Nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung và đào tạo, bồidưỡng đội ngũ công chức cấp xã nói riêng, từ trước tới nay đã có nhiều nhà nghiêncứu, các nhà hoạch định chính
Trang 1MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong bộ máy Nhà nước xây dựng nền hành chính hiện đại nhằm phục vụ tốtnhu cầu, lợi ích cho nhân dân, trong đó cán bộ, công chức lại càng có vai trò quyếtđịnh đến hiệu quả tất yếu của bộ máy công quyền Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng
khẳng định rằng: “Cán bộ là cái gốc của mọi vấn đề, gốc có tốt thì ngọn mới tốt”;
Hiệu lực, hiệu quả, chất lượng của bộ máy nhà nước đều phụ thuộc vào trình độ,năng lực, phẩm chất của đội ngũ này, đặc biệt là cán bộ, công chức ở cấp cơ sở
Hệ thống chính trị của nước ta có 4 cấp Chính vì vậy, cấp xã là đơn vị hànhchính cấp cuối cùng trong hệ thống hành chính bốn cấp ở nước ta (cấp trung ương,cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã) Năng lực và hiệu quả hoạt động của công chức cấp
xã có vai trò tác động trực tiếp đến việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, gópphần đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của đất nước trong mọi thời kỳ, mọi giaiđoạn cách mạng, đặc biệt là trong giai đoạn cách mạng mới ngày nay cũng nhưnước ta đã và đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hiệu quả
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói rằng “Cấp xã là nơi gần gũi nhân dân nhất,
là nền tảng hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi” Đội ngũcán bộ cấp xã luôn có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhândân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhànước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân,phát triển kinh tế- xã hội; đồng thời họ phải thực sự là những người tận tâm, tận lực,gương mẫu, “thật thà nhúng tay vào việc”, “nói đi đôi với làm”, “biết vận động dâncho đúng và cho khéo”, “không để sót một người nào”, “phải thực sự óc nghĩ, mắttrông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm” để cho “dân tin tưởng, dân yêu mến,dân giúp đỡ, dân ủng hộ, dân bảo vệ” (Hồ Chí Minh) Chính vì vậy, Hội nghị Trungương khóa IX đã ra nghị quyết về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị
ở cơ sở xã, phường, thị trấn, nội dung nghị quyết đã xác định: “ Xây dựng đội ngũcán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của
Trang 2Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huysức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tácđào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở” làmột trong những vấn đề cơ bản nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thốngchính trị cơ sở.
Điện Bàn là thị xã đồng bằng thuộc tỉnh Quảng Nam Điện Bàn được Ủy banthường vụ Quốc hội ra nghị quyết công nhận là thị xã vào tháng 3 năm 2015 Là Thị
xã đang ra sức nỗ lực phát triển nhanh, bền vững để sớm trở thành một trong nhữngtrung tâm kinh tế động lực phát triển ở phía Bắc của tỉnh Quảng Nam Để thực hiệnthắng lợi mục tiêu này thì một trong những giải pháp mang tính nền tảng, tác độngtrực tiếp đến hiệu quả công việc, đó là đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, côngchức của thị xã nói chung, trong đó có công chức xã, phường nói riêng Tuy nhiên,trong thời gian qua đánh giá lại đã cho thấy rằng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộchưa gắn với yêu cầu, tiêu chuẩn và chức danh quy hoạch, sử dụng cán bộ, chấtlượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác cán
bộ trong giai đoạn cách mạng mới Đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay trên địa bànthị xã Điện Bàn nhất là cán bộ, công chức cấp xã vẫn còn những hạn chế, bất cậpnhất định; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy đảng, hiệu lực, hiệuquả quản lý nhà nước không cao, trình độ năng lực, tinh thần trách nhiệm của một
bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ, việc tổng kết, đánhgiá để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng cán bộ, công chứcchậm được tiến hành, hiệu quả chưa đi vào chiều sâu, thiết thực
Từ những lý do nêu trên học viên chọn đề tài: “Thực hiện chính sách đào tạo, Bồi dưỡng công chức cấp xã từ thực tiễn tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” để
nghiên cứu làm luận văn cao học chuyên ngành chính sách công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chính sách cán bộ, công chức là hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng vàNhà nước đối với đội ngũ CBCC, là công cụ và các giải pháp nhằm xây dựng độingũ CBCC đồng bộ, có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của mỗi thời kỳ cách mạng
Trang 3Chính sách CBCC bao gồm: Chính sách đào tạo, bồi dưỡng, chính sách sử dụng và quản lý CBCC, chính sách đảm bảo lợi ích động viên CBCC.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này học viên xin phép chỉ được nghiêncứu chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, mà cụ thể là thực hiện chính sách đàotạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp xã
Nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung và đào tạo, bồidưỡng đội ngũ công chức cấp xã nói riêng, từ trước tới nay đã có nhiều nhà nghiêncứu, các nhà hoạch định chính sách quan tâm nghiên cứu và đã có nhiều công trìnhkhoa học đăng tải từ Trung ương đến địa phương, ở các Học viện, nhà trường, có thể
kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
- Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và tác giả Trần
Xuân Sầm đồng chủ biên: Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội, năm 2001
- Tác giả Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương đồng chủ biên: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, NXB Chính trị Quốc gia Hà
Nội, năm 2004
- Sách: Pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở Việt Nam hiệnnay- Những vấn đề lý luận và thực tiễn TS Mạc Minh Sản, Nxb Chính trị - Hànhchính, 2009
- Tác giả Nguyễn Thị Hồng Hải chủ biên: Hỏi đáp về quản lý cán bộ công chức cấp xã, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2013.
Những công trình nghiên cứu khoa học nêu trên, đã đi sâu vào nghiên cứu cơ
sở lý luận và thực tiễn về cán bộ, công chức; chủ yếu tiếp cận và phân tích về cơ sở
lý thuyết, cơ sở pháp lý và năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trên thực tế.Việc nghiên cứu về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ côngchức cấp xã hầu như chưa được đề cập đến
Ngoài các công trình nêu trên, trong thời gian gần đây đã có rất nhiều côngtrình khoa học, nhiều luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu về vấn đề này, đơn cử một số
Trang 4công trình tiêu biểu sau đây: Nguyễn Thị Tuyết Nga: Một số biện pháp hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước ở tỉnh Phú Yên, Luận văn
Thạc sỹ quản lý công, Học viện hành chính quốc gia, năm 2002
Dựa trên cơ sở lý luận về đào tạo, bồi dưỡng CBCC; thực tiễn đào tạo, bồidưỡng CBCC trong các cơ quan nhà nước ở tỉnh Phú Yên, Luận văn đã đưa ra cácgiải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng CBCC nhànước của tỉnh, trong đó đặc biệt chú trọng đến giải pháp tăng cường cơ sở vật chất,trang thiết bị và đội ngũ giáo viên nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng CBCCcủa tỉnh
Ngoài ra, còn có rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí khoa học tập trungnghiên cứu về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức như: Ngô Thành Can:
Cải cách quy trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ Học viện hành chính quốc gia đăng trên Tạp chí Viện khoa học tổ
chức nhà nước, năm 2013 Trong đó, tác giả tập trung làm rõ quan niệm về đào tạo,bồi dưỡng CBCC, quy trình đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện cải cách trong đào tạo,bồi dưỡng CBCC nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này
Các công trình nghiên cứu nói trên đều có những đóng góp nhất định về mặt lýluận và thực tiễn cho công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC nói chung và đào tạo, bồidưỡng CBCC cấp xã nói riêng Phạm vi nghiên cứu của các công trình trên đượcthực hiện khá đa dạng, đa phần thực hiện ở một tỉnh hoặc một số cơ quan nhà nướctrên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về công tác đàotạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp xã tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Chính vì vậy, Học viên mạnh dạn chọn nội dung đề tài “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã, thực tiễn tại thị xã Điện Bàn, tỉnh QuảngNam”.
