1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO cáo (KHOA học xã hội) nghiên cứu thực trạng kinh tế hộ và đề xuất giải pháp sinh kế bền vững tại xã cao sơn, huyện đà bắc, tỉnh hòa bình

49 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thực trạng kinh tế hộ và đề xuất giải pháp sinh kế bền vững tại xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Nghiên cứu tài nguyên và môi trường
Thể loại Báo cáo
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 378,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀTrong những năm đổi mới vừa qua, với sự hỗ trợ, ưu tiên của chính sách phát triển nhà nước,đặc biệt quan tâm, chú ý đối với kinh tế hộ của đồng bào các dân tộc miền núi và vùng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI CẤP SƠ SỞ

DO TRUNG TÂM QUẢN LÝ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI CẤP SƠ SỞ

Tên đề tài

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG KINH TẾ HỘ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SINH KẾ BỀN

VỮNG TẠI XÃ CAO SƠN, HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH

Mã số:

Những người tham gia:

Hà Nội

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH 2

DANH MỤC BẢNG 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ 4

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 5

III PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 5

IV CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 5

V PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

1 Phương pháp luận 6

2 Phương pháp nghiên cứu 7

2.1 Thu thập số liệu 7

2.2 Phân tích số liệu 8

VI KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 8

1 Một số đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội tại điểm nghiên cứu 8

1.1 Điều kiện tự nhiên 8

1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 12

2 Kinh tế hộ xóm Sèo xã Cao Sơn 15

2.1 Nguồn lực con người 16

2.2 Nguồn lực sản xuất 20

2.3 Nguồn lực vật lý của nông hộ 26

2.4 Nguồn lực tài chính của nông hộ 30

2.5 Nguồn lực xã hội của nông hộ 35

2.6 Đánh giá vai trò các nguồn lực trong nông hộ tại xóm Sèo 39

VII KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42

1 Kết luận 42

2 Một số khuyến nghị 43

Trang 4

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Vị trí đị lý của xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình 9

Hình 2 Phân bố khẩu theo tuổi 16

Hình 3 Số năm đi học của người lớn tuổi 18

Hình 4 Phân bố hộ theo số năm đi học cao nhất của chủ hộ và người lớn tuổi 19

Hình 5 Phân bố tần suất hộ theo tổng diện tích các loại đất/khẩu 22

Hình 6 Phân bố hộ theo diện tích lúa nước trên khẩu 23

Hình 7 Phân bố hộ theo diện tích đất cây trồng cạn hàng năm trung bình/khẩu 24

Hình 8 Tỷ lệ (%) nguồn thu tiền mặt trung bình của nông hộ 31

Hình 9 Đánh giá hiện trạng tình hình phát triển sinh kế của xóm Sèo xã cao Sơn 41 DANH MỤC BẢNG Bảng 1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2011 xã Cao Sơn 11

Bảng 2 Giá trị sản xuất xã Cao Sơn giai đoạn 2006 – 2011 13

Bảng 3 Dân số, lao động xã Cao Sơn năm 2011 14

Bảng 4 Phân bố lứa tuổi (%) n = 42 16

Bảng 5 Tỷ lệ phụ thuộc (Số lượng hộ và tỷ lệ %) 17

Bảng 6 Số năm đi học của chủ hộ và người lớn tuổi (số người, %) n=42 18

Bảng 7 Phân bố hộ theo số năm đi học cao nhất của người lớn tuổi 19

Bảng 8 Tình hình biết đọc biết viết của người lớn tuổi (>17) 20

Bảng 9 Diện tích các loại đất sử dụng trung bình trên khẩu (m2) 20

Bảng 10 Khả năng sản xuất hiện tại của đất của diện tích đất trung bình sử dụng trên khẩu (quy đổi ra thóc) 21

Bảng 11 Phân bố hộ theo tổng diện tích các loại đất/khẩu (% số hộ) 22

Bảng 12 Phân bố hộ theo diện tích lúa nước trên khẩu (% hộ) 23

Bảng 13 Phân bố hộ theo diện tích đất trồng cây trồng cạn trung bình/khẩu (số hộ và %) .24

Bảng 14 Tình hình sử dụng các loại đất của nông hộ (% số hộ) 25

Bảng 15 Tình hình chăn nuôi của các hộ (số hộ và %) 25

Bảng 16 Phân bố hộ theo giá trị nhà của các hộ (% hộ có) 26

Bảng 17 Phân bố hộ theo diện tích nhà/khẩu (% hộ có) 27

Trang 5

Bảng 18 Sở hữu các loại tài sản của nông hộ (số lượng và phần trăm số hộ) 27

Bảng 19 Phân bố hộ theo số lượng các loại tài sản vật dụng trong gia đình (số lượng và %) 28

Bảng 20 Kết quả tính tổng giá trị tài sản bằng hiện vật (000đ/khẩu) 28

Bảng 21 Tỷ lệ % giá trị đóng góp từ các chỉ tiêu thành phần (% giá trị) 29

Bảng 22 So sánh tổng giá trị tài sản của một phần năm số hộ giàu nhất và nghèo nhất .29

Bảng 23 Nguồn thu tiền mặt trung bình của các hộ ('000đ và %) 30

Bảng 24 Tỷ lệ (%) nguồn thu tiền mặt trung bình của nhóm hộ giàu và nghèo 31

Bảng 25 Chi tiêu tiền mặt trung bình của nông hộ 32

Bảng 26 Các khoản chi tiêu và tỷ lệ (%) chi tiêu tiền mặt trung bình/khẩu của nhóm hộ giàu và nghèo 33

Bảng 27 Cân đối thu chi tiền mặt trung bình của hộ gia đình 34

Bảng 28 Tình hình vay và trả nợ của các hộ đã vay và trả trong năm 2012 35

Bảng 29 Phân bố hộ theo số tiền còn nợ (số hộ và %) 36

Bảng 30 Hướng đầu tư của nông hộ khi có 1 triệu đồng 37

Bảng 31 Hướng đầu tư của các nhóm hộ giàu và nghèo khi có 1 triệu đồng (số hộ, %) .37

