1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẶC điểm TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG của NGƯỜI MƯỜNG ở HUYỆN kỳ sơn – hòa BÌNH

33 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 532,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở tư liệu điền dã dân tộc học và kế thừa các tài liệu đã có để làm rõ hơn và sâu sắc hơn những giá trị văn hoá truyền thống trên trang phục Mường, chúng tôi đã chọn đề tài: “Tìm

Trang 1

A MỞ ĐẦU

1.Lí do chọn đề tài

Hoà Bình là một trong những tỉnh thuộc khu vực miền núi phía bắc nước ta Đây là nơi dân tộc Mường cư trú đông nhất Vùng đất này đã sản sinh và lưu giữ nhiều sản phẩm văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, là một trong những tỉnh mang nhiều bản sắc văn hoá riêng Chính bản sắc văn hoá đó đã tạo nên đặc thù

và sự khác biệt của văn hoá Hoà Bình so với các địa phương khác trong cả nước

Sự độc đáo về văn hoá bản Mưòng đã tạo cho văn hoá Hoà Bình có điểm nhấn khác biệt mà văn hoá các dân tộc khác không có đươc

Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước chúng ta không thể phủ nhận vai trò to lớn của văn hoá Có thể nói văn hoá là cơ sở, nền tảng và động lực của phát triển, là cầu nối giữa hiện tai và quá khứ không bị đứt quãng

Trong những năm gần đây kinh tế Hoà Bình đã có nhiều khởi sắc Hoà Bình vốn nằm gần các khu công nghiệp ở Xuân Mai Hà Nội, Các nhà đầu tư

đã quan tâm tới Hoà Bình đem lại cho Hoà Bình nhiều luồng không khí mới Song bên cạnh đó thì những giá trị văn hoá truyền thống của Hoà Bình bị mai một đi nhiều, chính vì vậy việc nhận thức đúng đắn văn hoá và giá trị của văn hoá Mường là một việc làm cần thiết Bởi vậy chúng tôi đã chọn đề tài này làm báo cáo thực tập của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá Mường như cuốn: “ Hoa văn Mường” của tác giả Từ Chi, “Trang phục các dân tộc thiểu số” của Vương Anh; “Tiếp cận văn hoá bản Mường” của nhiều tác giả

“Người Mường ở Tân Lạc Hoà Bình” của Nguyễn thị thanh Nga Vương Anh với “ tiếp cận văn hoá bản Mường” ….Cùng nhiều công trình khác và các bài viết khác được đăng tải trên các tạp chí do điều kiện mà chúng tôi chưa thể nêu ra hết trong khuôn khổ bài báo cáo này

Trang 2

Những công trình nghiên cứu trên là những tư liệu quý về văn hoá cổ truyền của người Mường giúp cho sự thành công của bài báo cáo

Trên cơ sở tư liệu điền dã dân tộc học và kế thừa các tài liệu đã có để làm

rõ hơn và sâu sắc hơn những giá trị văn hoá truyền thống trên trang phục Mường, chúng tôi đã chọn đề tài: “Tìm hiểu văn hoá dân tộc Mường ở Hoà Bình qua trang phục truyền thống” làm đề tài báo cáo thực tập của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cúư:

Khái niệm văn hoá mà tác giả lấy làm đối tượng chính để nghiên cứu được xác định là một hệ thống hũư cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa giữa con người với con người, con người với môi trường tự nhiên

Phạm vi nghiên cứu:

Tác giả không nghiên cứu tất cả nội hàm của khái niệm mà chỉ nghiên cứu một phần rất nhỏ trong văn hoá vật chất (văn hoá trên trang phục của người Mường)

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 3

để lấy tư liệu tại thực địa Cùng với quá trình quan sát, chúng tôi sử dụng các công cụ phỏng vấn sâu, chụp ảnh đối tượng là người Mường

6 Kết cấu của báo cáo

Báo cáo chia làm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung chia làm hai chương, phần kết luận

Trang 4

và huyện Kim Bôi, phía nam giáp thị xã Hoà Bình, phía tây giáp thị xã Hoà Bình và huyện Đà Bắc

khí hậu:

