LỜI CẢM ƠNĐề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tại Khu di tích lịch sử Cách mạng địa đạo Kỳ Anh, xã Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam được hoàn thành nhờ vào sự
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
QUẢNG NAM
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2019
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tại Khu di tích lịch sử
Cách mạng địa đạo Kỳ Anh, xã Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
được hoàn thành nhờ vào sự nỗ lực của bản thân, sự động viên của gia đình, sự giúp đỡ của bạn bè và đặc biệt là sự giúp đỡ của quý Thầy Cô Khoa Lịch Sử Vì vậy, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy Cô Khoa Lịch Sử - Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã tận tâm giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong thời gian học tập tại trường
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn đến Thầy Tăng Chánh Tín đã tận tình
hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, sữa chữa khóa luận cũng như chỉ dậy kinh nghiệm cho tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Cảm ơn đến tất cả các du khách, người dân đang sinh sống tại Khu di tích lịch sử Địa đạo Kỳ Anh đã dành khoảng thời gian quý báu của mình để trả lời câu hỏi cũng như cung cấp thông tin giúp tôi hoàn chỉnh đề tài khóa luận
Cuối cùng cho tôi gửi lời cảm ơn đến Ban Quản lý Khu Di tích lịch sử Địa đạo Kỳ Anh, Ban lãnh đạo xã Tam Thăng và đặc biệt là chú Huỳnh Kinh Ta hướng dẫn viên tại điểm đã giúp đỡ tôi trong việc cung cấp tài liệu, số liệu, đóng góp ý kiến cho đề tài khóa luận này
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng, nỗ lực trong quá trình thực hiện nhưng do còn nhiều lý do hạn chế chủ quan và khách quan nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi kính mong nhận được sự góp ý chân thành của quý Thầy Cô, bạn bè để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Đà Nẵng, ngày 26 tháng 04 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 3Mục Lục
MỞ ĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
3.1 Mục đích nghiên cứu 9
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4.1 Đối tượng nghiên cứu 10
4.2 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của đề tài 11
6.1 Về mặt khoa học 11
6.2 Về mặt thực tiễn 11
7 Bố cục của khóa luận 12
PHẦN NỘI DUNG 13
1.1 Khái quát về địa đạo ở Việt Nam 13
1.1.1 Khái niệm, phân loại địa đạo 13
1.1.1.1 Khái niệm địa đạo 13
1.1.1.2 Phân loại địa đạo 13
1.1.1.3 Quy trình hình thành và phát triển của địa đạo ở Việt Nam 14
1.1.2 Vai trò của địa đạo 16
1.1.3 Một số địa đạo tiêu biểu ở Việt Nam 18
1.1.3.1 Địa đạo Củ Chi 18
1.1.3.2 Địa đạo Vịnh Mốc 20
1.1.4 Thực trạng phát triển du lịch tại một số địa đạo ở Việt Nam 21
1.1.4.1 Địa đạo Củ Chi 21
1.1.4.2 Địa đạo Vĩnh Mốc 23
1.2 Giới thiệu về xã Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 23
1.2.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển 23
1.2.2 Điều kiện tự nhiên 26
1.2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 27
1.2.4 Đặc điểm văn hóa, dân cư 28
Trang 41.3 Địa đạo Kỳ Anh xã Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 29
1.3.1 Quá trình hình thành địa đạo Kỳ Anh 29
1.3.2 Đặc điểm, vai trò của địa đạo Kỳ Anh 32
1.3.3 Các giá trị của địa đạo Kỳ Anh 35
1.3.3.1 Giá trị lịch sử, văn hóa 35
1.3.3.2 Giá trị cảnh quan sinh thái 37
1.3.3.3 Giá trị giáo dục truyền thống 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI ĐỊA ĐẠO KỲ ANH XÃ TAM THĂNG, THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM 39
2.1 Một số tài nguyên được khai thác phát triển du lịch tại địa đạo Kỳ Anh 39
2.1.1 Đình cổ Thạch Tân 39
2.1.2 Địa đạo Vĩnh Bình 41
2.1.3 Địa đạo Thạch Tân 41
2.1.4 Nhà liệt sĩ Phạm Sĩ Thuyết 42
2.1.5 Giếng nước nhà ông Hồ Kỳ 43
2.1.6 Làng nghề dệt chiếu 44
2.2 Hiện trạng địa đạo Kỳ Anh hiện nay 45
2.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật du lịch 47
2.4 Chính sách đầu tư cho phát triển du lịch 48
2.5 Số lượng, thành phần khách 49
2.6 Các hoạt động của du khách tại địa đạo Kỳ Anh 50
2.7 Một số tour, tuyến du lịch khai thác địa đạo Kỳ Anh 51
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI ĐỊA ĐẠO KỲ ANH XÃ TAM THĂNG, THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM 53
3.1 Cơ sở đưa ra giải pháp 53
3.1.1 Chính sách quy hoạch, phát triển du lịch của địa phương 53
3.1.2 Ý kiến phản hồi của du khách 54
3.1.3 Nguyện vọng của người dân địa phương 55
3.2 Một số đề xuất, giải pháp phát triển du lịch tại địa đạo Kỳ Anh 57
3.2.1 Giải pháp nghiên cứu tôn vinh giá trị của địa đạo Kỳ Anh 57
3.2.2 Giải pháp quy hoạch tổng thể địa đạo Kỳ Anh 58
3.2.3 Giải pháp đầu tư bảo tồn, tôn tạo địa đạo Kỳ Anh 58
3.2.4 Giải pháp phát triển hệ thống, cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật 59
Trang 53.2.5 Giải pháp đa dạng hóa sản phẩm du lịch, xây dựng tour tuyến du lịch 60
3.2.6 Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch 63
3.2.7 Giải pháp quảng bá tuyên truyền 64
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 68
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Dân tộc Việt Nam hôm nay đang từng bước hội nhập sâu rộng với thế giới, chuyển mình bước sang một trang sử mới, trang sử của hạnh phúc, tự do và mơ ước về một tương lai tốt đẹp Thế nhưng, trong tim mỗi người Việt Nam hôm nay vẫn khắc sâu những ký ức hào hùng về một thời đấu tranh gian khổ của dân tộc Chiến tranh đã lùi xa hơn 40 năm, nhưng những bài học kinh nghiệm quý báu về phát huy sức mạnh toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc vẫn có giá trị thời đại sâu sắc Trong đó, bài học về xây dựng căn cứ địa cách mạng, xây dựng hậu phương kháng chiến là một trong những bài học quan trọng cần được giữ gìn và phát huy
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhận định: “Muốn khởi nghĩa phải có căn cứ
địa, muốn kháng chiến phải có hậu phương” [4; tr.360] Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, trong hai cuộc trường chinh kháng chiến, chúng ta luôn đặt vấn đề xây dựng hậu phương là một nhiệm vụ quan trọng, vận dụng được địa hình và sức mạnh của nhân dân tạo nên sức mạnh hiệp đồng trong đánh giặc Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều căn cứ địa đã được hình thành với nhiều hình thức sáng tạo, độc đáo Chúng ta đã tận dụng tối đa những ưu thế về địa hình, tự nhiên, con người để xây dựng nên nhiều căn cứ địa cách mạng với mục đích không chỉ dùng sức mà còn phải dùng trí để chiến đấu lâu dài với địch
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quảng Nam là vùng đất chiến lược quan trọng của cả ta và địch Với vị trí chiến lược nằm của mình, Quảng Nam
là nơi diễn ra những cuộc đụng độ, giao tranh quyết liệt giữa lực lượng quân giải phóng và đối phương Đây cũng chính là mảnh đất diễn ra trận đánh Mỹ đầu tiên
trên chiến trường miền Nam, được Bác Hồ tặng danh hiệu: “Trung dũng kiên
cường, đi đầu diệt Mỹ”
Để làm nên những thắng lợi trên chiến trường Quảng Nam, không thể không nói đến đóng góp của các căn cứ địa cách mạng trên địa bàn tỉnh Trong đó, địa đạo Kỳ Anh, xã Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ là một biểu tượng sáng ngời cho
Trang 7sự mưu trí, dũng cảm và sáng tạo của nhân dân Quảng Nam nói chung và Tam Kỳ nói riêng
Là một địa đạo nổi tiếng trong thời kỳ kháng chiến nhưng sau khi đất nước thống nhất, chiến tranh lùi xa; địa đạo Kỳ Anh dường như bị rơi vào quên lãng Đã
có một thời gian dài, địa đạo Kỳ Anh thiếu sự quan tâm của chính quyền địa phương nên bị xuống cấp, hoang phế
Những năm gần đây, du lịch ngày một phát triển cả trong nước và ngoài nước, Quảng Nam là một điểm đến với hai di sản văn hóa thế giới, du lịch trở thành mũi nhọn của nền kinh tế địa phương Trong khi nhiều địa đạo ở các địa phương khác như địa đạo Vịnh Mốc ở Quảng Trị, Củ Chi ở Thành phố Hồ Chí Minh được khai thác du lịch rất tốt thì địa đạo Kỳ Anh vẫn chưa nhận được nhiều
sự quan tâm của chính quyền địa phương trong việc khai thác vào phát triển du lịch
Công tác nghiên cứu tôn vinh giá trị của địa đạo cũng như tuyên truyền quảng bá về di tích còn nhiều hạn chế, thông tin chưa đến được với nhiều người, việc tìm hiểu về địa đạo không dễ dàng Tuy nhiên, với giá trị và tiềm năng vốn có của mình, trong tương lai không xa địa đạo Kỳ Anh hoàn toàn có thể trở thành một địa điểm du lịch hấp dẫn của địa phương, hòa mình vào bức tranh du lịch của tỉnh nhà, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch và tăng cường giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ
Là một người con của quê hương Tam Kỳ, tôi ý thức được giá trị to lớn của địa đạo Kỳ Anh trong lịch sử cũng như trong thời đại ngày nay Với mong muốn tìm hiểu, tôn vinh giá trị của di tích lịch sử này, cũng như nhìn nhận thực trạng, đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh khai thác phát triển du lịch tại đây, tôi đã quyết
định chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tại Khu di tích lịch
sử Cách mạng địa đạo Kỳ Anh, xã Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trải qua quá trình đấu tranh và giành độc lập lâu dài, các thế hệ cha anh đi trước để lại rất nhiều bài học lịch sử quý báu cho thế hệ hôm nay Hệ thống địa đạo