Bảng 32 Nghề nghiệp của chủ hộ và người lớn tuổi (số hộ và %) 38

Bảng 33 Nghề phụ và nghề phi nông nghiệp của người lớn (số lượng và tỷ lệ %) 39

Bảng 34 So sánh một số chỉ tiêu kinh tế cộng đồng về mức độ giàu- nghèo, giá trị và điểm 40

Trang 6

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm đổi mới vừa qua, với sự hỗ trợ, ưu tiên của chính sách phát triển nhà nước,đặc biệt quan tâm, chú ý đối với kinh tế hộ của đồng bào các dân tộc miền núi và vùng cao,như một số chủ trương lớn đã được ban hành, đó là Nghị quyết 22/NQ-Tw của Bộ Chính trị,Quyết định số 72/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) rồi Nghị định số20/1998/NĐ-CP của Chính phủ, được triển khai thông qua các chương trình lớn như địnhcanh định cư, xoá đói giảm nghèo, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, trợ cước, trợ giá (Nguyến Văn Nam, 2002) nhờ đó mà sản xuất nông nghiệp miền núi đã có nhiều cố gắng vàđạt được những tiến bộ bước đầu, hình thức kinh tế hộ gia đình nông dân miền núi đã cónhững đóng góp to lớn và quan trọng cho nền kinh tế quốc dân, chủ yếu trong lĩnh vực nôngnghiệp Sản xuất lúa gạo đạt tỷ suất hàng hóa khoảng trên 50%, cà phê 45%, cao su 85%, chètrên 60%, điều trên 90% (Đoàn Quang Thiệu, 2009)

Tuy nhiên, so với những kết quả và thành tựu đạt được thì những tồn tại yếu kém của kinh tế

hộ gia đình nông dân ở vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn bị tác động nhiều yếu tốlàm ngăn cản sự phát triển như trình độ dân trí còn thấp, sản xuất manh mún và nhỏ lẻ, mangtính tự cung tự cấp là chủ yếu, sinh kế phụ thuộc nhiều vào khai thác tài nguyên thiên nhiên,tiếp cận với thông tin thị trường yếu do địa hình vùng miền núi hiểm trở và chia cắt, hệ thốnggiao thông kém phát triển Trung bình các tỉnh miền núi phía bắc có 82,6% giao thông là ô tôkhông vào được ( Nguyễn Sinh Cúc, 1995)

Do vậy, kinh tế thị trường chưa được phát triển và luôn chịu phụ thuộc nhiều vào nền kinh tếđược cho là tốt hơn ở miền xuôi hay đồng bằng (Rambo, 1995; Li, 1999), khiến cho một bộphận không nhỏ hộ gia đình đang vấp phải rất nhiều khó khăn và thách thức, nghèo đói ngàycàng tăng Thêm vào đó, biến đổi khí hậu làm gia tăng tần suất của những cơn mưa ác liệt gâynên lũ lụt; nhiều trận lũ quét đã tàn phá tài nguyên thiên nhiên, các công trình xây dựng,đường sá, thuỷ lợi, gây thiệt hại người và của cho các vùng núi cao lại càng cho sản xuất kinh

tế hộ đã khó khăn lại càng khó khăn hơn (Võ Quý, 2005)

Dân số tăng nhanh cũng là một mỗi thảm họa ở miền Núi, do tỷ lệ sinh thô lớn, tốc độ tănglên hơn 300% Mật độ dân số trung bình của một số vùng núi thường được cho là thưa thớtnay đã lên đến 75người/km2 (Lê Trọng Cúc, 1999) Cùng với sự gia tăng dân số, lao động dưthừa, chất lượng lao động thấp tạo ra các sản phẩm còn kém chất lượng, không theo kịp vớithì trường bên ngoài, do phần lớn tình trạng lao động di cư đi làm thuê đến các đô thị lớn, nênviệc quản lý và định hướng kế hoạch lâu dài cho phát triển kinh tế một số vùng địa phươngmiền núi đang gặp phải nhiều khó khăn

Về Môi trường: phần lớn kế sinh nhai của hầu hết người dân Miền núi là phụ thuộc vào kinh

tế nông nghiệp, canh tác nương rẫy, khai thác tài nguyên thiên nhiên, nhất là rừng, nhưng domột số mặt hạn chế nêu trên mà kinh tế nông nghiệp gặp khó khăn trong việc nâng cao cuộcsống do vậy mà họ đã khai thác tài nguyên một cách không bền vững dẫn đến tài nguyên rừng

bị suy thoái và các dịch vụ hệ sinh thái bị xuống cấp, làm cho chức năng cung cấp của hệ sinhthái bị thiếu hụt nghiêm trọng, tài nguyên nước bị ảnh hưởng đời sống kinh tế của người dânmiền núi gặp khó khăn

Xã Cao Sơn là một xã miền núi thuộc chương trình 135 của huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình.Cuộc sống của người dân trong xã đang gặp nhiều khó khăn do hệ thống đường xuống cấp,hàng hóa sản xuất ra giá bán chênh lệch nhiều so với thị trường thị trấn, thành phố Thu nhập

Trang 7

bình quân 200 nghìn/người/tháng còn chiếm hơn 50% tổng số dân và theo ông chủ tịchUBND xã cho biết hiện nay cả xã có hơn 300 hộ nghèo trên tổng số hộ Diện tích đất nôngnghiệp rất hạn chế do độ dốc quá lớn dẫn đến có ít hộ có khả năng tự túc được lương thực Tỷ

lệ hộ vay lương thực để ăn còn chiếm hơn 50% Có 68,9% số hộ chưa được sử dụng nướcsạch từ các bể nước công cộng Nhiều bể nước sạch xa khu dân cư, hiệu quả sử dụng thấphoặc không có giá trị sử dụng Còn 29,5% số hộ chưa có ti vi, đài để nghe nên việc nắm bắtthông tin, để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống rất hạn chế Dân trí khu vực này còn thấp,