Nằm ở vùng giữa của tỉnh Hòa Bình, huyện Kỳ Sơn có độ cao trung bình so với mực nước biển từ 200 – 300 m, có địa hình đồi núi thấp, ít núi cao nhưng có độ dốc lớn, từ 30 - 40o, theo hướng thấp dần từ đông nam đến tây bắc Cũng như các huyện khác, Kỳ Sơn có khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa đông lạnh, khô và ít mưa, mùa hè nóng và mưa nhiều Nhiệt độ trung bình năm khoảng 21,8oC- 24,7oC, nhiệt độ cao nhất là 40oC, nhiệt độ thấp nhất là 20oC, lượng mưa trung bình 1.800 - 2.200 mm ở các ngọn núi cao có khí hậu mát mẻ, vào mùa hè có thể làm khu điều dưỡng, nghỉ ngơi

Tài nguyên:

Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 20.204,36

ha, trong đó, đất nông nghiệp là 2.906,48 ha (14,4%), đất lâm nghiệp là 5.675,26 ha (28,1%), đất chưa sử dụng là 10.744,59 ha (53,2%).Vùng đất Kỳ Sơn có cấu tạo địa chất tương đối phức tạp Do lớp thổ nhưỡng được hình thành qua nhiều thời kỳ kiến tạo vỏ trái đất nên đất ở Kỳ Sơn rất đa dạng

Trang 5

Theo tài liệu điều tra thổ nhưỡng năm 1974, Kỳ Sơn có hai nhóm đất chính: đất đồi núi chiếm 78%, đất ruộng chiếm 22% Ngoài ra còn các loại đất phù

sa không được bồi, đất phù sa sông Đà được bồi.Huyện Kỳ Sơn có nguồn tài nguyên nước dồi dào với 20 km sông Đà chảy qua các xã Trung Minh, Dân

Hạ, Hợp Thành, Hợp Thịnh và thị trấn Kỳ Sơn, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp

Tài nguyên nước:Trên địa bàn huyện còn có nhiều con suối lớn nhỏ có khả năng cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân.Trước kia, do quá trình điều tiết dòng chảy, sông Đà thường gây ra lũ lụt làm hai bên bờ bị xói lở mạnh Đập thủy điện sông Đà hoàn thành đã chủ động được trong việc điều tiết dòng chảy, hạn chế được lũ lụt và hạn hán

Tài nguyên rừng:Thảm rừng Kỳ Sơn khá phong phú, cung cấp rất nhiều loài gỗ quý như lim, lát các loại cây dược liệu như sa nhân, hoài sơn, thổ phục linh, ngũ gia bì và nhiều loại lâm sản như măng, mộc nhĩ, nấm hương Tuy nhiên, việc khai thác bừa bãi của con người đã làm cho diện tích

và trữ lượng các thảm rừng bị suy thoái nghiêm trọng, cần phát huy phong trào trồng mới, bảo vệ rừng

Tài nguyên khác:Ở Kỳ Sơn có mỏ đất sét khoảng 2 triệu m3 và các

mỏ cát ở Hợp Thành, Hợp Thịnh, rất thuận lợi cho việc sản xuất nguyên vật liệu xây dựng Tuy nhiên, những nguồn tài nguyên quý đó chưa được khai thác phục vụ cho cuộc sống.Huyện Kỳ Sơn có cảnh quan môi trường với nhiều núi đá, hang động, hồ nước, rừng thông khá hấp dẫn và nhiều danh thắng đẹp có thể phát triển du lịch

1.2 Đặc điểm xã hội

Kinh tế:

Sản xuất nông- lâm- ngư nghiệp: tình hình thời tiết tương đối thuận lợi, các hồ đập đảm bảo đủ lượng nước tưới phục vụ cho cây trồng công tác chuẩn bị giống, vật tư nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu sản xuất được đảm

Trang 6

bảo các xã thị trấn trong toàn huyện tập trung chỉ dạo điều tiết nước hợp lý, tăng cường chống rét cho mạ và gia súc đat hiểu quả cao

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp đạt kết quả khá, chủ yếu tập trung vào các mặt hàng truyền thống như: vật liệu xây dựng, đồ may mặc và một số mặt hàng khác

