đạo đứccủa con người đối với tự nhiên Những chuẩn mực khác trong hệ thống chuẩn mựcđạo đức môi trường đều là sự cụ thể hoá, chi tiết hóa chuẩn mực này với mớinhững mức độ khác nhau Chuẩn mực này có cơ sở khách quan là quá trìnhhình thành, quá trình tiến hóa một cách tự nhiên của hệ thống con người – xã hội– tự nhiên
Trước khi có con người, tự nhiên là một hệ thống thuần túy, có cơ chế tựđiều chỉnh Nhưng từ khi con người xuất hiện hệ thống đó không còn là hệ thống
tự nhiên thuần túy nữa mà đã thay vào đó là hệ thống con người - xã hội - tựnhiên Con người khác với các thành tố khác của tự nhiên là họ có ý thức, có lítrí và có năng lực để cải biến tự nhiên Tuy nhiên với sự tác động của con ngườitới tự nhiên trong suốt thời gian dài đã và đang gây ra những hậu quả nghiêmtrọng Cùng với nhận thức của mình, con người phải có những hành động thực
Trang 27tiễn nhằm bảo đảm sự hài hoà, cân bằng của hệ thống con người- xã hội- tự nhiên Bằng lí trí, ý thức và
Trang 28bằng thực tiễn, con người sẽ nhận ra tôn trọng vàbảo vệ sự hài hoà của hệ thống con người- xã hội- tự nhiên là một yêu cầu,một chuẩn mực đạo đức.
Thái độ, tình cảm tôn trọng, bảo vệ sự hài hoà của hệ thống con người - xãhội- tự nhiên sẽ định hướng cho con người có sự tự giác và tự nguyện bảo vệ sự đadạng sinh học, bởi chính sự đa dạng sinh học là một trong những nhân tố, điềukiện đảm bảo cho sự hài hòa của hệ thống con người – xã hội – tự nhiên luôn luônđược bền vững Và cũng chính thái độ, tình cảm đó sẽ định hướng cho chúng ta tựgiác và tự nguyện giải quyết một cách tối ưu những vấn đề đang tồn tại của conngười, của xã hội Bởi vì, những vấn đề của môi trường không thể độc lập giảiquyết mà không giải quyết những vấn đề của con người, xã hội và những vấn
đề của xã hội, con người cũng chỉ có thể giải quyết được triệt để khi giải quyếtđược các vấn đề của môi trường, của tự nhiên Chính vì vậy, tôn trọng và bảo vệ
sự hài hoà của hệ thống con người - xã hội- tự nhiên là chuẩn mực đạo đức phổquát, đồng thời cũng là sự phản ánh về mặt đạo đức của bản thân quá trình pháttriển bền vững lấy kinh tế, xã hội và môi trường cùng làm mục tiêu để hướng tới
Như vậy, đạo đức môi trường không những đòi hỏi bản thân mỗi người phảibiết tôn trọng môi trường tự nhiên mà còn phải biết đấu tranh chống lại các quanniệm lạc hậu cho rằng con người là tất cả, “trời sinh voi, trời sinh cỏ” và môitrường tự nhiên chỉ là vô tri vô giác, từ đó, con người phải biết đấu tranh với cácbiểu hiện xâm hại đến môi trường, từ đó cùng chung tay bảo vệ môi trường
* Sử dụng tài nguyên tiết kiệm và có hiệu quả
Đây là chuẩn mực chủ yếu liên quan chính đến lĩnh vực sản xuất Vì lĩnhvực này tập trung khai thác các nguồn nguyên nhiên liệu sẵn có của tự nhiên.Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ cho ra đời nhiềumáy móc hiện đại làm cho quy mô sản xuất ngày càng được mở rộng và nhucầu khai thác tài nguyên ngày càng cao Đến nay, nhân loại đã khai thác hếthơn 40% nguồn tài nguyên không tái tạo được Và với sự phát triển của xã hội,