đa số các em chỉ học hết tiểu học và trung học cơ sở, đặc biệt còn có 4,6% không biết chữ.(Nghiêm Huệ, 2010)

Đáng chú ý là nhiều hộ ở xã Cao Sơn là những hộ dân tái định cư lòng hồ thuỷ điện trongdiện đặc biệt khó khăn vẫn còn tâm lý dao động do chưa thích nghi với cuộc sống mới Bàcon rất lo sau này sẽ làm gì để ổn định cuộc sống (Nghiêm Huệ, 2010)

Do vậy, nghiên cứu thực trạng kinh tế hộ nông dân ở xã Cao Sơn là vô cùng cấp thiết nhằmtìm ra những yếu tố thuận lợi, khó khăn và chưa bền vững trong phát triển kinh tế hộ và đềxuất giải pháp sinh kế bền vững phù hợp, giúp hộ nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đờisống, xóa đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống, giảm sức ép lên tài nguyên rừng, bảo tồn đadạng sinh học trên thượng nguồn đập nước hồ Hòa Bình hướng tới nền sản xuất bền vững

Đề tài: “Nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế hộ và đề xuất giải pháp sinh kế bền vững tại xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình” được xây dựng và triển khai thực hiện

nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn cấp thiết này

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu thực trạng kinh tế hộ gia đình và các nhân tố ảnh hướng đến việc phát triển kinh

tế hộ từ đó đề xuất giải pháp thực tế từ địa phương cho việc phát triển kinh tế hộ theo hướngSinh kế bền vững tại xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình

Cụ Thể:

- Tìm hiểu thực trạng phát triển kinh tế hộ tại xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

- Tìm hiểu các nhân tố ảnh hướng đến việc phát triển kinh tế hộ tại địa phương

- Đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế hộ theo hướng sinh kế bền vững tại vùng nghiêncứu

III PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Tuy đề tài nghiên cứu trên phạm vi rộng về kinh tế hộ trong điều kiện địa hình rộng lớn vànhiều yếu tố ảnh hưởng phức tạp đến loại hình kinh tế này Do điều kiện kinh phí cho phép,

đề tài chỉ tập trung phân tích thực trạng kinh tế hộ của nhóm hộ điển hình theo phương phápchọn mẫu để làm cơ sở cho việc phân tích và đánh giá thực trạng các nguồn lực chủ yếu trongphát triển sinh kế bền vững của nông hộ trong phạm vi của xóm Sèo ở xã Cao Sơn, huyện ĐàBắc, tỉnh Hòa Bình để làm đối tượng chính

IV CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Các nguồn lực kinh tế hộ của địa phương biến động như thế nào? Có làm thay đổi cơcấu kinh tế , xã hội và môi trường tại cộng đồng địa phương không?

Trang 8

- Cần có giải pháp gì? giúp cho người dân ở đây phát triển kinh tế hộ theo hướng bềnvững.

Để trả lời các câu hỏi trên chúng tôi đã vận dụng các phương pháp tiếp cận và phương phápthực hiện chính sau:

V PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

cụ sản xuất ra nhằm duy trì cuộc sống của hộ gia đình Vì thế phương pháp để nghiên cứu chủyếu của đề tài này là sử dụng phương pháp phân tích hệ thống và sử dụng nguyên lý cách tiếpcận hệ sinh thái nhân văn đổi với các nguồn lực chính đó là nguồn lực về lao động là nguồnlực về con người tạo ra các sản phẩm, nguồn lực thứ 2 đó là nguồn lực tự nhiên như đất đai đểsản xuất nông nghiệp tạo ra của cải vật chất phục vụ cho đời sống hàng ngày của hộ, thứ 3 làchúng tôi nghiên cứu đến các tài sản của hộ, các loại tài sản này có thể tạo ra các nguồn thôngtin để tiếp cận với thông tin thị trường, cũng như nguồn năng lượng về tinh thần và văn hóacho hộ, thứ 4 là nguồn lực về tài chính là các loại vồn về tiền mặt, tiền vay hay nói cách khác

là năng lực tài chính phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh của hộ và thứ 5 là nguồn lực vật lý

đó là các tài sản để tạo ra môi trường sống của con người trong hộ như các dung cụ sản xuất,các công cụ tạo sự thỏa mãn cho con người trong hộ như các vật dụng phục vụ cho đời sốnghàng ngày của hộ Để phân tích đầy đủ các nguồn lực này chúng tôi đã đi sâu phân tích cácđối tượng mà chúng tôi nhân thấy là ảnh hưởng lớn đến các các nguồn lực này đó là các đốitượng hay yếu tố sau:

(1) điều kiện tự nhiên phức tạp; (2) dân cư, dân số đa dạng và tăng nhanh; (3) môi trườngsuy thoái; (4) cơ sở hạ tầng nghèo nàn; (5) thông tin, thị trường yếu kém; (6) học vấnthấp; (7) nghèo đói; (8) chính sách chưa phù hợp đồng thời tìm ra những điểm mạnhđiểm yếu nhằm đề xuất sinh kế bền vững theo phương pháp tiếp cận khung sinh kếbền vững do DFID xây dựng năm 2009

Để phân tích các nguồn lực kinh tế nông hộ tại xã Cao Sơn chúng tôi đã tiếp cận dựa trênkhung sinh kế bền vững để phân tích các nuồn lực kinh tế của người dân

Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm phát triển vàonhững năm đầu 1990 Tác giả Chambers và Conway (1992) định nghĩa về sinh kế bền vữngnhư sau: Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực,thu nhập và tài sản của họ Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như

dư nợ và cơ hội Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàncầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác Sinh kế bền vững vềmặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấpcho thế hệ tương lai Việc vận dụng khung sinh kế bền vững này nhằm tìm ra giải pháp đểphát triển sinh kế bề vững nhằm xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống cho người dân

Trang 9

2 Phương pháp nghiên cứu

Sở dĩ chúng tôi chọn xóm Sèo là vì xớm sèo là một xóm có đầy đủ các tiêu chỉ mà chúng tôilựa chọn vừa có tính dân tộc vừ à rừng có nông nghiệp lúa nước vừa có làm rẫy và có dân sốlớn thứ 2 trong toàn xã do vậy xóm này có thể đại diện cho toàn xã