Hoạt động thương mại và du lịch được tăng cường đảm bảo các nhu cầu sản xuất, kinh doanh của người tiêu dùng ở các thành phần kinh tế, đáp ứng nhu cầu đời sống của nhân dân

1.3 Tộc danh, tộc người

Người Mường có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ cuối thiên niên

kỉ I trước công nguyên

Dân tộc Mường là một cộng đồng người thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường, có dân số đông nhất trong các dân tộc thiểu số ở Hòa Bình Dân tộc Mường là cư dân bản địa sống tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Tây Bắc Bắc

Bộ, dân tộc Mường có quan hệ thân thuộc và gần gũi với dân tộc Kinh

1.4 Phương thức mưu sinh

Người Tày có truyền thống trồng lúa nước lâu đời với kỹ thuật thâm canh các biện pháp thuỷ lợi Ngoài ra, đồng bào còn trồng trọt trên đất bãi với lúa khô, hoa màu, cây ăn quả Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm Các nghề thủ công gia đình được chú ý, nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.Người Tày sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi Trong trồng trọt họ lấy lúa nước làm chủ đạo, có hai vụ đó là vụ mùa và vụ chiêm Ngoài ra cùng với các dân tộc khác trong vùng như người Kinh, Mông, Dao

họ còn làm nương rẫy ở các vùng đồi núi xung quanh xã để trồng hoa màu và cây ăn quả Họ chăn nuôi các loại gia súc như trâu, bò để lấy sức kéo, nuôi các loại gia cầm như gà, vịt, ngan làm thực phẩm

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân Dân xã Minh Quang đã đẩy mạnh công tác công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông

Trang 7

thôn, tăng sản phẩm tiêu dùng và xuất khẩu, nâng cao đời sống nhân dân lên từng bước đạt được nhiều thành tựu quan trọng, áp dụng khoa học ỹ thuật vào sản xuất

Trồng trọt: nhân dân ở xã đã áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật

về sản xuất, thâm canh, đưa những giống cây trồng sản xuất cao, chuyển đổi

cơ cấu giống, mùa vụ đồng thời tăng cường công tác khuyến nông, chuyển giao công nghệ khoa học vào sản xuất vì vậy năng xuất, sản lượng không ngừng tăng lên

Năm 2014 diện tích đất cây trồng hàng năm của xã là 208,22 ha, chiếm 89.9% diện tích đất sản xuất nông nghiệp, đất trồng cây lâu năm 23,39 ha, chiếm 10,1% diện tích đất sản xuất nông nghiệp, diện tích trồng cây lâu năm của xã chủ yếu là các loại cây công nghiệp lâu năm như chè, các loại cây ăn quả

Chăn nuôi: những năm qua, chăn nuôi đã được coi trọng và trở thành ngành sản xuất quan trọng trên địa bàn xã Đàn gia súc tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng đàn gia cầm bị ảnh hưởng do xuất hiện dịch cúm gia cầm, nhưng đến nay đã được khống chế và phục hồi nhanh chóng

1.5 Xã hội truyền thống

Từ xưa đến nay, dân tộc Mường quen cư trú thành từng xóm, quê, nhiều xóm, quê gộp lại thành một Mường Trong thời Phong Kiến, người Mường đã bị các giai cấp thống trị bóc lột Do đó, tổ chức chính quyền của người Mường cũng giống người Kinh

Nhà cửa, xóm làng của người Mường thường dựng dưới chân đồi, chân núi, nơi tiếp giáp đồng ruộng, nhà cửa người Mường khác các dân tộc khác là hay nằm sát nhau và có chung hàng rào Người Mường dựng nhà dựa vào những nguyên vật liệu có sẵn từ cột nhà, mái nhà, tường nhà,…tất cả đều lấy

từ trên rừng trong xã hội cũ các khu làng Mường được bao cọc bởi rừng nguyên sinh và đồng ruộng nương rẫy các làng mường thường cách nhau 2-3km, nên thường khá độc lập với nhau về mặt địa lý Thậm chí những làng