sự gia tăng về dân số đòi hỏi vẫn phải đẩy mạnh việc khai thác hơn nữa Trướcthực trạng này thì việc sử
Trang 29dụng tài nguyên tiết kiệm và có hiệu quả trở thành yêu cầu của sự phát triển kinh
tế bền vững và do đó trở thành chuẩn mực về mặt đạo đức Tiết kiệm và sử dụng
có hiệu quả nguồn tài nguyên không chỉ dừng lại ở việc không lãnh phí tàinguyên trong sản xuất mà còn phải tiến hành áp dụng những tiến bộ của khoahọc công nghệ để sao cho mỗi đơn vị sản phẩm làm ra tiêu hao ít nhất nguyênliệu và nhiên liệu
Trong điều kiện xã hội ngày nay, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả là yêucầu không chỉ với nguồn tài nguyên không tái tạo được mà còn là yêu cầu với cảnhững nguồn tài nguyên tái tạo được Và cần phải coi chuẩn mực này là mộttrong những chuẩn mực căn bản của đạo đức môi trường Người có đạo đức môitrường không chỉ không tham gia phá rừng, khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên,săn bắt động vật hoang dã…, mà còn phải biết đấu tranh chống lại, kiên quyếtkhông tiếp tay cho những hành vi sai trái đó
* Tự giác và tự nguyện nâng các yêu cầu pháp lí về bảo vệ môi trường thành các yêu cầu đạo đức và tuân thủ các yêu cầu đó
Những yêu cầu bảo vệ môi trường đã được thể chế hóa trong các cam kếtquốc tế và luật môi trường của các quốc gia cũng như những quy định mang tínhpháp lí về bảo vệ môi trường của các tổ chức, các thiết chế xã hội, các đơn vị sảnxuất là những yêu cầu căn bản và tối thiểu đối với con người trong quan hệ với môitrường Nếu không may vi phạm các yêu cầu này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo
vệ môi trường, đó là gây ô nhiễm môi trường Hiện nay nước ta đã có các quyđịnh, các văn bản pháp lý và đã ban hành Luật Môi trường năm 1993 và có sửađổi, bổ sung vào năm 2005 Mặc dù vậy: Quản lý nhà nước về tài nguyên,bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu nhiều mặt còn hạn chế; phápluật, chính sách thiếu đồng bộ; thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm chưanghiêm Điều tra cơ bản và quy hoạch sử dụng tài nguyên chưa đáp ứng yêu cầu.Việc giao quyền quản lý, khai thác, sử dụng đất đai, khoáng sản, rừng, nguồnnước chưa phù hợp với kinh tế thị trường và hiệu quả chưa cao; vẫn còn tìnhtrạng khai thác trái phép
Trang 30tài nguyên, khoáng sản Tình trạng ô nhiễm môi trường chậm được cải thiện; ônhiễm môi trường ở nhiều nơi còn nghiêm trọng” [26, tr.168] Hiện tượng chặtphá rừng bừa bãi, săn bắn các loài thú quý, khai thác khoáng sản trái phép vẫnđang lộng hành và một số cơ sở sản xuất kinh doanh vẫn ngang nhiên đưa nướcthải chưa qua xử lý hoặc mới xử lý ở mức đơn giản ra môi trường gây nên hiệntượng ô nhiễm nguồn nước, nguồn đất, không khí Trong cuộc sống sinh hoạtcủa từng hộ gia đình vẫn còn nhiều hiện tượng đưa rác thải, nước thải ra môitrường chưa đúng theo quy định.Sạt lở ven biển, ven sông và xâm nhập mặn diễnbiến ngày càng phức tạp
Từ những hành động nêu trên cho thấy việc nâng những yêu cầu pháp lí về