Có thể nói rằng đây là đề tài nghiên cứu chuyên sâu về công tác đào tạo, bồi dưỡngđối với đội ngũ công chức cấp xã tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam và khôngtrùng lắp với các công trình nghiên cứu khác Học viên mong muốn góp phần đánhgiá đúng thực trạng, đề ra những giải pháp thiết thực, khả thi, hiệu quả nhằm khôngngừng nâng cao chất lượng trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp
Trang 5xã tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến Do vậy, học viên đi sâuvào nghiên cứu thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với 7 chức danh côngchức đối với cấp xã, trong đó trọng tâm đi sâu vào phân tích những ưu điểm, mặthạn chế, nguyên nhân, từ đó căn cứ các quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách củanhà nước để đề xuất các giải pháp mang tính thực tiễn cao để áp dụng tại thị xãĐiện Bàn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Học viên tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác đào tạo,bồi dưỡng đối với công chức cấp xã tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam để từ đóxác định căn cứ để đề xuất các giải pháp mang tính thiết thực, hiệu quả
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn phải đi vào thực hiện một
số nhiệm vụ trọng tâm như sau:
- Nêu lên cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác đào tạo, bồi dưỡng công chứccấp xã hiện nay như: Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của CBCC cấp xã; mụctiêu, nguyên tắc, yêu cầu, quy trình, sự cần thiết đối với công tác đào tạo, bồi dưỡngcông chức cấp xã Nghiên cứu về các yếu tố có ảnh hưởng cũng như thực trạngtrong công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp xã; Nêu lên những ưu điểm
và những bất cập, hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế này Qua đó, đềxuất một số giải pháp mang tính khả thi, đồng bộ hơn và đồng thời có những kiếnnghị đối với cấp ủy, chính quyền và các cơ quan có liên quan ở các cấp nhằm tiếptục nâng cao chất lượng trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với CC cấp xã tại thị
xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu đối với công tác cán
bộ của thị xã nói chung và công chức xã, phường nói riêng trong thời gian đến
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chứccấp xã tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Trang 64.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Luận văn nghiên cứu thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡngcông chức cấp xã, từ việc phân tích nhu cầu cần thiết phải đào tạo, bồi dưỡng, đếnthiết kế chương trình; xây dựng tài liệu; lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và tổ chứctriển khai thực hiện Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng đối với 07 chức danh công chứcchuyên môn xã- phường như: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Vănphòng- thống kê; Địa chính- xây dựng- đô thị và môi trường (đối với phường) hayĐịa chính- nông nghiệp- xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính- Kế toán;
Tư pháp- hộ tịch; Văn hoá- xã hội
+ Thời gian: từ năm 2012 đến năm 2017
+ Không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực hiện chính sách đào tạo,bồi dưỡng công chức thuộc ở 20 xã, phường trên địa bàn của thị xã Điện Bàn, tỉnhQuảng Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở quan điểm lý luận của chủ nghĩaMác- Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng Cộngsản Việt Nam và các văn bản quản lý nhà nước đối với công chức và công tác đàotạo, bồi dưỡng công chức cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn); nghị quyết của thị xã
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo cứu tài liệu; Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảnghỏi; Phương pháp phỏng vấn sâu
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số thủ pháp nghiên cứu như: thống kê, sosánh, phân tích, luận giải nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, đánh giá về thựctrạng và đề ra các giải pháp thiết thực mang tính khả thi
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện chínhsách đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp xã
Trang 76.2 Ý nghĩa thực tiễn
+ Số liệu thực tế và các giải pháp đặt ra tại luận văn có thể giúp cho các nhàhoạch định chính sách có thể tham khảo và có những chính sách thiết thực, hiệu quảtrong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã phù hợp trong thực tiễnhiện nay Luận văn nghiên cứu thành công sẽ là tài liệu tham khảo giúp cấp ủy cáccấp lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng, thiết kế nên chương trình, khung đào tạo, bồidưỡng đối với đội ngũ công chức cấp xã phù hợp, sát với thực tiễn hơn Luận văn
có thể được sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo để tiếp tục nghiên cứu phát triểnvấn đề này trong tương lai
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nộidung chính của Luận văn được chia thành 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận vềcông tác ĐT, BD đối với đội ngũ công chức cấp xã; Chương 2: Thực trạng trongcông tác ĐT, BD công chức cấp xã tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; Chương3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng trong ĐT, BD công chức cấp xã tạithị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Trang 8sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công
lập theo quy định của pháp luật.” [25, tr.51]
Như vậy, Công chức được hiểu là những người được tuyển dụng, bổ nhiệmvào ngạch, chức vụ, chức danh trong tổ chức (Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị- xã hội, trong Quân đội nhân dân (mà không phải là sĩ quan, quânnhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng); trong Công an nhân dân (mà khôngphải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp) và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý củađơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chínhtrị- xã hội, trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Trang 9Công chức khác với cán bộ ở chỗ, cán bộ được hiểu là những người được bầuhoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong tổ chức (Đảng Cộng sản ViệtNam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội).
1.1.1.2 Công chức cấp xã
Theo Luật chính quyền địa phương năm 2015 và Nghị định 92/2009/NĐ- CP
ngày 22/10/2009 của Chính Phủ quy định như sau: Công chức cấp xã là công dân
Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộcUBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”
Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng, giao giữ một chứcdanh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã gồm các chức danh:Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - Xâydựng - Đô thị và Môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - Nôngnghiệp - Xây dựng và Môi trường (đối với xã); Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộtịch; Văn hoá - Xã hội Như vậy chúng ta có thể xác định chức danh công chức cấp
xã có 07 chức danh công chức như Nghị định 92/2009- NĐ/CP đã đề cập ở trên.Đối tượng này có đặc thù là làm công tác chuyên môn, tham mưu, giúp UBND thựchiện chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn xã, phường, thị trấn
1.1.2 Đặc điểm của công chức cấp xã
Công chức cấp xã là những người được tuyển dụng giữ một chức danh chuyênmôn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sáchnhà nước Đây là đội ngũ gần dân, sát dân nhất, trực tiếp triển khai các chủ trương,chính sách, pháp luật của nhà nước đến với nhân dân, gắn bó mật thiết với nhândân, công chức cấp xã vừa tham gia công tác lại vừa sản xuất, kinh doanh, gắn vớilợi ích trong gia đình, dòng họ Chính vì vậy, đã giúp cho đội ngũ công chức cấp xãluôn hiểu được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân ở địa phương mà họ công tác,sinh sống, bên cạnh đó công chức cấp xã còn thông thạo phong tục, tập quán, tâm lýcủa nhân dân và có những điều kiện thuận lợi trong việc vận động, thuyết phụcnhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật củanhà nước
Trang 10- Công chức cấp xã được tuyển dụng và xếp loại theo ngạch, bậc Mỗi ngạchđược tiêu chuẩn hóa riêng biệt, gắn liền với đặc điểm và yêu cầu của từng vị trícông việc cụ thể theo trình độ đào tạo.
- Đối với công chức Trưởng Công an và Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã:ngoài những tiêu chuẩn quy định chung đối với đội ngũ công chức cấp xã, còn phải
có khả năng phối hợp với các đơn vị Công an nhân dân, Quân đội nhân dân thamgia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dânsự; giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, bảo vệ chínhquyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước, bảo vệ chế độViệt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng,văn minh
- So với cán bộ chuyên trách cấp xã thì đội ngũ công chức cấp xã có tính ổnđịnh tương đối và có tính chuyên môn hóa cao Hơn nữa, công chức cấp xã là nhữngngười trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các công việc hằng ngày của nhân dân và làcầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân, thực hiện hoạtđộng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh trật tự, antoàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền được phân cấp, đảm bảo cho các chủtrương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước được triển khai thực hiện vànhanh chóng đi vào thực tiễn của cuộc sống Các công việc quản lý nhà nước ở cơ
sở thường đa dạng và luôn có sự đan xen các mối quan hệ lợi ích; do đó, đòi hỏi
công chức cấp xã là “người làm dâu trăm họ”, họ phải giải quyết công việc của địa
phương đảm bảo đúng quy định, pháp luật của nhà nước, nhưng cũng phải hợp lòngdân, được dân tin, dân yêu, dân chăm lo Đa phần Công chức cấp xã là người địaphương, chỉ có một số ít là người của địa phương khác hoặc được cấp trên tăngcường về, hoặc luân chuyển từ địa phương này sang địa phương khác Vì vậy, họ lànhững người thường am hiểu rất rõ về đời sống kinh tế, tâm tư, nguyện vọng, sinhhoạt thường ngày, văn hoá ứng xử, phong tục, tập quán, lối sống của người dân trênđịa bàn mình quản lý, làm việc Điều này đã tạo được sự thuận lợi nhất định cho CCcấp xã thực hiện việc quản lý nhà nước và giải quyết tốt các vấn đề phát sinh trên địa
Trang 11bàn mà học đang sinh sống và làm việc Tuy nhiên, giữa họ với những người dân địaphương thường có mối quan hệ huyết thống, quan hệ dòng tộc, bà con thân thuộc hayquê hương, làng, bản; xóm, ấp, khóm các mối quan hệ này đã ít nhiều gì cũng có sựchi phối nhất định đến hoạt động thực thi công vụ của đội ngũ công chức cấp xã,nhất là trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa lợi ích cánhân- cộng đồng- Nhà nước.
Công chức cấp xã phải giải quyết tất cả các công việc trong đời sống xã hội ởđịa phương, cơ sở mang tính thường xuyên để đảm bảo quyền và lợi ích, nguyệnvọng chính đáng của người dân và doanh nghiệp Tuy nhiên, đội ngũ CC cấp xãphần lớn là những người trưởng thành từ thực tiễn hoạt động phong trào của địaphương hoặc được tuyển dụng nhưng không đạt chuẩn về trình độ chuyên môn nênhầu hết CC cấp xã chưa được đào tạo bài bản, đúng qui trình hay thực hiện việcchuẩn hóa đối với đội ngũ cán bộ này Vì vậy, CC cấp xã sau khi được tuyển dụngthì phải cử đi đào tạo và đào tạo lại nên năng lực thực hiện nhiệm vụ trong quản lýnhà nước của đội ngũ này còn nhiều hạn chế nhất định Thực tế đã cho thấy, một bộphận CC cấp xã thiếu những kiến thức chuyên môn nghiệp vụ hoặc không am hiểu,thành thạo mọi kỹ năng cần thiết cho hoạt động công vụ và một bộ phận CC cấp xã
có thái độ ứng xử chưa phù hợp trong xử lý và giải quyết công việc, tiếp xúc vớinhân dân
Hiện nay, trình độ của công chức cấp xã đã từng bước được nâng lên đáng kể.Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập về trình độ văn hoá, lý luận chính trị, nhận thức,năng lực thực thi công vụ; một số CC cấp xã làm việc chủ yếu dựa trên những kinhnghiệm thực tiễn được truyền từ các thế hệ đi trước hoặc một số CC trẻ có trình độchuyên môn nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn nên đã gặp không ítkhó khăn khi xử lý, giải quyết các tình huống xảy ra trong công việc được phâncông Tất cả những điều nêu trên đã làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệuquả thực hiện nhiệm vụ tham mưu trong quản lý nhà nước ở địa phương được phâncông phụ trách
Với những đặc điểm nêu trên, đòi hỏi công tác đào tạo, bồi dưỡng CC cấp xã
Trang 12cần có những cách thức, phương pháp, lộ trình và bước đi sao cho phù hợp, xem xét
cả về nội dung, chương trình và cách thức tổ chức thực hiện đối với từng đối tượngđặc thù để đảm bảm tính hiệu quả lâu dài, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đàotao, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ sau khi được cử tham gia đào tạo, bồi dưỡng trongbối cảnh ngày nay
Như vậy, CBCC cấp xã nói chung và CC cấp xã nói riêng có vị trí, vai trò đặcbiệt quan trọng: CC cấp xã góp phần quyết định sự thành bại của chủ trương, đườnglối và nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước đề ra Không có đội ngũ cán bộ nóichung và cũng như đội ngũ công chức ở cơ sở nói riêng vững mạnh, nắm bắt, tuyêntruyền và triển khai thực hiện mọi chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng,chính sách pháp luật của nhà nước thì dù đường lối, chủ trương chính trị có đúngđắn đi chăng nữa thì cũng khó biến thành hiện thực, đi vào cuộc sống có hiệu quả.Đội ngũ công chức này vừa là người trực tiếp tuyên truyền về các chủ trương, chínhsách của Đảng, pháp luật Nhà nước, giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành, vừa
là người làm cầu nối để phản ánh những tâm tư nguyện vọng chính đáng của quầnchúng nhân dân đến với Đảng và Nhà nước, để từ đó kịp thời có sự điều chỉnh, sửađổi, bổ sung sao cho đúng và phù hợp với thực tiễn của cuộc sống Nói đúng hơn, ởkhía cạnh này, họ luôn có vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng
Trang 13nhân dân Nhiệm vụ của công chức cấp xã là thực thi công vụ mang tính tự quảntheo pháp luật và bảo toàn tính thống nhất của thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sởthông qua việc giải quyết các công việc hằng ngày mang tính chất quản lý, tự quảnmọi mặt ở địa phương (hay còn gọi là tự quản dân cư) Công chức cấp xã còn trựctiếp bảo đảm trật tự kỷ cương tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền conngười, quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của công dân Thông qua hoạt độngcủa đội ngũ công chức cấp xã, nhân dân được thể hiện quyền làm chủ và trực tiếpthực hiện quyền tự quản của mình (người đại diện).