Trang 8là một minh chứng rõ ràng về giá trị lịch sử, sự thông minh, mưu lược và óc sáng tạo độc đáo của quân và dân ta trong thời kỳ kháng chiến
Địa đạo nói chung và địa đạo Kỳ Anh nói riêng là vấn đề nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước Tuy nhiên những nghiên cứu còn rải rác, chưa tập trung và hệ thống lại thành một tác phẩm hoàn chỉnh Một số tác phẩm có
đề cập, nghiên cứu về căn cứ địa cách mạng, địa đạo có thể nhắc đến như:
Tác phẩm: “Đường lối quân sự của Đảng là ngọn cờ trăm trận trăm tháng
của chiến tranh nhân dân ở nước ta” (NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973) của
Đại tướng Võ Nguyên Giáp có đề cập về căn cứ địa dưới nhiều góc độ như: khái niệm, hình thức phát triển từ thấp đến cao của căn cứ địa, cơ sở xây dựng, vai trò…
Hay công trình của Viện lịch sử quân sự Việt Nam: “Hậu phương chiến tranh nhân
dân Việt Nam (1945 – 1975) (NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997)
Bên cạnh đó, còn có một số bài viết, công trình nghiên cứu về địa đạo của
địa phương trong cả nước như: “Địa đạo Củ Chi vào top công trình ngầm bậc nhất
thế giới” của Như Bình đăng trên trang mạng www.vnexpress.net, “Di tích lịch sử địa đạo Củ Chi” của Khắc Đoài trên trang www.diadaocuchi.com.vn, “Cuộc sống trong lòng đất” của Nam Việt trên trang www.vov.vn
Những công trình nghiên cứu có đề cập trực tiếp đến địa đạo Kỳ Anh có thể
nhắc đến như: “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Nam”, “Lịch sử Đảng bộ thành phố
Tam Kỳ”(1954 – 1975) NXB Đà Nẵng, năm 2012 Lịch sử đấu tranh cách mạng
của tỉnh Quảng Nam nói chung và Tam Kỳ nói riêng đã khái quát về sự hình thành, vai trò và đóng góp của địa đạo Kỳ Anh trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc
Cuốn “Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Tam
Thăng” (1930 – 1975) đã ghi lại, tôn vinh công lao và sự hi sinh to lớn của cán bộ,
lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương; trong đó có nhắc đến quá trình hình thành và lịch sử đấu tranh của địa đạo Kỳ Anh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
Tác phẩm “Di tích và thắng cảnh Quảng Nam” của giáo sư Trần Quốc
Vượng chủ biên, do Sở Văn hóa và thông tin tỉnh Quảng Nam xuất bản năm 2002,
có giới thiệu sơ lược về địa đạo Kỳ Anh như lịch sử ra đời và mô tả khái quát về
Trang 9địa đạo; hay hồ sơ “Lý lịch di tích địa đạo Kỳ Anh” của sở VHTT tỉnh Quảng Nam
- Đà Nẵng biên soạn năm 1994
Một số đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên như: “ Đánh giá tiềm năng
và xây dựng giải pháp phát triển du lịch địa đạo Kỳ Anh” hay: “Bước đầu tìm hiểu vai trò của địa đạo Kỳ Anh trong kháng chiến chống Mỹ” có nhắc đến những tiềm
năng du lịch mà địa đạo đang có đồng thời cũng đề ra một số giải pháp để đưa địa đạo trở thành một địa điểm tham quan lịch sử được biết đến nhiều hơn cũng như khẳng định vai trò lịch sử to lớn của địa đạo Kỳ Anh
Nhìn chung, các tài liệu và một số công trình nghiên cứu trên đây đã phần nào khái quát hóa và nêu bật được giá trị lịch sử cũng như thực trạng phát triển du lịch của địa đạo Kỳ Anh hiện nay Trên cơ sở tham khảo, kế thừa những kết quả nghiên cứu đi trước, tôi sẽ tập trung đi sâu làm rõ hơn nữa những giá trị của địa đạo Kỳ Anh; đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch tại đây
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Qua việc thực hiện đề tài này, tôi muốn tìm hiểu về giá trị của địa đạo Kỳ Anh, thực trạng phát triển du lịch của địa đạo Kỳ Anh hiện nay và đưa ra một số giải pháp để đưa địa đạo trở thành một điểm tham quan du lịch được biết đến nhiều hơn trong tương lai Tìm ra những hướng đi đúng đắn, kết hợp các điểm di tích khác trong khu vực địa đạo cũng như đưa nghề làm chiếu vào việc khai thác phát triển du lịch của địa phương, tạo thêm thu nhập và cơ hội việc làm cho người dân nơi đây
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Công trình tập trung làm rõ giá trị của địa đạo Kỳ Anh, trong đó nhấn mạnh đến những giá trị có thể khai thác phát triển du lịch Nêu bật được thực trạng phát triển du lịch tại địa đạo Kỳ Anh hiện nay, tìm hiểu được nguyên nhân tại sao địa đạo vẫn chưa được nhiều người biết đến Từ đó, tìm ra giải pháp giải quyết những vấn đề tồn đọng và đề ra một số giải pháp đưa du lịch tại khu vực địa đạo Kỳ Anh phát triển hơn
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về địa đạo Kỳ Anh mà chủ yếu là trên địa bàn hai thôn: thôn Thạch Tân và Vĩnh Bình, xã Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
Cùng với một số di tích liên quan trong khu vực địa đạo Kỳ Anh như: đình
cổ Thạch Tân, nhà liệt sĩ Phạm Sĩ Thuyết, giếng ông Kỳ và làng nghề dệt chiếu
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu về thực trạng phát triển du lịch tại di tích lịch sử địa đạo Kỳ Anh là một vấn đề khá phức tạp, cần nghiên cứu một cách cẩn thận và có chọn lọc nên phải lựa chọn nhiều nguồn tư liệu và nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau
5.1 Nguồn tư liệu
Thực hiện đề tài này, tôi thu thập, khai thác các nguồn tư liệu có liên quan đến địa đạo Kỳ Anh như: Tác phẩm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Giáo sư Trần
Quốc Vượng như cuốn: “Di tích và thắng cảnh Quảng Nam” hay những công trình lịch sử địa phương như “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Nam”, “ Lịch sử Đảng bộ
thành phố Tam Kỳ”, thành quả các công trình nghiên cứu của các bậc tiền bối, học
giả đi trước, các bài báo trên phương tiên truyền thông, các trang báo mạng, công tác điền dã thực tế ở địa phương
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng
phương pháp lịch sử và phương pháp logic…
Trang 11Các phương pháp chuyên ngành đề tài vận dụng một số phương pháp như:
- Phương pháp tổng hợp tài liệu: sau khi tìm kiếm và thu thập tài liệu tôi
tiến hành tổng hợp lại tất cả tài liệu có được phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài của mình
- Phương pháp lịch sử: là phương pháp dựa trên các sự kiện lịch sử phản
ánh những hoạt động của con người cũng như tác động qua lại của những hoạt động đó trên những lĩnh vực khác nhau và mô tả, khôi phục lại quá khứ gần như giống xưa kia nó từng diễn tả, từng tồn tại
- Phương pháp logic: là phương pháp xem xét các sự kiện lịch sử trên những
nét khái quát, không nhằm vẽ lại bức tranh lịch sử cụ thể mà hướng tới việc rút ra những kết luận khoa học có tính tổng quát, những nhận xét, đánh giá chung khách quan hướng tới việc tìm tòi bản chất, cái tất yếu của lịch sử
- Phương pháp điền dã (thực địa): là phương pháp nghiên cứu rất cơ bản, sử
dụng để thu thập số liệu, thông tin chính xác, khách quan về đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn: tôi tiến hành đến địa điểm nghiên cứu và phỏng
vấn một số lão thành cách mạng tại địa phương về địa đạo Kỳ Anh, cũng như phỏng vấn một số nghệ nhân tại làng dệt chiếu và gia đình liệt sĩ Phạm Sĩ Thuyết
Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng một số phương pháp khác để hỗ trợ trong quá trình thực hiện khóa luận
6 Đóng góp của đề tài
6.1 Về mặt khoa học
Đề tài này là công trình nghiên cứu khoa học có tính chất hệ thống cụ thể, nêu lên được thực trạng phát triển du lịch tại địa đạo Kỳ Anh hiện nay, đề ra giải pháp phục vụ cho việc phát triển du lịch tại địa phương trong tương lai Từ đó, sẽ đóng góp vào những chủ trương, chính sách pháp triển du lịch tại địa phương được hoàn thiện hơn
6.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả công trình nghiên cứu này, giúp cho chúng tôi bổ sung thêm lượng kiến thức còn thiếu Ngoài ra, còn giúp cho những đối tượng muốn nghiên cứu , tìm hiểu về thực trạng phát triển du lịch tại địa đạo Kỳ Anh hiện nay Có ý nghĩa
Trang 12trong việc đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng và thúc đẩy sự tăng trưởng về kinh tế của địa phương Đồng thời, đóng góp vào nguồn tư liệu về lịch sử - văn hóa – kinh tế của tỉnh nhà nói chung
7 Bố cục của khóa luận
Đề tài ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, cấu trúc đề tài bao gồm 3 chương:
CHƯƠNG I: Tổng Quan Về Địa Đạo Kỳ Anh, Xã Tam Thăng, Thành Phố Tam Kỳ, Tỉnh Quảng Nam
CHƯƠNG II: Thực Trạng Phát Triển Du Lịch Tại Địa Đạo Kỳ Anh Xã Tam Thăng, Thành Phố Tam Kỳ, Tỉnh Quảng Nam
CHƯƠNG III: Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Phát Triển Du Lịch Tại Địa Đạo Kỳ Anh Xã Tam Thăng, Thành Phố Tam Kỳ, Tỉnh Quảng Nam
Trang 13PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA ĐẠO KỲ ANH, XÃ TAM THĂNG,
THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM 1.1 Khái quát về địa đạo ở Việt Nam
1.1.1 Khái niệm, phân loại địa đạo
1.1.1.1 Khái niệm địa đạo
Địa đạo là công trình quân – dân sự trong chiến tranh Việt Nam, của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam,
và là đường hầm bí mật, đào ngầm sâu dưới đất; hào ngầm Hệ thống địa đạo này dùng để trú ẩn, cơ động chiến đấu và được đào ở một số địa điểm chiến đấu khác nhau tùy vào vùng chiến sự Địa đạo làm nơi trú ngụ của lực lượng du kích, cách mạng nhằm chống lại các cuộc tấn công của phía quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa
Trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt” có nêu khái niệm về địa đạo: “Địa đạo là
đường hầm bí mật, đào ngầm sâu dưới đất, hào ngầm [10, tr.314]