Đợt thực địa thứ 2 là vào ngày 4-15/9/2012 đợt thực địa này mục đích là làm những việc nhưphóng phấn 42 hộ tại xóm Sèo xã Cao Sơn để phân tích về thực trạng kinh tế hộ của ngườidân ở đây

Trong đợt thực địa này nhóm tập trung thực hiện 3 phấn đề chính đó là:

1 Phỏng vấn cấu trúc: Về phóng vấn hộ theo hệ thông bảng hỏi có cấu trúc đã được thiết

kế sẵn (xem phụ lục 2) và được phỏng vấn thử vào đợt thực địa thức nhất, sau khiđược sửa lại, thêm vào những chỗ còn thiếu và bỏ đi những vất đề bất hợp lý và đưavào thực hàng cho thực địa đợt 2 Trong đợt 2 nhóm đã chọn ra 42 hộ ở xóm Sèo theophương thức chọn mẫu ngẫu nhiên theo số thứ tự trong danh sách của trưởng thôn.Trong đó có đủ các thành phần về chủ hộ có nam, nữ, giàu và nghèo

2 Phương pháp RRA: Nghiên cứu sử dụng các công cụ RRA, để thu thập thông tin trong

quá trình phong vấn nhóm để tìm hiểu các thông tin chung về tình hình kinh tế củaxóm Như các nguồn thu chính, tình hình đói nghèo, các tiêu chí đánh giá giàu nghèo.v.v

3 Phỏng vấn sâu cán bộ và người dân: Từ những hiểu biết sơ qua về thôn xóm, nhóm đã

chia ra các thành viên và phóng vấn một số cán bộ phục trách về các bộ phận nhưphòng quản lý đất đai, phòng tài nguyên và môi trường để hiểu về tình hình sử dụngđất của thôn Tình hình đói nghèo, thực trạng sử dụng các nguồn vốn sinh kế trongnhững năm qua, khả năng tiếp cận các nguồn vốn sinh kế của người dân Yếu tố thúcđẩy và cản trở người dân tiếp cận nguồn lực Đây là những thông tin định tính quantrọng phục vụ cho nghiên cứu

Đợt thực địa lần 3 được tổ chức vào ngày 10-15/10/2013 nhằm thu thập thêm các thông tin bổsung để viết báo cáo tổng hợp, nhóm đị thực tế 5 ngày thu những tài liệu cần thiết còn thiếu

và các số liệu cập nhật cho việc đánh giá tình hình phát triển kinh tế năm 2013 bao gồmnhững số liệu về tình hình dân số, sử dụng đất và các thông tin về thị trường các mặt hàngnông sản tại xã cao Sơn

Trang 10

2.2 Phân tích số liệu

1 Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này được vận dụng để mô tả bức tranh tổng

quát về tình hình cơ bản các địa bàn nghiên cứu, thực trạng nghèo đói, thực trạng cácnguồn lực sinh kế cho giảm nghèo bền vững tại các địa phương Bằng phương pháp nàychúng ta có thể mô tả được những nhân tố thuận lợi và cản trở trong việc phát triểnnguồn vốn sinh kế đối với hộ

a Phương pháp phân tích so sánh: Từ việc phân nhóm thống kê các nhóm hộ theo các tiêu

chígiàu nghèo, chúng tôi đã so sánh các nhóm hộ với nhau về điều kiện và khả năng tiếpcận nguồn vốn sinh kế Trên cơ sở đó phân tích được mức độ ảnh hưởng, nguyên nhâncủa hạn chế giữa các nhóm hộ So sánh giữa các nhóm giàu nghèo, dễ dàng hay khó khănđối với từng nguồn lực và khả năng của người dân trong việc phát triển kinh tế hộ

b Phương pháp phân tích định tính: Dựa vào nguồn số liệu PRA, phóng vấn sâu, để phân

tích định tính các vấn đề liên quan đến nghèo đói, những khó khăn trở ngại, các nhân tố

hỗ trợ người dân phát triển các nguồn vốn sinh kế để giảm nghèo bền vững

VI KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Một số đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội tại điểm nghiên cứu

1.1 Điều kiện tự nhiên.

1.1.1 Vị trí địa lý

Cao Sơn là một trong những xã vùng cao của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình Ranh giới của xã như sau:

- Phía Đông Nam giáp xã Tu lý, Thị trấn Đà Bắc;

- Phía Nam giáp Vầy Nưa, Hiền Lương, Tiền phong;

- Phía Tây giáp xã Trung thành;

- Phía Bắc giáp xã Tân Minh, Thanh Sơn - Phú Thọ;

Trên địa bàn xã có 9 xóm: Sèo, Sơn Phú, Nà Chiếu, Rằng, Tằm, Lanh, Sơn Lập, Bại, Sưng

Là xã có vị trí tương đối thuận lợi hơn các xã khác, nằm cách trung tâm huyện lỵ Đà Bắc 10

km về phía Tây Bắc Trên địa bàn xã có tuyến đường nhựa nối trung tâm xã với Thị trấn Đà Bắc và Thành phố Hòa Bình Với vị trí địa lý như trên, xã Cao Sơn có điều kiện đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và giao lưu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với các xã trong và ngoài huyện ( xem hình 1)

Trang 11

Hình 1 Vị trí đị lý của xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

1.1.2 Địa hình.