Thông qua việc tuyên truyền, tổ chức, lôi cuốn, phát động phong trào, theodõi, kiểm tra và nhân rộng các phong trào tốt, những cá nhân điển hình, tiên tiến,khai thác tối đa nguồn lực về vật chất, tinh thần nội lực từ nhân dân và địaphương để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế, đảm bảo quốcphòng- an ninh, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội ở cơ sở ngày càng cóhiệu quả
Để đội ngũ Công chức cấp xã phát huy tốt vai trò đó, đòi hỏi Đảng và Nhànước ta phải xây dựng đội ngũ này có đủ phẩm chất, năng lực cần thiết cho mọi hoạtđộng thực thi công vụ Như Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khóa khoá IX đã nhấn mạnh rằng : “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ
sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, phápluật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân,không tham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hoá đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo,bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở” Trong
đó đặc biệt quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với Công chức cấp xãnhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ này, góp phần thực hiện hiệu quả công tácquản lý nhà nước ở cơ sở Thực tiễn đã cho chúng ta thấy rằng, địa phương nào cóđội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ công chức nói riêng tốt thì địa phương đó chắcchắn rằng sẽ có sự phát triển cao trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, hoànthành các nhiệm vụ chính trị mà Đảng và Nhà nước cấp trên giao phó, đáp ứngđược sự tin cậy, gửi gắm lòng tin của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ này
Trang 141.2 Mục tiêu, nội dung, tầm quan trọng của chính sách đào tạo, bồi
dưỡng công chức cấp xã
1.2.1 Những khái niệm có liên quan
1.2.1.1 Đào tạo, bồi dưỡng và Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Theo Nguyễn Thị Hồng Hải, trong Hỏi đáp về quản lý cán bộ công chức cấp xã: “Đào tạo, bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức đã được
đào tạo, nhằm củng cố, mở mang và trau dồi một cách có hệ thống những kỹ năng
và chuyên môn nghề nghiệp.” [21, tr.130-131]
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức được hiểu như sau: đây là hoạt động
nhằm bổ sung, cập nhập kiến thức, kỹ năng chuyên môn cho CBCC trong một tổchức khi mà những kiến thức, kỹ năng được đào tạo trước đây đã lạc hậu, không đủ
để thực hiện có hiệu quả hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ trong tổ chức đó” [21, tr.161-162]
1.2.1.2 Đặc trưng của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức
+ Đối tượng người học là những người có kinh nghiệm ít hoặc nhiều trongcông tác; vì vậy, phương pháp bồi dưỡng phải khác so với phương pháp bồi dưỡngthông thường của lứa tuổi học sinh, sinh viên
+ Những người tham gia các khoá đào tạo, bồi dưỡng này nhằm mục đích thựcthi công vụ tốt hơn; do đó, nội dung cũng phải phù hợp, thay đổi linh hoạt tuỳ theoyêu cầu của mỗi vị trí trong hoạt động công vụ và nhu cầu thực tiễn của mỗi đốitượng
+ Đào tạo, bồi dưỡng CBCC nhằm phát triển năng lực làm việc và nâng caokhả năng thực hiện công việc của người học trong thực tế, đáp ứng được nhu cầuphát triển nguồn nhân lực của tổ chức trong thực thi công vụ
Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng CBCC được hiểu như sau: đó là quá trình truyềnthụ kiến thức, kỹ năng, trang bị, cập nhập, nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng tiêuchuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý, chức danh chuyên môn, vị trí công việc choCBCC trong tổ chức
Trang 151.2.1.3 Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
Là một bộ phận của CBCC nói chung, CBCC cấp xã có những đặc điểmchung cũng giống như CBCC; là những người thực thi công vụ, có ít nhiều kinhnghiệm trong thực tiễn công tác Bên cạnh đó, hoạt động của đối tượng này có đặcthù như đã nói ở phần 1.1.2 Vì vậy cần có cách nhìn nhận rõ hơn về đào tạo, bồi
dưỡng đối với công chức cấp xã Theo Nguyễn Thị Hồng Hải trong Hỏi đáp về quản
lý cán bộ công chức cấp xã: “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã là một quá trình
truyền thụ kiến thức, kỹ năng, trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng theotiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý cho các cán bộ cấp xã Còn đào tạo, bồi dưỡngcông chức cấp xã là một quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng, trang bị, cập nhật,nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghề nghiệp Việc đào tạo, bồidưỡng đối với công chức cấp xã chính là việc trang bị, bổ sung những kiến thức cầnthiết dựa trên các tiêu chuẩn, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng công chức,trong đó tập trung vào việc vận dụng những kiến thức lý luận vào thực tiễn nhằm
giải quyết những vấn đề quản lý cụ thể.” [21, tr.132-133-134]
1.2.2 Vai trò của công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
Đào tạo, bồi dưỡng CBCC nói chung và đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xãnói riêng đây chính là việc tổ chức những cơ hội cho người ta học tập, nhằm giúp tổchức đạt được mục tiêu của mình với các mục đích đó là:
- Trang bị, bổ sung, nâng cao kiến thức, kỹ năng liên quan; thay đổi thái độ vàhành vi đến công việc để phát triển năng lực làm việc của công chức và nâng caokhả năng thực hiện công việc trong thực tế của họ
- Giúp công chức luôn phát triển để có thể đáp ứng được nhu cầu nguồn nhânlực trong tương lai của tổ chức đó
- Giảm thời gian học tập, làm quen với công việc mới của đội ngũ công chứcnày do thuyên chuyển (luân chuyển) công tác, giới thiệu đề bạt, bổ nhiệm, thay đổinhiệm vụ và đảm bảo cho họ có đầy đủ khả năng làm việc ở vị trí công tác mới mộtcách nhanh chóng và tiết kiệm; hoàn thành những mục tiêu của cá nhân và của tổchức đề ra
Trang 16Như vậy, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng CBCC nói chung cũng như đội ngũcông chức cấp xã nói riêng đây là một nhiệm vụ quan trọng trong tổ chức Nókhông chỉ nhằm nâng cao năng lực công tác cho đội ngũ công chức này trong hiệntại mà chính là đáp ứng các yêu cầu về nhân lực trong tương lai của tổ chức; có vaitrò to lớn trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước, hơn hết là góp phần tăngcường tính hiệu lực, hiệu quả, không ngừng nâng cao trách nhiệm trong công táctham mưu, phối hợp quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội ở từngđịa phương xã, phường.
1.2.3 Mục tiêu của công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp xã
Mục tiêu của việc đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ này là cơ sở địnhhướng cho quá trình đào tạo, bồi dưỡng thực hiện có hiệu quả Tuỳ theo yêu cầucông việc, vị trí việc làm khác nhau của từng công chức cấp xã mà mục tiêu đào tạo,bồi dưỡng đối với các đối tượng nêu trên cũng sẽ khác nhau
Theo Quyết định số 163/QĐ- TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, giai đoạn2016- 2025 là phải “bảo đảm nâng cao năng lực, kỹ năng thực thi công vụ được
giao; ý thức trách nhiệm, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp” [31, tr.63] Với
mục tiêu: “hằng năm, có ít nhất 60% cán bộ, công chức cấp xã được đào tạo, bồi
dưỡng và cập nhập kiến thức, kỹ năng, phương pháp, đạo đức công vụ” [31] Như
vậy, mục tiêu của công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã nằm trong hệ thốngmục tiêu chung của công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã nêu trên Đây là cơ
sở để các cơ quan có thẩm quyền cũng như chính quyền địa phương xác định mụctiêu cụ thể trong quá trình triển khai hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đối với côngchức cấp xã
1.2.4 Các nguyên tắc trong đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
Để đảm bảo tính hiệu quả trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với công chứccấp xã, đòi hỏi phải tuân theo một số nguyên tắc cơ bản như sau:
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng phải dựa trên chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu côngviệc của từng vị trí công chức và yêu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực củađịa
Trang 17phương Theo đó, tuỳ thuộc vào mỗi vị trí chức danh công tác khác nhau mà chúng
ta có những nội dung, yêu cầu đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ côngchức cũng như có những nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng khác nhau
- Cơ quan quản lý đối với công chức phối hợp với đơn vị sử dụng công chứccần phải có sự kết hợp đối với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng với các hoạt động cóliên quan như: quy hoạch cán bộ công chức, xác định nhu cầu đối với công tác đàotạo, bồi dưỡng, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, phân bổ thời gian, nguồnkinh phí, đánh giá hiệu quả sau khi đào tạo, bồi dưỡng và xác định người thay thếcông việc trong suốt quá trình mà đối tượng được cử đi đào tạo, bồi dưỡng ở từngđịa phương Trong đó, khâu quy hoạch cán bộ là cơ sở then chốt trong việc cử cán