bảo vệ môi trường lên thành những yêu cầu đạo đức tối thiểu và thực hiện chúng
một cách tự giác, tự nguyện thông qua hành vi của bản thân mỗi người là một trongnhững chuẩn mực đạo đức môi trường cơ bản trong điều kiện bảo vệ môi trườnghiện nay
* Công bằng trong khai thác và bảo vệ môi trường
Trái đất và những thành phần bên trong trái đất là là ngôi nhà và là tài sảnchung của toàn nhân loại Chính vì vậy, con người phải cùng nhau chia sẻ một cáchcông bằng các lợi ích từ khai thác cũng như chia sẻ một cách công bằng tráchnhiệm bảo vệ và phát triển môi trường
Với sự tăng trưởng về kinh tế sẽ liên quan đến quy mô khai thác tài nguyêncủa môi trường và từ đó sẽ liên quan đến chất thải, khí thải Hiện nay với sự pháttriển về kinh tế kéo theo đó là sự gia tăng về chất thải, khí thải Trên thế giới hiệnnay nếu chia theo sự phát triển kinh tế thì có các nước phát triển và các nước đangphát triển Vấn đề công bằng hiện nay là ưu tiên cho các nước đang phát triển đượckhai thác tài nguyên, đẩy mạnh hoạt động sản xuất vật chất để nhanh chóng theokịp các nước phát triển về kinh tế - xã hội Nhưng một nghịch lý đặt ra là tăngtrưởng kinh tế sẽ lại dẫn đến tăng chất thải và khí thải vào môi trường Và lúc này,
sự chia sẻ của các nước phát triển với các nước đang phát triển sẽ là việc chuyểngiao công
Trang 31nghệ thân thiện với môi trường cùng sự hỗ trợ về tài chính, máy móc, trang thiết bịhiện đại để giải quyết vấn đề chất thải và khí thải đặt ra Công bằng ở đây đượcthể hiện bằng việc các nước phát triển tự nguyện cam kết cắt giảm khí thải, chấtthải và chấp nhận một mức độ tăng trưởng tương ứng Nhưng thực tế lại khôngdiễn ra như vậy, nhiều quốc gia phát triển không hoàn toàn chia sẻ quan điểm đó.
Chính vì vậy, ở cấp độ toàn cầu, vấn đề đặt ra là các quốc gia phát triển vàcác quốc gia đang phát triển cần đi tới sự thống nhất trong cách hiểu về công bằngtrong khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường Sự công bằng ở đây chính là sựnhượng bộ, sự hi sinh và san sẻ nhất định về những lợi ích trước mắt để vì lợi íchchung và lợi ích lâu dài của toàn nhân loại trong ngôi nhà chung của mình
Trong phạm vi một quốc gia, công bằng trong bảo vệ môi trường đó là sựchia sẻ trách nhiệm với các doanh nghiệp, các công ty Trong đó, các doanh nghiệpvới tư cách là cở sở sản xuất chính sẽ gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường Vìvậy, nếu các doanh nghiệp vi phạm các quy định pháp quy liên quan đến môitrường thì phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm pháp lý tức là trách nhiệm trước Nhànước, pháp luật, đồng thời còn phải thực hiện trách nhiệm xã hội trong bảo vệ môitrường Đây chính là sự chia sẻ trách nhiệm một cách tự giác và tự nguyện Nhưvậy mới tạo ra được sự công bằng trong khai thác và bảo vệ môi trường
* Nâng cao tinh thần tương trợ và phối hợp hành động giải quyết các sự
cố môi trường