Do kiến tạo địa chất xã Cao Sơn có trên 90% diện tích là đồi núi, có địa hình chia cắt, phức tạp, độ dốc cao, có thể phân theo 4 khu vực chia theo độ dốc: khu vực có độ dốc từ 25 – 300; khu vực đất bằng với độ dốc 8 – 100; khu vực đồi có độ dốc 25 – 500; khu vực núi đá có độ dốc rất cao và hiểm trở

Địa hình xã Cao Sơn như vậy ảnh hưởng tới việc bố trí sản xuất, phát triển cơ sở hạ tầng mà đặc biệt là hệ thống giao thông trên địa bàn

1.1.3 Khí hậu, thời tiết.

Cao Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, được chia làm 2 mùa rõ rệt; mùa mưahàng năm từ tháng 5 đến tháng 10, đây cũng là mùa có nhiệt độ cao trong năm, nhiệt độ caonhất vào tháng 6 và tháng 7 Mùa khô hàng năm thường từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, đâycũng là mùa có nhiệt độ thấp, thời gian lạnh nhất vào tháng 12 và tháng 1 năm sau

Trang 12

- Độ ẩm trung bình cao nhất 87% (tháng 7 hàng năm).

- Độ ẩm trung bình thấp nhất 76% (tháng 11hàng năm)

d) Hướng gió

Hướng gió cũng thay đổi theo mùa rõ rệt và phù hợp với sự thay đổi của hoàn lưu gió mùa,nhưng do vướng núi nên tốc độ gió nhỏ hơn so với vùng đồng bằng bắc bộ Tốc độ gió trungbình 1,8m/s, hướng gió chính: Đông, Đông Nam và Tây Nam

Nhìn chung khí hậu của Cao Sơn với các đặc điểm khí hậu nóng ẩm, lượng bức xạ cao kháthuận lợi trong sản xuất nông lâm nghiệp với thế mạnh là cây hàng năm, tre lấy măng, chănnuôi đại gia súc, Tuy nhiên do lượng mưa phân bố không đều, tập trung vào một số thángmùa mưa gây ra úng lụt với những chân ruộng trũng, tạo dòng chảy lớn gây xói mòn đất vùngđồi Nhiệt độ xuống thấp vào mùa đông, thiếu ánh sáng, lại ít mưa gây hạn hán cho cây trồng

vụ Đông, Xuân và đời sống của nhân dân

1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên.

- Đất feralit chiếm 31% diện tích đất toàn xã Thành phần cơ giới trung bình đến nặng,

pHKCl trung bình tầng mặt 3,81 Hàm lượng P2O5 tổng số ở mức thấp, trung bình tầngmặt 0,07% Hàm lượng K2O tổng số tầng mặt trung bình 1,01% Hàm lượng đạm ởmức thấp, trung bình tầng mặt 0,16%

-Đất vàng nhạt trên đá sa thạch chiếm 64% diện tích đất của xã Thành phần cơ giới tương đối nhẹ hơn so với đất phiến thạch sét nên đất vàng nhạt trên sa thạch thường bịxói mòn mạnh, tầng đất tương đối mỏng và nhiều nơi trơ sỏi đá Chỉ có một số nơi địahình núi cao, thảm thực vật che phủ khá mới có độ dày tầng đất từ 50 ÷ 70 cm Đấtvàng nhạt trên sa thạch thường nghèo dinh dưỡng, ở các vùng núi cao lượng mùn từ1,5 ÷ 2,5%; ở vùng thấp lượng mùn thường không quá 1,5% Các chỉ tiêu như đạm,lân, kali điều nghèo, độ chua cao pHKCL < 4, độ bazơ thấp, thành phần cơ giới từ thịtnhẹ đến cát pha, hạt rời rạc, khả năng giữ nước và kết dính kém, thành phần keo sétthấp, khả năng giữ màu kém

- Đất phù sa chiếm diện tích nhỏ Là loại đất được hình thành do bồi tụ sản phẩm phù sacủa suối là nhóm đất quan trọng trong sản xuất lương thực và các cây công nghiệpngắn ngày khác Thành phần cơ giới trung bình, hàm lượng pHKCl tầng mặt trung bình4,33, các tầng kế tiếp trung bình ở ngưỡng 5,73 Đạm tầng mặt trung bình 0,1%, cáctầng kế tiếp trung bình 0,06% Hàm lượng lân tổng số P2O5 ở mức trung bình, tầngmặt trung bình 0,08%, tầng sâu trung bình 0,06% Hàm lượng ka li K2O trong đất ở

Trang 13

các tầng ở mức trung bình đến cao, tầng mặt trung bình 0,9%, tầng sâu trung bình 1,19%.

*) Hiện trạng sử dụng đất.

- Tổng diện tích tự nhiên toàn xã: 5030,53 ha trong đó:

+ Đất nông nghiệp: 3.894,05 ha chiếm 77,41%

+ Đất phi nông nghiệp: 268,13 ha chiếm 5,33%

+ Đất chưa sử dụng: 868,35 ha chiếm 17,26%

Bảng 1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2011 xã Cao Sơn

2.1 Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 0,5

(Nguồn: Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Đà Bắc)

Trang 14

Đất ở hiện tại có 132,7 ha, chiếm 2,74% diện tích đất tự nhiên tập trung tại 9 xóm trong xã.Xóm dân cư nông thôn đã được hình thành từ lâu đời gắn liền với truyền thống văn hoá cộngđồng làng xã Bình quân đất ở mỗi hộ 1.365 m2/hộ, mật độ xây dựng trung bình 15-20%.

b) Tài nguyên rừng:

Theo tài liệu tổng kiểm kê đất đai năm 2010, diện tích đất lâm nghiệp toàn xã là 3.485,65 ha.Trong đó rừng sản xuất 1.578,95 ha, rừng phòng hộ 1.906,7 ha Độ che phủ đạt 69,29%.Thảm thực vật trên địa bàn xã tương đối phong phú, đa dạng, tuy nhiên diện tích rừng của xãchủ yếu là rừng tái sinh nên thảm thực vật phổ biến là tre nứa, cây bụi và một số loại gỗ táisinh, trữ lượng gỗ thấp

c) Tài nguyên nước:

