1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy, nam định

100 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 2,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tín ngưỡng thờ Mẫu là sự tin tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh và thờ phụng những vị Nữ thần gắn liền với các hiện tượng tự nhiên,vũ trụ được người đời cho rằng có chức năng sáng tạo, sinh ra,

Trang 1

Đề tài:

TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU Ở PHỦ GIẦY, NAM ĐỊNH

Giảng viên hướng dẫn : TS Lê Thị Thu Hiền Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp : 15CLS

Đà Nẵng, 05/2019

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA LỊCH SỬ

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lí do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 10

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp của đề tài 12

7 Kết cấu đề tài 13

PHẦN NỘI DUNG 14

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM VÀ QUẦN THỂ DI TÍCH VĂN HÓA PHỦ GIẦY NAM ĐỊNH 14

1.1 Khái lược về tín ngưỡng thờ Mẫu 14

1.2 Quần thể di tích văn hóa phủ Giầy, Nam Định 22

1.2.1 Vị trí địa lí 22

1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của quần thể di tích Phủ Giầy, Nam Định 23 CHƯƠNG 2: BIỂU HIỆN CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU 27

Ở PHỦ GIẦY NAM ĐỊNH 27

2.1 Cơ sở thờ tự 27

2.1.1 Phủ Tiên Hương 27

2.1.2 Phủ Vân Cát 31

2.1.3 Lăng chúa Liễu 35

2.1.4 Phủ Bóng - Nguyệt Du Cung 37

2.2 Đối tượng thờ tự 39

Trang 3

2.3 Nghi lễ và lễ hội 44

2.3.1 Thời gian tiến hành và lễ vật 44

2.4.2 Các nghi thức 45

2.5 Giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Giầy 50

2.5.1 Giá trị tín ngưỡng, tâm linh 50

2.5.2 Giá trị giáo dục truyền thống lịch sử 53

2.5.3 Giá trị thẩm mỹ nghệ thuật 54

2.5.4 Giá trị kinh tế - xã hội 55

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TẠI PHỦ GIẦY 57

3.1 Thực trạng của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Giầy 57

3.2 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Giầy 69 3.2.1 Đẩy mạnh công tác sưu tầm, biên soạn, nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Giầy 69

3.2.2 Tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của người dân 70

3.2.3 Tăng cường công tác quản lí của chính quyền địa phương 71

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

PHỤ LỤC 81

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tín ngưỡng, tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, một thực thể xã hội và là sản phẩm lịch sử do con người tạo ra Tầm ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn giáo đến chính trị, văn hóa, xã hội đã được thể hiện rõ nét trong quá khứ và tiếp tục được khẳng định trong xã hội hiện nay Nước ta với nền văn minh lúa nước rất đặc trưng thì tín ngưỡng

đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần Từ ngàn năm xưa, tín ngưỡng dân gian đã xác lập được vị thế của nó trong lòng văn hóa Việt Chúng ta có thể khẳng định rằng không một gia đình người Việt nào lại không có bàn thờ cúng tổ tiên, không có làng xã nào lại không có một ngôi đình, đền, miếu thờ các vị Hoàng làng, các anh hùng dân tộc hay là thờ Mẫu

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng quan trọng trong đời sống người Việt,

có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời cùng với quá trình thịnh suy của xã hội Việt Nam từ bao đời nay Tín ngưỡng thờ Mẫu là sản phẩm văn hoá của người Việt trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội mà nền tảng là nền nông nghiệp lúa nước Nền kinh

tế lúa nước rất coi trọng bàn tay khéo léo của người phụ nữ, dân tộc Việt tôn thờ người phụ nữ, người mẹ, coi người mẹ là đấng bảo trợ cho sự tồn tại, sinh tồn, phát triển của con người, tự nhiên Vì vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu khởi nguồn từ sự biết ơn người phụ

nữ, người mẹ trong nhận thức thuở hoang sơ của con người Tín ngưỡng thờ Mẫu là sự tin tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh và thờ phụng những vị Nữ thần gắn liền với các hiện tượng tự nhiên,vũ trụ được người đời cho rằng có chức năng sáng tạo, sinh ra, bảo trợ cho cuộc sống của con người như: trời, đất, sông, nước, rừng núi,… Ngoài ra, người Việt còn thờ những Thái hậu, Hoàng hậu, Công chúa, những vị nữ anh hùng dân tộc có công với dân, với nước, khi mất về phù hộ cho người an, vật thịnh,… Thờ Mẫu của người Việt không chỉ là sự tôn thờ người mẹ có công sinh thành vô cùng to lớn mà còn

là khát vọng, niềm tin mãnh liệt vào quyền lực, năng lực thiêng liêng rằng họ sẽ luôn che chở cho ta có cuộc sống bình yên, mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi, thoát khỏi thiên tai,… Tín ngưỡng thờ Mẫu trở thành mạch nguồn không thể thiếu trong tổng thể nền văn hoá chung của người Việt, thể hiện khát vọng mãnh liệt về tình mẫu tử

Trang 5

Nếu Phật giáo, Công giáo răn dạy con người sống từ bi, hỉ xả, bác ái,… để hưởng cuộc sống tốt đẹp sau khi chết ở cõi Niết bàn hay Thiên đàng, nhiều tôn giáo khác trên thế giới cũng hướng con người đến cuộc sống xa xôi không có thực, thì tín ngưỡng thờ Mẫu lại hướng con người đến cuộc sống thực tại, với những ước vọng về công danh sự nghiệp, tiền, lộc, sức khỏe, hạnh phúc,… những điều mà ai sống trong trần gian cũng cần phải quan tâm Tín ngưỡng thờ Mẫu có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ

Nữ thần, sau đó phát triển cao hơn là thờ Mẫu thần, cuối cùng là sự dung hợp của Đạo Giáo, Phật Giáo,… hình thành nên tín ngưỡng thờ Tam phủ, Tứ phủ Cùng với tín ngưỡng thờ Mẫu là hàng loạt các thiết chế như: công trình kiến trúc, nghi lễ thờ cúng,

lễ hội và các dạng văn hóa khác có liên quan cũng hình thành phát triển, góp phần tạo nên tính đa dạng và độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Đặc biệt trong đó có hầu đồng hay lên đồng là một nghi lễ độc đáo của tín ngưỡng thờ Mẫu, là loại hình của sân khấu tâm linh hay sân khấu sân đình mang đậm tính dân gian của dân tộc Việt

Tín ngưỡng thờ Mẫu và lễ hội Phủ Giầy (Vụ Bản, Nam Định) là một bộ phận cấu thành quan trọng của văn hóa dân tộc nói chung và văn hóa tín ngưỡng, tâm linh người Việt nói riêng Là một đền/phủ thờ của nữ thần/thần Mẫu trong tâm thức văn hóa Việt cổ truyền, Phủ Giầy là hiện thân của sự tích hợp, kế thừa và phát triển của tục thờ

nữ thần mang yếu tố nội sinh mà phát triển thành tín ngưỡng thờ thần Mẫu Từ đây, tín ngưỡng thờ thần Mẫu tiếp tục hỗn dung với các tôn giáo ngoại lai (mang yếu tố ngoại sinh như Đạo, Phật, Nho) để nâng cấp thành hệ thống thờ Mẫu Tam Tứ phủ trong đời sống tâm linh người Việt Phủ Giầy đã trở thành thần điện đặc biệt, quan trọng gắn với hành trạng, công đức, sự linh thiêng của thần chủ Liễu Hạnh nói riêng và tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung Phủ Giầy cùng với Phủ Tây Hồ (Hà Nội), đền Sòng (Thanh Hóa)

đã làm nên nét khác biệt của một tín ngưỡng do chính người Việt sáng tạo ra, mang đậm bản sắc văn hóa, tâm linh Việt Lễ hội Phủ Giầy diễn ra từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 10 tháng 3 hàng năm, đã trở thành một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người dân, không chỉ mang tính chất địa phương mà nó còn có tầm ảnh hưởng hết sức sâu rộng trên phạm vi cả nước Đến với Phủ Giầy chúng ta còn được trở về với truyền thống văn hóa của người Việt cổ tại vùng Nam đồng bằng Sông Hồng, với tín

Trang 6

ngưỡng Thờ Mẫu (Nữ thần) và nghi thức hát văn hầu đồng Một trong những nét văn hóa đặc sắc đã UNESCO công nhận là Di sản văn hóa Phi vật thể của nhân loại

Trong giai đoạn hiện nay, việc bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống là

vô cùng quan trọng và cần thiết Để xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Vì vậy, nghiên cứu về Phủ Giầy, cùng với tín ngưỡng thờ Mẫu nơi đây có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp một phần nào đó giúp các nhà hoạt động chính sách có cơ sở để đề ra chủ trương, chính sách đúng đắn với hoạt động thờ Mẫu, qua đó phát huy được yếu tố tích cực, giá trị tốt đẹp và khắc phục được những mặt hạn chế của tín ngưỡng thờ Mẫu, góp phần xây dựng đời sống tinh thần ngày càng đa dạng, lành mạnh ở Nam Định nói riêng và Việt Nam nói chung

Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Tín ngưỡng thờ Mẫu

ở Phủ Giầy, Nam Định” làm khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ sau Đổi mới đến nay, tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung và thờ Mẫu Liễu Hạnh nói riêng ngày càng có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hóa tinh thần, được nhiều người biết đến, và còn nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả Các học giả đã có những nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu, văn hóa, đời sống văn hóa tinh thần ở các khía cạnh khác nhau Từ năm 1990, nhất là sau hội thảo quốc tế về Thánh Mẫu Liễu Hạnh do Viện nghiên cứu văn hóa Việt Nam tổ chức tại Văn Miếu (1991), không khí học thuật liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng và tín ngưỡng dân gian nói chung diễn ra sôi động, hàng loạt tác phẩm, các công trình nghiên cứu được công bố

2.1 Các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam

Những ai tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Mẫu sẽ thấy những nghiên cứu của tác giả Ngô Đức Thịnh đưa cho chúng ta một cái nhìn hệ thống nhất, tổng quan nhất về tín

ngưỡng thờ Mẫu với một số công trình tiêu biểu như Đạo Mẫu Việt Nam [34] cuốn

sách gần như liên tục được tái bản, sửa chữa, có bổ sung vào các năm 2001, 2007, và

2010 Sau mỗi lần tái bản như vậy, việc sửa chữa bổ sung không chỉ thuần túy là thêm thắt tư liệu, mà còn có những thay đổi về nhận thức, quan điểm nghiên cứu Chính vì

Trang 7

vậy, phiên bản năm 2010 của cuốn sách về cơ bản có nhiều điểm ưu việt so với các phiên bản trước đó;

Công trình Hát văn [33] nội dung đề cập chủ yếu đến một số vấn đề cơ bản của

tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung và nghi thức lên đồng/hầu đồng nói riêng;

Công trình khác là Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở

Việt Nam và Châu Á [37] Đây là một cuốn sách tập hợp nhiều bài viết của các tác giả

khác nhau liên quan đến vấn đề của Đạo Mẫu và các sinh hoạt tâm linh liên quan, nội dung cuốn sách tập trung vào ba vấn đề cơ bản: một là, đạo Mẫu ở Việt Nam hai là, các hoạt động lên đồng của người Việt ba là các shaman của các tộc người thiểu số ở Việt Nam;

Công trình Lên đồng hành trình của thần linh và thân phận [38] Đây là một

chuyên khảo về nghi thức lên đồng gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ ở Việt Nam trong bối cảnh cảnh đối sánh với các nghi thức lên đồng của các tộc người thiểu

số khác;

Công trình Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian Việt Nam của

Đinh Gia Khánh Công trình đã khái lược và chỉ ra nguồn gốc, những điều kiện hình thành tâm thức coi trọng người phụ nữ trong văn hóa Việt Nam, để từ đó định hình và phát triển các tục thờ Nữ thần

Ở một góc độ khác, Các nữ thần Việt Nam của Đỗ Thị Hảo và Mai Thị Ngọc

Chúc [12], là một công trình nghiên cứu tổng hợp về các nữ thần ở Việt Nam, về nguồn gốc, quá trình hình thành, sự thiêng hóa cũng như vai trò và tầm ảnh hưởng của những thần nữ này đối với đời sống tâm linh của cộng đồng người Việt nói riêng và người Việt Nam nói chung

Ngoài ra, có thể kể đến các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu khác

như: Tam tòa Thánh Mẫu [26] và Văn hóa Thánh Mẫu [27]; sách Nữ thần và thánh

Mẫu Việt Nam [23]