Các sự cố môi trường, đặc biệt là các sự cố nghiêm trọng đã từng gây ranhững tổn thất vô cùng to lớn về tính mạng con người, tài sản và môi trường Dihại của những sự cố đó có thể kéo dài nhiều năm, qua nhiều thế hệ (từ thế hệ nàysang thế hệ khác) Một số thảm họa gây ô nhiễm môi trường và để lại hậu quảlâu dài như: “Năm 1932 - 1968, một thảm họa nước biển nhiễm độc xảy ra tạiNhật Bản do nhà máy hóa chất Chisso xả trực tiếp nước thải chứa thủy ngânchưa qua xử lý ra vịnh Minamata và biển Shiranui gây hậu quả nghiêm trọng
Theo Med.org.jp: “chất thải đã tích tụ sinh học trong hải sản ở khu vực biển này,
khiến người dân và súc vật
Trang 32địa phương ăn vào bị nhiễm độc thủy ngân Chứng bệnh do nhiễm độc thủy ngân ởđây được gọi là bệnh Minamata Vụ nuôhiễm độc đầu tiên được phát hiện năm
1956 nhưng phải đến năm 1968, chính quyền mới chính thức kết luận nguyên nhânbệnh Minamata là do nhà máy Chisso xả thải gây ô nhiễm Hậu quả của nó kéo dàisuốt 36 năm sau Người nhiễm độc bị co giật, chân tay co quắp, không nói được.Thai nhi đẻ ra bị dị dạng Gần 2.000 người chết, 10.000 người bị ảnh hưởng Chó,mèo bị nhiễm độc cũng phát điên rồi chết Cá biển chết dạt đầy bờ, phủ kín mặtbiển Đến năm 2004, tập đoàn Chisso đã trả 86 triệu USD tiền bồi thường cho cácnạn nhân và bị yêu cầu phải làm sạch khu vực biển bị ô nhiễm”[51] Gần đây nhất,thảm họa kép động đất, sóng thần và sự cố lò phản ứng hạt nhân ở Nhật Bản đãlàm thiệt mạng 15.846 người và 3.317 người vẫn đang mất tích Thiệt hại về vậtchất ước tính là 300 tỉ USD Việc giải quyết sự cố môi trường ở Nhật Bản đã nhậnđược sự giúp đỡ của nhiều quốc gia và hàng trăm tổ chức từ thiện Nhưng những
di hại của nó thì chưa biết bao giờ có thể giải quyết dứt điểm được Mới đây, ởnước ta vào tháng 4 năm 2016, nhà máy Formosa xả thải chứa độc tố: bao gồmcyanide, phenols và hydroxide sắt; làm cá chết dọc bờ biển dài hơn 200 km và
di hại của biến cố này khiến cho cuộc sống của hàng trăm ngư dân và dân chúngtại 4 tỉnh Bắc Trung Bộ bị xáo trộn Hàng ngàn chiếc tàu nằm phơi bờ không thể
ra khơi đánh bắt cá và hải sản cũng như hơn 40 ngàn công ăn việc làm tại khu vựcnày bị ảnh hưởng và 250 ngàn người lao động cả nước bị tác động suốt hơnmột năm Sau đó Formosa đã đền bù 500 triệu USD để hỗ trợ người dân bị thấtnghiệp Người dân cả nước cũng đã tổ chức quyên góp để giúp đỡ ngư dân vượtqua khó khăn
Yêu cầu giảm thiểu tối đa những thiệt hại đáng tiếc xảy ra về tính mạng conngười, về tài sản cùng tác hại đối với môi trường đòi hỏi phải có sự tương trợ, sựgiúp đỡ và sự phối hợp hành động để giải quyết các sự cố môi trường Một sự cốmôi trường nào đó xảy ra có thể chỉ thuộc phạm vi trách nhiệm trực tiếp của một
tổ chức, một quốc gia nhất định, nhưng việc khắc phục hậu quả của nó đòi hỏi
Trang 33phải có sự tham gia của tất cả những quốc gia, những tổ chức, những đơn vị cókhả năng.
Trang 34Chính vì vậy, nâng cao tinh thần tương trợ, giúp đỡ và phối hợp hành động giảiquyết các sự cố môi trường là một trong những yêu cầu, một trong những chuẩnmực hàng đầu của đạo đức môi trường.
