Là một sinh viên của khoa Văn hóa dân tộc thiểu số tôi chọn đề tài: "Vai trò của Then trong đời sống của người Tày ở xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang" làm bài nghiên cứu của mìn
Trang 1Phần 1: MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Phần 2: Nội dung
Chương 1: Vài nét về Then, đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội và người Tày
ở xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
1.1 Vài nét về Then Tày
1.3.2 Dân số và phân bố dân cư
1.3.3 Đặc điểm kinh tế truyền thống
1.3.4 Văn hóa vật thể
1.3.5 Văn hóa phi vật thể
Chương 2: Vai trò của Then Tày trong đời sống của người Tày xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
2.1 Thế giới đời sống của Then
2.1.1 Xuống Then
2.1.2 Các quá trình diễn ra trong nghiệp Then
2.2 Then với đời thường
2.2.1 Những mối quan hệ trong Then
Trang 22.2.2 Những kiêng kỵ
2.3 Then với nghiệp Then
2.3.1 Những mối quan hệ trong nghiệp Then
2.4.6 Bộ gieo quẻ âm dương và các vật thiêng khác
2.5 Thế giới tâm linh của đạo Then
2.5.1 Bàn thờ
2.5.2 Trạm Then
2.6 Giá trị của Then trong đời sống
2.6.1 Then và cây đàn tính
2.6.2 Then và làn điệu then
2.6.3 Then và những điệu múa thiêng
2.6.4 Then - Thầy lang có ma thuật
Chương 3: Những ảnh hưởng của Then đến đời sống tâm linh của người Tày xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang hiện nay, một số nhận xét, giải pháp, kiến nghị
3.1 Những ảnh hưởng của Then Tày đến người dân ở xã An Lạc
3.2 Nhận xét
3.3 Một số giải pháp
3.4 Kiến nghị
KẾT LUẬN
Trang 3PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, 54 dân tộc anh em chung sống đan xen lẫn nhau tạo nên một nền văn hóa đa dạng, nhiều màu sắc Những nết đẹp văn hóa ấy được thể hiện qua lối sống hàng ngày, những phong tục tập quán, sinh hoạt trong cộng đồng hay những nhu cầu tâm linh của mỗi tộc người
Then Tày đã ít nhiều thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của giới văn hóa nghệ thuật nước ta Then với mục đích phục vụ nhu cầu đời sống tinh thần của
bà con người Tày nói riêng và đồng bào dân tộc Tày - Nùng nói chung
Là một sinh viên của khoa Văn hóa dân tộc thiểu số tôi chọn đề tài: "Vai trò của Then trong đời sống của người Tày ở xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang" làm bài nghiên cứu của mình Là một người được sinh ra và lớn lên tại địa phương ít nhiều cũng hiểu được phong tục tập quán, lối sống, những giá trị văn hóa nơi đây nên chọn nghiên cứu đề tài này tôi cũng muốn đóng góp những ý kiến, giải pháp góp phần nhỏ bé vào việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc Tày nói riêng và các dân tộc thiểu số nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu về nguồn gốc, giá trị của Then, vai trò của Then trong đời sống tâm linh của người Tày ở xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
Trang 4- Phạm vi nghiên cứu tập trung trên địa bàn xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thực hiện đề tài là quan sát đối tượng nghiên cứu thông qua những chuyến đi thực tế tập trung quan sát người làm Then, tìm hiểu đời sống của họ, tiếp xúc trò chuyện với bản thân cũng như người trong gia đình họ Thông qua
đó làm sáng tỏ lịch sử đời sống của những người làm Then
Phương pháp điền dã dân tộc học thể hiện trong quá trình khảo sát, phỏng vấn sâu, chụp ảnh thực tế để hiểu biết rõ về đề tài nghiên cứu ở xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