Theo tác phẩm “Từ điển bách khoa Quân sự Việt Nam” thì “Địa đạo là
đường hầm quân sự ở những nơi đất cứng và ổn định mực nước ngầm thấp, có khẩu độ hẹp, nhưng rất dài và có nhiều nhánh, có thể nhiều tầng, thường không lát nóc, lát vách Địa đạo vừa có tác dụng phòng tránh, che giấu lực lượng, cất giấu phương tiện vật chất, vừa giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ trong cơ động lực lượng đánh địch, nên nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương thường dùng để bám trụ lâu dài và hoạt động chiến đấu trong vùng địch chiếm hoặc vùng sát địch”
[26]
Tóm lại, có thể hiểu địa đạo là hệ thống đường hầm đào sâu trong lòng đất, dùng để trú ẩn và cơ động chiến đấu, cũng như cất giữ lương thực, cứu thương Địa đạo là sản phẩm của chiến tranh nhân dân, là kết quả của óc sáng tạo và sức lao động biền bỉ của quân và dân ta trong kháng chiến
1.1.1.2 Phân loại địa đạo
Trang 14Hiện nay, trên cơ sở khảo cứu một số tài liệu, hiện vẫn chưa có một phân loại cụ thể nào đối với địa đạo Trong phạm vi khóa luận này, em mạnh dạn phân loại theo một số tiêu chí sau:
Theo đặc điểm tự nhiên, địa hình: có thể phân thành địa đạo ở vùng núi,
trung du, đồng bằng hay địa đạo ở vùng ven biển
Theo cách xây dựng địa đạo: địa đạo nằm sâu trong lòng đất, địa đạo theo
dạng hầm ngầm, giao thông hào
Theo địa điểm xây dựng địa đạo: địa đạo ở vùng địch tạm chiếm, địa đạo ở
vùng ven các đô thị hay địa đạo ở các căn cứ cách mạng
Nhìn chung, dù phân loại theo tiêu chí nào thì địa đạo cũng có những vai trò
và tầm quan trọng nhất định đối với việc du kích trong chiến đấu, và trú ẩn của nhân dân và bộ đội ta
1.1.1.3 Quy trình hình thành và phát triển của địa đạo ở Việt Nam
Trong quá trình hình thành, dựng nước và giữ nước của dân tộc, đất nước ta
đã trải qua nhiều cuộc đấu tranh anh dũng và kiên cường Trong quá trình chiến đấu và đấu tranh anh dũng đó đã để lại cho thế hệ mai sau vô vàn những di tích, công trình kiến trúc độc đáo mang nét văn hóa dân tộc và thể hiện được sự sáng tạo, linh hoạt của lớp cha anh đi trước
Chạy dọc theo lãnh thổ đất nước ta có rất nhiều di tích lịch sử liên quan đến quá trình đấu tranh của dân tộc trong đó có thể kể đến những căn cứ cách mạng trong núi sâu, dưới lòng đất, những ngôi chùa, đó là những cơ sở cách mạng, nơi nuôi giấu cán bộ hoạt động ngày đêm, du kích trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước Một trong số những công trình vô cùng độc đáo đó là
hệ thống địa đạo tại Việt Nam
Cách mạng tháng Tám thành công (1945), nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa vừa ra đời đã phải đương đầu với vô vàn khó khăn trước mắt Đất nước nằm
trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhanh
chóng đề ra nhiều giải pháp để cứu vãn và giải quyết tình thế trước mắt Ngày 19/12/1946 theo lời kêu gọi của Bác nhân dân bước vào cuộc kháng chiến trường
kỳ với thực dân Pháp So về trang bị quân sự và số lượng quân ta thua hẳn, để đảm
Trang 15bảo được lực lượng chiến đấu lâu dài và cơ động trong chiến đấu buộc bộ đội ta phải có chiến lược hoạt động trong lòng địch Do vậy, nhân dân, cán bộ, du kích đã nghĩ ra việc đào các hầm bí mật để trú ẩn, cất dấu vũ khí, và cơ động khi địch ném bom hay càn quét
Hầm bí mật được nhân dân đào có nhiều sáng tạo và phát triển theo thời gian
để phù hợp với việc chiến dấu, ẩn nấp, sau đó là cất giấu lương thực, vũ khí, rồi cứu thương, hầm phổ biến nhất là đào trong lòng đất, độ dài từ 3 mét đến 5 mét,
có nắp đậy bí mật, có lỗ thông hơi, nắp hầm được ngụy trang kỹ lưỡng sao cho giống với mặt đất nơi hầm được đào nhất Miệng hầm được đào nhỏ phù hợp với vóc dáng nhỏ, linh hoạt của người Châu Á Bình thường cán bộ, du kích trong vùng địch tạm chiếm sẽ được dân che chở, nhưng khi có đợt càn quét phải nhanh chóng di chuyển xuống hầm để tránh bị phát hiện Điều bất tiện của hầm bí mật là khi bị phát hiện quân ta sẽ bị bao vay và nhanh chóng bị cô lập, không lối thoát, nên việc hi sinh là điều khó tránh khỏi
Do đó, nhân dân và bộ đội ta sáng tạo ra việc kéo dài căn hầm bí mật cho phép cơ động khi bị bao vây Không chỉ có một miệng hầm lên xuống mà có nhiều miệng hầm để lên xuống, từ đó địa đạo ra đời để phục vụ, đáp ứng nhu cầu của cách mạng lúc bấy giờ Đây là sự đòi hỏi của chiến tranh, mở đầu cho những nghệ thuật ấn tượng, độc đáo của quân và dân ta Không chỉ tránh được thế cô lập khi địch càng quét, phát huy sự linh hoạt cho lực lượng còn tránh việc phụ thuộc gây nguy hiểm cho nhân dân Bộ đội và du kích có thể sinh sống một cách bình thường dưới địa đạo, nấu ăn, ngủ nghỉ
Trên lãnh thổ Việc Nam có rất nhiều địa đạo ra đời trong thời gian kháng chiến chống Pháp như: địa đạo Đám Toái (1945 – 1954) ở Quảng Ngãi, hệ thống địa đạo huyện Phú Ninh (1946 – 1954) ở Quảng Nam, địa đạo Củ Chi (1946 – 1948)…
Đã có tiền đề từ thời chống Pháp nên đến thời kỳ chống Mỹ địa đạo càng phát triển và được hình thành nhiều hơn như: địa đạo Căn cứ khu Ủy miền Đông (1960), địa đạo Kim Long (1962 – 1964) ở Bà Rịa – Vũng Tàu, địa đạo Tam Phước (1962 – 1968) ở tỉnh Đồng Nai, địa đạo Vĩnh Mốc (1965) ở Quảng Trị, địa
Trang 16đạo Khe Trái (1967) ở tỉnh Thừa Thiên Huế, địa đạo Kỳ Anh (1965 – 1967), địa đạo Bùng Binh (1974) ở tỉnh Đồng Nai,
Những địa đạo được hình thành và sử dụng trong những giai đoạn khác nhau
từ thời kỳ chống Pháp đến chống Mỹ Nhờ có hệ thống địa đạo mà bộ đội ta có thể vượt qua nhiều khó khăn, kiên cường bám trụ chiến đấu đưa dân ta tới ngày độc lập, toàn thắng
1.1.2 Vai trò của địa đạo
Năm 1965 trước những dòng thác ngày càng lớn mạnh, vùng giải phóng ở
miền Nam ngày càng được mở rộng, nguy cơ phá sản của chiến dịch “ chiến tranh
đặc biệt” ngày càng đến gần; đế quốc Mỹ vội vã đưa quân vào miền Nam Việt
Nam Với 18 vạn quân viễn chinh và chư hầu với ý đồ mở rộng cục diện chiến
tranh xâm lược “chiến tranh cục bộ” được thay thế bằng hình thức hai gọng kìm
“tìm diệt và bình định” Mỹ - Ngụy hi vọng rằng sẽ bình định được chiến trường
miền Nam trong một thời gian ngắn nên chúng tiến hành nhiều cuộc càng quét và đánh phá trên khắp các chiến trường miền Nam Việt Nam
Trong tình hình thực tế và yêu cầu cách mạng để giữ vững căn cứ đồng thời tạo mối liên hoàn giữa các vùng và thành quả quân và dân ta đã đạt được Thực
hiện chủ trương chung của Đảng “ta kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm
lược của Đế quốc Mỹ dù ở bất kỳ tình huống nào” Theo lời kêu gọi của Ban chấp
hành Trung ương Đảng “chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của dân tộc
từ Nam chí Bắc” (Nghị quyết hội nghị lần thứ 12 của ban chấp hành TW Đảng)
Quân và dân ta đã bắt tay xây dựng nhiều địa đạo trên khắp chiến trường miền Nam với vai trò như:
Thứ nhất, đào hầm chiến đấu, cất giữ lương thực, cung cấp tiếp tế lương
thực cho các vùng lân cận
Mới đầu địa đạo được hình thành với vai trò hỗ trợ quân và dân chiến đấu tại các điểm chiến đấu, và cất giữ lương thực trong quá trình chiến đấu lâu dài vì sự càng quét của định rất mạnh mẻ Chúng lùng sục khắp nơi, bắt dân ta đi phát hoang, với vũ khí hiện đại chúng nhất quyết đánh chiếm cho bằng được chiến
trường miền Nam và cũng để “tìm diệt và bình định” nên quá trình chiến đấu gặp
Trang 17nhiều khó khăn Cộng với đó, trong thời gian 1965 – 1967 chúng gây nhiều cuộc thảm sát người dân vô tội nên việc giữ bí mật và cung cấp lương thực trong quá trình chiến đấu được đặt lên cao
Khi địa đạo được được hoàn thành việc cất giấu lương thực và tiếp tế cho các vùng chiến dẫn được thuận lợi và an toàn hơn, góp phần ổn định đời sống tinh thần cũng như vật chất cho bộ đội ta trong quá trình chiến đấu lâu dài
Đa số các cuộc vận chuyển lương thực đều diễn ra ban đêm và đa số bằng đường sông để tiện cho việc ngụy trang và che giấu bộ đội Trong suốt quá trình đó quân ta được sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình từ nhân dân
Thứ hai, là nơi tiếp nhận cán bộ, bộ đội, du kích về trú ngụ sau những cuộc
Từ năm 1967 – 1968 Mỹ cho quân đóng ở một số vùng rìa và cho quân lùng sục, càng quét để tiêu diệt Việt cộng và bộ đội ta tại đây Nhưng nhờ có địa đạo mà mọi hoạt động của cách mạng diễn ra bình thường trong lòng đất
Thứ ba, nơi cứu chữa thương binh và dự trữ thuốc men hỗ trợ hoặc kịp thời
ứng cứu cho quân và dân tại các vùng chiến sự
Sau các cuộc tấn công “tìm diệt và bình định” của Mỹ, thương vong của
quân và dân nhiều vô kể, nhưng vẫn có những nơi để chạy chữa dưới các địa đạo,
để kịp thời chửi trị cho các chiến sĩ Nhờ đó mà các cuộc tấn công và càn quét của
Mỹ thất bại, kế hoạch lấn chiếm lại 50% nông thôn trong năm 1967 của chúng không thành công
Thêm vào đó cuộc tổng tấn công và nổi dậy vào Tết Mậu Thân 1968 của
quân và dân ta làm cho nguy cơ của chiến dịch “chiến tranh cục bộ” Mỹ thật sự
thất bại và tìm mọi cách để cứu vãn Đặc biệt, sau tết Mậu Thân 1968, Mỹ - Ngụy
Trang 18mở cuộc hành quân càn quét lớn hơn vào những nơi chúng nghi ngờ là có bộ đội ta
ẩn náu, tiến hành cho máy bay ném bom, những nhờ có nơi cứu thương và thuốc men dưới địa đạo nên phần nào chạy chữa kịp thời cho quân ta
Thứ tư, là pháo đài tạo nên những trận đánh bất ngờ vào ót của kẻ thù góp
phần làm tiêu hao sinh lực địch