Trang 8

chèo làng trại nhỏ trên các đỉnh núi hay các sườn núi có thể nhìn thấy nhau song để đi đến đó phải mất nửa ngày hay hàng ngày đường đi bộ, leo dốc lội suối điều này cho thấy rõ sự lệ thuộc của ngườ Mường, khu dân cư Mường vào rừng, đồi, đất, lệ thuộc tới mức hòa vào đó nếu tách các làng Mường ra khỏi đó nó không phải là làng Mường nữa

1.6 Đặc điểm văn hóa

Văn hóa vật chất: Nhà ở, nếp sinh hoạt, phong tục tập quán, những

nét ứng xử với thiên nhiên với con người đã làm nên nền văn há tộc nười độc đáo của người Mường không tộn lẫn vào đâu

Trước cách mạng tháng 8- 1945 người Mường cư trú ở vùng đồi, núi thấp khai khẩn các thung lũng hẹp khá bằng phẳng ven các con sông co suối làm ruộng cấy lúa nước hay trồng cây hoa màu Các làng Mường sống trên vùng núi cao hay xa các con sông, suối địa hình tương đối dốc hay không đủ nguồn nước họ chuyển sang phát nương, làm rẫy canh tác trên vùng đất dốc, ngoài ra tay nghề khai thác nguồn lợi thiên nhiên như săn bắt hái lượm vồn đã tồn tại từ lâu đời cũng được người Mường chú trọng từ đặc điểm địa hình, thiên nhiên bao quanh cùng phương thức sản xuất đã sản sinh ra hệ thống tri thức bản địa của người Mường trong ứng xử với thiên nhiên để phục vụ cho đời sống của mình trong việc sản xuất, làm nhà để ở, trong việc săn bắt, làm mương máng, xe cọn nước để dẫn nước vào tưới tiêu Biết quan sát quy luật con nước, trăng sao định ra lịch Khao Roi, lịch Đá Rò để tính ngày tháng và định thời gian mừa vụ trong sản xuất nông nghiệp

Về ngôn ngữ : tiếng mường thuộc hệ ngôn ngữ Việt- Mường thuộc hệ

Nam Á và rất gần với tiếng Kinh Ngôn ngữ Mường là tài sản đặc biệt quý giá của người mường cũng như của dân tộc Việt Nam , ngoài chức năng là giao tiếp hàng ngày nó còn chứa trong mình lượng thôn tin và những tín hiệu được

mã hóa truyền tải từ quá khứ đến hiện tại và tương lai từ hệ ngôn ngữ nhiều nhà khoa học cho rằng người Mường và người Kinh có cùng một gốc

Trang 9

Về phong tục tập quán: các phong tục truyền thồng như đám cưới,

đám ma, các nghi lễ vòng đời, hoạt động tín ngưỡng như lễ tết đều mang trong mình các hoạt động diễn xướng văn hóa văn nghệ dân hian độc đáo đặc sắc

Người Mường đã tạo ra một kho tàng văn hóa nhất là lĩnh vực văn hóa, ghệ thuật dân gian có dung lượng đồ sộ với hàng trăm câu chuyện, truyền thuyết dân gian truyền miệng , trong đó nổi bật hơn cả là bộ Mo tang lễ trong

đó có sử thi Đẻ Đất- Đẻ Nước nổi tiếng

Trang 10

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG

Ở HUYỆN KỲ SƠN – HÒA BÌNH

Thiên nhiên không chỉ cho con người môi trường sống mà còn làm cho con người phải rung động trong đới sống thẩm mỹ của mình Từ môi trường

tự nhiên cụ thể mà họ cư trú làm ăn, trang phục cùng những nhu cẫu công cụ khác ra đời để thích ứng với điều kiện tự nhiên Rồi sau những thứ đó qua lao động nó phát triển dần lên không chỉ mang tính chất bản năng nữa mà nó có giá trị thẩm mỹ trở thành văn hoá Bởi vậy, cái đẹp thiên nhiên không chỉ được phản ánh trong dân ca,tình ca…Mà còn được phản ánh qua trang trí trên trang phục, hoa văn, hoạ tiết trên trang phục đó chính là cách thể hiện sinh động đời sống sinh hoạt thẩm mỹ của con ngưòi, hình ảnh đồi núi, thiên nhiên cuộc sống của con người nơi đây