- Nguồn nước mặt: Do địa hình chia cắt nên Cao Sơn có hệ thống suối đa dạng như suốiTrầm, suối Láo, suối Sổ, suối Sưng đây chính là nguồn cung cấp nước sinh hoạt, nước tướicho phát triển nông nghiệp Ngoài ra Cao Sơn còn có hồ Nà Chiếu, hồ Tằm và một số hồ nhỏ

dự trữ nước và điều tiết nước phục vụ cho phát triển sản xuất

- Nguồn nước ngầm: hiện chưa có công trình khảo sát và đánh giá chất lượng và trữ lượngnước ngầm trên địa bàn, tuy nhiên qua khảo sát sơ bộ cho thấy nước ngầm phân bố khôngđều Các vùng cao có trữ lượng nước ngầm thấp và khó khai thác Hiện nay nước ngầm đangđược khai thác sử dụng vào đời sống sinh hoạt của nhân dân thông qua các giếng đào ở độ sấu

10 đến 15 m

1.1.5 Thực trạng môi trường xã.

Hiện nay, môi trường sinh thái trên địa bàn xã tương đối trong lành Tuy nhiên trong nhữngnăm gần đây môi trường sinh thái trên địa bàn xã chịu tác động mạnh từ một số hoạt động củacon người như: sản xuất nông nghiệp, đầu tư xây dựng các công trình giao thông, đã phầnnào làm xói mòn và rửa trôi đất Hơn nữa hiện tượng phát nương làm rẫy của đồng bào dântộc đã ảnh hưởng không nhỏ tới thảm thực vật và độ che phủ của rừng gây các tác động xấuđến môi trường sinh thái của xã

1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội.

1.2.1 Điều kiện kinh tế

a) Giá trị sản xuất, tốc độ tăng trưởng.

Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân trong giai đoạn 2006 - 2010 đạt 12,63%/năm;trong đó tốc độ tăng trưởng của ngành nông - lâm, thủy sản đạt 13,27%/năm; ngành tiểu thủcông nghiệp đạt 17,84%/năm; và thương mại dịch vụ đạt 32,54%/năm

Tổng giá trị sản xuất năm 2010 đạt 36.000 triệu đồng (giá hiện hành), thu nhập bình quân đầungười đạt 9 triệu đồng/người/năm

Bảng 2 Giá trị sản xuất xã Cao Sơn giai đoạn 2006 –

2011

Đơn vị: Triệu đồng

Trang 15

1 Nông - lâm, thủy sản 7.653,33 12.600,00 13,27

(Nguồn: UBND xã Cao Sơn)

b) Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất

Trong giai đoạn 2006 - 2010 đã có sự chuyển dịch theo hướng giảm cơ cấu GTSXngành nông lâm thủy sản, tăng cơ cấu giá trị ngành thương mại dịch vụ và tiểu thủ côngnghiệp Cụ thể, năm 2010 tỷ trọng ngành nông lâm thủy sản còn chiếm 70% trong tổngGTSX, giảm 12%; thương mại và dịch vụ chiếm 20% tăng 10% và công nghiệp xây dựngchiếm 10% tăng 2%/năm so với năm 2006

Trang 16

1.2.2 Điều kiện xã hội

Lao động

Tổng số Nông

nghiệp

Phi nông nghiệp

(Nguồn: UBND xã Cao Sơn, 2011)

- Dân số toàn xã có 3.960 người với 972 hộ

- Số người trong độ tuổi lao động 2.428 người trong đó;

+ Lao động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, thủy sản: 2.073 người chiếm 85,38% tổng

Trang 17

Trong những năm gần đây các cấp các ngành trên địa bàn xã đã chú trọng đến công tác giáodục, đào tạo nghề nhằm từng bước nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nguồn lao động có chấtlượng ngày càng cao đáp ứng được nhu cầu sản xuất của các ngành.

c) Phân bố dân cư.

Dân cư trên địa bàn xã phân bố ở 9 xóm Mật độ dân số thấp, năm 2010 mật độ dân số trungbình toàn xã đạt 80 người/km2 Xóm có dân số cao nhất là xóm Nà Chiếu (529 người) Tuynhiên, phân bố dân cư trên địa bàn khá phân tán, một xóm thường có nhiều khu tập trung từ 5– 15 hộ/khu Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn của xã (nhất

là đối với phát triển mạng lưới giao thông nông thôn, điện, nước sinh hoạt)

2 Kinh tế hộ xóm Sèo xã Cao Sơn

Để phân tích thực trạng kinh tế hộ tại xã Cao Sơn được chi tiết chúng tôi đã điều tra và thuthập số liệu tại xóm Sèo để làm điểm lấy mẫu nghiên cứu vì xóm Sèo là một trong 9 xóm của

xã Cao Sơn, có tổng dân số và số lượng lao động lớn thứ 2 trong toàn xã Đến năm 2010 theoUBND xã Cao Sơn, trong xóm có tất cả 192 hộ dân, 703 khẩu và có 62 hộ nghèo Tổng sốdân số trong độ tuổi lao động là 456 trong đó có 395 lao động trong sản xuất nông nghiệp cònlại 61 lao động làm các dịch vụ và công việc khác Tổng diện tích đất tự nhiên: 337.7 ha trong

đó đất ở là 29.8 ha, đất sản xuất là 72.7 ha còn lại 235.2 ha là đất khác

Tại xóm Sèo chúng tôi đã thực hiện một cuộc điều tra phóng vấn 42 hộ gia đình được lấyngẫu nhiên theo thứ tự số trong danh sách của trưởng thôn theo phương pháp chọn mẫu đãnếu ở trên

Chú yếu trong phần này chúng tôi mô tả hiện trạng kinh tế chung của xóm Sèo mà chúng tôilựa chọn làm mẫu để nghiên cứu, đồng thời còn cho biết kết quả phân tích về mức độ biếnđộng của kinh tế hộ trong xóm Dựa theo khung phân tích sinh kế bền vững, trong phạm vibài viết này chúng tôi tập trung đi vào phân tích năm nguồn lực chính của kinh tế hộ đó là cácnguồn lực sau:

1) Nguồn lực con người bao gồm các chỉ tiêu để đánh giá như tỷ lệ phụ thuộc, số năm đihọc và khả năng biết đọc biết viết tiếng phổ thông

2) Nguồn lực sản xuất là những thành phần như đất đai, tình hình sử dụng đất đai và chănnuôi