Khi địch định mai phục và mở rộng càng quét để tiêu diệt bộ đội ta thì những đường địa đạo cũng như những miệng địa đạo là nơi quân đội ta tổ chứng mai phục và tấn công bất ngờ Gây nên không ít khó khăn và hoảng sợ cho quân đội Mỹ lúc bấy giờ
Trong suốt những năm chống Mỹ cứu nước, địa đạo không chỉ đóng vai trò
là nơi trú ngụ của bộ đội, nơi chứa lương thực, thuốc men đạn dược, pháo đài kiên
cố mà còn là nơi chứa đựng biết bao tình thương yêu của nhân dân dành cho các chiến sĩ và kịp thời cứu chữa biết bao thương binh thoát khỏi bàn tay tử thần
1.1.3 Một số địa đạo tiêu biểu ở Việt Nam
1.1.3.1 Địa đạo Củ Chi
Địa đạo Củ Chi là một hệ thống phòng thủ trong lòng đất ở huyện Củ Chi, cách Thành phố Hồ Chí Minh 70 km về hướng tây-bắc Hệ thống này được Việt Minh và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đào trong thời
kỳ Chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam Hệ thống địa đạo bao gồm bệnh xá, nhiều phòng ở, nhà bếp, kho chứa, phòng làm việc, hệ thống đường ngầm dưới lòng đất Hệ thống địa đạo dài khoảng 250 km và có các hệ thống thông hơi tại vị trí các bụi cây Địa đạo Củ Chi được xây dựng trên vùng đất được mệnh danh
là "đất thép", nằm ở điểm cuối Đường mòn Hồ Chí Minh Trong Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã sử dụng hệ thống địa đạo này để tấn công vào Sài Gòn
Năm 2015, khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động do có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sáng tạo
Ngày 12 tháng 2 năm 2016, khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi đón nhận Bằng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt
Trang 19Địa đạo Củ Chi là cách gọi chung của các hệ thống địa đạo khác nhau, được hình thành từ khoảng thời gian 1946-1948, trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương Cũng có ý kiến cho rằng việc đào địa đạo khởi đầu do dân cư khu vực này tự phát thực hiện vào năm 1948
Cư dân khu vực đã đào các hầm, địa đạo riêng lẻ để tránh các cuộc bố ráp càn quét của quân đội Pháp và để cung cấp nơi trú ẩn cho quân Việt Minh Mỗi làng xây một địa đạo riêng, sau đó do nhu cầu đi lại giữa địa đạo các làng xã, hệ thống địa đạo đã được nối liền nhau tạo thành một hệ thống địa đạo liên hoàn, phức tạp, về sau phát triển rộng ra nhiều nơi, nhất là 6 xã phía Bắc Củ Chi và cấu trúc các đoạn hầm, địa đạo được cải tiến trở thành nơi che giấu lực lượng, khi chiến đấu có thể liên lạc, hỗ trợ nhau
Trong thời gian 1961–1965, các xã phía Bắc Củ Chi đã hoàn thành tuyến địa đạo trục gọi là "xương sống", sau đó các đoàn thể, cơ quan, đơn vị phát triển địa đạo nhánh ăn thông với tuyến trục hình thành những địa đạo liên hoàn giữa các ấp, các xã và các vùng
Đến năm 1965, có khoảng 200 km địa đạo đã được đào Về quy mô, hệ thống địa đạo có tổng chiều dài toàn tuyến là trên 200 km, với 3 tầng sâu khác nhau, tầng trên cách mặt đất khoảng 3 m, tầng giữa cách mặt đất khoảng 6 m, tầng dưới cùng sâu hơn 12 m Lúc này, địa đạo không chỉ còn là nơi trú ẩn mà đã trở thành nơi sinh sống, cứu thương, hội họp, kho chứa vũ khí,
Quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã liên tục tấn công vào hệ thống địa đạo bằng đủ phương tiện: bom, bơm nước vào địa đạo, phun hơi ngạt vào các miệng hầm nhưng do hệ thống địa đạo được thiết kế có thể cô lập từng phần nên bị hư hại không nhiều
Quân đội Mỹ đã áp dụng nhiều biện pháp để phát hiện các cửa vào (được ngụy trang) và phát hiện các cửa thông gió (thường được đặt giữa các bụi cây) nhưng thường không hiệu quả
Biện pháp hữu hiệu nhất là sử dụng chó nghiệp vụ Ban đầu có một số cửa vào và lỗ thông gió bị chó nghiệp vụ phát hiện do chó ngửi được hơi người Tuy
Trang 20nhiên, sau đó, những người ở dưới địa đạo đã dùng xà phòng của Mỹ đặt ở cửa hầm và cửa thông gió nên chó nghiệp vụ không thể phát hiện ra
1.1.3.2 Địa đạo Vịnh Mốc
Địa đạo Vịnh Mốc (thôn Vịnh Mốc, xã Vĩnh Thạch, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) là một công trình quân - dân sự trong Chiến tranh Việt Nam của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm chống lại các cuộc tấn công của phía Việt Nam Cộng hòa và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Hệ thống địa đạo tồn tại ở phía Bắc sông Bến Hải, cầu Hiền Lương trong suốt những năm 1965-1972
Trong những năm 1960, chính quyền Việt Nam Cộng hòa của Ngô Đình Diệm không tôn trọng hiệp định Genève, 1954 và không tiến hành tổng tuyển
cử như dự định Cùng với việc tấn công vào các phong trào nổi dậy ở miền Nam, Mỹ đã ra sức khiêu khích, gây chiến với lực lượng Việt Nam dân chủ cộng hòa bảo vệ giới tuyến ở Vĩnh Linh Năm 1965, Mỹ đã tạo ra sự kiện Vịnh Bắc
Bộ để bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc bằng không lực, trong
đó Vĩnh Linh là mục tiêu đánh phá hàng đầu
Trong suốt những năm 1965 - 1972, Vĩnh Linh liên tục bị đánh phá với tổng cộng hơn nửa triệu tấn bom đạn các loại Tính bình quân, mỗi người dân ở đây đã phải gánh chịu 7 tấn bom đạn Mỹ
Theo thống kê, có đến 18.000 ngày công được huy động để đào địa đạo Vịnh Mốc trong hai năm Địa đạo này được đào ở vùng đất đỏ bazan từ năm 1965 và hoàn thành 2 năm sau đó, năm 1967 với tổng chiều dài trục chính hơn 2.000 m Cứ 4 m có 1 căn hộ gia đình, rộng 0,8 m, sâu 1,8 m, dùng cho 4 người ở Không khí làm cho đất sét trong lòng địa đạo càng ngày càng cứng chắc hơn nên
nó vẫn tồn tại gần như nguyên bản cho đến tận ngày hôm nay Hệ thống địa đạo gồm có 3 tầng: tầng thứ nhất sâu 12 m, dùng để cơ động chiến đấu và trú ẩn, tầng thứ hai cách mặt đất 15 m, được dùng làm nơi ở và sinh hoạt của nhân dân và tầng cuối cùng sâu 23 m, được dùng để cất giấu lương thực và vũ khí Ngay cả tầng sâu nhất, 23 m vẫn còn cao hơn mực nước biển đến 3 m, nên mọi sịnh hoạt trong địa đạo vẫn diễn ra bình thường vào mùa mưa Toàn bộ hệ thống địa đạo Vịnh Mốc có
13 cửa thông ra ngoài, trong đó có bảy cửa thông ra biển, sáu cửa thông lên đồi,
Trang 21mỗi cửa hầm được coi như một lỗ thông hơi Tại các cửa hầm đều có lắp đặt gỗ chống sập và thường xuyên được gia cố để chống sụt lở Cư dân địa đạo ít khi ra ngoài Họ chỉ ra ngoài lúc cần thiết, lúc không nguy hiểm
Cuộc sống dưới địa đạo thiếu ánh sáng, ẩm ướt vào mùa đông, nóng bức vào mùa hạ, điều kiện vệ sinh không đảm bảo nên hầu như đa số cư dân địa đạo đều bị ký sinh trùng, bạc da và các bệnh về xương, mắt Cuộc sống đưới lòng đất không phù hợp với con người, luôn thiếu ánh sáng Hầu hết các làng hầm đều tiết kiệm các chất liệu thắp sáng như dầu hoả, mỡ, chỉ những lúc cần thiết như hội họp, cấp cứu bệnh nhân, chăm sóc trẻ sơ sinh mới dùng đèn Ngoài ra, thiếu thốn lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm cũng là vấn đề lớn nhất đối với
cư dân địa đạo
Cuộc sống bình thường đã tồn tại suốt nhiều năm trong lòng đất với đầy đủ khái niệm của sự sống như học hành, vui chơi, giải trí, yêu thương, sinh con trong một khoảng không gian 1,8 m của đường hầm
Để an toàn duy trì nòi giống, để có người nối dõi, các gia đình, họ tộc, cư dân địa đạo Vịnh Mốc phải chia ra sống ở nhiều hầm khác nhau Trong thời gian sống trong địa đạo ở Vĩnh Linh nói chung, đã có 60 đứa trẻ được sinh ra, riêng địa đạo Vịnh Mốc đã có 17 đứa trẻ ra đời trong lòng địa đạo Ðịa đạo là nơi ở của nhân dân trong những năm chiến tranh ác liệt, lúc đông nhất có khoảng 1.200 người sinh sống Trong gần 2.000 ngày đêm tồn tại, trong lòng địa đạo không một người nào
bị thương và đã có 17 em bé chào đời, đủ nói lên giá trị và ý nghĩa của địa đạo Vịnh Mốc Có nhiều căn hầm được tạo ra để làm phòng hộ sinh và nhà nuôi dạy trẻ
1.1.4 Thực trạng phát triển du lịch tại một số địa đạo ở Việt Nam
1.1.4.1 Địa đạo Củ Chi
Ngày nay, địa đạo Củ Chi còn khoảng 120 km được bảo vệ và đã trở thành một điểm du lịch hấp dẫn cho du khách đến thăm Thành phố Hồ Chí Minh Du khách, đặc biệt là cựu chiến binh, thường chọn điểm tham quan này khi đến thăm Thành phố Hồ Chí Minh Du khách được trải nghiệm cuộc sống dưới địa đạo
Trang 22như những cư dân thực thụ trước đây (được tham quan, ăn uống những món ăn của
cư dân địa đạo trước đây)
Trong 20 năm hoạt động, khu di tích đón hơn 20 triệu lượt khách trong và ngoài nước tới tham quan, tìm hiểu
Lượng khách tham quan: khách du lịch được coi là yếu tố trọng tâm của hoạt động du lịch nói chung và Củ Chi nói riêng Lượng khách qua các năm đều tăng bao gồm cả khách nước ngoài và khách Việt Nam Điều đó thể hiện sự hấp dẫn và thu hút của địa đạo Củ Chi đối với mọi đối tượng khách – nhất là khách quốc tế
Về doanh thu: khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi đã phục vụ và tổ chức kinh doanh các loại hình du lịch dịch vụ khá thành công, vì vậy doanh thu đơn vị ngày càng tăng đáp ứng nhu cầu về chi phí thường xuyên và nâng cao đời sống của cán
bộ nhân viên, có tích lũy về đầu tư xây dựng, tôn tạo và tu bổ di tích
Về chính sách marketing để thu hút khách du lịch: nhìn chung lượng khách đến với khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi hàng năm đều tăng tuy không đồng đều nhưng địa đạo Củ Chi cũng đã cố gắng nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, nâng cao phong cách phục vụ và tăng cường công tác tiếp thị, quảng cáo nhằm thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch trong nước
Về công tác nghiên cứu thị trường: khu di tích Địa đạo Củ Chi có 02 khu cực Bến Đình và Bến Dược, khách có thể tùy thích chọn địa điểm để tham quan Trong tổng số khách nước ngoài đến Địa đạo Củ Chi thì có khoảng 90% đến Bến Đình và 95% đến Bến Dược