Mỗi dân tộc có một sắc thái văn hoá độc đáo riêng của mình qua trang phục cùng với ngôn ngữ, trang phục là dấu hiệu thông tin quan trọng thứ hai

để chúng ta nhận biết, phân biệt tộc người này vớí tộc người khác Việt Nam

là một nước có nhiều dân tộc cùng chung sống, Mường là một dân tộc có nhiều bản sắc văn hoá góp sức vào tạo nên sự phong phú văn hoá lịch sử dân tộc, vừa tạo nên giá trị văn hoá độc đáo mang đặc trưng tộc người, một trong

những giá tri văn hoá đó là TRANG PHỤC Trang phục ghi dấu ấn một giai

đoạn phát triển của xã hội loài người Trang phục có thể xem như là biểu tượng của cả một cộng đồng, qua cách trang trí hoa văn mà văn hoá của cả một cộng đồng thể hiện ra Từ nhu cầu, từ quan niệm thẩm mỹ nó chi phối mọi hoạt đông của người MUỜNG liên quan đến một văn hoá phẩm đó là Trang phục, trong đó chủ yếu là y phục nữ Đây là kết quả của một quá trình lao động lâu dài Do lao động, do bàn tay, khối óc của người Mường tạo nên Trang phục và những giá trị thẩm mỹ đã góp phần làm rạng rỡ hơn trang phục của người Mường Văn hoá Mường trong cộng đồng dân tộc Việt Nam

Trang 11

2.1 Trang phục truyền thống của phụ nữ Mường

Trang phục nữ gồm:

7 Cái khăn thắt áo Cái khăn dệt ạo

Ngoài ra các phụ kiện kèm theo là đồ trang sức: vòng tay,xà tích,…

Cái mũ:(cại mụ) thực chất đây là chiếc khăn đội đầu, màu trắng, vải

bằng dệt vải thô, không viền, rộng35cm, dài 16cm Khi đội trùm lên đỉnh đầu

và buộc thắt nút ở đằng sau gáy

Cái yếm: ( còn gọi là cái áo báng), đây là chiếc yếm lót ngực, trông

giống như là cái yếm của phụ nữ Việt Nam rất nhiều, nhưng ngắn hơn dài khoảng 37cm, rộng39cm, màu trắng cổ cắt tròn, nách khoét rộng Cổ và nách

áo được viền vải Yếm có dây buộc ở cổ”cài bảng” theo vòng nách của người

mặc

Cái áo (gọi là áo pắn ) cắt thẳng không có eo, ngắn hơn áo cánh của

phụ nữ việt nam, cổ tròn nẹp viền khoảng 3cm chạy vòng tròn cổ xuống hai vạt áo, không khuy, tay nối thân áo Aó( pắn) thường được may bằng vải tơ tằm,vải sợi bông dệt màu trắng hoặc màu vàng hồng, màu xanh Với hình dáng áo của người phụ nữ Mường như vậy nó tạo nên vẻ đẹp thanh tú, giản

dị , khiêm tốn Aó phụ nữ MƯỜNG đã thành một trong nhiều ấn tượng quan trọng, một đặc trưng khi nói về trang phục của phụ nữ.Nét nổi bật như là một

Trang 12

“ấn tượng quan trọng” dấu hiệu thông tin của phụ nữ Mường đó là nẹp cổ, nẹp cổ tuy đơn giản chất liệu vải nổi lên trên tạo vẻ đẹp và hiệu quả thẩm mỹ, gây sự chú ý Tuy nhiên một số áo ngắn của phụ nữ Mường thêu nhiều hoa văn, hoa văn càng làm tăng thêm vẻ đẹp riêng độc đáo, đặc sắc của người Mường

Cái váy khi nói đến váy người ta hay đề cập đến cạp váy, ”Cạp váy”

cũng có nhiều loại khác nhau, mỗi hoa văn đều thể hiện dáng vẻ tạo dựng khác nhau, nhưng phổ biến nhất là cạp váy “bình dân” và cạp váy “ quý tộc”: Người Mường gọi nó là KLỌÔC WẶL(trốc váy, đầu váy) Tất cả mọi tinh hoa, văn hoá của dân tộc Mường đều được thể hiện trên cạp váy