Trang 5Trước hết ta cần hiểu Then Tày là gì, quan niệm của người Tày về Then Tuy còn tồn tại những quan niệm khác nhau có người cho rằng Then tồn tại như một hình thức mê tín dị đoan nhảm nhí, lạc hậu, thậm chí còn gây tốn kém về tiền của Đề tài này sẽ cố gắng nhìn nhận và phân tích Then từ bản chất tôn giáo của nó
Đa phần những người yêu thích Then đều cho rằng Then nghĩa là tiên ( là người trời) Những người làm Then được trời ban cho sứ mạng giữ mối liên hệ giúp người trần gian, họ cầu mong những điều may mắn tốt lành, cầu lộc, cầu tài hoặc cầu tai qua nạn khỏi Như vậy để tìm hiểu một cách đơn giản thì các Then được trời giao cho sứ mạng để cứu dân độ thế, giúp cho nhân gian làm việc thiện, tu tâm tích đức Chính vì vậy người làm Then mang trên mình một
sứ mạng thiêng liêng, cao cả
Tuy nhiên, Then thường không chỉ là một pháp sư, người có phép màu để gặp gỡ được thế giới thần linh Then còn là một người biểu diễn điệu hát lễ cùng cây đàn tính Nếu như không hiểu rõ về Then thường người ta chỉ hình dung then như một làn điệu dân ca Tày hoặc là một người hành lễ tôn giáo cũng như người hầu bóng trong tín ngưỡng của người Việt
Then có khả năng liên hệ với thế giới thần linh khi thực hành lễ nhập Then thì người làm Then chỉ như người truyền tải lại ý nguyện, lời nói của thần linh, lúc
đó người Then hoàn toàn không biết gì Ngoài ra còn có những làn điệu "chầu văn" do các cung văn thực hiện, Then còn là một ca sỹ nhạc công, vừa đánh đàn vừa hát, khi trực tiếp tiếp xúc và thưởng thức những điệu hát Then ấy rất dễ đi vào lòng người, gây say mê, hứng khởi
Về vấn đề nguồn gốc của Then cho đến nay trong giới nghiên cứu vẫn tồn tại ba cách giải thích như sau:
Có ý kiến cho rằng Then có xuất xứ từ thời vua Lê, lại có ý kiến cho rằng Then là một phường hát chuyên nghiệp của cung đình đặt ra hay then là một loại lễ ca gắn với một hình thức tôn giáo
1.2 Đặc điểm tự nhiên
Trang 6An lạc là một xã vùng núi, vùng sâu, vùng xa thuộc xã đặc biệt khó khăn của huyện Sơn Động, là xã có điều kiện tự nhiên khác biệt so với các xã trong huyện - xã có chiều dài 22 km, chiều rộng 10 km, với tổng diện tích tự nhiên là
11 946 ha Trong đó diện tích đất canh tác nông nghiệp chỉ có 450 ha, còn lại là diện tích rừng và đất rừng, trong đó có khu rừng đặc dụng Khe Rỗ hơn 7.000 ha
- rất giàu thảm động vật và thực vật, tài nguyên phong phú và đa dạng Rừng được bảo vệ nghiêm ngặt, quanh năm đều xanh tốt, giữ được nguồn gien động thực vật quý hiếm và nguồn nước phục vụ cho ăn uống và sản xuất của 4 thôn trong xã
1.2.2 Địa hình
Địa hình của xã An Lạc chủ yếu là đồi núi cao và dốc chiếm hầu hết diện tích đất Do đặc điểm địa hình trên đã ảnh hưởng rất lớn đến việc đi lại, vận chuyển, sản xuất
Tuy nhiên địa hình đồi núi thuận lợi cho phát triển đàn gia súc, khai thác nguồn tài nguyên vốn có
1.2.3 Khí hậu
Trang 7Do đặc điểm địa hình chủ yếu là đồi núi và rừng khí hậu của xã có điểm khác biệt so với các nơi khác Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,6oC; nhiệt độ cao nhất là 37,50C, thấp nhất là 7oC Tháng lạnh nhất trong năm là tháng 3 Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của gió tây nam khô nóng, đôi khi xảy ra hiện tượng lốc cục bộ và mưa đá, lũ quét vào mùa mưa bão tập trung vào các tháng
7, 8, 9
1.2.4 Đất đai
Đất đai chủ yếu hình thành trên phức hệ trầm tích, gồm các loại đá mẹ chính: sa thạch, phiến thạch, sét, cuội kết và phù sa cổ Đất chủ yếu la đất ferarit hình thành trên các loại đá có tầng đất trung bình cho đến dày, hàm lượng mùn cao và rất giàu dinh dưỡng