bộ tham gia đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, kiếnthức quản lý nhà nước cũng như việc sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ sau này, khắcphục trình trạng vừa hụt hẫng, vừa dư thừa, đào tạo, bồi dưỡng không gắn với mụcđích, mục tiêu, vị trí việc làm đối với đội ngũ cán bộ công chức Vì vậy, từng địaphương cơ sở xã, phường phải dựa trên danh sách quy hoạch, tạo nguồn cán bộ củađịa phương mình đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (cấp xã phải được BanThường vụ Thị ủy phê duyệt), qua đó, lãnh đạo địa phương phải nhất thiết phối hợpvới cơ quan quản lý CBCC để xây dựng kế hoạch, chương trình đào tạo, bồi dưỡngsao cho phù hợp đối với từng chức danh dự nguồn, quy hoạch Điều này chắc chắnrằng sẽ khắc phục được tình trạng cử CBCC đi đào tạo, bồi dưỡng một cách dàntrải, tràn lan, không đúng đối tượng như những hạn chế, tồn tại trong công tác cán
bộ mà lâu nay một số địa phương đã từng mắc phải, gây lãng phí nguồn ngân sách,thất thoát tiền của, tốn kém thời gian, kinh phí, đi lại của chính cán bộ đó và ảnhhưởng đến hoạt động chung của mỗi địa phương xã, phường trên địa bàn thị xãĐiện Bàn
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức phải đảm bảo tính công khai,minh bạch, hiệu quả Theo đó, các kế hoạch, chương trình, kinh phí về đào tạo, bồidưỡng cán bộ phải được công khai cho công chức biết để thực hiện Do vậy, côngchức phải có trách nhiệm tham gia tích cực để hoàn thành tốt các chương trình, nội
Trang 18Xác định nhu cầu cần đào tạo, bồi dưỡng
Xác định yêu cầu học tập
Kỹ thuật Trang thiết bị
Thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
Đội ngũ Giáo viên, giảng viên
Đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng
Kế hoạch, chương trình đào tạo,bồi dưỡng là như thế nào
Cơ sở để đàotạo, bồi dưỡng
dung đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu của tổ chức đặt ra
1.2.5 Quy trình công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp xã
Quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng chính là quá trình tổ chức thực hiện việcđào tạo, bồi dưỡng để đạt được mục tiêu của nó Thông thường người ta cho rằngquy trình đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng bao gồm các thành tố sau đây:
Một cách đơn giản hơn, quy trình đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộdựa trên cơ sở năng lực thực tiễn trong thực hiện công việc bao gồm 4 thành tố cơbản đó là:
Trang 19Xác định yêu cầu học tập
Đánh giá công tác đào
tạo, bồi dưỡng
Lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
1.2.5.1 Xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ công chức cấp xã
Xác định nhu cầu đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với công chứccấp xã chính là vấn đề chúng ta đi vào trả lời các câu hỏi như: Những kiến thức,
kỹ năng cần thiết cho từng vị trí công việc? Những kiến thức, kỹ năng cần thiết
mà công chức hiện có? Những kiến thức, kỹ năng còn thiếu của công chức đốivới từng vị trí công việc của họ? Làm cách nào để xác định đúng những thiếu hụtđó? Những khóa học (hay khóa đào tạo, lớp đào tạo, bồi dưỡng) nào cần tổ chức
để kịp thời khắc phục ngay những thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng cho đội ngũcông chức này? Để nắm bắt nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cần sử dụng cácphương pháp như thế nào? Có thể đặt ra các phương pháp phổ biến nhất như sau:+ Phân tích tổ chức, các kế hoạch hoạt động và kế hoạch nguồn nhân lực.+ Phân tích công việc, phân tích đánh giá thực hiện công việc
+ Điều tra khảo sát đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng (phiếu khảo sát, thảoluận, lấy ý kiến chuyên gia sau đó tổng hợp và đi vào phân tích, đánh giá, kết luận
2 Lập kế hoạch thực hiện xác định nhu cầu đối với công tác đào tạo, bồi
Thực hiện kế hoạchđào tạo, bồi
Trang 20dưỡng cán bộ Phân tích nhu cầu cần đào tạo, bồi dưỡng.
3 Đánh giá thực trạng về thực hiện công việc
4 Xác định những sai sót, thiếu hụt trong thực hiện nhiệm vụ và những hành
vi, nhận thức sai lệch (nếu có)
5 Xác định nhu cầu cần đào tạo, bồi dưỡng từ các bước 2, 3 thực hiện so sánhvới bước 4 như thế nào
6 Xác định các mục tiêu và nội dung cần đào tạo, bồi dưỡng
1.2.5.2 Lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cần trả lời các câu hỏi chính như: Mụctiêu kế hoạch đặt ra? Nội dung đó là gì? Giao cho ai thực hiện? thời gian và địađiểm tiến hành như thế nào? Cách thức tổ chức thực hiện ra sao? Kinh phí baonhiêu? Kiểm tra đánh giá như thế nào? Người ta dùng kỹ thuật như tại sao? Ngườinào? Ai? Khi nào? ở đâu? Bao nhiêu…) Một vấn đề quan trọng nữa là cần phải xâydựng một kế hoạch đào tạo cụ thể, rõ ràng, chi tiết, đảm bảo các nội dung sau:
- Mục đích tổng thể; Các mục tiêu cụ thể; Đối tượng: đối tượng học viên, tiêuchuẩn để tuyển chọn tham gia đào tạo, bồi dưỡng; Hỗ trợ đối với việc học tập, trangthiết bị; Phương pháp đào tạo, bồi dưỡng, các hoạt động của học viên; Phân phốithời gian; Nội dung chính: Các chủ đề; Tài liệu để đào tạo, bồi dưỡng; Người dạy:giáo viên, giảng viên, báo cáo viên, cộng tác viên; Các kết quả, tiêu chí cần đạt vàcuối cùng là Chương trình chi tiết
Các nhà nghiên cứu cho rằng, một kế hoạch tốt cần phải rõ ràng về mục tiêuđào tạo, bồi dưỡng Các mục tiêu cần được xây dựng theo kỹ thuật như,Achievable- có thể đạt được, vừa sức, SMART: Specific- Cụ thể, Measurable- đolường được, Realistic- Thực tiễn, khả thi, Time-bound- thời hạn
Để giúp cho việc thực hiện công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, người tathường đưa ra các công việc cần thực hiện trong thiết kế chương trình đào tạo, bồidưỡng như sau:
1 Xem xét về số lượng học viên, nghiên cứu lấy ý kiến của họ về chương trình
2 Liệt kê những cách thức, hoạt động để đạt được mục tiêu này
Trang 213 Quyết định loại hình thức đào tạo, bồi dưỡng nào: tại cơ quan (đào tạo, bồidưỡng trong công việc) hay tập trung ngoài cơ quan.
4 Quyết định hình thức phương pháp đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng- nhưviệc huấn luyện, kèm cặp hướng dẫn…
5 Thảo luận về chương trình, kế hoạch với những người có liên quan, vớichuyên gia, học viên và những người lãnh đạo, quản lý họ
6 Hoàn thiện Chương trình
Xây dựng nội dung đào tạo, bồi dưỡng cần đảm bảo theo công thức nhưCurrent - Hiện hành, mới đây, Time limit - Thời gian giới hạn, Important - Quantrọng, Challenging - Thách thức, khác trước, Elective - Tuyển chọn, tổng hợp,PRACTICE: Practical - Tính thực tế, Relevant - Liên quan, Applicable - Tính ápdụng,
1.2.5.3 Thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
Tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cần trả lời các câu hỏi cơbản như: Có những hoạt động cụ thể nào? Phân công, phối hợp như thế nào saocho có hiệu quả nhất? Tổ chức sao cho chi phí phù hợp, tiết kiệm để đạt được kếtquả cao? Để thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã cần tổchức thực hiện một cách nghiêm túc trong khâu này như vấn đề tổ chức như thếnào, ai triệu tập, đại điểm ở đâu, ai quản lý, phụ trách, báo cáo viên, giảng viên đảmbảo ra sao, cơ sở vật chất và các trang thiết bị cần thiết
1.2.5.4 Đánh giá đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng
Trong quá trình tổ chức các hoạt động đi vào đánh giá chính sách thực hiệncông tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã cần đi thẳng vào đánh giánhững vấn đề mang tính cụ thể đó là: việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng có đạt đượcmục tiêu đề ra hay không? Học viên có tham gia tích cực vào quá trình đào tạo, bồidưỡng hay không? Công tác tổ chức có tốt hay không? Học viên học được những gì
và họ áp dụng được những điều gì đã học vào thực tế công việc sau này như thếnào? Nội dung có phù hợp hay không? Chương trình có phù hợp hay không? Giảngviên hay báo cáo viên có đáp ứng được yêu cầu của chương trình đào tạo, bồi dưỡng
Trang 22hay không? Hiệu quả đem lại của chương trình đào tạo, bồi dưỡng trong thực tiễn công tác của công chức ra sao?
Theo các nhà nghiên cứu, có 4 cấp độ đánh giá trong chương trình đào tạo, bồidưỡng như sau:
1 Đánh giá phản ứng của người học: Họ đánh giá như thế nào về đào tạo, bồidưỡng vào các thời điểm trước, trong, cuối khoá đào tạo, bồi dưỡng và vào nhữngthời điểm sau công tác đào tạo, bồi dưỡng
2 Đánh giá kết quả học tập: Xem học viên đã tiếp thu những gì từ khóa học.Kiểm tra kiến thức, kỹ năng, thái độ và đối chiếu với những mục tiêu đã đề ra
3 Đánh giá những thay đổi trong công việc: xem người học áp dụng nhữngđiều đã học vào công việc như thế nào Những thay đổi đối với việc thực hiện côngviệc
4 Đánh giá những tác động, hiệu quả của tổ chức: Việc đào tạo có tác động,ảnh hưởng tới kết quả của tổ chức, hiệu quả của bồi dưỡng là như thế nào; thực hiệnchính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ đã mang lại những hiệu quả gì? Tùy theo các cấp độ đánh giá mà người ta sử dụng các phương pháp đánh giákhác nhau để xem việc thực hiện quy trình đào tạo, bồi dưỡng đạt được những kếtquả đến đâu, hiệu quả như thế nào
1.3 Quy trình và các nhân tố ảnh hưởng tới việc thực hiện đào tạo, bồi
dưỡng công chức cấp xã.