3) Nguồn lực tài sản vật chất bao gồm các tài sản của hộ có giá trị như nhà cửa, đồ đạccũng như các loại tài sản và vật dụng gia đình khác phục vụ cho đời sống và sản xuấtcủa nông hộ

4) Nguồn lực về kinh tế : như thu nhập và chi tiêu, bao gồm cả nguồn thu nhập và thunhập, các khoản chi tiêu và lượng tiền chi tiêu; và cân đối thu - chi của nông hộ

5) Nguồn lực xã hội: như tiếp cận vốn, nợ nần và hướng đầu tư phát triển, tiếp cận thôngtin và các cơ hội trong thị trường, việc làm và cấu trúc nghề nghiệp

Trang 18

<= 14

15 - 59

>= 60

2.1 Nguồn lực con người

Nguồn vốn con người ở xóm Sèo được chúng tôi miêu tả dựa trên cơ sở phân tích và đánh giá

ba chỉ tiêu quan trọng là (1) cấu trúc tuổi của dân số, (2) tỷ lệ lao động chính với người ăntheo, và (3) số năm đi học của người lớn trong gia đình

2.1.1 Cấu trúc tuổi

Khi phân tích cấu trúc tuổi của dân số trong xóm, chúng tôi thường quan tâm đến ba nhómtuổi chính: lứa tuổi trẻ em (14 tuổi hay ít hơn), lứa tuổi lao động (15 - 59) và lứa tuổi già (từ

60 tuổi trở lên) Ba nhóm tuổi này có quan hệ mật thiết đến chức năng kinh tế của hộ Bảng 4

và đồ thị 2 cho biết cấu trúc tuổi dân số của của 42 hộ tại xóm Sèo mà chúng tôi đang nghiêncứu

Bảng 4 Phân bố lứa tuổi (%) n = 42

Lứa tuổi 15-59 là lực lượng lao động chủ yếu ở xóm Sèo chiếm tỷ lệ là (55%) Lứa tuổi trên

60 tuổi là (5%) Nhìn chung, tỷ lệ người cao tuổi ở xóm này tương đối thấp, điều này cho thấyngười già ở đây không phải là gánh nặng kinh tế của các nông hộ

5

Trang 19

2.1.2 Tỷ lệ phụ thuộc

Tỷ lệ phụ thuộc cho biết số trẻ em dưới 15 tuổi và số người già trên 60 tuổi mà một lao độngchính1 có trách nhiệm nuôi dưỡng Trên thực tế, ở các cộng đồng dân cư miền núi thì cả trẻcon và người già cũng phải làm rất nhiều việc, nhất là những công việc gia đình như lấy củi,gùi nước hay cắt cỏ, nên sự đóng góp của trẻ con và người già vào kinh tế nông hộ không phải

là nhỏ, mặc dù những người này bị coi là 'người ăn theo' theo những quy định hiện hành.Ngoài giờ đi học, trẻ con cũng đã tham gia làm nhiều công việc giúp bố mẹ ngay từ khi chúngcòn rất nhỏ, do vậy tỷ lệ phụ thuộc thực tế thấp hơn khá nhiều so với những số liệu trong bảng5

Lê Trọng Cúc, 2001)

2.1.3.Trình độ học vấn

Để đánh giá trình độ học vấn của chủ hộ và người lớn tuổi, chúng tôi dùng chỉ tiêu là số năm

đi học của người lớn tuổi (tính từ 17 tuổi trở lên) Kết quả nghiên cứu được trình bày trênbảng 6 và hình 3

1 Theo quy ước quốc tế thì những người bình thường trong độ tuổi 20-59 được coi là lao động chính Theo quy định của Bộ Lao động-Thương binh và xã hội, thì tuổi lao động của người Việt nam được quy định là từ 15 đến

59 tuổi.

Trang 20

Kh«ng ®i häc BËc tiÓuhäc

Bảng 6 Số năm đi học của chủ hộ và người lớn tuổi (số người, %) n=42

Hình 3 Số năm đi học của người lớn tuổi

Số năm đi học của người lớn tại xóm Sèo từ lớp 1 đến lớp 5 đạt tỷ lệ cao nhất chiếm 60,2 %thuộc bậc tiểu học Tỷ lệ cao thứ 2 đó là bậc phổ thông cơ sở chiếm 23,9 % Trong khi đó tỷ

lệ số người lớn không đi học chỉ chiếm khoảng 10% và số người lớn đi học hết phổ thông chỉđạt 6,2 % có 26 người

Như vậy, có sự khác nhau rất lớn về số năm đến trường của người lớn trong xóm, và chúng tacòn thấy sự khác biệt này cũng rất lớn giữa các hộ (bảng 7 và hình 4)

Trang 21

Hình 4 Phân bố hộ theo số năm đi học cao nhất của chủ hộ và người lớn tuổi

Về phân bố hộ theo năm đi học cao nhất của người lớn tuổi (kể cả chủ hộ) tại xóm Sèo chothấy, Số hộ có người đi học từ 6-9 năm là (38%) Từ 10-12 năm là 14.2% riêng tỷ lệ số người

đi học cao nhất là từ 1-5 năm là 47,6% Tỷ lệ người lớn đi học phổ thông thấp chỉ đạt 14.2%

2.1.4 Mức độ biết đọc biết viết tiếng phổ thông

Tỷ lệ số người biết đọc biết viết tiếng phổ thông là một chỉ số quan trọng đánh giá nguồn lựccon người của một cộng đồng cũng như của một gia đình Hiện nay, tuyệt đại đa số cácchương trình phát thanh, truyền hình, tài liệu khuyến nông,.v.v là chữ và tiếng phổ thông,cũng như ngôn ngữ và tiếng nói dùng trong trường học, từ bậc tiểu học đến đại học cũng làtiếng và chữ viết phổ thông, nên tỷ lệ biết đọc biết viết tiếng phổ thông phản ánh khả năngtiếp cận thông tin bên ngoài cộng đồng Bảng 8 cho ta biết tỷ lệ số người biết đọc biết viết và

số hộ có ít nhất một người biết đọc biết viết

Trang 22

Bảng 8 Tình hình biết đọc biết viết của người lớn tuổi (>17)