Khách nội địa thường đi du lịch vào các ngày lễ tết và đông nhất vào mùa
hè, chính vì vậy khu di tích ngoài việc khai thác nguồn khách nội địa từ các công
ty lữ hành, khu di tích đã không ngừng tìm kiếm nguồn khách mới từ các sở ban ngành trên địa bàn thành phố và các tỉnh khác
Bên cạnh đó khu di tích còn tiến hành nghiên cứu thị trường thông qua các
tư liệu như: Báo, tạp chí du lich để kịp thời nắm bắt tình hình du lich, nhu cầu của
du khách, tình hình các công ty lữ hành Các báo cáo, quy định, quyết định của Sở Văn hóa, thể thao và du lịch Tp Hồ Chí Minh
Trang 23Ngoài ra, khu di tích còn tổ chức phát phiếu điều tra cho khách để tìm hiểu thông tin, nhu cầu, thị hiếu của từng đối tượng khách
1.1.4.2 Địa đạo Vĩnh Mốc
Là một địa điểm nổi tiếng trong tour du lịch hoài niệm (DMZ) thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan, hàng năm Khu di tích địa đạo Vịnh Mốc, xã Vĩnh Thạch, huyện Vĩnh Linh (tỉnh Quảng Trị) thu hút từ 6-7 vạn người đến chiêm ngưỡng “huyền thoại trong lòng đất,” thế nhưng hiện nay công tác phục vụ du khách còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế
Sau chiến tranh, khu di tích địa đạo Vịnh Mốc tồn tại như một nhân chứng lịch sử Bắt đầu mở cửa đón khách du lịch từ năm 1983, hiện nay địa đạo Vịnh Mốc là một trong những điểm hấp dẫn của tuyến du lịch nổi tiếng DMZ thu hút nhiều du khách đặc biệt là những cựu chiến binh Mỹ
Họ đến để chiêm ngưỡng pháo đài kiên cố, tác phẩm của máu và nước mắt cùng ý chí kiên cường của người dân Vịnh Mốc Mùa cao điểm du lịch tập trung từ tháng Ba đến tháng Tám, song từ đầu năm đến nay, địa đạo Vịnh Mốc đã đón gần 20.000 lượt khách trong và ngoài nước, ngày cao điểm đón trên 1.500 lượt khách
Một niềm tự hào, vinh dự lớn đến với người dân Vĩnh Linh trong dịp lễ 30/4 – kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, địa đạo Vịnh Mốc và làng hầm Vĩnh Linh được đón nhận bằng Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt
Cùng với di tích đôi bờ Hiền Lương-Bến Hải, di tích Thành Cổ Quảng Trị
và 6 di tích trên tuyến đường Trường Sơn thuộc địa bàn Quảng Trị… đây là hệ thống Di tích quốc gia đặc biệt thu hút mạnh mẽ du khách đến với đất thép Quảng Trị
1.2 Giới thiệu về xã Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
1.2.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển
Tam Thăng là một xã đồng bằng thuộc thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam Cách trung tâm thành phố Tam Kỳ khoảng 7km về phía Đông Bắc Là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng
Phía Bắc giáp xã Bình Nam; phía Tây Bắc giáp xã Bình An, huyện Thăng Bình; phía Nam giáp phường An Phú, thành phố Tam Kỳ; phía Tây giáp xã Tam
Trang 24An, Tam Đàn, huyện Phú Ninh; phía Đông giáp xã Tam Thanh và Tam Phú, thành phố Tam Kỳ
Nói về quá trình hình thành xã Tam Thăng theo sách “Dư địa chí” của
Nguyễn Trãi và “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn có ghi chép một số dữ liệu,
vào đầu thế kỷ XV (1402) dưới thời Hồ Hán Thương, các tỉnh Nam Trung Bộ thuộc đất Chiêm Động, được gọi là Nam giới – biên giới phía Nam của nước Đại Việt Phần lớn vùng đất Tam Thăng còn hoang vu, dân cư thưa thớt
Năm 1471, sau khi bình định xong vùng đất Nam giới, vua Lê Thánh Tông cho di dân vào khai phá và lập ra đạo Thừa Tuyên Quảng Nam, gồm 3 phủ: Thăng Hoa( Quảng Nam), Tư Nghĩa (Quảng Ngãi), Hoài Nhơn( Bình Định) Vùng đất Tam Thăng ngày nay thuộc huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa; cũng từ đó trên vùng đất này, ngày càng có nhiều người Việt đến định cư, khai hoang, lập nên làng, xã
Thời vua Thiệu Trị (1841), huyện Hà Đông thuộc phủ Thăng Hoa Sau đó, phủ Thăng Hoa đổi thành phủ Thăng Bình
Năm 1906, huyện Hà Đông tách khỏi phủ Thăng Bình và nâng lên thành phủ
Hà Đông, sau đổi thành phủ Tam Kỳ Năm 1916, sau khi tách phần phía Tây thành lập huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ còn lại 7 tổng với 178 xã ( bao gồm thành phố Tam Kỳ, huyện Núi Thành và huyện Phú Ninh ngày nay) Xã Tam Thăng ngày nay gồm các làng Thạch Tân, Tân Thái thuộc tổng Phú Quý, phủ Tam Kỳ và các làng
Mỹ Cang, Vĩnh Bình, Thăng Tân thuộc tổng Hưng Thạnh, phủ Thăng Bình
Tháng 02 năm 1946, chuẩn bị cho đợt bầu cử hội đồng nhân dân cấp xã, chính quyền cách mạng chủ trương bỏ cấp Tổng; huyện, phủ thống nhất tên gọi chung là huyện và tiến hành hợp xã lần thứ nhất Phủ Tam Kỳ đổi tên thành huyện Tam Kỳ, 169 làng được xác lập thành 52 xã; xã Quý Thạnh bao gồm tên các xã (làng) cũ: Thạch Tân, Tân Thái, Mỹ Cang, Vĩnh Bình, Thăng Tân
Năm 1949, thực hiện chủ trương của Ủy ban Kháng chiến – Hành chính tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, huyện Tam Kỳ tiến hành hợp xã lần thứ hai, từ 52 xã còn
15 xã Xã xã Tam Thăng được hợp nhất từ xã Quý Thạnh và các làng: Vịnh Giang, Phương Tân (vùng biển), Xuân Quý thuộc huyện Tam Kỳ; Du Nghĩa (xóm vạn
Trang 25ghe), Đông Tác ( Đông An, Tây An), Thái Đông, Tịch Yên, Thái Nam thuộc huyện Thăng Bình Số dân của xã lúc này là 13.590 người (1949)
Trong thời kháng chiến chống Mỹ, địa bàn xã Tam Thăng được mở rộng Cuối năm 1954, trước khi chính quyền Trung ương của Ngô Đình Diệm đổi tên xã Tam Thăng thành xã Kỳ Anh, ngụy quyền tại chỗ đã có bước đi ban đầu: cắt 3 thôn Thạch Tân, Xuân Quý, Mỹ Cang thành xã Tân Xuân; cắt 3 thôn Vĩnh Bình, Tân Thái, Thăng Tân thành xã Tân Bình Sau đó chúng sáp nhập 2 xã này thành xã Kỳ Thái
Đầu năm 1956, ngụy quyền Sài Gòn sáp nhập một số thôn thuộc xã Kỳ Kim,
Kỳ Hòa vào xã Kỳ Thái và đổi tên thành xã Kỳ Anh Địa giới xã Kỳ Anh gồm 11 thôn ( ấp): Tân Thái, Thạch Tân, Tĩnh Thủy, Quý Thượng, Ngọc Mỹ, Kim Đới, Thăng Tân, Vĩnh Bình, Mỹ Cang, Xuân Quý, Ấp Nam Tháng 7 năm 1962, chính quyền Sài Gòn lập tỉnh Quảng Tín trên cơ sở phần đất phía Nam của tỉnh Quảng Nam Xã Kỳ Anh thuộc quận Tam Kỳ, tỉnh Quảng Tín
Tháng 4 năm 1963, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Quảng Nam huyện Tam Kỳ được chia thành ba đơn vị: huyện Bắc Tam Kỳ, Nam Tam Kỳ và Thị xã Tam Kỳ, xã Kỳ Anh thuộc huyện Bắc Tam Kỳ Đến tháng 10 năm 1964 sáp nhập thôn Thái Nam của xã Bình Nam, huyện Thăng Bình vào xã Kỳ Anh, lúc này xã
kỲ Anh gồm 12 thôn Tháng 5 năm 1968, để thuận lợi trong việc chỉ đạo phong trào cách mạng theo yêu cầu chỉ đọa của cấp trên xã Kỳ Anh tách thành 2 xã là Kỳ Anh Đông và Kỳ Anh Tây
Kỳ Anh Đông gồm các thôn : Tĩnh Thủy, Kim Đới, Quý Thượng, Ngọc Mỹ,
Trang 26Đến cuối năm 1976, thôn Tĩnh Thủy được sáp nhập vào xã Tam Thanh, thôn Ngọc Mỹ, Quý Thượng, ấp Nam vào xã Tam Phú Tháng 6 năm 2008, thôn Kim Đới được tách thành 2 thôn là thôn Kim Đới và thôn Kim Thành
Hiện nay xã Tam Thăng gồm 9 thôn: Thái Nam, Thạch Tân, Mỹ Cang, Xuân Quý, VĨnh Bình, Tân Thái, Thăng Tân, Kim Đới, Kim Thành
1.2.2 Điều kiện tự nhiên
Diện tích tự nhiên toàn xã là 2.056 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 1.367,4 ha, chiếm 66,51% diện tích tự nhiên( tính đến tháng 8 năm 2013)
Địa hình Tam Thăng tương đối bằng phẳng nhưng bị chia cắt bởi các sông suối, ao hồ nên vào mùa mưa một số ao hồ thường xuyên bị ngập lụt, ảnh hưởng đến đời sống sản xuất của nhân dân Đất đai của Tam Thăng chủ yếu được hình thành trên nền đất phù sa cổ Quá trình biển lùi dần về phía Đông tạo nên dãy đất cát nhỏ hẹp trải dài ở Tam Thăng cũng như các xã ven biển ở tỉnh Quảng Nam Đất đai chủ yếu là đất ruộng xen kẻ thổ cát hình thành nên những cánh đồng lúa nhỏ hẹp nhưng chất đất tốt, có màu, độ ẩm cao nên thuận lợi cho việc thâm canh, tăng năng suất lúa
Thổ cát đất nhẹ tơi xốp, giữ được nước trong mùa khô nên phù hợp với các loại cây hoa màu như khoai, đậu, lịch sử thổ nhưỡng ở Tam Thăng gắn với hiện tượng biến động lần thứ 3 của vùng đất Tam Kỳ với sự thay đổi từ ao hồ, sông, đầm trở thành đồng ruộng Hệ thống sông lạch của xã Chiêm Đàn cũ ( nay thuộc
xã Tam An) hợp cùng với hệ thống sông lạch phía Nam của huyện Lệ Dương ( Thăng Bình ngày nay) chảy qua Thạch Tân đổ vào vùng sông đầm ( nay thuộc xã Tam Thăng) hình thành nên một hệ thống sông đầm rộng lớn Trải qua một thời gian dài do thiên nhiên và bàn tay con người nên hệ thống sông đầm bị lấp dần hình thành nên vùng đất trù phú thuận lợi cho canh tác nông nghiệp
Khí hậu Tam Thăng thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hằng năm 25,5 độ C với lượng mưa trung bình là 2500ml, độ ẩm trung bình 83% ; lượng mưa phân bố không đều giữa các mùa trong năm Mùa khô bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 8 âm lịch; mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12 âm lịch Vào mùa khô thì thường có gió nồm biển đông có lúc xen lẫn từng đợt gió lào thổi về gây nắng
Trang 27nóng gay gắt Mùa mưa thường có gió mùa đông bắc cộng với gió đông thổi vào gây mưa lớn vào cuối tháng 9 đến tháng 11 âm lịch Bão lụt thường xuyên xuất hiện hằng năm gây thiệt hại không nhỏ đến sản xuất và ảnh hưởng đến đời sống nhân dân
1.2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