* Giữ gìn môi trường sống xanh, sạch, đẹp trong đời sống thường nhật
Đây là chuẩn mực nhấn mạnh đến trách nhiệm, thói quen sinh hoạt trongcuộc sống hàng ngày của mọi người Thói quen sinh hoạt là một hình thức biểuhiện của lối sống, vì vậy nó bị quy định bởi tổng thể những điều kiện sinh sốngcủa con người: phương thức sản xuất xã hội và truyền thống văn hóa có vai trò cơbản nhất Mặc dù bị quy định như vậy, nhưng một khi đã định hình, các thóiquen sinh hoạt có tính độc lập nhất định và tác động ngược trở lại cơ sở kinh tế,
xã hội đã sản sinh ra chúng Tuy nhiên cũng do tính độc lập đó mà trong đời sốngluôn tồn tại cả thói quen tích cực và thói quen tiêu cực Vì vậy mỗi người cầnkhắc phục những thói quen tiêu cực, đẩy mạnh, phát huy những thói quen tíchcực bằng cách tự giác, tự nguyện thực hiện yêu cầu giữ gìn môi trường sốngxung quanh mình xanh, sạch, đẹp và nâng yêu cầu đó lên thành chuẩn mực đạođức môi trường
Mỗi người nên biết hoà mình vào thiên nhiên, làm bạn với cỏ cây, hoa lá;thay việc sử dụng thuốc trừ sâu bằng cách nuôi các loài thiên địch của sâu bọ; quýtrọng và tiết kiệm khi sử dụng điện, nước; biết làm ra của cải vật chất bằng cáchtái chế rác thải, phế liệu như sản xuất phân bón từ rác hữu cơ, làm lò Biogas từphân gia súc, hạn chế mua đồ lấy nhiều túi nilon…
Chuẩn mực này nhắc nhở mỗi người cần có ý thức giữ gìn vệ sinh chung;đồng thời cũng nên tích cực tham gia vào các hoạt động làm xanh, sạch đẹp đườnglàng, ngõ xóm, khu dân cư, nơi làm việc, nơi vui chơi công cộng… Việc thườngxuyên có ý thức tham gia vào những hoạt động như vậy sẽ tạo cho con người thái
độ, thói quen thân thiện và yêu quý môi trường, từ đó càng có những hành độngtích cực để bảo vệ môi trường
* Thực hành lối sống văn hóa, thể hiện quan hệ hài hòa giữa mức sống
và lối sống
Trang 35Trái với lối sống tiêu thụ, lối sống văn hóa được định hướng bởi nững giá trịcao đẹp Đó là lối sống mà mỗi người vừa ra sức phát triển nhân cách của mìnhvừa góp phần tạo ra những điều kiện cho sự phát triển nhân cách của người khác
và của toàn thể cộng đồng Là lối sống có sự cân đối giữa việc thỏa mãn nhữngnhu cầu vật chất và những nhu cầu tinh thần Một trong những nhu cầu không thểthiếu để làm nên ý nghĩa cuộc sống đó là quan tâm đến mọi người xung quanhmình và quan tâm đến cộng đồng Cốt lõi của sự quan tâm đó là quan tâm vềmặt lợi ích, là sự giải quyết hài hòa lợi ích giữa con người với con người trên tất
cả các phạm vi
Việc bảo vệ môi trường đòi hỏi phải giải quyết các lợi ích đó và từ việc giảiquyết các lợi ích đó sẽ tạo điều kiện cho việc bảo vệ môi trường Trong điều kiệnmôi trường hiện nay việc giữ gìn môi trường sống xanh, sạch, đẹp trong đời sốngthường nhật đó là thực hiện lối sống xanh, đây là lối sống đáp ứng được nhu cầuhiện tại mà không phải hi sinh hay ảnh hưởng đến việc các thế hệ tương lai
Trên đây là những chuẩn mực cơ bản của đạo đức môi trường và cácchuẩn mực này chủ yếu nhấn mạnh về việc điều chỉnh hành vi của con người.Các chuẩn mực đó có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau, mỗi chuẩn mực đều
có vai trò và chức năng của mình Chính vì vậy không nên coi trọng chuẩn mựcnày, từ bỏ chuẩn mực khác, như vậy sẽ không phát huy được hết khả năng trongviệc bảo vệ môi trường
Ngoài ra các Hội nghị thượng đỉnh trên thế giới về chủ đề môi trường cũngchú trọng các nội dung sau:
Thứ nhất, các hành vi môi trường trước hết phải đảm bảo khả năng tái tạo và
phục hồi tự nhiên, cụ thể là các hệ động vật, thực vật Đồng thời phải khai thác sửdụng hợp lý các nguồn tài nguyên không tái tạo được như: khoáng sản, các nguyên,nhiên liệu hóa thạch
Thứ hai, việc sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng sinh thái (đảm bảo các
tiêu chuẩn sinh thái) tiêu chí này phải được coi là một trong những chuẩn mực đạođức đặc biệt đối với các tổ chức doanh nghiệp Đồng thời là tiêu chuẩn để điều
Trang 36chỉnh hành vi sản xuất của con người Kiên quyết không sản xuất những sản phẩmphi sinh thái Tẩy chay những sản phẩm không đảm bảo tiêu chuẩn sinh thái.