Theo Luật CBCC năm 2008 quy định: việc đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xãphải căn cứ vào tiêu chuẩn của từng chức vụ, chức danh, yêu cầu nhiệm vụ và phù
hợp với quy hoạch CBCC [25, tr.51] Xuất phát từ tính chất công việc của hai đối
tượng trên khác nhau, do đó cần có những sự điều chỉnh nhất định về yêu cầu bồidưỡng cho phù hợp Đối với cán bộ việc đào tạo, bồi dưỡng nhằm đáp ứng tiêuchuẩn của từng chức danh lãnh đạo, quản lý, tham mưu Đối với công chức, việcđào tạo, bồi dưỡng nhằm đáp ứng tiêu chuẩn đối với chức danh chuyên môn, nghềnghiệp
Theo đó, việc đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã cần phải đảm bảo các yêucầu cụ thể sau:
Trang 231.3.1 Yêu cầu của công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
1.3.1.1 Đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng các tiêu chuẩn chức vụ, chức danh
Căn cứ vào tiêu chuẩn công việc của từng đối tượng, Nhà nước đã quy định cụthể các tiêu chuẩn cần phải đảm bảo của CBCC nói chung và công chức ở cấp xãnói riêng Ví dụ như đối với cán bộ và công chức cấp xã thì dựa trên những quyđịnh của Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015, còn đối với công chứccấp xã áp dụng thực hiện theo Nghị định số 112/2011/NĐ- CP ngày 05/12/2011 củaChính phủ về công chức xã, phường, thị trấn
- Bồi dưỡng về trình độ lý luận chính trị cho các chức danh công chức côngchức cấp xã; cập nhập nội dung các văn kiện, nghị quyết, chủ trương, đường lối củaĐảng, chính sách pháp luật của nhà nước
- Về kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước: bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản
lý nhà nước theo tiêu chuẩn chức danh công chức; tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo,quản lý; cập nhập kiến thức về pháp luật, văn hoá công sở, nâng cao ý thức đạo đứccông vụ, đạo đức nghề nghiệp Cụ thể:
+ Công chức Tư pháp- Hộ tịch: thời gian bồi dưỡng là 02 tháng [25]
+ Công chức Văn hoá- Xã hội: thời gian bồi dưỡng từ 02 hoặc 04 tháng
+ Công chức Văn phòng- Thống kê: thời gian bồi dưỡng là 05 tuần
+ Công chức địa chính- xây dựng- nông nghiệp- môi trường: thời gian bồidưỡng là 10 ngày
+ Công chức Tài chính- Kế toán: thời gian bồi dưỡng từ 02 đến 03 tháng.+ Chỉ huy trưởng Quân sự: thực hiện theo Quyết định số 360/QĐ- TM ngày04/3/2011 của Bộ Tổng tham mưu- Quân đội nhân dân Việt Nam, ban hành chươngtrình khung đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với Chỉ huy trưởng quân sự xã,phường, thị trấn Đến nay ban hành khung đào tạo Trung cấp quân sự chuyênnghiệp cơ sở, thời gian đào tạo là 24 tháng, kèm theo bồi dưỡng kiến thức quản lýnhà nước, ngoại ngữ tiến anh, chứng chỉ tin học Bồi dưỡng kiến thức tham mưu tổchức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng- quân sự địa phương đạt theo tiêu chuẩn đãquy định;
Trang 24+ Trưởng công an: thực hiện theo Quyết định số 9444/QĐ-X11-X14 ngày14/10/2011 của Bộ Công an ban hành Chương trình khung đào tạo, bồi dưỡng đốivới Trưởng Công an xã Khu vực đồng bằng, ven biển và Khu vực trung du, miềnnúi, dân tộc Đã thực hiện việc đào tạo trung cấp công an xã, thời gian đào tạo là 24tháng.
- Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng- an ninh theo các chương trình quy địnhcho đối tượng là công chức cấp xã (Trưởng công an xã)
- Cập nhập và nâng cao kiến thức, năng lực nắm bắt chủ trương về hội nhậpquốc tế
Đối với công chức mới tốt nghiệp được bố trí theo các Đề án của Chính phủ
và các địa phương thì được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng về những nội dung cơ bản
về những giải pháp thiết thực, hiệu quả trong xây dựng- đô thị, môi trường, pháttriển công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, phát triển trang trại, gia trạitrên địa bàn công tác; các kỹ năng cần thiết đối với công chức xã, phường,thị trấnnhư kỹ năng tham mưu tổng hợp các văn bản, đề xuất xử lý các tình huống phức tạp
có thể xảy ra, kỹ năng giao tiếp- ứng xử, kỹ năng soạn thảo các loại văn bản, kỹnăng thuyết trình, hoạt động đạo đức công vụ, kỷ cương, kỷ luật hành chính công.Ngoài ra, tùy vào thực tế nhu cầu, thực trạng đội ngũ này ở các địa phương cóthể linh hoạt bổ sung thêm các kỹ năng khác để áp dụng sao cho phù hợp với thựctrạng địa phương
1.3.1.2 Đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu giải quyết tốt công việc của người dân và doanh nghiệp
Trong xu thế hội nhập hiện nay, việc xây dựng và nâng cao năng lực của độingũ công chức nói chung và công chức cấp xã nói riêng không chỉ quan tâm đếnviệc đáp ứng tiêu chuẩn chức danh mà cần phải đảm bảo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ,với nhu cầu và sự mong đợi của người dân và doanh nghiệp Mặt khác, thước đonăng lực của công chức được thể hiện ở 03 yếu tố tạo thành đó là kiến thức, kỹ năng
và thái độ ứng xử Theo đó, để công chức đáp ứng, giải quyết tốt các công việcđược giao thì ngoài những kiến thức cần có, họ cần phải được trang bị, rèn luyện và
sử dụng thành thạo các kỹ năng và có thái độ ứng xử sao cho phù hợp trong từng
Trang 25hoàn cảnh nhất định và mỗi loại công việc thì cần phải đòi hỏi có các kỹ năng khácnhau Mặc khác, với đặc điểm công việc là trực tiếp giải quyết hằng ngày các vấn
đề phát sinh trên địa bàn và thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội củađịa phương, đòi hỏi công chức cấp xã cần có những kỹ năng nhất định đảm bảothực hiện tốt công việc được giao Cụ thể, công chức cấp xã cần được đào tạo, bồidưỡng các kỹ năng chung như:
+ Kỹ năng soạn thảo văn bản: nắm rõ mục đích, thẩm quyền, nội dung, yêucầu, quy định về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản và thường xuyên soạn thảovăn bản trên máy vi tính đảm bảo đúng theo quy định của nhà nước;
+ Kỹ năng giao tiếp: đòi hỏi công chức phải có tự tin và chuyên nghiệp tronggiao tiếp với công dân, tổ chức, đồng nghiệp thông qua nhiều kênh như giao tiếpbằng văn bản, tiếp xúc trực tiếp, bàn bạc, thảo luận, ;
+ Kỹ năng thuyết trình: phải có khả năng truyền đạt nội dung có tính thuyếtphục, thu hút người nghe, đảm bảo về chất lượng, hiệu quả và thời gian;
+ Kỹ năng lắng nghe: có thái độ lắng nghe chủ động, có những phản hồi tíchcực, cách thức đặt câu hỏi và biết cách chốt lại vấn đề (kết luận);
+ Kỹ năng làm việc nhóm: là khả năng tương tác với các đồng nghiệp, với cấptrên, với nhân dân nhằm phát huy năng lực, tiềm năng của cá nhân và của các thànhviên khác qua đó thúc đẩy đem lại hiệu quả công việc;
+ Kỹ năng thu thập, xử lý thông tin: xác định rõ nhu cầu thông tin, giá trị củathông tin thu thập được, phân tích, kiểm chứng độ chính xác của thông tin, cungcấp, phổ biến thông tin, bảo quản và lưu trữ thông tin;
+ Kỹ năng xử lý tình huống: dự đoán trước những tình huống có khả năng xảy
ra, nắm rõ những kiến thức chuyên môn, quy định về cách thức xử lý nội dung cáctình huống có liên quan đến công việc được đảm nhận và vận dụng nhằm giải quyếttốt những nội dung công việc đó;
Mặt khác xuất phát từ nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau của công chức cấpxã; đòi hỏi phải phân định rõ các kỹ năng riêng cần có đối với từng nhóm đối tượngnhằm đào tạo, bồi dưỡng sao cho phù hợp, đáp ứng được yêu cầu công việc
Trang 26Hơn nữa, công chức cấp xã là những người làm công tác chuyên môn thuộcbiên chế của UBND cấp xã, có trách nhiệm tham mưu, giúp UBND cấp xã thựchiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác được phân công và thực hiện
các nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND cấp xã giao [25, tr.14] thì đòi hỏi những kỹ
năng riêng cần phải đào tạo, bồi dưỡng như:
+ Kỹ năng hệ thống hoá văn bản pháp luật chuyên ngành: Biết tập hợp, sắpxếp những văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành có liên quan đến nhiệm vụthành một hệ thống thống nhất, hài hoà về nội dung và hình thức theo yêu cầu sửdụng, định kỳ cập nhập hiệu lực của hệ thống các văn bản trên để xử lý công việcmột cách có hiệu quả nhất;
+ Kỹ năng tham mưu, đề xuất giải quyết công việc: Có những kiến nghị, đềxuất các ý tưởng độc đáo, hợp lý, khả thi, cũng như các phương án tối ưu cho thủtrưởng cơ quan trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch công tác ngắn hạn, dài hạn vàhằng năm của địa phương đạt kết quả tốt nhất;
+ Kỹ năng viết báo cáo: Xác định rõ nội dung báo cáo, tổng hợp, phân tíchthông tin thật chính xác, kịp thời, đánh giá khách quan về những ưu, khuyết điểmcủa vấn đề, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất hướng giảiquyết, khắc phục;
+ Kỹ năng phối hợp: đó là cách thức làm việc với các công chức khác trongUBND cùng cấp và đối với cấp trên, phối hợp với nhân dân trên địa bàn để thực thicông vụ sao cho đạt hiệu quả
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp
xã
1.3.2.1 Sự quan tâm của cấp uỷ, chính quyền địa phương
Cán bộ có vai trò quyết định đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng Xâydựng đội ngũ cán bộ vững vàng về lập trường tư tưởng chính trị và năng lực chuyênmôn, thành thạo trong công việc, có phẩm chất đạo đức lối sống tốt luôn là nhiệm
vụ trọng tâm của các cấp uỷ, chính quyền địa phương Một trong những giải phápquan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ là công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với độingũ công chức Vì vậy, sự quan tâm sâu sát của cấp uỷ đối với công tác đào tạo, bồi
Trang 27dưỡng công chức luôn có ý nghĩa quan trọng sẽ có tác động trực tiếp đến kết quả,chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng Sự quan tâm trong lãnh đạo, chỉ đạo củacấp uỷ phải thể hiện bằng chương trình, kế hoạch hành động, nghị quyết chuyên đề
về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức; tổ chức triển khai thực hiện, trong
đó có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, thường xuyên theo dõi, giám sát, kiểm tra,đồng thời có những điều chỉnh nếu thấy cần thiết
Sự quan tâm của cấp uỷ, chính quyền địa phương đối với công tác đào tạo, bồidưỡng công chức thể hiện từ công tác quy hoạch cán bộ, xem xét nhu cầu, cử côngchức đi đào tạo, bồi dưỡng các khoá sao cho phù hợp, đồng thời tạo mọi điều kiệnthuận lợi nhất để công chức dành thời gian cần thiết cho quá trình học tập và phân
bổ kinh phí sao cho thoả đáng đảm bảo cho quá trình đào tạo, bồi dưỡng Sự liên hệchặt chẽ giữa cơ sở đào tạo với lãnh đạo địa phương cử người đi học là yếu tố tácđộng tích cực đến thái độ học tập của học viên trong quá trình tham gia học tập.Mối quan hệ này còn giúp các cơ sở, các nhà quản lý trong quá trình đào tạo, bồidưỡng cũng như đội ngũ giảng viên thường xuyên đúc rút kinh nghiệm, điều chỉnh
về chương trình, phương pháp sao cho phù hợp với từng đối tượng, nâng cao chấtlượng, hiệu quả trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức
1.3.2.2 Tính khoa học của kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở mỗi địa phương cơ sở đượcxây dựng một cách khoa học, công phu và thực hiện kế hoạch nghiêm túc quyếtđịnh theo sự phân công của công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức Kế hoạch phảidựa trên các căn cứ, trước hết là chủ trương, nghị quyết của cấp uỷ đảng có liênquan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, phải căn cứ vào việc xácđịnh nhu cầu cần đào tạo, dưỡng cán bộ công chức cấp xã, xác định thứ tự ưu tiêncho việc thoả mãn nhu cầu thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng; nguồn lực hiện
có (bao gồm các nguồn lực tài chính, thời gian có thể bố trí cho công chức cấp xãtham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng ), nguồn lực sẽ có trong tương lai, các yếu tốngoại cảnh tác động đến việc thực hiện kế hoạch; dự phòng rủi ro (nếu có), lịch thựchiện kế hoạch Dự thảo kết quả phải được thảo luận, bàn bạc và được cấp có thẩm
Trang 28quyền thông qua Sau khi kế hoạch đã được thông qua, tiến hành tổ chức thực hiện theo đúng nội dung mà kế hoạch đề ra.