Bên cạnh các công trình được xuất bản dưới dạng sách in, còn có nhiều bài viết được công bố trên các tạp chí cũng đã đề cập đến tín ngưỡng thờ Mẫu như: Đinh Gia

Khánh, Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian Việt Nam, Tạp chí Văn

Trang 8

học, số 5/1992; Nguyễn Minh San, Đạo Mẫu nước ta - nhìn từ hệ thống đền miếu và

thần tích, Tạp chí Dân tộc học, số 1/1992; Hương Nguyên, Quanh tục thờ Thánh Mẫu,

Tạp chí Di sản văn hóa, số 7/2004; Nguyễn Minh San (1993), Tứ pháp - tín ngưỡng

độc đáo của người Việt, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật, số 5, tr 62-64;

Nguyễn Kim Hiền, Lên đồng một sinh hoạt tâm linh mang tính trị liệu, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4, (2001); Nguyễn Ngọc Mai, Múa đồng trong nghi lễ lên đồng của

người Việt và mối quan hệ với múa bóng (Chăm) một đôi điều suy nghĩ, Tạp chí Văn

hóa dân gian, số 3, (2009),

2.2 Các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh nói chung

và ở Phủ Giầy nói riêng

Từ cuối thế kỉ XVI, tục thờ Mẫu Liễu Hạnh ở Kẻ Dầy đã phát triển với lịch sử sinh sinh hóa hóa của Thánh Mẫu Liễu Hạnh mà dân ta thường gọi là Chúa Liễu Trong truyền thuyết dân gian nổi tiếng của đất Vụ Bản, Liễu Hạnh công chúa là “Thiên Bản lục kỳ chi đệ nhất”, đứng đầu sáu nhân vật kì tài của đất Vụ Bản Cao hơn nữa là trong hệ thống thần linh ở nước ta, Thánh Mẫu Liễu Hạnh còn được tôn thờ là một trong “Tứ bất tử” (bốn vị thánh không chết), mà lại là một vị nữ duy nhất trong bốn vị thánh bất tử đó Có khá nhiều tài liệu viết về Thánh Mẫu Liễu Hạnh, không kể những truyền thuyết về Mẫu Liễu khá phong phú đa dạng trong dân gian

Các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Tục thờ Đức Mẫu Liễu Hạnh, Đức

Thánh Trần của Vũ Ngọc Khánh [24]

Một số bài viết trên tạp trí Tín ngưỡng thờ Mẫu trong tâm thức loài người nói

chung, người Việt Nam nói riêng và lễ hội Phủ Giầy [51]; Từ Phật Mẫu Man Nương đến Thánh Mẫu Liễu Hạnh của Nguyễn Thị Huế [50]; Khát vọng của người phụ nữ Việt Nam qua truyền thuyết về Thánh Mẫu Liễu Hạnh của Phạm Quỳnh Phương [56]; Xung quanh tín ngưỡng dân dã: Mẫu Liễu và điện thờ của Trần Lâm Biền [47];

Bên cạnh đó thì cũng có một số những công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ

Mẫu và lễ hội ở Phủ Giầy, Nam Định tiêu biểu như: Lễ hội Phủ Giầy và việc quản lí lễ

hội trên địa bàn tỉnh Nam Định của Nguyễn Văn Xuyên [66]; Bức tranh văn hóa dân gian: Lễ hội Phủ Giầy của Thang Ngọc Pho; Phủ Dầy một trung tâm tín ngưỡng thờ

Trang 9

Mẫu ở Việt Nam của Vũ Huy Toàn [61]; Mẫu Liễu - Phủ Giầy trong bối cảnh các trung tâm thờ Mẫu ở nước ta của Nguyễn Minh San [45]; …

Nhìn chung, có khác nhiều nhưng công trình tác phẩm nghiên cứu về tín ngưỡng

thờ Mẫu cũng như tục thờ Mẫu Liễu Hạnh ở Việt Nam Nhưng các tác phẩm đó đã đề cập tổng quan về tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung và Mẫu Liễu Hạnh nói riêng Tuy nhiên, những tác phẩm khoa học đó nghiên cứu trên một phạm vi rộng, đề xuất những giải pháp ở tầm vĩ mô và chưa đi sâu vào tìm hiểu những ảnh hưởng trên các khía cạnh của đời sống văn hóa tinh thần của người dân, cụ thể đời sống văn hóa tinh thần người dân Nam Định hiện nay, đặc biệt đối với tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Giầy chỉ mới có một số bài viết có liên quan hoặc là đề cập đến lễ hội ở Phủ Giầy chưa có đề cập đến tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Giầy một cách tổng thể với tất cả các yếu tố về đối tượng thờ tự, về kiến trúc, nghi lễ Dù vậy, những công trình nghiên cứu của người đi trước chính là nguồn tài liệu quan trọng để sinh viên có thể tham khảo và kế thừa, kết hợp với những kiến thức do chính bản thân mình sưu tầm, tích lũy chọn lọc trong quá trình khảo sát thực tế về tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Giầy, Nam Định để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu một cách sâu sắc, có hệ thống về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Giầy, từ

đó làm nổi bật được vai trò, giá trị của tín ngưỡng thông qua hệ thống di tích cùng với các sinh hoạt tâm linh tại đây

- Phản ánh được thực trạng tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Giầy hiện nay, chỉ ra những biến đổi tác động

- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp cụ thể, thiết thực nhằm phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu - tín ngưỡng đặc trưng của dân tộc, cũng là bảo tồn phát triển một nét văn hóa mang đậm bản sắc Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích trên, khóa luận cần phải thực hiện được những nhiệm vụ cơ bản sau:

Trang 10

- Tìm hiểu khái lược về tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung và Mẫu Liễu Hạnh ở Phủ Giầy nói riêng

- Khái quát lịch sử hình thành, phát triển và kiến trúc của quần thể Phủ Giầy, Nam Định

- Khái quát về đối tượng thờ tự, về cơ sở thờ tự, nghi lễ, lễ hội của tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Giầy, Nam Định

- Qua đó nêu bật lên những giá trị của đạo Mẫu ở Phủ Giầy, Nam Định

- Phân tích thực trạng của sinh hoạt tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Giầy, Nam Định hiện nay, từ đó đề xuất ra những, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị thờ Mẫu tại Phủ Giầy, Nam Định

4 Đối tượng ngiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trọng tâm của khóa luận là tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Giầy cụ thể là: những truyền thuyết, những di tích, điện thần, nghi thức thờ cúng và lễ hội thờ Mẫu hiện còn đang tồn tại ở Phủ Giầy

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, sinh viên khai thác tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau

- Tư liệu thành văn: Đây là nguồn tư liệu quan trọng, cung cấp hệ thống kiến thức cơ bản làm cơ sở nền tảng lý thuyết cho đề tài

Trang 11

+ Các sách chuyên ngành như: Đạo Mẫu ở Việt Nam của Ngô Đức Thịnh; Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu Á của Ngô Đức Thịnh; Mẫu Liễu sử thi của Hồ Đức Thọ; Tam Tòa thánh Mẫu của Đặng Văn Lung;…

+ Các bài viết trên sách, báo, tạp chí như: Hình tượng phụ nữ Việt Nam trong nghệ thuật múa của Lê Ngọc Canh; Hầu đồng từ góc nhìn sân khấu của Đồ Hương; Tín ngưỡng thờ Mẫu trong tâm thức loài người nói chung, người Việt Nam nói riêng và lễ hội Phủ Giầy của Trịnh Quang Khanh; “Những giá trị của lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội hiện nay của Ngô Đức Thịnh;…

- Tư liệu thực địa: sinh viên đã thực hiện thu thập nguồn tư liệu thực địa chủ yếu

từ người dân địa phương, khách thập phương, những thủ nhang của các di tích, các vị

bô lão lớn tuổi có vai trò kinh nghiệm trong việc tổ chức thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu và chính quyền địa phương, các tài liệu viết tay hay thành văn được lưu giữ tại di tích hay địa phương Đây chính là nguồn tư liệu quan trọng góp phần không nhỏ giúp sinh viên hoàn thành khóa luận của mình

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để có thể thực hiện đề tài này, sinh viên đã sử dung những phương pháp chủ yếu sau:

- Trước hết, đề tài sử dụng phương pháp luận chung là chủ nghĩa duy vật biện

chứng và duy vật lịch sử

- Phương pháp điền dã, khảo sát thực địa: Đây là phương pháp quan trọng nhất

để trực tiếp có thông tin và hiểu rõ thực trạng của tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Giầy Tác giả đã tiến hành đến di tích Phủ Giầy để quan sát tham dự, mô tả, ghi chép, thu thập các thông tin dữ liệu từ thực địa tại địa bàn di tích

- Phỏng vấn trực tiếp: Để mang tính xác thực, tác giả đã tiến hành phỏng vấn

trực tiếp cán bộ làm công tác quản lí văn hóa, quản lí di tích và người dân sống quanh khu vực Phủ Giầy để có những thông tin khách quan khoa học về thực trạng tín ngưỡng thờ Mẫu ở đây

Trang 12

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở các thông tin dữ liệu thu thập

được từ thực địa và các tài liệu nghiên cứu (sách, báo, tạp chí), sinh viên đã sử dụng phương pháp logic và lịch sử để xem xét các sự vật hiện tượng, kết hợp với các phương pháp như thống kê, mô tả, phân tích, tổng hợp cho từng chương, từng nội dung trong

đề tài Khóa luận tham khảo và sử dụng các tài liệu viết về tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung và Mẫu Liễu Hạnh nói riêng, để có thêm những thông tin bổ trợ sâu rộng hơn cho đề tài nghiên cứu

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Để làm nổi bật được đặc điểm của tín

ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Giầy, Nam Định, sinh viên đã sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu các giai đoạn thờ tự khác nhau

6 Đóng góp của đề tài

6.1 Đóng góp về mặt lí luận

Đây là công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh tại Phủ Giầy, Nam Định, nên đóng góp lớn nhất của đề tài đó là góp phần làm rõ hơn tín ngưỡng thờ Mẫu tại thành phố Nam Định, làm phong phú thêm khía cạnh văn hóa tín ngưỡng tại địa phương Trên cơ sở chỉ ra thực trạng của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh tại Phủ Giầy, khóa luận đề xuất, kiến nghị nhằm phát huy giá trị của tín ngưỡng này trong đời sống văn hoá vật chất cũng như tinh thần của Phủ Giầy, Nam Định

6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Với kết quả nghiên cứu, đề tài sẽ giúp cho người dân hiểu rõ về giá trị cũng như

ý nghĩa của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh để nâng cao nhận thức của người dân về những giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh, thúc đẩy tinh thần dân tộc, lòng tự hào của người dân, giúp họ nhận biết được tầm quan trọng của tín ngưỡng, từ

đó giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa ấy

Đồng thời đưa ra những nhận xét bước đầu về quy luật vận động phát triển, đặc tính cơ bản về tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt trên bước đường đi mở cõi về phía Nam Kết quả nghiên cứu đã góp một tiếng nói vào việc bảo tồn, phát huy vốn văn hóa truyền thống ở một địa bàn cụ thể ở một lĩnh vực phức tạp tế nhị khi kế thừa di sản của thế hệ trước để lại

Trang 13

Đề tài góp phần làm phong phú, đa dạng các nguồn tư liệu tham khảo cho quá trình học tập cũng như nghiên cứu về lịch sử - văn hóa địa phương, cho những ai quan tâm đến tín ngưỡng thờ Mẫu ở nước ta nói chung và Mẫu Liễu Hạnh ở Phủ Giầy, Nam Định nói riêng

Chính là cơ sở để chính quyền có thể dựa vào đó ban hành các chính sách cho phù hợp với thực trạng của tín ngưỡng hiện nay