Cạp váy bình dân là cạp váy thông dụng nhất trong đời sống thường ngày, có kích thước nhất định, chức năng của nó dùng để che phần ngực của người mặc, cạp váy được tạo thành 3 mảnh Mảnh trên cùng dệt bằng tơ tằm, tổng thể là tạo thành các hình tram nổi liền nhau, mỗi hình dài 18cm, rộng15cm cạnh hình thoi12cm Mỗi quả tram và trong quả tram biểu tượng trời đất., giữa mặt trời có 4 phương tám hướng Theo chiều trên nam- bắc dưới xung quanh là cây và nhà, trên cùng là đường ngũ sắc xen lẫn những hao văn cách điệu để tạo nên giá trị thẩm mỹ riêng Phần hai với chiều dài kích thước người Mường tạo dệt đều giống nhau, nhưng về màu sắc dệt và công cụ là khác nhau Chia làm nhiều ô vuông và công cụ khác nhau, những ô chạy dài nối nhau đó là những con hươu nối đuôi nhau chạy quay tròn theo kim đồng hồ Phải chăng cách trang trí đó là sự hài hoà với nhau, sự hài hoà giữa người và vật người Mưòng đều quan niệm “có của mới vui nhà vui cửa” cuộc sống con ngưòi, con vật luôn gắn liền với nhau, đặc biệt màu đen xen lẫn màu da cam tiếp đến là 4 đường chỉ màu mỗi đường này đều dệt rõ hình núi chạy dài liên tục, gần cuối giữa đường thứ tư nổi lên một đường chỉ trắng

và những cánh hoa cách điệu đủ màu sắc và cuối cùng lại quay song song những hình con hươu lúc ban đầu

Trang 13

Cạp váy không chỉ là một bộ phận của trang phục Nó còn chiếm một

vị trí quan trọng bậc nhất trong nền nghệ thuật tạo hình cổ truyền của tộc người Cũng có thể nói là vị trí”duy nhất” Qủa vậy, trên toàn bộ địa bàn mường, không tìm đâu thấy những mặt điêu khắc phẩm trên mặt phẳng như ở châu Đại Dương, hay như những tượng tròn như ở châu Đại Dương và ở Tây Nguyên Cạp váy là bắng chứng phổ biến nhất, độc đáo và hung hồn nhất còn sót lại cho dến ngày nay, về nền nghệ thuật tạo hình cổ truyền của tộc người Mường,một nền nghệ thuật có lẽ phong phú hơn nhiều

Dù chiếm một vị trí nào trên nền mỹ thuật Mường , thì cạp váy trước tiên là một bộ phận của trang phục, găn kết áo và váy tạo nên một thể thống nhất, trên đó cạp váy mới phát huy tác dụng

Chỉ bằng sự quan sát bằng mắt thường ta cũng sẽ thấy ngay sự khác biệt trên trang phục của phụ nữ Mường với các dân tộc khác Biêt lập về mặt sắc thái thẩm mỹ thôi Đồ mặc của phụ nữ Mường không có tính diêm dúa như của phụ nữ Thái, nó không dụng công kin đáo đến mức thanh lịch như của phụ nữ Cao Lan

Đi vào hoa văn trên rang trên, có thể bắt đầu từ hoa văn hình học, trước hết là hoa văn rang trên Màu sắc khác nhau, các dải hẹp ấy chìm xuống nền đen với những sắc độ sâu khác nhau Đây chính là niềm bí ẩn, là nguồn gốc chất lung linh của màu sắc rang trên Rang trên MƯÒNG đã vay mượn nguyên xi, hay gần như thế, hoa văn của mặt phà chăn THÁI : dó là những nhân xét của nhiều mế chuyên dệt cạp váy Về mặt này từ ngữ cũng là bằng chứng Người Mường gọi chăn là Ộ (ổ, tức chăn) Nhưng khi chỉ tấm hoa văn đáp lại trên mặt chăn, họ không dùng từ Mường, mà lại gọi là MẶT PHÁ ( mặt phà) cái chăn Trong xã hội Mường, mặt phà không được sử dụng rộng rãi đến mức như trong xã hội Thái.Nhưng người đi công tác luư động trong vùng Mường, thường ngủ nhờ lại các bản Mường kỹ thuật dệt mặt phà không khác thuật dẹt cạp váy