Kết thúc giai đoạn thực hiện kế hoạch, cần tiến hành kịp thời công tác sơ kết,tổng kết, đánh giá quá trình thực hiện, phân tích rõ nguyên nhân về những mục tiêu
đã thực hiện được, mục tiêu chưa thực hiện được, xác định trách nhiệm rõ ràng vàrút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết đối với việc xây dựng và thực hiện các
kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng tiếp theo sau này
1.3.2.3 Tính khoa học, hợp lý trong việc lựa chọn chương trình, phương pháp, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng để cử công chức cấp xã tham gia đào tạo, bồi dưỡng
- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng
Chương trình có vai trò quan trọng đối với việc đào tạo, bồi dưỡng công chứcđạt chuẩn và hiệu quả Sự phù hợp của chương trình đào tạo gắn với mục tiêu đàotạo, bồi dưỡng công chức cấp xã Chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải được xâydựng trên nền tảng về cách tiếp cận khả năng thực thi công vụ của công chức cấp xãvới mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ của hoạt động công vụ đã được quy định rõràng cho từng chức danh và ngạch công chức trong các văn bản có liên quan củaNhà nước quy định Chương trình phải đạt được yêu cầu thiết thực, phù hợp với cácđối tượng vùng miền và thời gian cho mỗi khoá học là hợp lý Điều này sẽ giúp chohọc viên tích cực học tập để nâng cao về kiến thức, phát huy năng lực, sở trườngtrong công tác và phát huy được tốt đối với những công việc hằng ngày của mình
- Phương pháp đào tạo, bồi dưỡng
Đây là một trong những yếu tố quan trọng để quyết định chất lượng trongcông tác đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp xã Bởi nếu có nội dung, chươngtrình khoa học, đáp ứng yêu cầu nhưng phương pháp trong đào tạo, bồi dưỡng sửdụng không khoa học, hợp lý, cứng nhắc, không có hiệu quả, nó sẽ không theo kịpnhu cầu của người học thì khi đó hiệu quả của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ sẽ
bị giảm đi rất nhiều Hiện nay, việc đào tạo, bồi dưỡng bằng phương pháp tích cựcđược các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cũng như giảng viên giảng dạy hay báo cáo viên
áp dụng rất nhiều Ví dụ như: phương pháp thuyết trình, thảo luận nhóm, bài tập
Trang 29nhóm, đóng vai, giải quyết tình huống, tham gia khảo sát thực tế, tổng hợp, viết tiểuluận Qua đó sẽ phát huy được tính tự giác, chủ động và tư duy sáng tạo của ngườihọc, tăng cường trao đổi thông tin, kiến thức và kinh nghiệm giữa giảng viên vớihọc viên và giữa các học viên với nhau.
Trang thiết bị cần thiết phục vụ đáp ứng yêu cầu trong khâu tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ công chức cấp xã
Trong quá trình chuẩn bị đào tạo, bồi dưỡng hết sức quan tâm đến các điềukiện cần thiết phục vụ nhu cầu đào tạo đối với đội ngũ công chức cấp xã đó là cáctrang thiết bị, cơ sở vật chất có liên quan như hội trường, âm thanh, giảng viên, cácphòng làm việc của giảng viên và cán bộ, thư viện, nơi nội trú của học viên và giáoviên khi cần thiết đảm bảo phục vụ cho công tác giảng dạy theo phương pháp hiệnđại, áp dụng công nghệ thông tin, âm thanh, máy chiếu, ổn áp, quạt điện, điều hòa…Trong xu thế mới ngày nay, để nâng cao chất lượng trong công tác đào tạo, bồidưỡng cán bộ Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cũng như người học thường quan tâmnhiều hơn đến trang thiết bị, các phương tiện giảng dạy hiện đại như các phươngtiện nghe nhìn, trang thiết bị phục vụ như máy chiếu, máy quay video, bảng lật, bànghế, các thiết bị âm thanh phục vụ việc thực hiện giáo án điện tử cũng như áp dụngphương pháp sư phạm hành chính khác như phân nhóm, đóng vai, thuyết trình, thảoluận, tương tác giữa giáo viên đối với học viên và ngược lại
- Đội ngũ giảng viên hành chính và quản lý nhà nước
Mối quan hệ của người thầy và học viên trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡngchính là việc hướng dẫn, trao đổi thông tin quản lý, người thầy không chỉ truyền đạtkiến thức mà chủ yếu là quá trình trao đổi, tương tác thông tin một cách hiệu quảnhất và nhiệm vụ của học viên là trao đổi kinh nghiệm quản lý, công tác, cùng nhaubàn bạc, thảo luận, tìm phương pháp giải quyết vấn đề một cách tối ưu nhất Dovậy, đạo đức, trình độ, kinh nghiệm công tác, xử lý tình huống và phương phápgiảng dạy của đội ngũ giảng viên quản lý nhà nước có vai trò quan trọng, sẽ ảnhhưởng và quyết định đến chất lượng trong đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã.Trong thực tế, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng hiện nay ngoài đội ngũ giảng viên
Trang 30hiện có tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng còn có đội ngũ giảng viên kiêm chức Họ làcán bộ lãnh đạo ở các cơ quan, ban, ngành, địa phương, các nhà quản lý đào tạo,giảng viên các trường đại học, có trình độ, năng lực và đặc biệt rất giàu kinh nghiệmtrong thực tiễn công tác Tuy nhiên nhất là đối với lãnh đạo cấp cao, thời gian dànhcho công tác giảng dạy không nhiều, lại bị động vì những công việc đột xuất, rấtkhó khăn cho cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chủ động sắp xếp lịch học tập Vì vậy, các
cơ sở đào tạo, bồi dưỡng vẫn phải trông cậy ở đội ngũ giảng viên cơ hữu hiện có tạicác cơ sở, học viện, nhà trường Họ là đội ngũ tác động chủ yếu đến chất lượngcông tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã Đội ngũ này được tuyển chọn kỹcàng theo tiêu chuẩn, thường xuyên được đào tạo, cập nhật kiến thức mới, nâng caotrình độ, phương pháp giảng dạy và bồi dưỡng cập nhập thường xuyên về nhữngchủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Tỷ lệ giảngviên có học hàm, học vị càng cao thì chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng và uytín của cơ sở đối với xã hội càng có cơ hội phát triển, nâng cao
Bên cạnh đội ngũ giảng viên, đội ngũ cán bộ quản lý cũng có vai trò rất quantrọng trong việc nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Họ lànhững người trực tiếp quản lý đội ngũ học viên theo quy trình quản lý đào tạo, nắmvững những khó khăn, thuận lợi của từng học viên trong quá trình tham gia đào tạo,bồi dưỡng; là nơi để học viên trao đổi, phản ánh, đóng góp ý kiến về chương trình,phương pháp giảng dạy của giảng viên, điều kiện cơ sở vật chất để phục vụ trongquá trình học tập Chính vì vậy, cán bộ quản lý phải trở thành cầu nối giữa học viên
và giảng viên, với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng
Trong thực tế quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng, đội ngũ cán bộ quản lýcũng là nơi hay phát sinh tiêu cực trong mối quan hệ giữa học viên với công tác đàotạo, bồi dưỡng Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý công tâm, tận tụy, sâu sátvới công việc quản lý, thực hiện nghiêm chỉnh quy chế trong công tác đào tạo, bồidưỡng, đồng thời gắn bó, chia sẽ với những khó khăn của học viên là yếu tố quantrọng ảnh hưởng đến chất lượng trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung
và đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ công chức cấp xã nói riêng
Trang 31- Đối với hoạt động tổ chức quá trính đánh giá các kết quả có liên quan đến chất lượng trong đào tạo, bồi dưỡngđối với đội ngũ công chức cấp xã
Có thể nói đây là khâu khá quan trọng trong các quy trình tổ chức đối với cáchoạt động đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp xã Đây là cơ sở để các cơ quanquản lý, các đơn vị có liên quan tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, các địa phương sử dụngcông chức ở cấp xã có được những thông tin về mức độ nâng cao năng lực thựchiện nhiệm vụ, công vụ của công chức ở cấp xã sau khi được cử đi đào tạo, bồidưỡng; qua đó có những điều chỉnh kịp thời về nội dung, chương trình, cách thứcđào tạo, bồi dưỡng sao cho phù hợp và phải bảo đảm tính công khai, minh bạch,khách quan, trung thực trong quá trình này
Về nội dung đánh giá: đánh giá chất lượng trong công tác đào tạo, bồi dưỡngcán bộ; đánh giá chất lượng học viên tham gia khoá đào tạo, bồi dưỡng; đánh giáchất lượng đội ngũ giảng viên tham gia khoá đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức;đánh giá chất lượng cơ sở vật chất phục vụ khoá đào tạo, bồi dưỡng; đánh giá hiệuquả sau công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức; đánh giá chất lượng của
khoá đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức [25] Tùy vào mỗi nội dung có những
tiêu chí khác nhau Ví dụ như đánh giá chất lượng học viên tập trung vào các nộidung: mục tiêu học tập, phương pháp học tập, thái độ tham gia học tập
Đánh giá hiệu quả sau công tác đào tạo, bồi dưỡng tập trung vào các nội dung:kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ công chức; các kỹ năng cơ bản nhưgiải quyết vấn đề, vận dụng kiến thức vào thực tiễn ra sao, tổ chức công việc, thái
độ của công chức sau khi tham gia các khóa (lớp) đào tạo, bồi dưỡng; đánh giá mức
độ về sự chủ động, tinh thần trách nhiệm, sự tự tin, tinh thần hợp tác với đồngnghiệp được cải thiện như thế nào so với trước khi cán bộ được cử tham gia đào tạo,bồi dưỡng
Kết quả đánh giá là cơ sở để cơ quan quản lý, đơn vị tổ chức đào tạo, bồidưỡng cán bộ nghiên cứu, báo cáo cơ quan cấp trên, đề xuất những giải pháp nhằmnâng cao chất lượng trong các khâu của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; đồngthời khắc phục những yếu kém đối với chất lượng chương trình dạy và học, đội ngũ
Trang 32giảng viên, cơ sở vật chất, nâng cao kết quả học tập của học viên.