7 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, khóa luận chia ra

làm 4 chương

Chương 1: Khái quát về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam và quần thể di tích văn

hóa Phủ Giầy Nam Định

Chương 2: Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Giầy

Chương 3: Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu

tại Phủ Giầy

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM VÀ

QUẦN THỂ DI TÍCH VĂN HÓA PHỦ GIẦY NAM ĐỊNH

1.1 Khái lược về tín ngưỡng thờ Mẫu

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một hiện tượng văn hóa xã hội rất đặc biệt, là một loại hình tín ngưỡng dân gian, được hình thành khá sớm, mang đậm chất bản địa, nguyên thủy và tồn tại cùng chiều dài lịch sử của dân tộc Với người Việt, đời sống tinh thần của họ đã phản ánh một thế giới quan, nhân sinh quan đậm chất nhân văn Từ thuở xa xưa, đàn ông là người phụ trách công việc đi săn bắn, tìm kiếm nguồn lương thực chủ yếu trong mỗi gia đình Song nguồn thực phẩm này rất bấp bênh vì không phải lần đi săn nào cũng thu được kết quả Trong khi đó, người phụ nữ lại ở nhà phụ trách việc trồng tỉa chăn nuôi (hoặc đi hái lượm hoa quả trong thời tiền sử), mặc dù nguồn lợi thực phẩm không dồi dào như đi săn, nhưng nó lại đảm bảo sự ổn định Ta có thể xem

đó là yếu tố tiên quyết, là nguồn gốc sâu xa của việc con người ngày trước chỉ biết có

mẹ mà không biết đến cha vì vai trò của người đàn ông rất mờ nhạt Vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình, ngoài xã hội, trong công cuộc đấu tranh xây dựng và bảo

vệ tổ quốc là rất lớn Từ một dân tộc có gốc gác từ thời Hùng Vương, có quá trình đấu tranh dựng nước, giữ nước gắn bó giữa làng và nước, lại theo quan điểm ai có công với dân, với nước thì thờ, kể cả các cụ Tổ có công khai khẩn, mở mang nghề nghiệp, dậy chữ, lập ấp, dựng làng,… Mặt khác, tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ra đời giữa bối cảnh tư tưởng người Việt chênh vênh, bởi các nguồn văn hóa ngoại từ Trung Hoa, phương Tây ập đến, tư tưởng cộng đồng Việt dao động, hoang mang bởi nếp sống tinh thần bị xáo trộn, nguy cơ đạo lí “Cây có gốc, nước có nguồn” mai một ngày càng rõ Vấn đề lớn đặt ra là: Nếu theo một giáo phái khác, áp dụng một điều luật lễ bái khác lạ, tức là bỏ đi một nếp sống cổ truyền, đạo lí dân tộc sẽ sao đây? Để giải quyết cho vấn

đề đó thì tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh - tín ngưỡng nội sinh, đã ra đời đánh hồi chuông lớn cảnh tỉnh cộng đồng phải hướng về với cội nguồn Tín ngưỡng thờ Mẫu Đệ Nhất Liễu Hạnh và hai mẫu Đệ Nhị, Đệ Tam ra đời đã giữ được tục thờ Nữ Thần cổ truyền Đây còn là tục thờ Mẹ nguyên thủy, một tục thờ để bảo lưu cội rễ của nòi

Trang 15

giống Từ “Mẹ Nước”, “Mẹ Lúa”, “Mẹ Âu Cơ” đến các nữ tướng, công chúa, hoàng hậu dân gian tôn thờ đều có ý nghĩa là bậc mẫu nghi cho dân nương nhờ

Trong rất nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo hiện diện ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mẫu là một dạng thức tín ngưỡng rất đặc sắc, trở thành mạch nguồn không thể thiếu trong tổng thể nền văn hoá chung Nó đặc sắc ngay từ cách gọi tên dạng thức tín ngưỡng này “Mẫu” (母) là một danh từ gốc Hán - Việt, mang nghĩa chỉ: mẹ, mụ, mạ,

mế, tức dùng để gọi người phụ nữ sinh ra mình Từ thời nguyên thuỷ, con người đã có

ý thức sâu sắc về sự sinh sản, sự sinh sôi nảy nở, ý thức ấy thường biện lí từ cái cụ thể

Mà cái cụ thể về sự sinh sôi nảy nở không gì khác ngoài người mẹ mang nặng đẻ đau, sinh ra nuôi dưỡng che chở bảo vệ cho con người Thờ Mẫu còn được suy diễn với ý nghĩa rộng hơn là Mẹ của dân tộc, Mẹ của xứ sở, Mẹ lúa, Mẹ nước Nguồn gốc từ các nhân thần, nhân thần cũng có hai dạng: Không có thực như Mẹ Âu Cơ, mẹ Phù Đổng, Mẫu Liễu Hạnh; và có thực như các bậc hoàng hậu, công chúa là vợ vua, con vua tức con cháu nhà Trời, được chế độ phong kiến thống trị tôn trọng, coi là bậc “Mẫu nghi thiên hạ”

Người mẹ biểu tượng đầu tiên nuôi sống che chở cho con người ấy là mẹ cây Cây cho mầm, cho rễ, cho quả để con người ăn sinh sống ban đầu, cây cho vỏ để người mặc, cây cho cành, cho những rễ phụ để cho con người kết lại thành võng treo mình trên võng qua đêm và tránh thú dữ sát hại Ở nước ta, cây cho rễ phụ nhiều nhất là cây

đa, cây si Hiện nay ở xã Tiên Nông (khởi thuỷ nghề nông), bên bờ sông Lô, thị xã Tuyên Quang có đền thờ Mẫu Ỷ La, nay đền đã quang đãng, nhưng trước đây không lâu bao quanh đền là cả một rừng cây đa cổ thụ, rễ phụ đan nhau chằng chịt Cũng ở Thị xã Tuyên Quang, có một đền thờ Ỷ Lan khác trên núi La thờ bà Chúa thượng ngàn, cũng trồng rất nhiều cây si và cây đa cổ thụ được gọi là cây thiêng, cây bất tử toả bóng mát cho khách hành hương Ỷ là dựa, La là lưới, võng Lưới của những cây đa, cây

si được tết thành lưới, thành võng như những cái nôi đưa con người nguyên thuỷ chìm vào trong những giấc ngủ qua đêm tránh thú dữ Bởi thế, Ỷ La trở thành biểu tượng đầu tiên về Mẹ thiêng liêng Ở đền Bắc Lệ - Lạng Sơn treo bức tranh Mẫu

Trang 16

thượng ngàn ngồi trên chiếc võng giăng giữa hai cây trong rừng xanh xung quanh có nhiều vượn chim và các cô nàng đứng hầu hạ

Nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt chính là một sản phẩm mới được hình thành trên cơ sở của Đạo giáo Trung Hoa, kết hợp thêm với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng phồn thực, Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo Chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến hậu quả trong quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng phụ nữ, và trong tín ngưỡng là tình trạng các nữ thần chiếm ưu thế Người Việt có xu hướng nữ tính hóa các hiện tượng tự nhiên, biến các thần tự nhiên thành các nữ thần và tôn phong nhiều vị nữ thần là Mẹ/Mẫu Vì vậy, ta

có thể lí giải được một thực tế là mặc dù mang dáng dấp của Đạo giáo Trung Hoa, song nếu với Đạo giáo Trung Hoa, các vị thần linh hầu như là nam giới thì trái lại, với thiên đường Đạo giáo của Việt Nam (biểu hiện bằng tín ngưỡng thờ Mẫu), hầu như đều là các nữ thần

Điều đáng quan tâm là tín ngưỡng này tuy phát triển có phần rộng khắp, nhưng chưa bao giờ trong các chế độ cũ có đủ điều kiện để trở thành một hệ tôn giáo chính thống, vì:

- Không hề được sáng lập bởi một vị giáo chủ cụ thể nào

- Không hề có hệ thống giáo lý gắn với nhân sinh quan và vũ trụ quan một cách mạnh mẽ Nó vì nhu cầu thiếu hụt tâm linh của quần chúng ở các thời kỳ khác nhau, rồi

tự điều chỉnh để tồn tại Vì thế, nó thâm nhập vào mọi nơi, mọi chốn, thậm chí vào cả các tôn giáo lớn, để cho tôn giáo ngoại lai thích hợp có thể phổ cập và tồn tại trong quần như Phật giáo (các tượng Phật giáo phần nhiều mang dạng nữ, nhất là Quan Âm

Trang 17

thế, trước đây, nhiều khi tầng lớp thống trị và nho sĩ thường chê bai và gán cho tín ngưỡng thờ Mẫu nhiều yếu tố tiêu cực, thậm chí đả kích vào cả các thánh Mẫu Họ bài bác và gán cho tín ngưỡng này đậm yếu tố mê tín dị đoan, đặt nó ra ngoài không gian

tư tưởng chính thống, đồng thời luôn tìm cách khống chế nó

Tới nay, tín ngưỡng thờ Mẫu đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, để mong tìm về một khía cạnh thuộc cốt lõi khởi nguyên mang vẻ đẹp tâm linh của nông dân Việt, đậm yếu tố thuộc bản sắc văn hóa dân tộc Điều đó không có nghĩa là chúng ta ủng hộ sự phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu theo một chiều hướng mới Với truyền thống tự thích ứng để tồn tại, tín ngưỡng này đi vào lòng người, bởi “tâm”, không hẳn bằng “pháp’ Vì thế, chúng ta chỉ cần giữ sao cho nó không bị sa đà vào mê tín dị đoan,

và nhất là không để cho những kẻ hoạt động tôn giáo tín ngưỡng lợi dụng Việc đưa tín ngưỡng thờ Mẫu vào tổ chức (có tính chất giáo hội) dễ làm biến chất sự trong sáng hồn nhiên của tín ngưỡng này, làm tàn phai yếu tố dân gian mà chúng ta hằng tôn trọng

Sự hiện sinh của các Mẫu trong đời sống văn hóa của người Việt là thiên biến vạn hóa Nó được biểu hiện qua sự đa dạng trong hình tượng của các Mẫu Trong đó,

có mấy vai trò và chức năng nổi bật đáng lưu ý của các Mẫu có thể kể đến một số vai trò và chức năng sau đây:

Một là, xét trong không gian làng, các Mẫu có thể vừa đảm nhiệm nhiều vai trò,

như một vị Thành hoàng, một vị Địa Mẫu (theo hệ thống thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ) hay một vị thần ban phát tài lộc cho con người Vai trò của các Mẫu phụ thuộc vào nhận thức của cư dân từng địa phương

Hai là, các Mẫu có mối liên hệ mật thiết với cộng đồng cư dân địa phương và

môi trường sinh thái Do vậy có thể nói vai trò của các Mẫu chính là biểu hiện của sự thích nghi sinh thái Tùy thuộc vào điều kiện môi sinh, các Mẫu sẽ có những vai trò tương thích với môi sinh đó

Ba là, một điều quan trọng, trong bối cảnh phong kiến vai trò của người phụ nữ

bị hạ thấp thì tín ngưỡng thờ Mẫu xuất hiện và là minh chứng của sự bình đẳng giới, bởi vì hình tượng của Đất, của Nước, của Hồn dân tộc đã len lỏi vào từng giá trị văn hóa của tín ngưỡng thờ Mẫu Những giá trị đó đã trải qua một quá trình tích hợp lâu

Trang 18

dài, trở thành một phần của nền tảng tinh thần người Việt, góp phần vào sự hình thành, tồn tại và phát triển của văn hóa dân tộc Mặt khác, ý nghĩa về bình đẳng giới của dạng thức tín ngưỡng này cũng có thể được xem như một hồi chuông để cảnh báo cho sự phân biệt giới đã từng một thời tồn tại trong tư duy và nhận thức của người Việt vì ảnh hưởng từ sự tiếp nhận Nho giáo

Bốn là, nói như học giả Ngô Đức Thịnh, tín ngưỡng thờ Mẫu là một thứ chủ

nghĩa yêu nước đã được tâm linh, tín ngưỡng hóa Vì lẽ đó, nội dung của tín ngưỡng thờ Mẫu chứa đựng trong đó những triết lí sống mang chức năng giáo dục rất cao Con người tìm đến các Mẫu phải đến với cái tâm hướng thiện Ở khía cạnh khác, các tín đồ không tìm đến các Mẫu với những ý niệm siêu phàm, mà trái lại, đó là những ước mong mang tính hiện thực Vì thế mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tín ngưỡng thờ Mẫu đang được “trẻ hóa” và có thể tồn tại vững chắc trong xã hội đương đại, tiêu biểu

là nhận định của Nguyễn Hữu Thụ khi ông cho rằng: “Tín đồ theo các Mẫu không hề

suy giảm trong lịch sử bởi lẽ Mẫu không mang trong mình tính sáng thế mà chỉ mang ý nghĩa đùm bọc, chở che, bao dung, nuôi dưỡng con người và vạn vật mà thôi”[21]