Ở các làng xã thuộc đất Tam Thăng qua bao đời cư dân chủ yến sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp Ngây từ khi mới lập đất, lập làng mãi về sau này diện tích đất sản xuất nông nghiệp không ngừng được khai hoang mở rộng So với các địa phương khác, ở Tam Thăng dưới chế độ thực dân phong kiến sự chiếm hữu ruộng đất của các địa chủ phú nông không nhiều Tuy nhiên, do phần lớn là đất các bạc màu, bị xâm nhập mặn, khó canh tác nên năng xuất rất thấp Một bộ phận nông dân không có ruộng trở thành cố nông phải đi làm thuê quanh năm sống thân phận
“cày thuê cuốc mướn” để sống
Cùng với nghĩa vụ Thuế với “Nhà nước bảo hộ” hằng năm người nghèo phải
đi phu, đi xâu, mỗi năm 2 – 3 đợt, mỗi đợt 20 – 30 ngày, tự túc lương thực, đến nơi rừng sâu nước độc phục dịch làm đường, khai thác mỏ vàng Bồng Miêu nhiều người đã bỏ mạng vì bệnh sốt rét rừng
Bên cạnh nghề nông nghiệp, ở Tam Thăng còn phát triển nghề truyền thống trồng cối, dệt chiếu ở làng Thạch Tân Cây cối ban đầu mọc tự nhiên Về sau người Việt vào định cư lâu dài ở vùng đất này tại vùng đất này mang theo nghề trồng lác dệt chiếu ở phía Bắc vào Từ đây, nhân dân biết khai thác các cánh đồng ven sống đầm đề trồng lác dệt chiếu Chiếu Thạch Tân ngày xưa nổi tiếng ở khắp vùng Quảng Nam Người Thạch Tân còn gánh chiếu đi bán khắp các huyện Trà My, Tiên Phước, Tam Kỳ, Thăng Bình hoặc theo ghe bầu ra tận Hội An, Đà Nẵng
Ở Vĩnh Bình có nghề đang lưới rớ để phục vụ cho nghề đánh bắt cá ở địa phương mà còn đi bán ở khắp các nơi trong tỉnh Người dân các thôn Mỹ Cang, Xuân Quý, Vĩnh Bình sống dọc theo sông đầm, sông Trường Giang còn có nghề đánh bắt cá nước ngọt như nghề rớ đáy, rớ quay, sáo, nò, nhưng sản lượng không đáng kể chủ yếu để phục vụ bữa ăn gia đình và một phần trao đổi các mặt hàng thiết yếu
Trang 281.2.4 Đặc điểm văn hóa, dân cư
Về văn hóa, trên địa bàn xã Tam Thăng chỉ có một trường học ở làng Thạch Tân do giáo Mai, giáo Toản và giáo Phiên dạy Nhưng chủ yếu chỉ có những con
em địa chủ nhà giàu mới có điều kiện theo học Vào thời thực dân Pháp, sống trong cảnh “một cổ hai tròng” nhưng nhân dân vẫn duy trì các hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống như hát bội, hát phương cấy, hát hò khoan Nhân dân vừa cấy, vừa hát để động viên nhau trong lao động Đêm đêm trai gái rủ nhau hát đối đáp nam nữ để thổ lộ tình cảm đôi lứa
Cả phủ Tam Kỳ chỉ có một nhà thương, dân nghèo không dám bước đến bệnh viện khi ốm đau cũng chỉ biết cầu trời khấn phật cúng tế thánh thần hoặc dùng các loại thuốc phương nam Sống trên mảnh đất được đổi bằng mồ hôi nước mắt của cha ông nên nhân dân ở các làng xã Tam Thăng luôn coi trọng truyền thống thờ cúng tổ tiên Ngay từ ngày lập làng nhân dân đã xây dựng đình làng để thờ các vị Tiền Hiền khai sinh ra các dòng họ các bật hiền nhân có công khai phá mảnh đất này Tiêu biểu cho các loại hình kiến trúc này là: Đình làng Vĩnh Bình và đình làng Thạch Tân
Bên cạnh những di tích văn hóa, xã Tam Thăng còn có nhiều di tích lịch sử găn liền với truyền thống đấu tranh cách mạng của quê hương mà tiêu biểu là di tích Bãi Sậy – Sông Đầm và di tích lịch sử cấp quốc gia Địa đạo Kỳ Anh
Tóm lại, cùng sinh sống trên một vùng đất không được thiên nhiên ưu đãi nhưng người dân Tam Thăng luôn giàu lòng yêu nước Trải qua nhiều thiên biến của lịch sử, mảnh đất Tam Thăng vẫn luôn giữ được truyền thống tốt đẹp của dân tộc đó là: ý thức cộng đồng làng xóm, ý thức dân tộc, tình yêu quê hương đất nước, cần xù sáng tạo trong lao động, đoàn kết, gắn bó tương thân, tương ái trong cuộc sống hằng ngày Tinh thần ấy đã được phát huy mạnh mẻ và trở thành sức mạnh tổng hợp để đánh đổ mọi thế lực xâm lược giải phóng dân tộc
Trang 291.3 Địa đạo Kỳ Anh xã Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
1.3.1 Quá trình hình thành địa đạo Kỳ Anh
Địa đạo Kỳ Anh như một chứng nhân lịch sự, một minh chứng cho cả quá trình hi sinh và chiến đấu đầy gian khổ của quân và dân Tam Thăng, mang một ý nghĩa to lớn và góp công lớn vào việc giải phóng Tam Kỳ
Tháng 8 năm 1964, tỉnh ủy Quảng Nam ra nghị quyết phát động quần chúng khởi nghĩa giải phóng đại bộ phận nông thôn đồng bằng, trong đó trọng điểm là giải phóng vùng đông quốc lộ I và vùng cát của các huyện Thực hiện chủ trương
đó, Đảng bộ Tam Kỳ đã chỉ đạo quân và dân Kỳ Anh vùng lên phá ấp chiến lược, giải phóng quê hương Kỳ Anh vào tháng 9/ 1964
Bước sang năm 1965 trước những cuộc cách mạng nổ ra ngày một lớn trên địa bàn cũng như khu vực chiến trường miền Nam Việt Nam và với tin tức nhận được Mỹ sẻ mở cuộc đổ bộ lớn vào chiến trường Miền Nam trong nay mai với một lực lượng càng quét lớn và vũ khí hiện đại Tháng 5 năm 1965, để cứu vãn sự sụp
đổ của chiến lược“chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ vội vàng xua quân vào miền Nam Việt Nam, cùng với quân ngụy và chư hầu, chúng thực hiện chiến lược “Bình
định nông thôn”, “Tiêu diệt và bình định” mở rộng chiến dịch “về làng” bắt bớ,
càn quét, đánh phá, lấn chiếm vùng giải phóng Yêu cầu cấp bách đối với cách mạng là phải tập trung cao độ và tìm hướng đi đúng đắn cho việc phòng ngự và chiến đấu tại đây Nhất là đối với khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng, Mỹ - Ngụy thể
hiện bản chất tàn bạo của chế độ thực dân kiểu mới, Mỹ thực hiện chiến dịch “đốt
sach, phá sạch, giết sach” ở khắp các vùng nông thôn Đối với xã Kỳ Anh là xã
được giải phóng và có phong trào cách mạng hoạt động mạnh nên địch tổ chức hành quân càn quét dữ dội, lùng ráp vây bắt nhiều chiến sĩ cách mạng và người dân
vô tội bị tra tấn, thủ tiêu
Từ năm 1965 – 1967 nhiều vụ thảm sát tàn khốc đã sảy ra, sát hại rất nhiều người vô tội như vụ thảm sát ở Thủy Bồ (Điện Bàn) làm 145 người chết gây phẫn nộ trong nhân dân trước sự độc ác của quân Mỹ - Ngụy Đặc biệt với các vùng được giải phóng trong tỉnh nói chung, trong đó có Tam Thăng Trước tình hình đó, cùng với cả huyện, tỉnh; Đảng bộ và nhân dân Kỳ Anh quyết tâm thực
Trang 30hiện phương châm “một tấc không đi, một ly không rời”, quyết “bám đất, bám
làng” tận dụng mọi thời cơ đánh địch Nhưng là một xã vùng cát, địa hình địa vật
bất lợi cho việc tác chiến, ẩn nấp lâu dài, địch càn sẽ phát hiện và tiêu diệt lực lượng ta dễ dàng
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, và hơn nửa là trước yêu cầu cách mạng căng thẳng lúc bấy giờ để giữ vững căn cứ đồng thời tạo mối liên hoàn giữa vùng đông Tam Kỳ và giữ vững thành quả mà nhân dân Tam Thăng đã giành được năm
1964 Quán triệt nghị quyết 15 của Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam vào tháng 5
năm 1965, hạ quyết tâm “Chưa giải phòng Miền Nam còn đánh, chiến tranh gì
cũng đánh, đối tượng nào cũng đánh, đông bao nhiêu cũng đánh và lâu bao nhiêu cũng đánh Chúng ta có nhiệm vụ đánh Mỹ trước tiên bằng 2 chân và 3 mũi để góp kinh nghiệm cho toàn miền Nam và góp phần đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ”; rất thẳng thắng và ngắn gọn như cách người miền Trung vẫn làm, Đảng bộ
và nhân dân Tam Thăng đã hạ quyết tâm cao thực hiện địa đạo trên toàn bộ các thôn xóm để làm nơi ẩn nấp cho cán bộ và bộ đội hoạt động tại địa phương tránh tổn thất khi địch đánh phá ác liệt bằng bom đạn và phi pháo
Ngày 1 tháng Giêng năm 1965 nhân dân Thạch Tân đào hầm chiến đấu, cất giữ lương thực mở đầu cho phong trào địa đạo, đánh giặc giữ làng trong toàn xã Tuy nhiên đầu năm 1966 Địa đạo mới hình thành, chưa nối tiếp liên hoàn và chưa
có sự bố trí hợp lý Khi địch càn vào làng do bị lộ miệng hầm tại vườn nhà ông Khanh địch kêu gọi đầu hàng nhưng cán bộ, dân quân chống trả ngoan cường, quyết liệt, 12 du kích xã đã hi sinh vì lúc đang hoạt động và nấp dưới địa đạo thì
bị phát hiện, chúng đã cho quân bủa vây vòng ngoài và ném lựu đạn nổ, lựu đạn cay xuống hầm rồi dùng rơm rạ hun khói vào địa đạo, 12 du kích biết rằng nếu thoát ra ngoài thì sẽ có thêm nhiều đoạn địa đạo khác bị phát hiện và sẽ có thương vong nhiều hơn nửa, đồng thời nơi ẩn náu và hoạt động của bộ đội ta tại đây sẽ không còn, chắc chắn chúng sẽ cho xe tăng thiết giáp san bằng làng thành bình địa, tác hại khôn lường, nguy cơ mất làng, mất nơi hoạt động là rất lớn Vì vậy, 12 du kích đã ôm nhau chết ngạt trong hầm
Trang 31Sau tổn thất to lớn ấy du kích đối phó địch ngay bằng phương thức “nối kết
và cách ly” Từ tháng 5 năm 1965 đào liên tục đến cuối năm 1967 thì hệ thống địa đạo được hoàn thành Cùng với thời gian này có địa đạo Củ Chi ( Tp Hồ Chí Minh), địa đạo Vĩnh Mốc ( Quảng Trị), địa đạo Phú An – Phú Xuân (Đại Lộc) được ra đời
Địa đạo Kỳ Anh được đào trên phần lớn các thôn xóm trong xã bao gồm 9 thôn: Thái Nam, Thạch Tân, Vĩnh Bình, Mỹ Cang, Tân Thái, Thăng Tân, Kim Đới, Ngọc Mỹ, Quý Thượng, 3 thôn còn lại không đào: Xuân Quý, Tĩnh Thủy và Ngọc Nam Trong đó bề thế và to lớn nhất hơn là địa đạo tại 2 thôn Thạch Tân và Vĩnh Bình Bởi nơi đây ngoài các yếu tố hỗ trợ tự nhiên như: Cây cối rậm rạp, kênh
mương, đình, nhà dân liền kề, dưới tầng đất cát trắng còn có một lớp đất cóc ( đá
ong), khó bị sụp lún
Do lúc này địch thường xuyên bắn phá, ném bom dữ dội và hành quân lấn chiếm Nên công việc đòi hỏi khẩn trương, nhanh chóng, bí mật nên mọi hoạt động đào địa đọa đều diễn ra ban đêm vào khoảng 2h sáng, để đảm bảo an toàn cho nhân dân và đảm bảo bí mật trong quá trình hoạt động Ban đầu công việc được giao cho những đồng chí đáng tin cậy nhưng dần dần về sau địch đánh phá ác liệt nhưng yêu cầu cách mạng phải hoàn thành sớm, nên huy động tất cả nhân dân tham gia vào hoạt động đào địa đạo không phân biệt trai gái, già trẻ, lớn bé với những dụng cụ thô sơ: cuốc xẻng, xà beng, rỗ, trọc, Tuy đời sống thiếu thốn và gặp nhiều khó khăn trong tình thế lúc bấy giờ, ban ngày phải đối phó với đich, ban đêm ra sức đào địa đạo cho hoàn thành sớm nhất có thể để phục vụ cách mạng nhưng nhân dân Tam Thăng quyết tâm cống hiến cả sức người, sức của vào địa đạo với mong muốn ngày độc lập sẽ đến gần:
“ Củ khoai củ sắn rau luộc muối rang
Mẹ chị sẵn sàng đi quyên đi góp”
“Kẻ cuốc người khiêng, kẻ đào, người xúc Phụ nữ lập đức gánh đất góp công Các bác các ông đan phên dót cọc Tiếng đào lôi cát vang dọc xóm làng
Trang 32Thiếu nhi sẵn sàng đào nhanh như chớp”
(Ca dao ở Kỳ Anh thời chống Mỹ)
1.3.2 Đặc điểm, vai trò của địa đạo Kỳ Anh
Đặc điểm của địa đạo Kỳ Anh
Khác với địa đạo Củ Chi và địa đạo Vĩnh Mốc, địa đạo Kỳ Anh được đào ở vùng đất cát, muốn đào được địa đạo nhân dân Tam Thăng phải đào dưới hai tầng đất, là một tầng đất cát ở phía trên dày khoảng 1m, hai là tầng đất cóc, nó có màu xẫm hệt như da cóc, mềm nhưng cứ có hơi gió là trở nên rất cứng, quân và dân ta phải dùng đồ để đục qua tầng đất cóc đó, đục xong rồi thì bà con và bộ đội ta mới đào các đường ra các hướng Do đó việc đào địa đạo trở nên khó khăn và vất vả
Nhưng chỗ nào địa đạo đi qua mà không có đất cóc là nhân dân và quân Tam Thăng phải đóng cọc tre và đan phên tre để chắn lại ngăn sụt lở đất, còn những lùm tre um tùm bên trên đã che chắn và ngụy trang che mắt đích rất hiệu quả Đất đào đem đắp vào những hầm trú ẩn bom đạn của dân, nền nhà mới, đắp
bờ ruộng hoặc đem ra sông đầm đổ, tránh sự phát hiện của địch Sáng ra nếu có đất rớt trên dọc đường trong quá trình vận chuyển đất từ địa đạo lên thì chị em tại các nơi đó sẽ dùng cào cào và chổi quét ngụy trạng để hủy đi các dấu vết sót lại dọc đường
Nơi nào rơi các quá nhiều thì dọc theo con đường quân và dân Tam Thăng
sẽ đào các căn hầm bí mật sau đó đẩy cát xuống, hầm này vừa có tác dụng hủy dấu vệt và còn có tác dụng tránh bom đạn trong các trận đánh bom và càn quét của địch Còn địa đạo Vĩnh Mốc và Củ Chi được xây dựng ở nơi đất sét cố định và chứa đầy đủ: kho lương thực, khu hội trường, nhà vệ sinh, nhà bếp, đài quan sát
Lực lượng đào Địa đạo là lực lượng tổng hợp, là sức mạnh dân quân: Bộ đội, du kích địa phương, phụ nữ, nông dân, thanh thiếu niên
Địa đạo Kỳ Anh hình thành theo thế liên hoàn nhà này nối nhà kia, xóm này nối với xóm kia trên 9 thôn, địa đạo được đào với hình dạng như ô bàn cờ quanh có uống khúc nhiều ngõ ngách, chạy dài men theo các lùm cây, nhiều đoạn được đào xuyên qua nền nhà dân, qua giếng nước, gian bếp trãi khắp thôn xóm trong toàn xã Với tổng chiều dài Địa đạo khoảng 32 km, chiều rộng từ 0,5- 0,8 mét, chiều cao
Trang 33khoảng 0,8-1mét, chiều dài các đoạn địa đạo tùy theo địa thế của mỗi thôn, (trong
lòng địa đạo có nơi rất hẹp, nhằm đề phòng khi địch phát hiện miệng Địa đạo, dùng hơi cay hay lựu đạn ném xuống, ta dễ dàng bịt kín ngăn đoạn còn lại để thoát tránh thương vong) Miệng hầm nằm trong các nhà dân, gian bếp, chuồng bò, đình,
bụi tre, giếng nước, gốc cây và được ngụy trang cẩn thận Địa đạo có hầm cứu thương, hầm tác chiến, hầm chỉ huy, hầm chứa lương thực, thực phẩm
Cứ mỗi đoạn địa đạo thì có khóa cách ly, đó là giữa hai đoạn có một đoạn ngắn chỉ vừa người rúc qua, khi địch phát hiện thì lấy một bao cát trám (khóa) chỗ
ấy lại, người không qua được, khói không lọt được, không có sự liên hoàn giữa hai đoạn địa với nhau Quan trọng nhất là địa đạo thôn Vĩnh Bình và địa đạo thôn Thạch Tân
Vai trò của địa đạo Kỳ Anh
Sau chiến dịch Xuân 1965, đại bộ phận các vùng nông thôn trên khắp chiến trường miền Nam nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng đã được giải phóng, điều đó cho thấy sự thất bại thảm hại của đế quốc Mỹ trên chiến trường miền Nam Trước nguy cơ sụp đổ của chế độ tay sai bù nhìn, đế quốc Mỹ đã đưa quân vào
nhằm cứu vãn tình thế Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: “ việc Mỹ
gấp rút đưa lực lượng lớn của quân viễn chinh Mỹ vào chiến trường miền Nam Việt Nam là cấp cứu không được chuẩn bị, là hành động bị động về chiến lược hòng cứu vãn tình thế ngày càng nguy khốn của tay sai ”
Ở Quảng Nam, Mỹ đổ bộ đưa quân vào Núi Thành, Duy Xuyên, Quế Sơn, Đại Lộc, trong đó có Tam Thăng (Kỳ Anh) được xem là một trong những mục tiêu để chúng thực hiện ý đồ đó Bởi lẽ chiếm được Tam Thăng sẽ là bàn đạp để để quốc Mỹ đánh chiếm vùng đông Tam Kỳ và Tam Thăng nằm gần căn cứ của Mỹ (Tuần Dưỡng, An Hà) nên chúng quyết tâm lấn chiếm để làm vành đai an toàn khi đóng quân tại đây Về phía ta, đây là căn cứ, là trụ bám vững chắc của vùng đông Tam Kỳ và các xã huyện Thăng Bình, để cung cấp tiếp tế lương thực cho các vùng như Tam Vinh, Tam Dân,
Trang 34Nên sau khi địa đạo được hoàn thành các đơn vị như D70, D72 của tỉnh đội, V12, V16, V18 của huyện đội về đóng tại đây để dễ hoạt động lãnh đạo nhân dân Tam Thăng chống “chiến tranh cục bộ”
Vai trò của địa đạo hết sức to lớn như:
Thứ nhất, địa đạo Kỳ Anh và một số địa điểm trong khuôn viên địa đạo là
nơi đảm bảo cho cán bộ, bộ đội, du kích và nhân dân địa phương trú ẩn, ngụy trang tránh để địch phát hiện
Hệ thống địa đạo là công trình phòng thủ được xây dựng dưới lòng đất (đường hầm) để nối liền với các vùng khác nhằm phục vụ cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, nhân dân, cán bộ và dân du kích trú ẩn, ngụy trang tránh sự phát hiện, truy quét của địch Một vai trò nửa là nơi rút quân của bộ đội, du kích trong những trận càn quét, đánh lớn Đây còn là nơi chỉ huy những trận đánh, phong trào cách mạng trong địa bàn
Thứ hai, các địa đạo có vai trò lớn trong việc giữ vững thành quả cách
mạng, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng
Năm 1965, quân giải phóng đồng loạt tấn công địch trên khắp chiến trường Quảng Nam Ngày 15/2/1965, bộ đội tỉnh và bộ đội chủ lực Quân Khu V tấn công địch ở vùng Quế Sơn, giải phóng 22/29 xã Quân ta tiếp tục mở rộng tấn công vào vùng Tây – Bắc Tam Kỳ, tập kích đánh đòn Chà Vu, bao vây đồn Đá Kẻ, địch ở đây tháo chạy, huyện Bắc Trà My có 5/12 xã là Kỳ Phước (Tam Lộc), Kỳ An (Tam Phước), Kỳ Thịnh (Tam Thái), Kỳ Nghĩa (Tam Thái) và một phần xã Kỳ Lý (Tam Đàn) được hoàn toàn giải phóng
Để giữ vững vùng giải phóng, giữ được thắng lợi to lớn của phong trào cách mạng Địa đạo Kỳ Anh ra đời để cúng cố vùng giải phóng, phòng chống những trận càn quét của địch, che giấu cán bộ hoạt động, trú ẩn và tập kết
Thứ ba, là nơi cất giấu lương thực, vũ khí đạn dược, thuốc men của bộ đội
và địa phương
Địa đạo là nơi cất giấu lương thực, thuốc men, để cho các anh em du kích
bộ đội mang đi tiếp tế cho các vùng lân cận và các huyện miền núi của Tam Kỳ Các cuộc hành quân và vận chuyển lương thực về đây đều diễn ra ban đêm, được
Trang 35sự hỗ trợ và giúp đỡ nhiệt tình của nhân dân Tam Thăng trong quá trình vận chuyển, nhân dân còn quyên góp gạo muối để cung cấp và nuôi các chiến sĩ, cán
bộ ở dưới địa đạo Bát cháo, cộng rau, củ sắn, củ khoai ấm lòng người chiến sĩ Cưu mang bộ đội ta khi đánh ở xã Tam Phú chạy về đây trú ngụ
Địa đạo là nơi cứu thương, đảm bảo an toàn tính mạng cho bộ đội trong quá trình chiến đấu
Từ năm 1967 – 1968 Mỹ vẫn còn đóng quân ở các xã vùng rìa ở Tam Thăng, nhưng ngày nào bọn chúng cũng đi lùng, đi càn quét để tiêu diệt Việt cộng
và bộ đội ta tại đây Nhờ có cơ quan địa đạo mọi hoạt động cách mạng vẫn được diễn ra trong lòng đất một cách an toàn và kín đáo, trước sự lùng sục của bọn giặc
và đóng chốt 2 sư đoàn tại Tháp Chiên Đàn cách đình Thạch Tân 1000m có mắt cũng như không của bọn giặc Mỹ
Nơi chữa trị và kịp thời sơ cứu cho bộ đội và du kích bị thương trong các cuộc càn quét của địch và cả trong quá trình chiến đấu hào hùng của những năm tháng khói lửa đó
Thứ tư, địa đạo là nơi diễn ra những trận chiến đấu quyết liệt của quân và
1.3.3 Các giá trị của địa đạo Kỳ Anh
1.3.3.1 Giá trị lịch sử, văn hóa
Giá trị lịch sử
Di tích lịch sử cách mạng địa đạo Kỳ Anh ra đời và tồn tại cho đến ngày nay
có một ý nghĩa vô cùng to lớn, nó là minh chứng của tinh thần yêu nước, một lòng theo ánh sáng của Đảng soi đường, theo Bác Hồ, chịu đựng mọi hy sinh giam khổ của nhân dân Tam Thăng, trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước giải phóng quê hương khỏi sự áp bức bóc lột của đế quốc Mỹ và giữ vững từng tất đất, tất làng
Trang 36Là kết quả của sự sáng tạo, nổ lực đáng khâm phục của quân và dân huyện
Kỳ Anh nói riêng và nhân dân tỉnh Quảng Nam nói chung Hệ thống giúp bộ đội
và nhân dân an lòng khi chiến đấu, chuẩn bị đầy đủ những điều kiện cần thiệt cho quân và dân sẵn sàng xông pha, từ phòng ngự đên nơi trú ẩn, tập kết an toàn nhất
Sự tồn tại và hoạt động của địa đạo giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta Vì là nơi tiếp tế lương thực cho cách mạng Đây còn là sự thể hiện sáng tạo về đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng đề ra mà Đảng bộ và nhân dân Tam Thăng thực hiện trong những năm chiến tranh ác liệt nhất
Đây là nơi diễn ra các trận đánh quyết liệt của quân dân Kỳ Anh và quân Mỹ cũng như sử dụng hệ thống địa đạo để chống lại những trận càn quét dữ dội của địch đổ bộ
Và cũng chính nhờ có địa đạo Kỳ Anh mà quân và dân Tam Thăng cũng như quân và dân vùng Đông Tam Kỳ mới bám trụ giữ vững từng tất đất bảo vệ vùng giải phóng, đánh địch khi chúng càn quét, góp phần giải phóng quê hương năm 1975