1.2.5 Sông ngòi
Hệ thống sông ngòi ở đây cũng khá đa dạng có một con sông lớn là sông Lục Nam chảy qua và rất nhiều con suối nhỏ Vào mùa mưa do hệ thống sông suối tương đối nhiều nên thường xảy ra lũ quét ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp Về mặt tích cực sông suối lại cung cấp một lượng lớn nước cho sản xuất và sinh hoạt
1.2.6 Thảm thực vật và hệ động vật
Do nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai, khí hậu thuân lợi cho các loại động, thực vật rừng ở đây sinh trưởng và phát triển nên quần thể sinh vật ở đây rất phong phú và đa dạng Có rừng tự nhiên Khe Rỗ thuộc loại rừng nguyên sinh nhiệt đới, thường xanh với hai loại chính là: rừng rậm thường xanh trên đỉnh núi, với 8 quần xã thực vật và rừng kín thường xanh hỗn hợp cây
lá rộng, lá kim á nhiệt đới núi thấp, và trên đỉnh núi cao có những loại cây: lim, sến, táu, pơ mu,
Động vật có sự đa dạng về loài, đa dạng về các chi, các họ động vật quý hiếm Hiện trong khu bảo tồn có 226 loài động vật thuộc 81 họ, 34 bộ, 4 lớp có giá trị về nhiều mặt: kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn gien
1.3 Người Tày ở xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
Trang 81.3.1 Lịch sử người Tày
" Người Tày ở Việt Nam tự gọi là cần Tày Các nhà dân tộc học cho biết, đây là danh xưng phổ biến của nhiều dân tộc cùng ngôn ngữ đang sinh sống ở Đông Nam Á và nam Trung Quốc chứ không riêng người Tày Hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng Tày và các biến âm của nó là Tai, Tải, Thai đều có nghĩa là người tự do
Các nhà dân tộc học đã khẳng định rằng, người Tày và người Nùng là những cư dân có chung nguồn gốc, cùng thuộc khối Bách Việt đã được chứng minh bởi nhiều nguồn tài liệu khác nhau như dân tộc học và sử học Chúng ta biết rằng người Tày (và cả người Nùng) ở Việt Nam có mối quan hệ tộc thuộc gần gũi với người Choang - Đồng ở Trung Quốc
Người Tày và người Nùng vẫn gọi nhau một cách thân mật là cần slửa khao (người áo trắng, tức người Tày) và cần slửa đăm (người áo đen, tức người Nùng) Điều đó cũng có nghĩa rằng, đã có thời, các dân tộc Tày và Nùng không
có sự phân biệt Có thể các dân tộc này là hai bào tộc của một thị tộc lưỡng hợp, sau sang Việt Nam mới tách ra thành hai dân tộc Hiện tượng một cộng đồng nguyên thủy sau này phát triển và tách thành hai hay nhiều tộc người khác nhau cũng khá phổ biến trên thế giới
Căn cứ vào các tư liệu khảo cổ học, ngôn ngữ học, tín ngưỡng dân gian, v.v các nhà dân tộc học xishuang banna đã khẳng định rằng, tổ tiên của các dân tộc Tày - Thái hiện nay vốn sinh sống tại vùng Long Sơn, thuộc tỉnh Sơn Đông Họ cũng chính là chủ nhân của các di chỉ văn hóa mang tên Long Sơn rất nổi tiếng mà các nhà khảo cổ học Trung Quốc mới phát hiện gần đây Sau đó sự bành trướng của các bộ tộc Hoa Hạ, họ đã phải thiên cư xuống phương nam và Tây Nam Bộ phận thiên di theo hướng nam đã qua Đại Văn Khẩu, Hợp Phì, Lục An, Thanh Liên, Hà Mâu Độ, xuống Phúc Kiến, qua Quảng Đông và sang Quảng Tây Đến đâu họ cũng để lại những dấu ấn văn hóa mà ở đó các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những nét tương đồng trong sự phát triển
Trang 9Người Tày đã là một thành phần nguyên phát của dân tộc Việt Nam từ buổi đầu dựng và giữ nước Dẫn chứng cứ liệu trên đưa ra, để thấy rằng, người Tày nói riêng, các dân tộc nhóm Tày - Thái nói chung, đã có mặt ở phạm vi lãnh thổ nước ta từ rất lâu đời, có quan hệ mật thiết với người Việt và là một trong những cư dân có công rất lớn trong việc dựng nước trong giai đoạn bình minh lịch sử" ( Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc - )
1.3.2 Dân số và phân bố dân cư
Ước điều tra dân số 01/04/2009, dân số Bắc Giang có 1 555 720 người với mật độ dân số 407 người/km2 trên địa bàn tỉnh có 26 dân tộc anh em cùng chung sống và dân tộc Tày có dân số đứng thứ 3 trong toàn tỉnh chiếm 2,6% tập trung nhiều ở các huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế Dân số người Tày là 1.190.342 người Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có khoảng
30 nghìn người dân tộc Tày sinh sống
An Lạc là một xã có số người Tày cư trú đông, chiếm 60% dân số Người Tày ở đây còn gọi là Tày đen ( Táy đăm ), Tày trắng ( Táy khao ) Người Tày chiếm đông nhất là ở thôn Đồng Bài 100% người dân là dân tộc Tày, thôn Biểng, thôn Mới,
1.3.3 Đặc điểm kinh tế truyền thống
Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời họ đã biết thâm canh, áp dụng rộng rãi các biện pháp thủy lợi như: đào mương, đắp máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng Họ có tập quán đập lúa ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ co là lỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả,
Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm: trâu, bò, ngựa, vịt, ngan, gà, gia súc, gia cầm hình thức chăn nuôi là thả rông cho đến nay vẫn khá phổ biến Các nghề thủ công gia đình và thủ công truyền thống vẫn được lưu giữ
Trang 10Phương tiện vận chuyển: dùng dậu để gánh những thứ nhỏ gọn và những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người hoặc trâu kéo
Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo
kiểu phong kiến mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối Quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối, vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng ttoo lao dịch, phải cống nạp Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Tổ chức gia đình: Tổ chức gia đình người Tày là gia đình nhỏ phụ
quyền Trong mỗi gia đình thường có 3 - 4 thế hệ cùng chung sống Vai trò của người đàn ông trong gia đình là rất lớn và là trụ cột của gia đình
1.3.4 Văn hóa vật thể
Bản làng: Đồng bào Tày thường sống quần tụ thành từng bản Mỗi bản
thường có từ hai mươi đến một trăm nóc nhà Nhiều bản hợp lại thành một mường tương đương với một xã Bản của người Tày được xây dựng ở những chân núi hoặc những nơi đất đai bằng phẳng ven suối, ven sông, trên những cánh đồng Tính cộng đồng của bản xưa kia đóng một vai trò quan trọng trong đời sống, đã để lại những thuần phong mỹ tục truyền thống của dân tộc Tày
Nhà ở: Nhà sàn thể hiện nét độc đáo trong văn hóa dân tộc Tày Ngôi nhà
sàn không chỉ là nơi cư ngụ truyền đời của gia đình, dòng họ người Tày mà còn
là nơi diễn ra các sinh hoạt văn hóa truyền thống
Ngoài nhà sàn người Tày còn ở nhà nửa sàn, nhà trệt Hiện nay do tiếp xúc giao lưu văn hóa giữa các dân tộc nhất là dân tộc Kinh đã làm biến đổi nhiều về văn hóa thể hiện thay vì ở nhà sàn, nhà trệt như ngày xưa người Tày làm nhà bằng gạch ngói, xi măng, cát,
Trang phục truyền thống: Trang phục của người Tày đơn giản là một
sắc chàm, những mẫu hình trang trí trên vải Loại vải dệt hoa văn màu đen trên vải nền trắng, họa tiết được kỷ hả hóa là chính để thích hợp với việc dệt khung dệt
Trang 11Bố cục họa tiết theo các ô quả trám là loại họa tiết cách điệu hóa hình họa, hình ngọn rau bầu, bí, là loại cây liên quan đến nền văn hóa cổ, tín ngưỡng của nhiều cư dân nông nghiệp ở phía bắc nước ta