Thứ ba, sản xuất tiêu dùng phải đảm bảo an toàn chất lượng môi trường
sống như: đảm bảo tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái, đảm bảo tình trạng sứckhỏe của con người trong vùng mà họ đang sống Cũng như đảm bảo các tiêuchí môi trường như: tiêu chuẩn về khí thải, tiếng ồn, bụi, rác thải, nước thải đảmbảo cho chúng ta đuợc sống trong lành
Thứ tư, sống thân thiện với môi trường Điều này được thể hiện qua hành
động trong cuộc sống thường ngày như: sử dụng bóng đèn tiết kiệm điện; tắt khikhông sử dụng: tivi, máy tính, điện, quạt; sử dụng năng lượng mặt trời; trồng câycảnh trong nhà; hạn chế sử dụng túi nilon; tận dụng nước thải để tưới cây; sử dụngtiết kiệm nước…
Bốn chuẩn mực vừa nêu trên là những chuẩn mực mang tính mặc định đốivới tất cả mọi người, nhằm hướng tới một môi trường không còn ô nhiễm, mộtmôi trường trong lành, một môi trường xanh – sạch – đẹp để từ đó bảo đảm sứckhỏe cho con người và sự sinh sôi phát triển của các loài sinh vật trên phạm vitoàn cầu
1.2 Đạo đức môi trường ở sinh viên
1.2.1 Một số đặc điểm tâm, sinh lý của sinh viên
Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên
Sinh viên là thuật ngữ dùng để chỉ những người đang học tập tại các trườngđại học, cao đẳng Họ có độ tuổi trong khoảng từ 18 đến 24 tuổi, là độ tuổi đã vàđang có những hoàn thiện về mặt sinh học và xã hội Đây là thời kỳ phát triển đầy
đủ các chức năng tâm lý, sự hài hòa của con người gắn liền với năng lực làm việcđược nâng cao một cách rõ rệt, nhân cách cơ bản cũng đã được hình thành và luôn
có tính độc lập cao
Sinh viên có đặc điểm tâm lý lứa tuổi nổi bật là sự phát triển khả năng tự ýthức Tự ý thức bao gồm tự quan sát, tự phân tích, tự đánh giá, tự kiểm tra là mộtloại đặc biệt của ý thức trong đời sống cá nhân có chức năng tự điều chỉnh nhận
Trang 37thức, thái độ, sự đánh giá toàn diện đối với bản thân và vị trí của mình trong cuộcsống Qua quá trình tự ý thức, cá nhân điều chỉnh hành vi và cử chỉ của mình, đó
là điều kiện phát triển có ý thức và nhân cách, để xây dựng tương lai và tổ chứctoàn bộ thế giới nội tâm của nhân cách đó và từ đó cũng dần dần hoàn thiện nhâncách, lối sống theo các yêu cầu của xã hội Do đó có thể thấy, hiệu quả giáo dụckhông chỉ phụ thuộc vào khí chất, năng lực, tính cách, động cơ, mà còn phụ thuộcvào đặc điểm ý thức của của mỗi sinh viên Khi học ở trường đại học, việc xâydựng con đường sống trong tương lai của sinh viên có ảnh hưởng rất lớn đến ýthức của họ trước tiên là ảnh hưởng đến tính tích cực bên trong sinh viên Mức độtích cực của tự ý thức của sinh viênphụ thuộc vào thời hạn đạt tới mục đích đượcvạch ra và cho thấy việc chuyển sang dự kiến lâu dài của cuộc sống sẽ làm tăngcường tính tích cực bên trong thuộc phạm vi nhận thức Một trong những thànhphần có ý nghĩa nhất tạo nên sự phát triển ý thức của sinh viênlà năng lực tựđánh giá Tự đánh giá là kết quả bên ngoài hình thành nên lòng tự trọng của cánhân Lòng tự trọng, tự tin phản ánh trạng thái tâm lý đạo đức của con người vàtạo nên thái độ tốt đối với bản thân Trong thời kỳ học tập tại các trường Đại họcsinh viên bắt đầu cuộc sống lao động trí tuệ học tập căng thẳng, nhận được sựthỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người là nhận thức về thế giới xung quanh.Cùng với sự tăng lên về ý thức trong quá trình học tập thì các chức năng tâm lýcũng được phát triển như tư duy trừu tượng, trí nhớ, khả năng phán đoán, chúý học tập và giao tiếp là hai hoạt động tích cực biểu hiện trong nhân cách sinhviên