Với ý nghĩa đó, di tích lịch sử địa đạo Kỳ Anh sẽ mãi là nơi minh chứng cho một giai đoạn lịch sử vẻ vang của dân và quân Tam Thăng nói riêng và tỉnh Quảng Nam nói chung
Đây thực sự là một công trình trí tuệ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sức mạnh của lòng dân và sự nổ lực phi thường của quân dân Kỳ Anh
Giá trị văn hóa
Ngày nay, địa đạo Kỳ Anh chuyển chức năng thành di tích lịch sử - văn hóa với những giá trị có tính nhân văn to lớn, nhanh chóng thu hút khách tham quan từ nhiều nơi trên cả nước Họ đến để tìm hiểu, để chiêm ngưỡng một chứng nhân lịch
sử sống với niềm xúc động và kính phục Không mang dáng vẻ kỳ vĩ như những kì quan thế giới, nhưng địa đạo Kỳ Anh là một công trình ngầm lớn với gần 10km tỏa rộng đi mọi hướng, như một mạng nhện có hệ thống dưới lòng đất
Chiến tranh đi qua, hàng ngàn liệt sĩ đã ngã xuống, hàng vạn ngôi nhà bị đốt phá, san phẳng, nhưng vượt trên tất cả những mất mát đó, Kỳ Anh vẫn hiên ngang
Trang 37đứng vững góp phần hết sức quan trọng trong công cuộc kháng chiến dành thắng lợi của dân tộc Nơi đây như một hệ thống độc đáo có một không hai vừa mang chiều sâu thăm thăm của lòng căm thù và ý chí kiên cường, bất khuất, vừa có ý nghĩa như một biểu tượng rực rỡ của chủ nghĩa anh hùng dân tộc Việt Nam
Đến với di tích du khách sẽ cảm nhận được những gian khổ, vất vả để từ đó
có thể thấy được sự kiên trung, anh dũng của quân và dân Tam Thăng trong suốt năm tháng kháng chiến trường kỳ Khi trực tiếp trường mình qua những đoạn hầm dưới đất, tận mắt nhìn thấy các hiện vật, khung cảnh của cuộc sống cách đây hơn
40 năm
Địa đạo ra đời thể hiện sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, nhằm bảo toàn và duy trì sự sống do yêu cầu của cuộc chiến tranh Đây là sản phẩm kết tinh từ lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Đối với du khách khi đến với địa đạo, nhất là thế hệ trẻ, di tích là sự sáng tạo trong chiến đấu, và sự dũng cảm chịu dựng gian khổ của chiến sĩ và nhân dân Tam Thăng trong giai đoạn chiến tranh
Địa đạo Kỳ Anh là minh chứng sống cho ý chí kiên cường, trí thông minh và
là niềm tự hào của người dân Việt Nam Hãy một lần đến với nơi đây để chứng kiến thời kỳ hào hùng của dân tộc ta trong kháng chiến, với giá trị và tầm vóc chiến công được đúc kết bằng xương, bằng máu, công sức của hàng trăm chiến sĩ, đồng bào, khu căn cứ đã được công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia
1.3.3.2 Giá trị cảnh quan sinh thái
Khu vực hình thành địa đạo nằm gần sông Đầm – Bãi Sậy là nơi có hệ thống sinh vật phong phú, cần được bảo vệ và có hướng khai thác hợp lý
Ngoài ra, sông Đầm là một nhánh của sông An Hà nếu khai thông được cảnh quan nơi đây, có thể phát triển loại hình du lịch đường sông kết hợp di tích lịch sử
Hệ thống được đào nên không có bất cứ một bản vẽ thiết kế nào mà chỉ dựa vào linh cảm, ước lượng cùng với truyền thống cách mạng và lòng quyết tấm cho một tương lai độc lập của dân tộc Chỉ bằng phương tiện thô sơ như lưỡi cuốc, ki xúc đất, giỏ tre quân và dân Kỳ Anh đã tạo nên một công trình đồ sộ, một làng ngầm hoạt động ngày đêm ngay dưới lòng đất
Trang 38Địa đạo Kỳ Anh là một công trình tiêu biểu cho sự tận dụng môi trường tự nhiên của quân và dân Tam Thăng Cả địa đạo là một hệ thống liên hoàn các hầm ngầm, giao thông hào ẩn mình giữa tự nhiên, được tự nhiên che chở
Địa đạo Kỳ Anh với không gian gắn chặt với tự nhiên, cùng với sông Đầm, những cảnh quan tự nhiên hai bên bờ sông thực sự mang một giá trị cảnh quan sinh thái sâu sắc, có thể khai thác cho mục đích phát triển du lịch
Hơn thế nữa trong tương lai không xa, việc khơi thông dòng sông sẽ hạn chế được khả năng lũ hằng năm khi mùa mưa đến, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để khai thác phát triển du lịch Hiện nay thành phố Tam Kỳ đang dần mở rộng và đầu
tư về phía đông nên trong tương lai đây có thể khai thác thành khu du lịch sinh thái
ở một số cảnh quan gần Sông Đầm như Bãi Sậy
1.3.3.3 Giá trị giáo dục truyền thống
Địa đạo Kỳ Anh ra đời trong thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang ở vào thời điểm khó khăn nhất (1965 – 1969) Đó là một minh chứng cho tấm lòng yêu nước và ý chí đấu tranh kiên cường của nhân dân ta Thời gian qua đi, chiến tranh đã lùi xa nhưng địa đạo vẫn mang trong mình rất nhiều giá trị
và ý nghĩa to lớn mà các thế hệ con em Tam Thăng ngày nay cần học hỏi, giữ gìn, phát huy
Với những giá trị lịch sử to lớn của mình, địa đạo Kỳ Anh thực sự là một địa chỉ đỏ để giáo dục truyền thống, bồi đắp lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ Đến với địa đạo Kỳ Anh, thế hệ ngày nay sẽ hiểu hơn về truyền thống đánh giặc của cha ông, thêm tự hào về trang sử vẻ vang của quê hương
Trang 39CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI ĐỊA ĐẠO KỲ ANH XÃ TAM THĂNG, THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM 2.1 Một số tài nguyên được khai thác phát triển du lịch tại địa đạo Kỳ Anh
2.1.1 Đình cổ Thạch Tân
Đình Thạch Tân, xã Kỳ Anh (nay thuộc thôn Thạch Tân, xã Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ), không chỉ là nơi ghi dấu một thời cha ông khai canh lập nghiệp, còn là địa chỉ mang nhiều dấu ấn lịch sử như một huyền thoại của thời kỳ đấu tranh giành độc lập, tự do
Ngược dòng lịch sử, vào thế kỷ XV, trong đoàn quân binh theo vua Lê Thánh Tông vào Nam mở cõi có tiền nhân của các tộc Nguyễn, Lê, Trần, Phạm từ vùng đất Thanh Hóa - Nghệ An Họ dừng chân tại một vùng đất hoang sơ nhưng đầy tiềm năng khai thác nông nghiệp, thủy sản để khai cơ lập nghiệp (về sau được đặt tên là làng Thạch Tân) Trong quá trình cộng cư, kinh tế ngày càng phát triển, nhằm nhớ ơn tiền nhân, họ xây dựng đình làng để thờ tự những người đã có công khai phá vùng đất này Buổi ban đầu, đình chỉ là tranh tre, mái lá; đến thế kỷ XV, dần dần cuộc sống ngày càng khá lên, cư dân trong làng chung nhau xây dựng đình ngày một bề thế hơn Trải qua nhiều lần trùng tu, đình được khang trang và giữ nguyên hiện trạng cho đến nay
Đây là di tích khá hiếm còn được lưu lại trên đất Tam Kỳ, không những là biểu trưng cho việc thờ cúng tổ tiên, tri ân tiền nhân đi mở đất mà còn lưu dấu tiếng tăm một thời của những nghệ nhân nghề mộc cổ truyền của Quảng Nam Hiện nay trong đình còn thờ 5 đồng chí từng sống và chiến đấu tại địa phương như đồng chí Nguyễn Xuân Nhĩ (Tám Tâm), nguyên Ủy viên Thường vụ Khu ủy, Trưởng ban Tổ chức Khu ủy 5; đồng chí Cao Sơn Pháo (Bùi Tùng), Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng; đồng chí Vũ Trọng Hoàng (Bốn Hương), Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam, Phó trưởng ban Tổ chức Khu ủy 5, Phó trưởng ban Tổ chức Trung ương, Bề ngoài ngôi đình thờ thần Đại Càn quốc gia Nam Hải, thờ các chư vị tiền hiền và hàng trăm liệt sĩ, mẹ Việt Nam anh hùng Nhưng bên trong ngôi đình còn biết bao kỳ tích và hơn 32km địa đạo, miệng hầm ngay dưới nền ngôi đình
Trang 40Trong thời chống Mỹ, đình Thạch Tân được xem là đầu mối quan trọng cho
hệ thống địa đạo Kỳ Anh ra đời vào năm 1965 Điều độc đáo là không ai có thể biết được vị trí miệng hầm ở đâu, bởi vì miệng hầm được phủ bằng đá ong Sát móng đình phía bên trái có một ô cửa nhỏ vừa cho một người chen vào, có nắp đậy ngụy trang Ô cửa dẫn vào trong lòng móng đình, ở đó có một khoảng trống chia làm hai ngăn, một ngăn dùng làm hầm cứu thương và trú ẩn cho cán bộ, chiến sĩ cách mạng chẳng may bị thương; một ngăn cất giấu lương thực, thực phẩm của đồng bào đóng góp cho cách mạng trước khi chuyển về căn cứ phía tây Tam Kỳ
Từ đình, có thể đi lại khắp các ngõ ngách trong hệ thống địa đạo mà không sợ bị địch phát hiện Sau này chính quyền địa phương trùng tu, tôn tạo đã thiết kế miệng hầm rộng hơn để phục vụ du khách đến tham quan
Ông Huỳnh Kinh Ta, Trưởng thôn Thạch Tân, cũng là người canh giữ ngôi đình hơn 30 năm và kiêm luôn việc hướng dẫn cho du khách tham quan, cho biết:
“Điểm đặc biệt của ngôi đình không nằm ở vẻ bề ngoài của nó mà chính là những câu chuyện gắn liền với cuộc kháng chiến chống Mỹ mà những vết tích còn lại trên những cây cột chính là một minh chứng Nhiều người khi tham quan ngôi đình luôn đặt câu hỏi về những vết hằn này Tôi gọi đó là những vết thương linh thiêng” Theo tài liệu của Trung tâm VH-TT TP Tam Kỳ, tháng 7-1968, Mỹ xua
quân càn quét vùng Đông Quảng Nam Khi đưa quân đến Thạch Tân, Mỹ nghi ngờ người dân sử dụng ngôi đình làm nơi hoạt động cách mạng nên rắp tâm triệt hạ Thời điểm đó, sau khi cho khoảng 6 đại đội bộ binh bố ráp quanh ngôi đình, Mỹ cho 2 xe bọc thép cảnh giới, 4 chiếc xe tăng còn lại nổ máy tông sập tường bao hòng làm sập đình
Thế nhưng ngôi đình vẫn đứng sừng sững Sau một hồi bàn bạc, đám lính đã cho xe tăng lùi ra rồi dùng dây xích cỡ lớn buộc vào 2 cây cột ở gian giữa Họ tiếp tục nổ máy, rồ ga để giật sập, nhưng kỳ lạ thay ngôi đình vẫn không chút xê dịch Nhiều lần kéo giật ngôi đình không đổ, dây xích cứa vào thân cột để lại những “vết
thương” rất sâu “Trước sự uy nghi của ngôi đình cũng như điều khó lý giải đã xảy
ra, quân địch sợ hãi không dám phá đình Nhìn vào những vết thương này khó ai
có thể nghĩ ngôi đình còn đứng vững đến ngày hôm nay Năm 2001, khi đình được