Năm là, ngoài chức năng giáo dục, tín ngưỡng thờ Mẫu còn giữ một chức năng

quan trọng khác nữa, đó là chức năng cố kết cộng đồng với 4 yếu tố: cộng cư, cộng lợi, cộng mệnh, cộng cảm Ví dụ điển hình là ở mỗi miền Bắc, Trung, Nam đều xuất hiện những Mẫu riêng nhưng tất cả đó đều có những yếu tố giá trị văn hóa chung của người Việt Đó cũng đồng thời cho thấy sự đoàn kết, chấp nhận để dung hợp lẫn nhau khi có

sự hỗn cư giữa các tộc người

Nói tóm lại, vai trò và chức năng của tín ngưỡng thờ Mẫu thể hiện một tầm nhìn văn hóa vì nó chứa đựng nhiều quan niệm, tư tưởng liên quan đến thiên nhiên (sự đa dạng về vai trò của các Mẫu), con người (khẳng định tính đúng đắn về bình đẳng giới

và chủ nghĩa yêu nước đặc trưng của người Việt), cũng như mối quan hệ giữa con người với tự nhiên (thích nghi sinh thái), giữa con người với con người (cố kết cộng

đồng)

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh tuy là sinh sau đẻ muộn nhưng lại được coi là vị thần chủ rất là quan trọng trong đạo Mẫu

Trang 19

Vào thế kỉ thứ XVI, XVII, XVIII chế độ phong kiến đi vào thời kì suy tàn Triều đình

đi vào thối nát từ bên trong, người dân phải chịu cảnh cơ cực, lầm than Người dân khát khao được sống bình an và hạnh phúc, nhu cầu được cứu khổ cứu nạn ngày càng trở nên bức thiết Việc tôn thờ và tin tưởng vào các vị Phật hay Bồ Tát ngày càng trở nên xa vời và nhạt nhòa, bởi lẽ họ thuộc thế lực thiêng, thế lực siêu nhiên Người dân lầm than đòi hỏi một vị thần gần gũi với con người, vị thần đó phải gắn bó và ngự trên đất nước mình, đồng thời đi mây về gió trên vùng trời của đất nước mình Tức là vị thần đó vừa có thực (sống ở cõi trần), vừa ảo (đi mây về gió, quyền năng vô biên) Tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ra đời, đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đó Bởi vì Mẫu Liễu Hạnh vừa có cuộc đời trần tục, có nguồn gốc xuất thân cụ thể, có quyền năng vô hạn, hành trang biến hóa khôn lường, triều đình cũng phảo nể sợ Người yêu thương che chở và bảo vệ con dân khỏi áp bức, bóc lột và khó khăn của cuộc sống Tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh còn thể hiện tính nhân văn sâu sắc, nó chính là sự tôn kính đối với phụ

nữ và được tôn thờ thành Mẫu Tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh là một bộ phận không thể tách rời của tín ngưỡng thờ Nữ thần và Đạo Mẫu Việt Nam Trong Tứ Phủ, Mẫu luôn ở vị trí trung tâm Trong Tam Tòa Thánh Mẫu, bà ngồi ở vị trí chính giữa Mẫu có

nụ cười phúc hậu và nụ cười luôn hé nở trên môi

Thánh Mẫu Liễu Hạnh, qua ba độ giáng trần sự hiển linh rõ rệt Nhất là giai đoạn hạ trần lần thứ hai vào gia đình Trần Thái Công, lớn lên lấy Trần Đào Lang và năm 21 tuổi phải về trời, để lại con nhỏ tạo niềm thương nỗi nhớ cho tứ thân phụ mẫu, cho phu quân, đồng thời tạo niềm trắc ẩn, hiển linh về thăm nhà Quá trình uẩn khúc này cùng với sự ấm ức, bực bội diễn ra sự giáng họa, trừng phạt, lại có cả sự giáng phúc cho ai lương thiện kêu cầu, nên dân gian vừa kinh hãi vừa mến mộ gần gũi, từ đó

mà tôn kính, ngưỡng mộ ở mức độ đặc biệt Thánh Mẫu Liễu Hạnh khác với Mẹ Âu

Cơ của người Việt cổ, khác với bà Sao Cái của người Tày, khác với nữ thần Thiên Y Ana của đồng bào Chăm, khác cả Phật Mẫu Man Nương,… Và tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh mới xuất hiện trên 500 năm, so với các Mẫu nguyên thủy thì thật trẻ trung, với cảm quan của một vị đầy uy lực và cũng đầy lòng từ bi, người bình dân, kể

cả chức sắc, đặc biệt là nữ giới đã đặt nhiều hi vọng vào Mẹ, noi theo tấm gương hiếu, trinh của Mẹ Nhìn lại tấm gương của Trưng Nữ Vương cùng các tướng Lê Chân,

Trang 20

Nguyệt Nga, nhìn lại bản lĩnh của Bà Triệu, Ỷ Lan Hoàng thái hậu để thấy trân trọng các bà mẹ tiêu biểu đã có tài làm vua, làm tướng, trị quốc bình thiên hạ, nhưng cũng từ

đó hướng về Thánh Mẫu Liễu Hạnh với sự cầm quân xung trận rất oai hùng, được thua

là lẽ thường nhưng Mẫu không xảo trá, đấu tranh, chiến đấu giành lẽ phải, chống lại lễ giáo bất công, hoài bão nam nữ có sự bình quyền trong xã hội, lại là một xã hội cũ nặng nề lễ giáo phong kiến, lạc hậu mới thấy hết sự tiên phong của Mẫu, biểu tượng anh hùng văn hóa ở Mẫu mà Hồng Hà nữ sĩ ĐoànThị Điểm và các bậc túc Nho đã ghi chép hoặc dàn dựng nên một vị Thánh Mẫu rất mực thước, tròn trĩnh trong cuộc sống gia đình cũng như đời sống xã hội, xứng đáng là vị thần bất tử, đại diện cho tinh thần bất tử dân tộc Do vậy mà nguyên lí Mẫu có từ ngàn đời xưa, lại càng đươc bổ sung, vun đắp

Ngày nay, sự linh ứng của Thánh Mẫu Liễu Hạnh vẫn luôn được truyền tụng, dường như Bà vẫn luôn hiện diện trên cõi trần này và luôn ban những dấu hiệu để con cháu nhận biết được sự trở về của bà Chẳng hạn, ở Đền Sòng, trước đền có một hồ nước tự nhiên hình bán nguyệt trong xanh gọi là hồ cá Thần Tương truyền rằng hàng năm cứ đến tháng Giêng, Hai có một đàn cá toàn thân màu đỏ lũ lượt kéo về bơi lội trong hồ, nhưng khi hết lễ hội Đền Sòng thì đàn cá tự nhiên không thấy nữa Nhân dân quanh vùng nói rằng đó là các nàng tiên trên thượng giới hoá phép về hầu Tiên chúa Thánh Mẫu Liễu Hạnh Hay dân gian vẫn thường truyền tụng nhau, cầu tình duyên mà cầu ở Phủ Tây Hồ thì linh lắm Các trung tâm thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh đều rất đắc địa và có mối liên hệ sâu sắc với tiến trình lịch sử, xã hội của dân tộc Việt Nam Đền Bắc Lệ ở Hữu Lũng, Lạng Sơn nằm trên đồi cao, dưới bóng những cây cổ thụ hàng trăm tuổi, là ngôi đền lớn trấn ở con đường huyết mạch Hà Nội, Lạng Sơn Đền Sòng tọa lạc trên vùng gò đống hùng vĩ, kỳ thú ở địa phận tiếp giáp giữa Ninh Bình và Thanh Hóa Bên này là Bắc bộ nối liền chân mây mặt đất, bên kia là Trung bộ chia cắt không gian một bên là núi thẳm, một phía là biển trời bao la Phủ Tây Hồ nằm trên một đảo nhỏ được người xưa ví là “bãi đất cá vàng” nhô ra giữa mặt nước Hồ Tây lung linh, đúng thế “đầu rồng, thân rồng, rùa cõng” Từ xưa Hồ Tây đã được coi là một thắng cảnh của kinh thành Thăng Long, nơi văn nhân mặc khách gặp gỡ, tao đàm và cũng là miền thiêng của Hà Thành với mật độ dày di tích thờ phụng Phủ Giầy ở Vụ

Trang 21

Bản, Nam Định tọa lạc trên một địa thế bằng phẳng, giao thông thuận tiện từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sự xuất hiện của hình tượng Liễu Hạnh vào cuối thời Lê chứ không phải là lúc nào khác, đó là thời kỳ Nho giáo độc tôn, vai trò truyền thống của người phụ nữ Việt Nam bị xúc phạm nghiêm trọng, hoàn toàn không phải là

sự kiện ngẫu nhiên, mà là kết quả của một sự phản kháng Vua và triều đình là tượng trưng cho Nho giáo đã phải lùi bước trước công chúa Liễu Hạnh hiển linh tức là Nho giáo lùi bước trước Lão và Phật giáo Trần gian lúc công chúa Liễu Hạnh giáng trần đang lúc xã hội rối ren, đầy dẫy những chuyện bất công Mẫu Liễu của thế kỷ 16 có thể nói là vị Mẫu cuối cùng được tôn phong trên đất nước Việt Nam, tiếp nối tục thờ Nữ thần Mẫu là hình tượng một người con, một người vợ, là người phụ nữ tròn bổn phận với gia đình, không chỉ lúc còn tại tiền mà cả sau khi chết, tiêu biểu tinh thần Nho giáo Mẫu lại có pháp thuật và sức mạnh, lại là một thi nhân tao nhã, giỏi văn chương, thích thiên nhiên, là những nét đặc trưng của Lão giáo Trên bước vân du, Mẫu lại tìm đến cảnh chùa để qui y tu niệm tức tượng trưng cho Phật giáo Nhưng rồi Ngài lại không buộc chặt mình vào một tôn giáo nào, để nói lên sự dung hợp hài hòa ba nền tôn giáo vươn lên tầm vóc Đại Đạo Thánh Mẫu Liễu Hạnh là tượng trưng cho sự tổng hợp của Nho - Thích - Lão trên căn bản Tam giáo đồng nguyên nhưng vượt ra ngoài chiếc vỏ tôn giáo để trở nên “Bất tử”

Ở một cái nhìn khác qua cách thờ phượng, tại các đền, phủ, chùa, có bàn thờ Đức Liễu Hạnh Thánh Mẫu dưới hình thức Tam Tòa Thánh Mẫu,… như đã nói, gồm: Mẫu Liễu Hạnh là Mẫu Thượng Thiên ngồi giữa mặc áo đỏ, bên trái là Mẫu Thượng Ngàn tức Bà Chúa Rừng và bên phải là Mẫu Thoải tức Thần Nước Nhưng cũng có những cách giải thích khác Có tác giả cho rằng ba pho tượng trên Tam Tòa Thánh Mẫu đều là Mẫu Liễu Hạnh, đó là một pho khoác áo cà sa sau khi đã qui y Phật, một bên là hình ảnh của Ngài khi là Tiên Nữ, và bên kia là hình ảnh Ngài khi còn là cô gái trần gian

Sự tích Thánh Mẫu Liễu Hạnh chính là sự sáng tạo của lớp người vừa có chất Nho, vừa có chất Đạo, và cả chất Phật, nhưng đã kết hợp làm nên một tinh thần bàng

Trang 22

bạc trong dân tộc Việt Nam trải dài lịch sử mấy ngàn năm, cùng một người Việt Nam, khi trẻ trung thì học Nho để ra giúp nước, khi gặp cảnh khổ ải trầm luân thì cầu Trời khấn Phật phù hộ, khi ốm đau, già yếu thì mời đạo sĩ trừ tà, trị bệnh hoặc luyện tập dưỡng khí an thần… Như vậy, Thánh Mẫu Liễu Hạnh ra đời là một hiện tượng tâm linh, là chỗ dựa tinh thần của con người, nhưng cũng thể hiện tinh thần Tam giáo đồng nguyên bàng bạc xuyên suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam

1.2 Quần thể di tích văn hóa phủ Giầy, Nam Định

1.2.1 Vị trí địa lí

Nam Định là tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng “dân cư đông đúc như

hình con long” Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa cho rằng: Đây là vùng đất văn

hiến mà điểm sáng là vùng văn hóa Thiên Bản (Vụ Bản ngày nay) - Thiên Trường và Quần Anh Trong đó, Thiên Bản là vùng đất cổ, lưu giữ những dấu ấn tinh hoa văn hóa của người Việt từ thủơ Vua Hùng dựng nước đậm đà bản sắc dân tộc và được phát triển mạnh mẽ qua các thời đại