Nhìn chung, đặc điểm tâm lý của lứa tuổi sinh viên là thích cái mới lạ, thích học hỏi và ưa tìm tòi khám phá, sáng tạo Bên cạnh đó sinh viên còn có
tính nhạy bén cao cập nhật nhanh những cái mới về khoa học công nghệ, kiếnthức trong đời sống và kỹ năng sống Những đặc điểm này chính là cơ sơ quantrọng cho quá trình học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên
Một số đặc điểm sinh lý của sinh viên
Trang 38Ở tuổi này, về cơ bản các cơ quan và hệ thống cơ quan quan trọng nhất của
cơ thể ngừng phát triển, với chiều cao vì phần sụn nằm ở đầu xương đã đượcxương hóa, nên nói chung chiều cao gần như cố định, tuy nhiên lại phát triểntheo chiều ngang và tăng trọng lượng cơ thể Bộ não đã đạt trọng lượng tối đa,khoảng 1400gr, các tổ chức của hệ thần kinh vẫn còn phát triển và đi đến hoànthiện Các trung khu thần kinh có những nhiệm vụ chuyên biệt riêng, khả năng
tư duy, khả năng phân tích tổng hợp và trừu tượng hóa tăng lên tạo điều kiệnthuận lợi cho sự hình thành phản xạ có điều kiện Đây là cơ sở sinh lý của việcnhanh chóng tiếp thu và hoàn thiện kỹ thuật
Lứa tuổi này cũng là lứa tuổi có giai đoạn dậy thì gần hoàn thành, các chứcnăng sinh sản đã hoàn thiện Chính vì vậy nên bản thân các em cũng muốn mởrộng các mối quan hệ với bạn bè, thích giao lưu học hỏi các bạn cùng trang lứa
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức môi trường ở sinh viên
Và ngược lại nếu gia đình bố mẹ hay cãi nhau trước mặt con trẻ, bố mẹ không kínhtrọng ông bà, không chăm sóc ông bà, bố mẹ hay la mắng con cái thì gia đình đócon cái sẽ học những đức tính
Trang 39của bố mẹ, sẽ trở thành những đứa trẻ thiếu giáo dục, những đứa trẻ không ngoan
và có thể sau này chúng cũng sẽ đối xử với bố mẹ như bố mẹ đối xử với ông
bà Khi ra ngoài xã hội chúng sẽ không tôn trọng người khác và sẽ có nhữnghành vi thiếu đạo đức và cũng có thể sẽ thiếu ý thức đạo đức môi trường
Kinh tế gia đình cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến mối quan hệ giữa cha
mẹ và con cái Điều đó thể hiện như sau: có thể cha mẹ chỉ lo làm kinh tế,không có thời gian quan tâm tới quá trình hình thành nhân cách, phẩm chất đạođức của con em mình, hoặc một số gia đình có điều kiện kinh tế đầy đủ, cha mẹchỉ cung cấp tiền (tiền có thể lo được) không quan tâm đến việc học tập, cuộcsống sinh hoạt hàng ngày của con mình và việc giáo dục, xây dựng phẩm chất đạođức thì chủ yếu để cho nhà trường trang bị cho nên dẫn đến tình trạng nhiều sinhviên không được trang bị những kỹ năng sống tối thiểu, không có những phẩmchất đạo đức tối thiểu Nhiều sinh viên gia đình có điều kiện kinh tế đã trởthành cậu ấm cô chiêu sống theo kiểu hưởng thụ, dùng tiền để giải quyết mọiviệc Các em chạy theo lối sống thực dụng, coi trọng đồng tiền và ý thức đạo đứccủa các em không có Từ đó các em cũng không coi trọng những hành động bảo