1.3.5 Văn hóa phi vật thể
Tín ngưỡng: Người Tày thờ tổ tiên và bái vật giáo Bàn thờ tổ tiên của
người Tày đặt chính giữa nhà và làm thành một không gian riêng, được cung kính hết mực Trong tôn giáo của người Tày, ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch là ngày tảo mộ, ngày lễ quan trọng nhất của người Tày
Ngôn ngữ: Người Tày sử dụng tiếng Tày trong giao tiếp hàng ngày
Tiếng nói nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Ka Đai)
Chữ Nôm Tày xây dựng trên mẫu tượng hình, gần giống như Nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép, truyện thơ, bài hát, bài cúng,
Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như: lượn, phong slư,
phuối pác, phuối rọi, vén eng, là lối hát giao duyên phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng người ta thường lượn trong hội Lồng Tồng, trong đám cưới mừng nhà mới,
Hát Then là loại hình văn nghệ độc đáo của dân tộc Tày phục vụ sinh hoạt văn hóa mang tính chất tâm linh, tín ngưỡng có từ lâu đời của người Tày Bao gồm các loại Then: chữa bệnh, giải hạn, cúng mụ, kỳ yên trấn trạch, then trong tang lễ,
Trang 12Chương 2: Vai trò của Then trong đời sống của người Tày xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
2.1 Thế giới đời sống của Then
Trong đời sống, sinh hoạt cũng như công việc hàng ngày của mình những
bà Then ông Then luôn tự mình thực hiện những kiêng kỵ, chuẩn mực và những nghi thức, nghi lễ riêng mà những người bình thường không phải làm điều đó thể hiện sự khác biệt giữa người làm Then với ngững người bình thường không chỉ khi thực hành nghi lễ mà còn trong đời sống thường nhật
2.1.1 Xuống Then
"Xuống Then" được hiểu như một cụm từ để chỉ biểu hiện gia nhập vào thế giới hành đạo, gọi là "ma Then" Khi ma Then bắt đầu nhập vào người được lựa chọn thì người này trước sau gì cũng trở thành Then Tuy nhiên không phải
ai cũng có thể được lựa chọn để trở thành Then Những người được lựa chọn phải có những tiêu chuẩn nhất định: người đó phải có căn Then; gia đình, dòng
họ phải có tẩu Then Người có căn Then nghĩa là trời đã định người này phải trở thành Then Họ rất nhạy cảm, bóng vía của họ rất nhẹ nếu được xem Then ở đâu
Trang 13đó thì họ rất dễ bị cuốn hút vào các việc múa chầu, xóc nhạc Gia đình, dòng họ
có "tẩu Then" nghĩa là trước đấy trong dòng họ, gia đình đã có người làm Then
Những người trở thành Then đã được tổ tiên, trời định kế nghiệp tổ tiên
để đi giúp dân, cứu người Có một số mặc dù không muốn trở thành Then nhưng do trời đã định, tổ tiên đã lựa chọn họ không thể lảng tránh nhiệm vụ của mình Nếu không làm theo cuộc đời họ sẽ gặp những khó khăn, không được yên
ấm Vì đã được lựa chọn nên tâm hòn của họ thường hướng về Then Việc trở thành Then thì không phân biệt nam hay nữ Tuy nhiên các Then là nữ chiếm phần đông hơn so với các Then là nam Cụ thể ở xã An Lạc qua nhiều thăm hỏi thực tế cho thấy số lượng Then là nữ đông hơn (5/7 người)
Nếu lựa chọn Then là con gái thì thường trở thành Then từ khi còn trẻ, việc đi lấy chồng của họ đa phần là gặp khó khăn vì ít những người con trai hiểu và thông cảm cho họ Tuy vậy có những trường hợp sau khi lấy chồng, có con cái