Là một huyện của tỉnh Nam Định, Vụ Bản cách thành phố Nam Định 15km về phía Tây Nam Huyện có 17 xã, 1 thị trấn Diện tích tự nhiên 14766,23 ha, dân số

12700 người, có ranh giới:

+ Phía Đông giáp thành phố Nam Định và huyện Nam Trực

+ Phía Tây giáp huyện Ý Yên

+ Phía Nam giáp huyện Ý Yên và Nghĩa Hưng

+ Phía Bắc giáp huyện Mỹ Lộc [48, tr.5]

Vào thời vua Hùng, huyện Vụ Bản có hơn chục làng với tên “Kẻ” ở đầu xuất hiện nằm rải rác ở vùng đất ven chân núi hay bãi cao trong đó có Kẻ Dầy Kẻ Dầy sau này có tên chữ là An Thái, nay là thôn Tiên Hương và Vân Cát thuộc xã Kim Thái Xưa và nay trong lịch trình tiến hóa, hai làng Tiên Hương và Vân Cát đều nằm ở vị trí vừa quan trọng về chính trị, kinh tế vừa đẹp về cảnh sắc thiên nhiên Sông Sắt chạy ép phía Tây làng vốn là một nhánh của sông Ninh Giang nối liền Châu Giang chảy ra sông Hồng Điều kỳ thú cả hai đường thủy, bộ đều là con đường có thể tới hành cung Thiên

Trang 23

Trường xưa thời Lý - Trần các vua đi kinh lý đi qua, để lại những dấu ấn họat động văn hóa trên đất Vụ Bản Không chỉ dừng lại ở mảnh đất non nước hữu tình mà Vụ là một vùng đất văn hiến, có bề dày lịch sử - văn hóa truyền thống cách mạng Vụ Bản là quê hương của trạng nguyên Lương Thế Vinh, nhà sử học Trần Huy Liệu, nhạc sĩ Văn Cao, nhà thơ Nguyễn Bính Quê hương của nhiều nhà khoa bảng, khoa học, văn nghệ sĩ, chiến sĩ cách mạng nổi tiếng

Quần thể Phủ Giầy hiện nay thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, với một cụm khoảng 17 di tích liên quan đến sự tích truyền thuyết về thánh Mẫu Liễu Hạnh, nằm trải đều trong một không gian đẹp với cảnh quan nhiên nhiên phong phú, có núi sông xen kẽ đồng ruộng màu mỡ Với vị trí nằm ở giao điểm của các trục đường lớn, quốc lộ 10, quốc lộ 21, tỉnh lộ 56, tỉnh lộ 12, cách thành phố Nam Định không xa, chỉ hơn 10km, đường đến Phủ Giầy bằng đường bộ rất thuận lợi

1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của quần thể di tích Phủ Giầy, Nam Định

Khái niệm “phủ” trong quan niệm dân gian ở nước ta, được hiểu khá rộng rãi: Phủ là một cõi (cõi trời, cõi nước, cõi mây…) Phủ có thể thờ ở một ban, một cái tĩnh ở

trong nhà, phủ có thể là cả một khu kiến trúc tín ngưỡng

Phủ Giầy là một quần thể di tích của Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ với cụm di tích liên quan chặt chẽ với nhau, có thể coi các di tích ấy như là một điện thần đạo Mẫu hoàn chỉnh, tựa như một thứ Bạch Vân Quán của Đạo giáo Trung Quốc Phủ Giầy thuộc đất “Thiên Bản lục kỳ” là nơi Mẫu Vân Hương tức Mẫu Liễu Hạnh giáng sinh lần thứ hai nên gọi là Vân Hương Thánh Mẫu (Vân là làng Vân Cát, Hương là quê)

Phủ Giầy xa xưa có tên cổ là Kẻ Dầy, tới khi bà Liễu Hạnh được suy tôn làm Mẫu Nghi Thiên Hạ sắc phong thượng đẳng Tứ linh thần thì Kẻ Dầy được đổi thành phủ Giầy "Phủ" là danh từ chỉ định dinh cơ của các vương công, và theo lẽ đó chỗ thờ công chúa cũng là nơi công chúa trú ngụ nên đền thờ Liễu Hạnh cũng dùng chữ Phủ.Người dân ở đây, khi gọi Kẻ giầy - Phủ Giầy xuất phát từ truyền thuyết Bà Chúa Liễu Hạnh vì quá nhớ thương gia đình, chồng con nên đã để lại một chiếc giầy ở trần gian trước khi về thượng giới hoặc có huyền thoại: Vua đi qua vùng này và nghỉ đêm ở

Trang 24

quán hàng của bà chúa Liễu Hạnh, sau đó được tặng một đôi giầy nên đã lập nơi thờ tự

và gọi đó là Phủ Giầy Khi gọi Phủ Dày còn vì chính nơi này có món bánh dày giò nổi tiếng Lại có người cho rằng: Kẻ Dày xuất phát từ nơi có gò đất nổi lên hình bánh dày trước cửa phủ

Phủ Giầy là tên chỉ vào cả một quần thể kiến trúc tín ngưỡng, gồm ba di tích chính: phủ Tiên Hương, phủ Vân Cát, lăng Thánh Mẫu, ngoài ra còn nhiều đền, chùa, phủ khác Thánh Mẫu được thờ là Công chúa Liễu Hạnh Hiếm có nơi nào trên đất nước ta, trong bán kính chừng 1km lại có mật độ di tích đậm đặc như ở Phủ Giầy Đây

là quần thể di tích có giá trị về mặt lịch sử cũng như về mặt nghệ thuật Nằm rải rác trong phạm vi ba thôn: Tiên Hương, Vân Cát, Bảng Già (Xuân Bảng), các di tích này hoặc xen lẫn giữa những mái nhà lúp xúp bóng cây, hoặc nằm cạnh mặt đường chính

xe cộ qua lại nườm nượp, hoặc đứng biệt lập giữa cánh đồng mênh mông Trước kia như đã nói thì nơi đây vốn có khoảng 17 di tích, nhưng theo năm tháng, một số di tích

đã bị phá hủy hoặc hư hại nhiều

Trong quần thể di tích Phủ Giầy, nếu không tìm hiểu kĩ thì người người vẫn nghĩ rằng Mẫu sinh ra ở Vân Cát rồi lấy chồng ở Tiên Hương, nhưng đó là một sự nhầm lẫn Theo tác giả Bùi Văn Tam, trước đây Vân Cát và Tiên Hương là một có tên nôm là Kẻ Dầy, tên chữ là An Thái, khi thành lập xã An Thái gồm bốn thôn là: Vân Cát, Vân Đình, Tây Cầu (Tây La hay La Hào) và Nham Miếu hay còn gọi là Giáp Nhất, Giáp Nhì, Giáp Ba, Giáp Tư tương ứng thứ tự bốn thôn Vào đời Lê Cảnh Hưng (1740 - 1786) dân thôn Vân Cát (Giáp Nhất) phát triển đông đúc ra phía Bắc và tách thành một xã mới gọi là xã Vân Cát Xã An Thái vẫn còn bốn giáp cũ, năm Tự Đức thứ

14 (1860) đổi tên là Tiên Hương [33] Năm 1947, hai xã Vân Cát và Tiên Hương gộp lại thành xã Kim Thái gồm ba thôn Tiên Hương, Vân Cát và Bảng Già (Xuân Bảng) [41]

Tấm bia “Khải Định lục niên xuân” (Mùa xuân niên hiệu Khải Định thứ 6 – 1921) ở phủ Vân Cát do Tiến sĩ đốc học Hải Phòng Nguyễn Văn Tính biên soạn cũng

có câu: “Vốn làng này trước chung nhau, sau mới chia ra (trước là thôn Vân Cát nằm

trong xã An Thái) một là hai, hai cũng là một vậy”[68] Có thể hình dung phần đất thôn

Trang 25

Vân Cát hiện nay là một phần Vân Cát cũ được phát triển thêm về phía bắc (tạm gọi là Vân Cát 2), phần đất Giáp Nhất thôn Tiên Hương hiện nay là phần đất thôn Vân Cát cũ còn lại (tạm gọi là Vân Cát 1)

Trong quần thể di tích Phủ Giầy bao gồm rất nhiều di tích nhưng trong đó quan trọng nhất là hai phủ: Phủ Tiên Hương và Phủ Vân Cát

- Phủ Vân Cát: Có khá nhiều tư liệu Hán Nôm mang nội dung: “Vân Cát Thiên

Bản có nền nhà cũ nơi sinh ra tiên chúa” Cụ thể có 4 đại tự, 3 cặp câu đối và 5 tấm

bia nhắc đến nội dung trên, về cơ bản đều cho rằng ngôi đền (Vân Cát) là thờ nơi giáng sinh của Mẫu

Ở Phủ Vân Cát hiện có tấm bia “Thánh mẫu cố trạch linh từ bia ký” (Bia ghi việc đền thiêng nơi nền nhà cũ của Thánh mẫu) năm Tân Sửu triều vua Thành Thái (1901) được biên soạn bởi ông Cao Xuân Dục, Hiệp biện đại học sĩ, Phó tổng tài Quốc

sử quán kiêm quản lý quốc giám đã ghi lại khá cụ thể việc tu sửa đền qua các thời kỳ Theo bia này thì đền được dựng lần đầu là ở niên hiệu Cảnh Trị (1663 - 1671), niên hiệu Cảnh Thịnh (1793 - 1801) mở rộng thêm ra, niên hiệu Tự Đức năm Kỷ Mão (1879) sửa sang lại, năm Thành Thái thứ 12 (1900) tu sửa mở mang quy mô to lớn

- Phủ Tiên Hương: Còn về niên đại của Phủ Tiên Hương, tấm bia sớm nhất có

niên đại 1834 ghi công đức của hội thuỷ quân sở tại cúng ruộng và các đồ thờ tự như tàn, tẩy, sập đá, còn trong danh mục có hai bia đề năm 1838 ghi nội dung cúng tiền để dựng phủ và xây bậc đá Có thể đây là thời kỳ Phủ Tiên Hương mới bắt đầu được xây dựng và mở rộng Theo tác giả Bùi Văn Tam thì năm 1838 là năm dân làng xây dựng đền mới bên cạnh đền cũ hiện vẫn còn dấu tích gọi là Phủ Cổ với những dấu vết nghệ thuật thời Lê - Nguyễn.[33, tr 41]

Tấm bia niên hiệu Duy Tân thứ 9 (1915) do tổng đốc Nam Định Thanh Oai

Đoàn Triển soạn cũng cho thông tin xác định đền thiêng Tiên Hương: “Quy mô nhỏ

hẹp, gặp ngày hội không sao chứa hết người” Năm 1912 ông nhận chức Tổng đốc

Nam Định, được người trong họ trong làng trong huyện nhờ giúp đỡ tu sửa đền Tiên Hương, không nỡ chối từ bèn “mộ duyên dấy việc” từ mùa đông năm 1912, đến tháng

8 năm 1913 thì hoàn thiện Ngôi đền mới xây dựng “ từ nội phủ đến bái đường gồm

Trang 26

bốn tòa theo kiểu mới, phía trước thì các lầu tả hữu giải vũ gồm chín tòa, đều nhân

theo nếp cũ, rồi xây rộng tường vây đắp hoa trên đầu cột, xây nguyệt hồ, khuôn khổ

rộng rãi, so với trước thì có thêm lên” [68, tr.75] Tấm bia “Quan lại cúng ngân bi ký”

(Bia ghi việc cúng tiền của các quý quan lại) năm 1914 với sự xuất hiện hàng loạt tên

tuổi các vị quan lại chức sắc trong vùng đã cho thấy quy mô và sức thu hút lớn của lần

xây dựng này

Ngoài cụm di tích chính: phủ Vân Cát, phủ Tiên Hương và lăng chúa Liễu thì

trong quần thể di tích Phủ Giầy còn có một số di tích tiêu biểu như:

Đền Quan Lớn: Đền Quan Lớn hay còn gọi là đền Công Núi hoặc Đền Quan

Lớn Đệ Tam, tựu chân núi Ngăm thuộc xóm 4 thôn Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện

Vụ Bản, tỉnh Nam Định, là một trong số các di tích thuộc Quần thể di tích lịch sử văn

hóa Phủ Giầy

Đền Đức Vua: Tại quần thể di tích Phủ Giầy có hai đền đều mang tên Đức Vua,

một ở thôn Vân Cát và một ở thôn Tiên Hương cách nhau chừng 2 km cùng thuộc xã

Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

Đình thờ Thành hoàng - đình Ông Khổng: Đình Ông Khổng quay mặt ra đường

56, theo hướng Đông như đối diện với phủ Tiên Hương

Đền Thượng: Nằm ở trên núi Tiên Hương (trước là núi An Thái, dân gian còn

gọi là núi cây đa gôi), quay hướng Tây Bắc Đền kiến trúc kiểu chồng diêm với bốn lớp

cung dựng bằng gỗ lim

Đền Công Đồng: Thuộc xóm 1 thôn Tiên Hương, gần đình Ông Khổng, đầu con

đường dải đá 56 rẽ và Phủ Tiên Hương Đền quay hướng Nam, trước cửa có một hồ

xây vuông vắn, đền được xây theo kiểu chồng diêm bốn lớp cung

Đền Khâm Sai (còn gọi là Phủ Khâm Sai): Thuộc xóm 2 thôn Tiên Hương, Phủ

Khâm Sai nằm ngay sát đường 56, quay hướng Tây, có quy mô tương đối nhỏ

Trang 27

CHƯƠNG 2: BIỂU HIỆN CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU

Ở PHỦ GIẦY NAM ĐỊNH 2.1 Cơ sở thờ tự

Phủ Giầy là một quần thể kiến trúc độc đáo giữa một vùng đồng bằng bát ngát, sông nước mênh mông Dải núi đất bao bọc những con sông uốn lượn tạo nên một khung cảnh sơn thuỷ hữu tình Các dãy núi này được dân gian hình dung như một con rồng khổng lồ mà đầu là núi Ngăm, các khúc mình rồng là núi Tiên Hương, núi Báng, núi Lê, núi Gôi và đuôi nó là núi Thổ Di tích Phủ Giầy tuy chưa phải là một công trình kiến trúc đẹp và có quy mô hoành tráng trong hệ thống kiến trúc tôn giáo Việt Nam, nhưng nét độc đáo của nơi đây có thể nói là khó nơi nào có được và nó cũng được nhà nước công nhận và trao danh hiệu Nguyên xưa kia, hai thôn Vân Cát và Tiên Hương là một Ngôi phủ thờ "Tam tòa thánh mẫu" ở xã An Thái, huyện Thiên Bản còn đơn sơ, được xây dựng từ thời Lê Cảnh Trị (1663-1671) Sang đầu thời Nguyễn vào năm 1806, Vân Cát, Tiên Hương được tách thành hai thôn và cũng từ đó 2 thôn đều xây phủ thờ riêng bà chúa Liễu Hạnh Những nét văn hóa của triều đại nhà Nguyễn được in đậm trong công trình này Đến nay bộ ba di tích được coi là liên quan mật thiết tới Thánh Mẫu Liễu Hạnh là: Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát và lăng Chúa Liễu, bao quanh còn

có một loạt các đền miếu khác như đền Khâm Sai, đền Thượng, đền Đức Vua, đền Công Đồng, đền Giếng Gàng, đền Cây Đa, đình ông Khổng, làng Mẫu… Nhờ có hệ thống đền miếu này mà quy mô về sự thờ phụng cũng như sự tôn nghiêm của Phủ Giầy được tăng lên Trong đó, tiêu biểu nhất là Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát, lăng chúa Liễu và Phủ Bóng

2.1.1 Phủ Tiên Hương

Phủ Tiên Hương thuộc thôn Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định Phủ Tiên Hương là phủ chính trong quần thể di tích Phủ Giầy và cũng là nơi thờ chính của Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Phủ chính Tiên Hương là một công trình kiến trúc đẹp, được xây dựng từ lâu đời Phủ có quy mô bề thế gồm 19 tòa với 81 gian lớn nhỏ, cao thấp khác nhau, lại có quy hoạch chính phụ rõ ràng, tạo nên không gian thoáng đãng mà vẫn trang nghiêm

Trang 28

Với lối kiến trúc “nội trùng thiềm, ngoại chữ quốc”, đến năm 1841 được chuyển thành

công trình gạch ngói Phủ Tiên Hương tuy qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn giữ được dấu tích của phủ cổ trước kia Hiện nay, phủ chính Tiên Hương còn lưu giữ 15 đạo sắc phong thần cho Thánh Mẫu Liễu Hạnh, đạo sớm nhất ghi ngày 10 tháng chạp năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730) phong Thánh Mẫu là Mã Vàng Công Chúa thượng đẳng thần, muộn nhất là đạo sắc ghi ngày 25/7/1924, năm Khải Định cửu niên phong Đức Thánh

đệ Tam - Ngọc nữ Quang cung Quế Anh Trong Phủ chính Tiên Hương còn lưu giữ nhiều cổ vật ghi rõ đây là phủ chính thờ Mẫu tại nơi Mẫu đầu thai Đó là chiếc ấn đồng

cổ đúc từ hàng trăm năm trước, trên ấn có hai chữ Hán ở lưng ấn: Phủ chính, nhiều cổ vật sứ cổ được khắc chữ nhấn mạnh đây là đồ tế tự của phủ chính…

Phủ xây trên khu đất rộng 1 mẫu 4 sào, bốn bề tiếp giáp nhà dân, đường cái và

xa xa là núi Tiên Hương che chắn mặt Tây như bức bình phong khổng lồ Khi đến phủ này, từ xa có thể nhìn thấy rõ vì phủ rất rộng Từ ngoài bước vào chúng ta gặp ngay một giếng tròn mang ý nghĩa tụ thủy để tụ phúc, giữa giếng tròn là một ụ đất làm nơi cắm cờ mỗi khi mùa hội tới Cán cờ là một cây tre hoặc một cây gỗ cao được dựng đứng lên, đầu cây buộc một túm lá hoặc một con quạ gỗ với ý nghĩa là thiên sứ của nhà trời Cùng với túm lá (con quạ gỗ) là lá cờ thần lớn được treo lên đó Tiếp đó là một sân lớn là nơi khi mùa hội tới là nơi sẽ biểu diễn xếp chữ và bán hàng lưu niệm Sau sân lớn là ba phương đình với phương du ở giữa và hai bên phương đình làm nơi gác chuông, gác trống Ba tòa phương đình, tuy quy cách to nhỏ, số gian khác nhau, nhưng phong cách làm kiểu chồng diêm tám mái như nhau, kết cấu kiểu thượng giường hạ kẻ như nhau Hai tòa tả hữu cân đối, hài hòa đẹp mắt Trong nhà còn đặt những hành bia

đá theo trình tự cân đối, khiến tả hữu phương đình không chỉ là nghi thức tô điểm cho mặt tiền, mà còn có chức năng bảo vệ văn bia, những di sản vừa có giá trị nhân văn, vừa có giá trị điêu khắc mà tiền nhân để lại… Tòa phương đình ở giữa có 3 gian trông

bề thế hơn, cũng làm theo kiểu mê cốn, bẩy kẻ, nhưng người thợ đã trau chuốt hơn, đục đẽo công phu hơn Những cặp nghê đỡ trụ non đấu rế, những mảng đề tài tùng, cúc, trúc, mai trên từng lá cốn ở các vì Xung quanh phương đình được diễu tường hoa song tiện, cửa phía Tây có rồng chầu, hai cửa phía Đông tạo đôi cặp hồ rất sinh động từ trên nhao xuống, lại ngước đầu, ngoái cổ nhìn nhau, tựa đón mừng người vào cửa, khiến tòa

Trang 29

phương đình đã tạo cho mặt tiền Phủ Tiên Hương thêm ý nghĩa, hấp dẫn, gợi cảm cho

ai đó mỗi khi đến hành hương

Trước sân là “nguyệt hồ” làm cân đối theo trục đối xứng Quanh hồ có tường hoa làm cầu kì đẹp mắt, cửa xuống hồ có rồng chầu và giữ tường hoa gắn tấm bia làm kiểu cuốn thư khá độc đáo, nội dung nói việc xây dựng phủ Hồ được coi là điểm tụ thủy cho thế đất Giữa hồ có một đảo nhỏ để đặt cột dựng cờ bằng đá, xuống hồ bán nguyệt có hai cầu được lát bằng đá, đối xứng qua hồ, bên phải là nhà bia và lầu Cậu, bên trái là nhà bia và lầu Cô Tiếp đó, một khoảng sân rộng nối với hệ thống nghi môn trụ, trên đỉnh trụ đắp phượng, tượng trưng cho không gian, và lân, kiểm soát tư cách khách hành hương

Toàn khu phủ thờ ở Phủ Tiên Hương là sự liên kết của nhiều dãy nhà được nối liền với nhau, mái nối mái, nhỏ dần từ ngoài vào trong, tạo không gian nội thất trong Phủ Tiên Hương rộng phía ngoài và sâu hút phía trong Trong một dãy nhà có sự phân chia thành nhiều gian riêng và gọi đó là một cung Từ ngoài vào phía trước mặt gồm có những cung sau:

Đầu tiên là Cung đệ tứ rộng nhất gồm 7 gian, dài 22m, rộng 8m, hai hồi bít đốc,

lợp ngói âm dương, trên bờ nóc mái cung đều có ngoàm đỡ hoành được nối với nhau thành bộ khung chắc chắn Các hệ thống kèo, xà ngang, xà dọc, được gia công vuông lác cạnh, soi chả chạm khắc rất công phu với nhiều họa tiết sinh động: dơi, chim, cá, nho, lựu, trúc, hoa sen, hoa cúc Giữa cột chính với xà ngang các vì có chạm hình cá hoa long mềm mại Mỗi vì kèo phần trên xà thượng lên đến thượng lương được chạm bong những vân mây và mặt hổ phù cách điệu, các bức cốn, mê nách diễn tả cặp tiền

“ngũ phúc”, những trái đào lồng được chạm khắc tinh xảo Gợi cho tư duy con người nhận biết cảnh “đào tiên trường thọ”, cảnh “kim tiền phúc lộc” mà thế gian đang có sự ước muốn “phúc, lộc, thọ” Những đề tài tứ quý, tứ linh, cũng rất hấp dẫn nên tòa nhà tuy lớn, dùng loại gỗ tứ thiết mà vẫn như thanh thoát, nhẹ nhàng, vui mắt và dễ chịu Cung Đệ Tứ thờ Tứ phủ công đồng hay còn gọi là ban Công Đồng Chính giữa cung đệ

tứ có nhang án thờ Tứ phủ Công đồng Một tòa cửu long với 36 ngọn đèn được đặt

Trang 30

trước nhang án, người thợ phải khéo léo gia công, kết hợp với tư duy vũ trụ mới có thể làm được Trong cung còn có các kiệu thờ Mẹ và kiệu võng

Cung đệ tam thấp và hẹp hơn cung đệ tứ, gồm 5 gian, dài 13m, rộng 6m3 Hai

sập thờ trong cung chân uốn cong, chạm nổi các mặt hổ phù, hoa lá, bốn góc chạm hình “thao thiết” (nửa mặt hổ phù) Trong cung, có giá để những đồ bát bửu, hai giá chiêng, trống mà thanh giá được tạo bởi hình chạm hai con rồng quay đuôi vào mặt trời

ở giữa Theo quan niệm chung, đây là biểu tượng cầu mưa của cư dân nông nghiệp (gõ vào mặt trống là sấm sét trên bầu trời để gọi mưa)

Cung đệ nhị được xây hẹp lại như kiểu nhà cầu - rộng 2m5, dài 11 m3, nối mái

cung đệ nhất với cung đệ tam Trong cung, có một ban thờ Tứ vị chầu Bà và ba bộ long ngai lớn đặt trên ba sập thờ