vệ môi trường Bản thân các em coi những hành động vứt rác bừa bãi, dẫm lên
cỏ, hái hoa, bẻ cành, hút thuốc lá nơi đông người, thậm chí có em còn sử dụngchất kích thích như ma túy tổng hợp, ma túy đá… là bình thường không ảnhhưởng gì đến mọi người xung quanh và cũng không ảnh hưởng tới môi trường
Từ đây có thể thấy giáo dục của gia đình trong việc hình thành nhân cách, ýthức đạo đức cho con em mình có vai trò rất quan trọng Mỗi gia đình nên sắp xếpthời gian cho công việc và cho con một cách hợp lý để quan tâm, yêu thương đếncom mình để giúp các em có ý thức đạo đức tốt, có những hành động thể hiệnmình là người có văn hóa, có đạo đức Đặc biệt sinh viên phần lớn các em đềusống xa nhà, xa vòng tay bố mẹ nên càng thiếu thốn tình cảm của gia đình vàcàng cần sự quan tâm hơn của gia đình để các em không bị sa ngã vào những
tệ nạn xã hội, không sống buông thả và trong tương lai không xa các em sẽ gópsức mình vào xây
Trang 40dựng đất nước, sẽ trở thành những người vừa có tài vừa có đức như sinh thời chủtịch Hồ Chí Minh vẫn mong muốn.
Ảnh hưởng từ bạn bè
Sinh viên là chỉ đối tượng sẽ học tại các trường đại học, cao đẳng Có thểhọc tại các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh thì sẽ học ở trên thành phố (nếu nhà ởthành phố thì sẽ đi đi về về, còn nhà ở quê thì có thể ở ký túc xá của trường hoặc
ở trọ bên ngoài), nếu học ở các trường đại học, cao đẳng khác tỉnh thì sẽ phải đi
xa và bắt buộc là phải ở trọ hoặc ở ký túc xá của nhà trường Đi học trên lớp các
em sẽ học cùng khoảng 30 đến 40 bạn khác, ngoài giờ học sẽ có giờ giải lao, đó làlúc các em giao lưu, vui chơi cùng nhau Như vậy có thể thấy, các em sẽ sốngtrong môi trường tập thể, nếu ở kí túc xá, ở trên lớp sẽ là môi trường tập thể lớncòn ở trọ thì sẽ ở môi trường tập thể nhỏ Chính vì ở trong môi trường tập thểnhư vậy nên có nhiều đối tượng khác nhau, có bạn nhà giàu, có bạn nhà bìnhthường, có bạn nhà khó khăn; có bạn chăm học, có bạn lười học; có bạn chăm laođộng, có bạn lười lao động; có bạn đi làm thêm, có bạn không đi làm thêm; cóbạn học ngành này, có bạn học ngành kia ở cùng xóm với nhau hay ở cùng kýtúc xá với nhau Và sinh viên là lứa tuổi đang thích khám phá, tìm tòi và thể hiệnmình nên các bạn sẽ bộc lộ tính cách, môi trường tập thể như vậy cũng sẽ học tập
cả những đức tính tốt và đức tính chưa tốt Ví dụ về hành vi đạo đức môi trường,bạn này vứt rác bừa bãi nhưng không bị ai nhắc nhở, bạn kia thấy vậy liền nghĩvậy việc gì mình phải mang ra tận thùng rác vứt cho mất công, mình cũng vứtluôn ở đây như bạn kia cho nhanh Nhiều lần như vậy sẽ hình thành thói quen xấu
là vứt rác không đúng nơi quy định Hay khi ở xóm trọ, ở ký túc xá tiến hành dọn
vệ sinh tập trung, có bạn không tham gia cũng không sao lần sau sẽ có bạn cũng
sẽ không tham gia Hoặc khi Nhà trường triển khai việc dọn vệ sinh khuôn viêntrường, có bạn không tham gia, có bạn tham gia nhưng không làm việc tíchcực nhưng cũng không bị khiển trách, nhắc nhở, những bạn làm tốt cũng khôngđược tuyên dương, lần sau những bạn làm tốt cũng sẽ không tham gia hoặc thamgia không nhiệt tình Ngược lại những bạn làm tốt được tuyen