Trang 14

Dù hoa văn hình học có đóng vai trò không nhỏ trên rang dưói trên cả xắn lẫn long, thì cái đinh ở dây vẫn là hoa văn động vật Dưới con mắt quan sát, các mô típ động vật không chìm xuống, dù là ở chỗ nào những độ sâu khác nhau Từ bối cảnh đêm tối của nền váy, chúng được đánh thức dậy, để rồi bắt đầu chuyển động, mà không phải do sức của các màu nguyên cố vươn mình khỏi nền váy đen Góp phần vào chuyển động, còn có hình hoạ của các

mô típ, và trước hết là bố cục trong đó chúng được tích hợp…

Nghệ thuật cạp váy mang tính chất Đông Sơn trước tiên là ở đề tài động vật của nó Qua các mẫu rang dưới đã làm quen trên đất Hoà Bình thì các con vật trên cạp váy Mường cũng giống nhiều con vật của người kinh người Thái Nghệ thuật trên cạp váy với nghệ thuật Đông Sơn Vì, “… khác nào trên mặt tròn các trống cổ, nơi động vật Đông Sơn di chuyển quanh một mặt trời ở trung tâm, mà đồng thời vẫn bị câu thúc trong những vành tròn đồng tâm Thế đối xứng giữa một số yếu tố của mặt trống đồng và một số yéu

tố của cạp váy đã hoàn chỉnh: vành tròn ứng với dải thẳng; “bầy thú” Đông Sơn ứng với ngôi sao tám cánh của rang trên các long; trên trống đồng chỉ có mỗi một mặt trời , còn rang trên là cả một chuỗi ngôi sao tám cánh Nhưng chính chuyển động khai triển từ vành tròn ra dải trắng đã buộc ngôi sao tám cánh tự nhâng lên, để có thể thường xuyên tiếp xúc với long động vật sát rang trên nhất Nối liền nghệ thuật cạp váy với nghệ thuật trống đồng là do cách

bố trí các mô típ hoa văn động vật Đông vật Mường được bố trí theo một tinh thần khác hẳn: “động vật không đi theo từng đôi từng căp mà đi theo từng dải con này nối theo con kia nối tiếp nhau thành một vòng tròn không dứt, bởi vì hai đầu cạp váy nối liền với nhau quanh trục thân của người phụ nữ Mường” cách bố trí con vật như vậy hợp thành những phong cách thời kỳ “nguyên thuỷ” Xuất hiện từ các bích hoạ thời kỳ hậu Đá cũ, còn tồn tại trên một số bức trạm gỗ của châu phi đen, phong cách này có thể nói là phong cách “kể chuyện” Sự hiện diện sống sít của thần thái trống đồng Đông Sơn trong cấu trúc chung của cạp váy, và nhất là trang trí của rang duới Mô típ các con vật

Trang 15

trên cạp váy của người Mường theo bộ tứ quý( con Rồng, con Rùa ,con Phụng, con Ly) Con Rồng là con vật hoang đường của người Mưòng, đây là con vật du nhập văn hoà của ngưòi Thái Con Rùa là con vật xuất hiện khá phổ biến trong các huyền tích của người Mưòng, Rùa là biểu tượng của sự vững trãi ổn định của thời gian của sự vĩnh cửu Cúng như các dân tộc miền núi cư trú ở nước ta , người Mường dùng nguyên khổ hẹp, hoa văn sặc sỡ là

mô típ chung của miền núi đập ngay vào mắt từ những khoảng từ xa, để tôn con người và thiên nhiên hoang dã Nhưng rực rỡ lại không phải là một tính cách Mường

Tiếp tục phần tiếp giáp với cạp váy và váy đường nét có thể nói là phong phú hơn Đó là những đường chỉ dệt đan xen nhau xanh đỏ tạo nên vẻ đẹp độc đáo mang đậm đà bản sắc văn hoá Mường Từ cạp váy được can lại vào thân váy thường được làm bằng vải mộc màu trắng hoặc đỏ có một đường nối sau Đầu vày chạy về phía sau ôm lấy chân váy tạo nên giá trị thẩm mỹ riêng của người Mường