Đặc biệt là cung đệ nhất (cung cấm) tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài bởi một

hệ thống cửa ngăn với cung đệ nhị, dùng hoàn toàn ánh sáng điện hoặc nến mờ ảo, tạo không gian linh thiêng Cung này dài 10m, rộng 7m6, gồm ba gian, là nơi thờ Tam tòa Thánh Mẫu và Tổ Phụ, Tổ Mẫu Năm pho tượng trong năm khám nhỏ và đặt trong một khám to khảm trai Mẫu đệ nhất ở giữa, mặc áo đỏ đồng nhất với Liễu Hạnh, Mẫu đệ nhị Thượng Ngàn áo xanh và Mẫu đệ tam Thoải Phủ áo trắng đặt ở hai bên Nhiều người quan niệm ba pho tượng này đều là Mẫu Liễu phân thân Nhìn vào đây có thể thấy, tượng Liễu Hạnh vừa là tượng Mẫu, vừa là tượng một nhà sư, lại vừa mang dáng dấp tượng một đạo nhân, và phải chăng đó cũng là một bằng chứng cho thấy sự dung hội giữa đạo Phật, đạo Mẫu và đạo Thần tiên ở Việt Nam Hai pho tượng còn lại chính

là Tổ Phụ và Tổ Mẫu

Cách cấu trúc sâu và hẹp của bốn lớp cung gây ấn tượng cho khách đi lễ bái từ chỗ trần tục đời thường đến chỗ thâm nghiêm linh thiêng Ba cung sau, hình khắc ít, trang trí chủ yếu bằng các tán lọng, hoành phi câu đối, nón công đồng, các đồ thờ tự, đặc biệt là các bức y môn được chạm trổ cầu kỳ Y môn chia làm ba ô bằng các gờ nổi trụ lửng kiểu dải lụa, trang trí lưỡng long chầu nhật, hình hoa lá, hình long mã trong tư thế chạy xô vào trên sóng nước Các bức y môn rực rỡ này tạo thêm độ sáng cho kiến trúc trong Phủ

Trang 31

Đằng sau Phủ Tiên Hương có một khu vườn nhỏ gắn với sự tích về nơi học hành của Liễu Hạnh Ở đây ngoài động Sơn Trang còn có cây chuối với buồng chuối hàng trăm nải, cây thị trăm tuổi…

Năm 1986, theo báo cáo kiểm kê của Bảo tàng Nam Hà, trong số 230 hiện vật ở phủ Tiên Hương có 63 hiện vật mộc, 51 hiện vật sành sứ, thủy tinh, 116 hiện vật kim loại Di tích có 31 đạo sắc phong kể từ năm Chính Hòa thứ tư (1688) đến năm Khải Định thứ chín (1924), 14 văn bia cổ, 3 quả chuông, 2 chiêng đồng (rất tiếc là các sắc phong ấy nay đã bị thất lạc) [68]

Cách bào trí trong các cung ở Phủ Tiên Hương được biểu hiện ở sơ đồ 2.1 (trang 31)

2.1.2 Phủ Vân Cát

Phủ Vân Cát là một trong những di tích chính nằm trong Quần thể tâm linh Phủ Dầy Phủ Vân Cát nằm ở phía bắc thôn Vân Cát thuộc xã Kim Thái, cách Phủ Tiên Hương chừng 1km Từ Phủ Tiên Hương đi thẳng tới Ủy ban nhân dân xã Kim Thái, bên phải đi tới lăng mộ Thánh Mẫu, còn đi về bên trái là đi tới Phủ Vân Cát

Phủ Vân Cát là một công trình kiến trúc quy mô, tuy bị hư hỏng nặng, nhưng đến nay Phủ Vân Cát vẫn còn lại một số tòa đường nét kiến trúc, điêu khắc theo kiểu phượng múa theo nhiều dáng, “quy” (rùa) ẩn hiện nơi ao sen, bầy “ly” vui đùa uốn lượn ở các góc xà, đầu bẩy , cùng một số văn bia có giá trị về lịch sử kiến trúc Phủ Giầy, Phủ Vân Cát Phủ Vân Cát nằm trên vùng đất cao rộng trên 2 mẫu đứng biệt lập phía Tây Bắc làng, không bị thổ cư làm ảnh hưởng nên cảnh quan khá đẹp Khu nội tự phủ, đền và chùa rộng hàng mẫu Ba phía Bắc, Đông, Nam giáp ruộng lúa, phía Tây có đường cái chạy theo thế vòng cung, cùng những cây cổ thụ, cây lưu niên khiến sự bề thế, hoành tráng càng được nâng lên Toàn bộ công trình làm theo trục đối xứng Đông - Tây với các tòa phương du, đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ làm cân đối hài hòa Phía Nam phủ về hai bên còn có nhà khách, hành lang khiến tổng công trình phủ có hơn 10 tòa lớn nhỏ, đẹp ở bình diện và về cả không gian Hai bên phủ có đền thờ Lý Nam Đế

và chùa thờ Phật, được làm thụt vào sau, khiến phủ thờ Mẫu vẫn giữ vị trí trọng yếu

của toàn cảnh

Trang 32

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ trong các cung ở Phủ Tiên Hương

[Nguồn: Đạo Mẫu ở Việt Nam của Ngô Đức Thịnh [40]]

2 Mẫu đệ nhị Thượng Ngàn 12 Lầu Cậu

3 Mẫu đệ tam Thoải Cung 13 Lầu Cậu

4 Bàn thờ Tứ vị chầu bà 14 Vương Mẫu

5 6 7 Bàn thờ Tam tòa Quan Lớn 15 Vương Phụ

8 Bàn thờ Vua cha Ngọc Hoàng 16 Đức Thánh Trần

9 Bàn thờ các quan cận thần 17 Động Sơn Trang

Trang 33

Công trình Phủ Vân Cát có bốn cung, tả hữu là hai dãy hành lang chạy dọc Trước Phủ là hệ thống Ngũ môn cao to bề thế Cổng gồm năm cửa vòm làm kiểu chồng diêm hai ba tầng với hàng chục cột trụ Tất cả tạo nên những khối cao thấp, to nhỏ nhấp nhô vừa chắc chắn lại vừa thanh thoát Nhiều văn bia được đặt dưới các cửa ngọ môn ghi việc Liễu Hạnh giáng sinh, việc tiến cúng cũng như việc xây dựng công trình đền phủ

Phía ngoài Ngũ môn có hồ bán nguyệt, giữa hồ là một tòa phương du ba gian mái cong Trước kia, đây là nơi các quan khách đứng xem kéo chữ vào dịp hội tháng

Ba Phương du được làm bằng gỗ lim, lợp ngói nam, bốn góc các mái đao được uốn cong Ngoài bốn hàng cột góc (hoành vuông cột tròn đường kính 27cm), còn có bốn cột đá vuông (25 x 25cm) đỡ bốn ke góc Các xà, bẩy đều được chạm mai, điểu, trúc hóa, vân ám một cách thanh thoát đẹp mắt Các đầu dư chạm khắc bong kênh theo nghệ thuật thời Nguyễn Xung quanh hồ được kè và xây tường hoa bằng đá cẩm quy xanh, trang trí bằng các họa tiết “tứ linh”, “tứ quý”: những mảng chạm hoa chanh, voi chầu, các mảng chạm đá trúc mai rất kì công Trên bốn trụ lớn ở gian giữa có nghê chầu bằng đá, đặc biệt hai mặt tường hoa ở gian giữa có những khóm trúc, khóm mai

và hai con voi được chạm trên một lát đá hoa mỏng, đường nét tinh xảo Bốn mặt tường nền xây toàn bằng đá hộc từ đáy hồ đến mặt hồ Hai đầu nhà phương du có hai chiếc cầu đá cong nối với bờ Đây là công trình kiến trúc công phu được làm vào năm Thành Thái thứ 12 (1900)

Phía trong Ngũ môn là khoảng sân rộng trước khi vào công trình chính Nhìn phía ngoài, phủ Vân Cát được kiến trúc kiểu hai tầng tám mái có khoảng cách Sự phối hợp giữa các đầu kìm và đao tạo nên một sự hòa hợp có tính chất động trong không gian tĩnh Sự lô xô của các con guột ở đầu đao, con sô, con nghê trên đỉnh mái vừa tạo nên vẻ vui mắt vừa tạo sự mềm mại, duyên dáng Đỡ mái phía trước Phủ có sáu cột trụ vuông, chân bằng thạch tản (đá), tạo vẻ vững chắc cho công trình Bộ cách cửa do khách miền Nam cúng tiến chạm vân mây, rồng, hoa lá… đường nét rất tinh xảo

Cung đệ tứ phía ngoài gồm 5 gian gỗ lim, thượng mê hạ kẻ, hoành vuông cột

tròn đường kính 35cm Các xà, kẻ, bẩy được gia công chạm khắc, soi chỉ công phu

Trang 34

nhiều hình tứ linh, tứ quý Bên trong về phía hai đầu hồi, thay cho các vì kèo là hệ thống moi góc, một chân đạp tàu mái, một đầu đội nóc vừa đỡ cho bộ mái phía ngoài thêm vững chắc, vừa là bộ phận cùng với đầu dư trang trí cho phía trong Dưới các moi góc là trụ đòn đỡ được chạm hoa mai, hoa cúc chạy xung quanh, các đầu đỡ trụ là những con nghê sinh động Hệ thống bẩy chạm các đề tài tứ linh, tứ quý, các vì kèo chạm mặt hổ phù, chữ triện… Gian giữa cung đệ tứ có một sập thờ chạm lộng, trên đặt ngai thờ quan Giám Sát (Quan đệ nhị) Hai bên sập thờ có giá để những đồ bát bửu Trong cung này có những bức y môn và đại tự chạm khắc cầu kỳ và sơn son thếp vàng rực rỡ

Cung đệ tam tiếp theo, gồm năm gian gỗ lim có sáu hàng xa, ba hàng cột hoành

vuông, đường kính 30cm Phần điêu khắc của cung đệ tam đơn giản hơn nhưng kỹ thuật làm mộng, cách tạo dáng, xâm mộng cũng khá đẹp Hai bẩy ở gian giữa chạm khắc long hóa vân ám Đặc biệt nhất là ba bức y môn lộng lẫy kết hợp giữa chạm bong

và chạm lộng Phía trên y môn chạm “lưỡng long chầu nhật” Phần dưới được chia ô làm các trụ lưng kiểu dải lụa, chạm các hình long mã, hổ phù, rùa, trúc hóa, mai hóa cách điệu Cung đệ tam có hai ban thờ đơn giản, đều bằng gỗ, thờ Công đồng Tứ phủ

và Bà Chúa Bản đền

Cung đệ nhị thu hẹp lại còn ba gian, thờ Tứ vị chầu Bà và Tam tòa Quan lớn Ba

sập thờ Tam tòa Quan lớn phía ngoài, được chạm nổi mặt hổ phù, “thao thiết” ở bốn góc Trên sập thờ giữa, có hai khám nhỏ thờ quan Hoàng Bảy (bên trái) và Hoàng Mười (bên phải), sơn áo màu vàng, ngồi ở tư thế khoanh chân, tay đặt lên đầu gối Bàn thờ Tứ vị chầu Bà nhỏ, phía trong, sát chính cung Trên bàn có một khám thờ mái chóp, sơn son thếp vàng, chạm lộng hình rồng phượng Trong khám có bốn pho tượng (cao 30cm) mặc áo màu xanh, đở, trắng, vàng

Cung đệ nhất là chính cung khép kín ở trong cùng, bao gồm ba gian khung gỗ

làm theo kiểu mái cuốn lợp ngói ta Trên ban thờ có ba khám thờ Tam toà thánh Mẫu tượng bằng đồng gồm: Mẫu đệ nhất Liễu Hạnh, mặc áo đỏ được đặt chính giữa; Mẫu

đệ nhị áo xanh bên trái và Mẫu đệ tam áo trắng bên phải

Trang 35

Trong Phủ còn lưu giữ được nhiều câu đối, đại tự, hoành phi có giá trị Điều đặc biệt là phủ Vân còn có hệ thống văn bia rất có giá trị về lịch sử, đặt dưới ngũ vân lâu 3 tầng ở mặt tiền, cùng với hệ thống đồng trụ tường hoa khiến tổng công trình nội trùng thiềm, ngoại chữ quốc ở đây vừa bố cục chặt chẽ, vừa đẹp, đáp ứng yêu cầu hành hương, du lịch, xứng đáng là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, được nhà nước xếp hạng năm 1975

Cách bào trí trong các cung ở Phủ Vân Cát được biểu hiện ở sơ đồ 2.2 (trang 35)

2.1.3 Lăng chúa Liễu

Tương truyền năm 1937, Vua Bảo Đại lấy vợ đã lâu nhưng không có con nên Nam Phương Hoàng Hậu đến cầu tự ở đền Sòng và được Mẫu ban cho hoàng tử Bảo Long Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã báo mộng cho Hoàng Hậu biết mộ của mình ở ngôi Miếu xứ cây đa Phủ Giầy Để trả ơn đó Vua Bảo Đại đã cho dựng lăng để tạ ơn Mẫu Liễu Hạnh Năm 1938, vua Bảo đại đã cho hội xuân Kinh triều đình Huế tiến hành hưng công xây dựng khu lăng Mẫu hoàn toàn bằng đá xanh và 60 búp sen hồng, trên khu đất rộng 1030m2 ở cánh đồng xứ Cây Đa