Số hộ ít nhất có 1 người biết đọc, viết 42/42 100,0

Nhìn vào bảng 8 ta thấy tỷ lệ số người trên 17 tuổi biết đọc, biết viết chữ phổ thông tương đốicao theo UBND xã thì ở xóm Sèo trong 192 người có 170 người biết đọc biết viết đạt tỷ lệ88,5 % và qua 42 hộ được phóng vấn thì số hộ có ít nhất một người biết đọc biết viết tiếngphổ thông rất cao đạt 100% Điều này lý giải rằng vì xã cao sơn là một xã tuy miền núi nhưngnằm gần với trung tâm Huyện Đà Bắc và có tuyến đường chính đi qua nên điều kiện tiếp cậnthông tin được thuận lợi hơn do đó việc tiếp cận với nền giáo dục ở đây cũng được chủ trọngnâng cao

Bảng 9 Diện tích các loại đất sử dụng trung bình trên khẩu (m 2 )

Trong phần này chúng tôi tìm hiểu tổng số các loại đất của hộ trong cộng đồng cũng như sự phân phối đất đai theo mỗi hạng mục giữa các nông hộ trong cộng đồng Tuỳ theo địa phận cư

Trang 23

trú, thời gian định cư, số người trong gia đình mà diện tích các loại đất này của hộ có thể lớnnhỏ khác nhau Chúng tôi đã so sánh diện tích các loại đất sử dụng trung bình trên khẩu, kếtquả tính toán được trình bày trên bảng 9.

Bảng 9 cho thấy các thông tin về các loại đất được sử dụng tại xóm Sèo, diện tích lúa nướctrên khẩu là 169 m2 Về diện tích cây trồng cạn trên khẩu (trong ngôn từ tiếng phổ thông, loại

đất này được gọi là 'nương định canh' ở vùng núi; còn ở vùng đất thấp gọi là 'đất màu' có

nghĩa là người dân trồng cây hàng năm trên đó liên tục, có làm đất và bón phân là 1.605 m2Đặc biệt là diện tích rừng các loại được biểu hiện trên một khẩu khá cao với 4.901 m2/khẩuthiết nghĩ đây là lợi thế của người dân ở đây khi cuộc sống của họ đang phụ thuộc nhiều vàorừng số liệu cũng cho biết tổng diện tích đất sử dụng trung bình trên khẩu tại xóm Sèo khácao 6.886 m2/khẩu trong khi đó diện tích đất sử dụng trung bình trên đầu người một số vùngtại Vĩnh Phúc thì chỉ có từ 1.448-1.162 m2/ khẩu (Lê Trọng Cúc, 2002) Tuy nhiên, khi phântích những ảnh hưởng của nguồn lực tự nhiên về đất đai, nếu chúng ta chỉ đơn giản quan tâmđến diện tích đất bình quân trên khẩu, thì sẽ là không đầy đủ, vì không phải tất cả các loại đấtđều có khả năng sản xuất như nhau Ví dụ, đất lúa nước cho năng suất cao hơn nhiều đấtnương rãy, đất lúa nước có thể cho thu hoạch vài ba tấn thóc trên một hecta một vụ, trong khiđất nương rẫy thường chỉ cho năng suất chừng 1 tấn thóc trên năm hoặc thấp hơn Đấy là chưanói đến đất lúa nước còn có thể cho phép gieo cấy 2 vụ một năm, còn đất nương rãy thì chỉ cóthể làm một vụ Hơn nữa, đất nương rãy sau khi trồng trọt 2-3 năm thì lại phải bỏ hoá 3-4năm Do đó, một nông hộ nào đó chỉ có bình quân vài trăm mét vuông đất lúa nước trên khẩu

sẽ cho thu hoạch nhiều hơn nông hộ khác có tới vài ngàn mét vuông đất nương rãy nhưng lạikhông có tý đất lúa nước nào Để có thể so sánh giá trị sản xuất thực của đất, chúng tôi đãđánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đất trên khẩu, bằng cách tính mọi sản phẩm được sảnxuất ra trên mỗi loại đất2 Giá trị của các sản phẩm thu được từ các loại đất trong diện tích tựnhiên đều được quy đổi ra giá trị của thóc, rồi chia cho dân số của thôn bản ấy (bảng 10)

Bảng 10 Khả năng sản xuất hiện tại của đất của diện tích đất trung bình sử dụng trên khẩu (quy đổi ra thóc)

Khả năng sản xuất hiện tại của đất (kg thóc/năm/khẩu) 644

Kết quả phân tích ở bảng 10 cho thấy, khả năng sản xuất của đất hiện nay tại xóm Sèo là 644kg/khẩu/năm tuy người dân miền núi Xóm Sèo sở hữu một diện tích lớn và các loại đất cũng

có khả năng sản xuất tốt nhưng hàng năm người dân ở đây vẫn phải chịu những thiếu hụt vềlương thực so với người dân sống gần đồng bằng và thành thị

Phân bổ đất đai giữa các nông hộ

2 Khả năng sản xuất hiện tại của đất (value of current production of land) được tính trên cơ sở quy đổi mọi sản phẩm (trồng trọt, chăn nuôi, lâm sản, nghề phụ ) được sản xuất ra trên diện tích tự nhiên của cộng đồng.

Trang 24

Bảng 11 Phân bố hộ theo tổng diện tích các loại đất/khẩu (% số hộ)

80

Hình 5 Phân bố tần suất hộ theo tổng diện tích các loại đất/khẩu

Phân bổ đất lúa nước

Về phân bố hộ theo diện tích đất lúa nước trên khẩu, bảng 12 và hình 6 cho thấy tại xóm Sèo

là 20% số hộ không có diện tích lúa nước, một con số không nhỏ cho một vùng sản xuất nôngnghiệp như ở Cao Sơn Điều này cũng dễ dàng lý giải là Cao Sơn là một xã nông nghiệp cóthế mạnh về cây hoa màu

Ngày đăng: 04/05/2021, 16:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w