- Trong quá trình tổ chức đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã cần quan tâm đến các chính sách có liên quan đối với haotj động đào tạo, bồi dưỡng
+ Trước hết quan tâm về mặt thời gian trong quá trình cử cán bộ tham gia đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cần thiết:
Trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã, đối với chương trình,thời gian được các cơ quan chức năng như Bộ giáo dục và Đào tạo, Ban Tổ chứcTrung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương quy định rất cụ thế, rõ ràng tùy thuộc vàođối tượng, khóa học như: chương trình học tập trung trong khoảng thời gian từ 2-3tháng như chương trình bồi dưỡng kiến thức QLNN cho các đối tượng là chuyênviên, chuyên viên chính Vì vậy, bố trí, sắp xếp công việc cho CBCC có đủ thờigian đảm bảo để theo học các khoá đào tạo, bồi dưỡng là một yêu cầu rất quantrọng Điều này phụ thuộc rất lớn vào sự quan tâm của lãnh đạo ở từng địa phương
xã, phường trong việc phân công công việc, bố trí sắp xếp CBCC làm thay côngviệc của những người được cử tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng về chuyênmôn nghiệp vụ, lý luận chính trị và công tác quản lý nhà nước Lãnh đạo địaphương cần ý thức rằng việc cử CBCC đi tham gia đào tạo, bồi dưỡng là để nhằmnâng cao năng lực của họ phục vụ và đáp ứng tốt nhu cầu đối với công việc ở từngđịa phương; vì vậy, việc dành đủ thời gian để họ toàn tâm, toàn ý, tập trung cao độđối với việc tham gia học tập, bồi dưỡng là một trong những điều kiện nhằm đểkhông ngừng nâng cao chất lượng trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đối tượng làcông chức cấp xã trong thời kỳ hiện nay
+ Hỗ trợ về mặt tài chính:
Đây là một trong những yếu tố nhằm đảm bảo cho hoạt động đào tạo, bồidưỡng diễn ra một cách thuận lợi, đạt kết quả tốt nhất Kinh phí đào tạo, bồi dưỡngcho công chức cấp xã do Nhà nước cấp, hỗ trợ, được phân bổ từ nguồn ngân sáchnhà nước cho các cấp chính quyền địa phương quân tâm và tiếp tục được phân bổđến các cơ quan, đơn vị trong hệ thống hành chính nhà nước Công chức được cử đihọc được hưởng trọn nguyên lương Như vậy, Nhà nước bao cấp toàn bộ kinh phí
Trang 33cho công tác dào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã hiện nay, ngoài ra các xã, phường
có công chức đi học còn được sự quan tâm hỗ trợ thêm kinh phí xăng xe, tiền ăn,văn phòng phẩm từ nguồn kinh phí tự thu, tự chi của xã, phường
- Sử dụng công chức sau khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng:
Mục tiêu của công tác đào tạo, bồi dưỡng là để nhằm không ngừng nâng caonăng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ làm việc cho công chức Phát huy nănglực làm việc cho mỗi CBCC bên cạnh các yếu tố chủ quan, còn phụ thuộc rất lớnvào việc bố trí, sử dụng Rõ ràng, nếu công chức được đào tạo, bồi dưỡng về mặtchuyên môn, nghiệp vụ này nhưng được giao một công việc khác theo kiểu “học mộtđằng, làm một nẻo” hay thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn, chứctrách, ngạch bậc cao nhưng được giao nhiệm vụ ở ngạch bậc thấp hơn, thì rõ ràngcông chức rất khó có thể phát huy được khả năng, năng lực của mình một cách hiệuquả nhất Hơn nữa, điều này còn gây tác động tâm lý không tốt đến công chức kháccủa địa phương xã, phường; họ sẽ xem đó là những tấm gương và không có động lực
để tiếp tục tham gia các khoá cử đào tạo, bồi dưỡng tiếp theo Như vậy, có thể nóicông tác bố trí, sử dụng công chức sau khi được đào tạo, bồi dưỡng của cấp uỷ,chính quyền địa phương xã, phường có tác động quan trọng đến công tác đào tạo, bồidưỡng đối với công chức cấp xã Vai trò đó được thể hiện ngay từ khâu quy hoạchcán bộ, sắp xếp, lựa chọn, bố trí, cử cán bộ tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng, sửdụng cán bộ sau khi được đào tạo, bồi dưỡng một cách “đúng người, đúng việc”, đềbạt, bổ nhiệm, sắp xếp vào vị trí công việc cao hơn Có như vậy, mới tạo được độnglực để công chức tích cực tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng và quyết tâm hoànthành tốt nhiệm vụ trong công tác tham gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đạt được kếtquả cao nhất
Tiểu kết Chương 1
Trong chương 1, học viên đã nêu rõ khái niệm về CBCC nói chung và côngchức cấp xã nói riêng và đặc điểm, vị trí, vai trò của công chức cấp xã Qua đó,chúng ta thấy rõ vai trò của công chức cấp xã là những người trực tiếp tuyêntruyền, phổ biến đưa chủ trương, Nghị quyết của Đảng đến với cuộc sống của nhân
Trang 34dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ để thi hành, cùng với đội ngũ cán bộ cấp xã nóichung cũng như
Trang 35đội ngũ công chức cấp xã nói riêng góp phần quan trọng trong việc phát triển kinhtế- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ sở; góp phần quyết định sự thànhcông trong việc đưa chủ trương, đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống thực tiễn của người dân và là cầunối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân ngay tại cơ sở xã, phường.
Đồng thời, chương này còn làm rõ những vấn đề về công tác đào tạo, bồidưỡng đội ngũ công chức cấp xã: xác định rõ phạm vi được đào tạo, bồi dưỡng đốivới công chức cấp xã, mục tiêu, vai trò, nguyên tắc, sự cần thiết phải thực hiện côngtác đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp xã; quy trình trong công tác đào tạo,bồi dưỡng, yêu cầu và các yếu tố ảnh hưởng tác động đến công tác đào tạo, bồidưỡng đối với công chức cấp xã Trong đó, đặc biệt nêu rõ quy trình các khâu trongcông tác đào tạo, bồi dưỡng gồm các bước: xác định nhu cầu cần đào tạo, lập kếhoạch đào tạo, thực hiện kế hoạch đào tạo, đánh giá đào tạo và nhấn mạnh 02 yêucầu cơ bản cần đảm bảo trong công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã đó là:đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng các tiêu chuẩn chức vụ, chức danh trong công tác đàotạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ, giải quyết tốtcông việc cho người dân và doanh nghiệp
Với những nghiên cứu về những vấn đề lý luận chung tại Chương 1 đã cungcấp những vấn đề về cơ sở lý luận khoa học cho việc phân tích, đánh giá thực trạngtrong công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp xã tại thị xã Điện Bàn, tỉnhQuảng Nam ở phần Chương 2
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ TẠI THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
2.1 Khái quát về công chức cấp xã ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện dân cư
Thị xã Điện Bàn là thị xã đồng bằng nằm về phí bắc của tỉnh Quảng Nam vớitổng diện tích tự nhiên là 214,71km2, phía Bắc giáp huyện Hoà Vang và quận Ngũhành Sơn (thành phố Đà Nẵng), phía Nam giáp huyện Duy Xuyên, phía Đông Namgiáp thành phố Hội An và biển Đông, phía Tây giáp huyện Đại Lộc Thị xã có 20đơn vị hành chính, trong đó có 07 phường nội thị (phường Điện Ngọc, Điện NamBắc, Điện Nam Trung, Điện Nam Đông, Điện An, Điện Dương và Vĩnh Điện) và
13 xã trực thuộc (Điện Thắng Bắc, Điện Thắng Trung, Điện Thắng Nam, ĐiệnMinh, Điện Phương, Điện Phước, Điện Hồng, Điện Tiến, Điện Hòa, Điện Thọ, ĐiệnPhong, Điện Trung và Điện Quang)
Điện Bàn là thị xã đồng bằng ven biển nên địa hình tương đối bằng phẳng,thuận lợi cho việc phát triển đô thị- công nghiệp, dịch vụ, cũng như thuận lợi trongviệc phát triển liên kết vùng giữa Thành phố Đà nẵng và Thành phố Hội An cũngnhư các huyện lân cận Có bờ biển cát trắng, nước trong, sông nước hiền hòa thuậnlợi cho khai thác du lịch Bên cạnh đó, đất đai của thị xã Điện Bàn khá tốt, có độ phìnhiêu cao, nhóm đất phù sa chiếm đến 69,67% tổng diện tích đất, cho phép cư dân
tổ chức thâm canh nông nghiệp theo chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượnggiống, cây trồng Đồng thời, Điện Bàn nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới ẩm,gió mùa tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển đối với các loạicây trồng nông nghiệp như lúa, hoa màu, các loại cây lương thực, thực phẩm và câycông nghiệp ngắn ngày
Đến cuối năm 2017, thị xã Điện Bàn có 230.000 người (dân số qui đổi), với139.852 người trong độ tuổi lao động, chiếm tỷ lệ 60,8% tổng dân số Trong đó, lựclượng lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 116.994 người Lao động
Trang 37nông nghiệp tiếp tục giảm chỉ còn 29,24%, điều này đã cho thấy xu hướng tích cựctrong quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp sang khu vực côngnghiệp- dịch vụ Mức tăng dân số trong giai đoạn 2012- 2017 là 0,91%/năm Mật độdân số 1.071 người/km2.