Lăng mộ Chúa Liễu nằm trên cồn Cá Chép, nằm bên cạnh phủ chính Tiên Hương Lăng được xây bằng đá, chạm trổ rất đẹp Lăng xây kiểu hình vuông mỗi cạnh 24m Từ ngoài vào trong tạo 5 lớp tường hoa theo cấp độ khác nhau, tường trong cao hơn tường ngoài, do vậy tuy chiều cao các tường hoa đều 1m mà vẫn thấy rõ sự vươn lên phần mộ, hình tượng như bốn mái che bốn phía cho thân mộ và bốn mặt tường hoa đều có cửa lên mộ, mỗi cửa lại có một bình phong làm kiểu cuốn thư, đục chạm hoa lá cách điệu nghệ thuật Mỗi cạnh tường hoa có hai trụ góc, hai trụ cổng do vậy mỗi vòng tường có 12 trụ, trên đặt đấu và một búp sen, khiến năm vòng tường có 60 búp sen, đây

là con số tròn trĩnh một hội (60) mà thuyết âm dương đã đề cập Họa tiết trang trí trên tường hoa cũng không đơn điệu, lớp ngoài tạo chấn song, lớp thứ hai tạo chữ “thọ”, lớp thứ ba chạm nổi chữ “vạn” và nền là kiểu trang trí “cẩn quy” (hình con rùa) đều đặn

Trang 36

Sơ đồ 2.2: Sơ đồ bài trí bên trong các cung ở Phủ Vân Cát

[Nguồn: Đạo Mẫu ở Việt Nam của Ngô Đức Thịnh [40]]

Trang 37

Lớp thứ tư chạm các vòng tròn lồng vào nhau và lớp trên cùng tạo hình ống hương bao quanh phần mộ Các trụ cổng của 5 vòng tường hoa đều chạm chỉ, tạo đấu, chạm câu đối mà nét chữ thật tài hoa, gợi cảm Họa tiết và chữ ở vòng tường hoa cũng toát lên ý nghĩa trường tồn và từ thiện

Trung tâm của lăng là ngôi mộ Thánh Mẫu ghép bằng đá cao hình tám cạnh, chạm khắc theo hình quẻ dịch Hướng chính của lăng là hướng Tây quay về phía núi Tiên Hương Từ bốn cửa phía Đông, Tây, Nam, Bắc đều lên được phần mộ Mộ tạo hình bát giác, mỗi cạnh dài 1m Thân mộ trên có lợi loe ra, rồi vát lên thành mái, nhưng vẫn để lộ phần đất trồng cỏ đường kính 2,60m, là đường thông âm – dương không thể thiếu Mỗi cạnh ở phần mái vát lại được soi chỉ và tạo 21 bông hoa nhỏ, như

21 “núm vú” khiến tất cả quanh mộ có 168 bông hoa nhỏ như “vú mẹ”, do vậy phần

mộ vừa đẹp, vừa công phu, lại rất có ý nghĩa về nguyên lí Mẹ Bao quanh lăng mộ là vườn cây bóng mát quanh năm, có 4 cột trụ cao to bốn góc, tạo thành cảnh quan khu lăng mộ thêm trang nghiêm, long trọng

Theo nhiều tài liệu thì trước kia khu lăng mộ Thánh Mẫu không có nhà cho thủ

từ ở, nhưng hiện nay thì đã xuất hiện nơi ở của thủ từ và bao quanh khu lăng mộ là có hàng rào bằng sắt Bên cạnh khu lăng mộ còn có ngôi nhà một gian trong đó điện thờ được bài trí như sau: Ban thờ Mẫu nằm chính giữa, từ ngoài bước vào thì bên phải ngay cạnh ban thờ Mẫu là ban thờ Bà Cai Bản mệnh, tiếp là ban thờ đức Thánh Trần Bên trái của Ban thờ Mẫu là ban thờ Quan Lớn Đệ Nhất và ban thờ Nhị Vị Cô Nương Lăng Mẫu hiện nay đã trở thành một di tích không thể thiếu được khi mỗi khách hành hương vê với lễ hội Phủ Dầy Và ngày càng nhiều các du khách về thăm quan dâng hương lên mộ phần để bày tỏ tấm lòng thành kính đối với Mẹ

2.1.4 Phủ Bóng - Nguyệt Du Cung

Phủ Bóng hay còn gọi là Đền Cây Đa Bóng, hay Phủ Bóng - Nguyệt Du Cung,

có chính xác từ bao giờ thì chưa rõ, nhưng có lẽ ít nhất cũng khoảng 200 năm Ngôi đền này trước đây chỉ là một ngôi đền nhỏ, đến thời vua Thành Thái ( 1889 - 1906), cụ Đồng quan Trần Vũ Thực đã để tâm xây dựng và mở rộng Đền Cây Đa Bóng - Nguyệt

Trang 38

Du Cung bấy giờ đã có điện thờ nguy nga, tráng lệ có lầu chuông cao đẹp, tượng Thánh Mẫu được đúc bằng đồng, bát hương chuông đồng, chống đồng to đẹp tráng lệ… Trải qua các cuộc chiến tranh, ngôi đền đã bị tàn phá và xuống cấp chỉ còn lại nền móng Nhiều năm trở lại đây với tâm huyết bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá vốn cổ của cha ông, Ban Quản lý nhà đền đã trùng tu xây dựng ngôi đền rất khang trang to đẹp tạo điều kiện cho khách thập phương về chiêm ngưỡng thăm viếng

Nguyệt Du Cung là một công trình kiến trúc tâm linh, khang trang với 4 cung trùng thềm điệp ốc Phía ngoài sân đền là Tam Quan mái cong hoành tráng, với lầu chuông thật uy nghi Nhiều người từng nói: Đền Phủ Dày mà chưa đến đền Cây Đa Bóng-Nguyệt Du Cung thì coi như chưa đến Phủ Dầy Theo các nhà Phong thuỷ học nhận xét khu di tích địa linh này là một chốn linh thiêng: Phía trước Đền là tiền đường

có hướng chầu vào khu lăng mộ Đức Thánh Mẫu, phía đằng sau dựa vào đỉnh núi Côi, hai bên tả hữu đều có Thanh Long, Bạch Hổ cân bằng Bên tả Thanh Long có thế uốn lượn hiền hoà, ôm bao Hữu Bạch Hổ có thế cao đầy, vun vút Nhìn từ xa xa Đền Phủ Bóng - Nguyệt Du Cung trông giống hệt như một chiếc Ngai Quan lớn rất vững trãi và

uy nghi nằm ở ngay trung tâm của Quần thể Di tích Tâm linh Phủ Dày

Trong đền còn lưu giữ một số hiện vật cổ rất quý giá từ thời Lê, thời Nguyễn

Có thể kể đến pho tượng Mẫu cổ bằng đồng, cao khoảng 60 cm Hiện pho tượng này được đặt tại cung Mẫu Đệ Nhất Một chiếc trống đồng cổ được đúc theo kiểu trống da,

có tang và đai trống, nhưng âm thanh chẳng khác gì trống đồng Đông Sơn Chiếc trống này được đúc thời Vua Thành Thái, tức năm Giáp Thìn (1904) do tri phủ Nguyễn Hưng Trần Tướng Công cùng phu nhân cống tiến Đặc biệt, tại đền còn lưu giữ hai tấm bia đá xanh ngọc bích tựa đề “Nguyệt Du cung bi ký” đều khắc vào năm Bảo Đại thứ 4 (1929) Ngoài ra, trong đền có một số cổ vật quý như đôi chéo có khắc chữ chìm, bát hương lớn bằng sứ cao 50 cm, in chìm dòng chữ “Tiên Hương - Nguyệt Du Cung”…

Như vậy, có thể thấy quần thể di tích Phủ Dày đã có sự sắp xếp tương đối hoàn

chỉnh Trong hệ thống thờ tự có tính toán đặt thứ tự từng cung nhưng cũng có hơi khác một chút về hình thức ở một số nơi: có Tam tòa Thánh Mẫu, Ngọc hoàng Thượng đế,

Tứ vị Chầu bà, hàng cô, hàng cậu, những người có công, cha mẹ của Mẫu Các chi

Trang 39

tiết trang trí trong nội thất điện thờ như cửa võng, xà, cột được sơn son thếp vàng rất lộng lẫy Các họa tiết chạm khắc đều tinh xảo Cách bày biện, trang trí cũng tuân thủ lối cổ truyền theo quy tắc nhất định: điện thờ nào cũng có ông Lốt, các tranh, tượng, đồ thờ mang màu sắc dân gian biểu thị về ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ tuân thủ theo luật phong thủy, âm dương ngũ hành của triết lý phương Đông Các di tích tín ngưỡng thờ Mẫu ngoài yếu tố tâm linh còn là những di tích lịch sử văn hóa chứa đựng nhiều nghệ thuật dân gian đặc sắc về tạo hình, âm nhạc, múa hát, trang phục, màu

sắc… “Trong cái môi trường đầy chất tự nhiên có phần hoang sơ, huyền bí ấy, lại là

một thế giới thần linh đầy chất thế tục, con người với những tượng, tranh, đồ lễ, trang trí đẹp đẽ, rực rỡ, không một chút đe dọa, mà đầy gợi cảm Người ta bước đến đây để

mà cầu xin tài lộc, sức khỏe của đời sống hiện tại Phải chăng đó là sự đối lập, tương phản nên một nét riêng của kiến trúc đền, phủ thờ Mẫu…” [40, tr.248]

2.2 Đối tƣợng thờ tự

Quần thể di tích phủ Giầy như đã nói có khoảng 17 di tích khác nhau trong bán kính chừng 1km có mật độ di tích đậm đặc hiếm có Nơi đây có đối tượng thờ tự đa dạng, nhưng nổi bật hơn cả trong quần thể di tích đó chính là thánh Mẫu Liễu Hạnh Trong quần thể di tích Phủ Giầy, Mẫu Liễu Hạnh được coi như vị thần chủ quan trọng, không phải là chỉ được thờ tại 1 di tích mà người được thờ ở rất nhiều di tích khác nhau trong quần thể Có thể nói, tại quần thể di tích Phủ Giầy Nam Định, Mẫu Liễu Hạnh chính là đối tượng thờ chính, nổi bật nhất trong cả hệ thống đối tượng thờ tự

Huyền tích, huyền thoại xoay quanh Mẫu Liễu Hạnh từ xưa cho đến nay có rất nhiều ý kiến khác nhau, theo “Quảng Cung linh từ phả ký”, “Quảng Cung linh từ bi ký” và “Cát Thiên tam thế thực lục” hiện đang lưu giữ ở địa phương do Ban quản lý di tích - danh thắng của tỉnh Nam Định sưu tầm, được Hội đồng khoa học lịch sử Nam định thẩm định thân thế và sự tích bà Phạm Tiên Nga (Thánh Mẫu Liễu Hạnh) như sau:

Vào đầu thời Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vị Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam có ông Phạm Huyền Viên, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ấp Nhuế Duệ, cũng xã Vị Nhuế (nay là thôn Vi Nhuế, xã Yên Đồng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định) Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích

Trang 40

đức nhưng hiềm một nỗi dã ngoài 40 mà chưa có con Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con Từ đó bà có thai Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà, và bà sinh một bé gái Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, canh cửi quán xuyến công việc gia đình

Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1462) thân phụ của nàng qua đời Hai năm sau mẫu thân của nàng cũng về nơi tiên cảnh Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ

ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng ( nay là thôn La Ngạn ở đây có đền thờ Phụ thân và Mẫu thân của Phạm Tiên Nga) Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện (Lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi)

Bà đã ủng hộ tiền của và công sức giúp đân đắp đê ngăn nước Đại Hà từ bên kia phía núi Tiên Sơn (nay là núi Gôi) đến Tịch Nhi (nay chính là đường đê Ba Sát, nối Quốc lộ 10 chạy dọc xã đến ngã ba Vọng Đây cũng chính là con đường nối di tích Phủ Dày với Phủ Quảng Cung Cùng với việc đắp đê, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dậy dỗ con em nhà nghèo được học hành

Năm 36 tuổi, Bà đến bờ Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ thân phụ và thân mẫu

Sau đó hai năm, Bà tới tu sửa chùa Sơn Trường -ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn - Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn xá - Bình Lục, Hà Nam Tại chùa Đồn xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán , lập ra làng xã, dậy dân trồng dâu, nuôi tằm , dệt vải

Ngày đăng: 04/05/2021, 16:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w