Phần thân váy từ cạp váy nối chiều dài 80cm cũng bằng vải tự dệt Nhưng nét đặc biệt ở đây nếu là váy của quý tộc thì hoa văn khác thường được dệt bằng hoa văn rồng, hình dạng cũng khác các loại hoa văn bình dân

Nó nói lên sự giàu sang và quyền quý

Cùng với áo và váy được mặc vào làm tăng thêm vẻ dịu dàng hiền lành

và chất phác, đảm đang của phụ nữ Mường Khi mặc cạp váy quấn chặt phần ngực đoạn thừa gấp nếp cho ra phía trước cách mặc như trên vừa giản đơn vừa đáp ứng nhu cầu phù hợp với chức năng sinh hoạt đi lại trong nếp sống truyền thống phụ nữ Mường thường mặc váy dài chấm gót, lối mặc váy này bây giờ chỉ còn thấy ổư những cụ già Phụ nữ Mường thường kiêng kỵ việc mặc váy lộn đầu xuống dưới gấu váy lên trên bởi vì váy chỉ được mặc như vậy khi chồng chết chưa kịp phát tang, váy phụ nữ Mường tiện lợi trong sinh hoạt, mang thai, sinh đẻ, thậm trí nó là cái “ buồng tắm lưu động”

Trang 16

Cũng như hầu hết các những dân tộc cư trú tại các vùng núi nước ta,người Mường dùng màu nguyên trên phổ hẹp.Hạn chế chung đó chính là một trong những nguồn gốc của chất rực rỡ thường gắn chặt với hoa văn miền núi,nhằm đập ngay vào mắt từ những khoảng xa,để tôn con người lên giữa thiên nhiên hoang dã.Nhưng rực rỡ lại không phải là một tính cách Mường.Để giảm bớt sắc độ chói chang của những màu nguyên,người Mường viện đến nhiều biện pháp cùng một lúc.Một là họ đập vụn hình họa của hoa văn ra,loại hết một mảng màu nhỏ lên nền đen cạp váy,dùng màu đen hạ bớt độ chói của các màu nguyên.Màu đen còn là chất vữa gắn các mảng nhỏ lại,bù đắp cho hình họa đã

vỡ vụn.Và cuối cùng,bởi vì con mắt của những người Mường là con mắt tổng quan,họ đtặ tòn bộ cặp váy-một mảng màu phức hợp,gồm vô vàn những mảng màu li ti-lên chính giữa nền đen-trắng của trang phục phụ nữ”dùng màu sắc nối không màu với mọi màu”,nâng màu sắc của bộ nữ phục tộc người từ tẻ nhạt lên trang nhã

Trang nhã,đây chính là cốt tủy của thần thái trang trí Mường.Trang nhã tất nhiên có đi với loè loẹt hay rực rỡ.Tramh nhã cũng có thể đối lập với cầu kì.Nhưng trang nhã không phải bao giờ cũng đồng nhất với dạng thanh lịch trực tiếp hay dễ dãi.Dù trang nhã,người Mường không hề đơn giản.Họ “khó tính” lắm.Để đi đến trang nhã,họ phải mượn nhiều đoạn đường khuất khúc,phải trải qua chắt lọc,như ta đã thấy.Vì vậy,trang nhã Mường còn có nghĩa là trầm lắng.Phức tạp mà tưởng trừng như giản dị.Rối rắm mà tạo ra ấn tượng đạm bạc.Trong lịch vực thẩm mĩ,đó cũng là một giữa nhiều biểu hiện của tích cách hai mặt,của tính chất lưỡng trị có thể lọc ra từ những khía cạnh của cuộc sống.Mường cổ truyền.Phải chăng đây cũng là một biểu hiện của thần thái Đông Sơn,Trong chừng mực có thể xem nên nghệ thuật được các trống đồng lớn phản ánh là kết quả của một úa trình thanh lọc,khi mà con người từ đồ đá chuyển qua kim loại đã dần loại bỏ quan niệm”năng lượng ồ ạt sức sống của tôn giáo nguyên thủy,để xây dựng,hay tiêp thu một vũ trụ luận

Ngày đăng: 04/05/2021, 15:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w