2.1.2 Tình hình kinh tế- xã hội của thị xã
Thị xã Điện Bàn là vùng đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng Trảiqua hai cuộc kháng chiến chống pháp và chống Mỹ đầy vinh quang nhưng cũngchịu nhiều hy sinh mất mát rất to lớn, thị xã Điện Bàn có 25 tập thể và 52 cá nhân
đã vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng và truy tặng danh hiệu Anh hùngLực lượng vũ trang nhân dân; có 2.463 Mẹ Việt Nam anh hùng, hơn 19.000 liệt sỹ,gần 8.000 thương bệnh binh và các đối tượng hưởng chính sách người có công vớicách mạng
Trong thời gian qua, thị xã Điện Bàn được sự quan tâm đầu tư rất lớn từ Trungương và Tỉnh Quảng Nam cũng như sự giúp đỡ của các cơ quan sở, ban, ngành; Dovậy, Đảng bộ và nhân dân thị xã Điện Bàn đã siết chặc khối đại đoàn kết, luôn khắcphục để vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tập trung huy động các nguồn lực, khaithác và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng thế mạnh của địa phương, từng bước xâydựng và tập trung phát triển kinh tế- xã hội theo hướng công nghiệp hoá, đô thị hoá
và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo sự chuyển biến rõ nét, căn bản vềchuyển dịch nền kinh tế địa phương từ một huyện (trước năm 2015, hiện nay là thịxã) nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ: từ chỗ trước đây, ngành nông nghiệpchiếm hơn 70% giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn thị xã thì đến nay, ngành côngnghiệp- xây dựng và dịch vụ đã phát triển mạnh và đã thay thế vị trí của ngành nôngnghiệp chiếm khoảng 70% tổng sản phẩm trên địa bàn Trong giai đoạn 2012- 2017,nền kinh tế đã có những bước tăng trưởng khá, chuyển dịch theo hướng tích cực,đạt bình quân 14,65%/năm; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng côngnghiệp và dịch vụ, đến cuối 2017, giá trị công nghiệp- xây dựng chiếm 72%, dịch
vụ chiếm 24%, nông nghiệp chỉ còn 4% Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng
35 triệu đồng/năm; tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kết cấu hạ tầng toàn xã hội 5
Trang 38năm đạt khoảng 8.708 tỷ đồng, tăng bình quân 24,34%/năm.
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng cao và sớm vượt chỉ tiêu so với dựtoán; tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 2017 ước đạt 1.046,16 tỷ đồng, bằng167,2% dự toán, tăng 18,5% so với năm 2016; trong đó, phần thị xã quản lý thu là228,26 tỷ đồng, đạt 132,5% dự toán, tăng 33,5% so với năm 2016
Hằng năm có hơn 68% thôn, khối phố được công nhận thôn, khối phố vănhóa; hơn 91% gia đình được công nhận gia đình văn hóa, 35- 40% xã văn hóa, gần90% cơ quan đạt chuẩn văn hóa Hệ thống các di tích lịch sử luôn được quan tâmtrùng tu, tôn tạo, nâng cấp nhằm quảng bá hình ảnh và con người Điện Bàn,giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ
Công tác giáo dục- đào tạo, hoàn thành khá tốt các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra,chất lượng giáo dục ngày càng được nâng lên, hoàn thành phổ cập giáo dục ở tất cảcác cấp học, 20/20 xã, phường đạt phổ cập giáo dục ở các cấp học, 68/68 trường đạtchuẩn quốc gia; cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học luôn được đầu tư xây dựng,nâng cấp và hoàn thiện; đội ngũ nhà giáo phát triển nhanh cả về số lượng và chấtlượng; công tác khuyến học, khuyến tài ngày càng đầu tư phát triển, thị xã đã công
bố và ra mắt giải thưởng Phạm Phú Thứ vào đầu năm 2018
Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân luôn được quan tâm đầu tưđúng mức, chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được nâng lên, bình quân có hơn
9 bác sỹ/1 vạn dân (tăng 4 bác sỹ/1 vạn dân so với năm 2010), hiện nay đang tậptrung thực hiện nghị quyết trung ương 6 khóa XII về công tác y tế, chăm sóc sứckhỏe nhân dân và công tác dân số trong tình hình mới
2.2. Những kết quả đạt được trong thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
2.2.1 Về xây dựng và ban hành các văn bản quy định đối với công tác dào
tạo, bồi dưỡng công chức của tỉnh Quảng Nam và thị xã Điện Bàn
Để công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC nói chung và công chức cấp xã nóiriêng đạt được hiệu quả và chất lượng cao, trong thời gian qua, Tỉnh uỷ, UBND tỉnhQuảng Nam; Thị uỷ, UBND thị xã Điện Bàn đã chỉ đạo và ban hành khá nhiều các
Trang 39văn bản quy định có liên quan đến vấn đề này, cụ thể:
- Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 30/6/2011 của Tỉnh uỷ Quảng Nam khóa XX
“Về công tác cán bộ, giai đoạn 2011- 2015 và định hướng đến năm 2020”
- Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 12/8/2016 của Tỉnh uỷ Quảng Nam XXI “Vềnâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, kiện toàn tổ chức bộ máy, giai đoạn 2016 -
2021 và định hướng đến năm 2025”
- Quyết định số 2606/QĐ-UBND ngày 19/8/2011 của UBND tỉnh Quảng NamPhê duyệt đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, giai đoạn 2011- 2015, địnhhướng đến năm 2020
- Kế hoạch số 4597/KH-UBND ngày 15/12/2011 của UBND tỉnh Quảng Namphê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tỉnh Quảng Nam, giaiđoạn 2011- 2015
- Quyết định số 37/QĐ-UBND ngày 30/12/2013 của UBND tỉnh Quảng Namban hành Quy định về cơ chế, chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, côngchức, viên chức tỉnh Quảng Nam
- Quyết định số 1087/QĐ-UBND ngày 28/02/2016 của UBND tỉnh QuảngNam phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh,giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025
- Kế hoạch số 487/KH-UBND ngày 18/02/2016 của của UBND tỉnh QuảngNam về “Đổi mới trong công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá cán
bộ, công chức, viên chức” năm 2016 và giai đoạn 2016- 2020
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã Điện Bàn lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2015- 2020
- Chương trình hành động số 10-CTr/HU ngày 19/9/2011 của Huyện uỷ ĐiệnBàn (nay là Thị uỷ) về công tác cán bộ giai đoạn 2011- 2015 và định hướng đếnnăm 2020”
- Chương trình hành động số 07-CTr/HU ngày 30/10/2016 của Thị uỷ ĐiệnBàn “về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, kiện toàn tổ chức bộ máy, giai đoạn2016- 2021 và định hướng đến năm 2025”
- Kế hoạch số 678/KH-UBND ngày 18/11/2016 của UBND thị xã Điện Bàn
về thực hiện Chương trình hành động số 07-CTr/TU ngày 31/10/2016 của Thị uỷ
Trang 40Điện Bàn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, kiện toàn tổ chức bộ máy, giai đoạn 2016- 2021 và định hướng đến năm 2025”.
Nhìn chung, hệ thống các văn bản nêu trên đều đề cập đến công tác nâng caochất lượng đội ngũ CBCC Nội dung của các văn bản đã thể hiện rõ tinh thần đổimới toàn diện trên các mặt: chế độ đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã; tráchnhiệm, tăng cường phân cấp cho các cơ quan ban ngành, cấp ủy chính quyền địaphương trong tổ chức và quản lý trong đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã, đồngthời đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ quan quản lý, đơn vị sử dụngcông chức trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp xã; đồng thờiphải thường xuyên đổi mới hình thức và nội dung các chương trình đào tạo, bồidưỡng nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng hành chính đối với công chức; tạo lập cơ
sở pháp lý để kiểm soát chất lượng trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với côngchức cấp xã
2.2.2 Số lượng và chất lượng công chức cấp xã tại thị xã Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam
* Về số lượng công chức cấp xã (thống kê đến thời điểm 31/12/2017)
+ Số lượng công chức cấp xã: 225 người (trong đó Nữ: 89) (Xem Biểu 2.1.)
- Trưởng Công an: 13 người (Nữ 0); Chỉ huy trưởng Quân sự: 20 người (Nữ0); Văn phòng- Thống kê: 40 người (Nữ: 21); Tài chính- Kế toán: 37 người (Nữ:32); Địa chính- Xây dựng và Môi trường (phường): 14 người (Nữ: 01); Địa chính -Nông nghiệp- Xây dựng và Môi trường (xã): 26 người (Nữ: 0); Tư pháp- Hộ tịch:
38 người (Nữ: 16); Văn hoá- xã hội: 37 người (Nữ: 19)
40 35 30 25 20 15 10 5 0 Côn
g an
Quân sự
Nam Nữ
VP-TK TC-KT ĐC-XD TP-HT VH-XH
Biểu số 2.1 Số lượng công chức cấp xã tại thị xã Điện Bàn
(Nguồn: Phòng Nội vụ thị xã, tháng 12/2017)