họ được đúc thành Then điều đó cũng gây ra khó khăn và đảo lộn cuộc sống gia đình họ, người chồng, con cái, anh em chưa thực sự thông cảm và hiểu cho hoặc cũng có những trường hợp không thể lập bàn thờ vì gia đình nhà chồng cấm, cho là mê tín dị đoan hay bị ma quỷ nhập Khi bị ma Then nhập họ bỗng trở nên khác lạ, xưng hô, nói năng, cử chỉ như một vị quan ra lệnh cho cấp dưới Trường hợp người bị ma Then nhập vào bất thình lình có thể do người nhà không tin theo, hoặc người Then đã không thực hiện đúng những nguyên tắc, kiêng kỵ Trong tức khắc họ rất khỏe có thể nhảy từ trên nóc nhà xuống cũng không sao, hoặc tự dưng họ không nói năng, thưa gửi vì họ bị "cấm khẩu", hay
là nói nhảm nhí Có thể nói đây là giai đoạn thử thách với một Then thực sự Để trở thành Then có thể "cứu nhân độ thế" họ đẫ phải trải qua không ít khó khăn, nhiều khi cảm tưởng như mất đi mạng người (theo lời kể của bà Then Trần Thị Nhất - xóm Nà Ó - xã An Lạc) họ thường có những hành động kỳ quặc: có thể cho nén hương đang cháy vào miệng, giẫm lên đống lửa đang cháy, nhảy lên bàn thờ, Khi vượt qua những thử thách như vậy người được lựa chọn sẽ đi nhận thầy dạy và bắt đầu học làm Then Người thầy dạy tùy theo xem họ có hợp
Trang 14với dòng Then của người được lựa chọn hay không, nếu hợp thì thầy đó sẽ lập bàn thờ cho người được chọn và từ đó người Then sẽ tự mình đi "cứu nhân độ thế" ở khắp nơi
2.1.2 Các quá trình diễn ra trong nghiệp Then
Then cũng có thể được coi là một nghề, nhưng nó là một nghề đặc biệt
Vì không phải ai cũng có thể trở thành Then Người trở thành Then phải trải qua một quá trình thử thách sau đó là học hỏi qua người thầy dạy mới có thể trở thành Then
Học nghề Then: Những người làm Then khi được hỏi về quá trình học nghề như thế nào thì đa số đều trả lời là không phải học vì khi họ đã có căn Then, chỉ cần ngồi trước bàn thờ thắp hương, trình tấu thì ma Then sẽ tự khắc nhập vào họ, chỉ cho họ cách làm như thế nào
Mỗi một Then đều có ít nhất là hai thầy dạy một người là Then được gọi là thầy
mẹ, một người là mo được gọi là thầy cha Thầy mẹ phải có "ma Then" của người học trò, người học trò được gọi là con sớ của người thầy và được thầy đặt cho một cái tên mới Tên này chỉ dùng để xưng danh trước Ngọc Hoàng và thần linh, tên này thường được các Then giữ bí mật vì nếu cho biết tên tuổi khi đi làm việc sẽ rất dễ bị những người xấu họ ghen tỵ với Then và họ làm cản trở con đường lên thiên đình của Then
Sau khi nhận được thầy dạy thì con sớ bước vào thời gian cấm cung trong vòng
40 ngày và phải tuân thủ một số kiêng kỵ như:
- Không được ra khỏi nhà một mình;
- Không bước về phía sau bàn thờ;
- Không ăn thịt, ăn mỡ;
- Không gặp mặt vợ hoặc chồng (nếu có)
Nếu họ vi phạm một trong các điều trên không chỉ không thành Then mà còn ảnh hưởng đến tính mạng vì bị ma Then bắt phạt
Thời gian thử thách để trở thành Then là sự hướng dẫn trực tiếp của thầy dạy và
sự hỗ trợ của một số sức mạnh vô hình: ma Then, phép thuật, học đàn, học hát,
Trang 15những kiêng kỵ và quá trình khi hành lễ Khi kết thúc 40 ngày, con sớ phải trải qua một cuộc kiểm tra, đánh giá của thầy dạy nếu đạt thì con sớ sẽ trở lại cuộc sống bình thường và được thầy dạy chính thức lập một bàn thờ bên dưới bàn thờ tướng trong gia đình, gọi là bàn thờ Then cho con sớ của mình
Qua thời gian hành nghề Then của mình nếu người Then đạt những tiêu chuẩn nhất định thì sẽ được thăng cấp dần
2.2 Then với đời thường
2.2.1 Những mối quan hệ
Then vẫn thuộc về một gia đình, dòng họ và một cộng đồng nhất định Then cũng được cha mẹ sinh ra như những người bình thường Do vậy quan hệ giữa Then và gia đình là quan hệ ruột thịt Then có nghĩa vụ chăm sóc và nuôi dưỡng cha mẹ như những người bình thường
Trong mối quan hệ giữa Then với vợ hoặc chồng và con cái trong gia đình Họ
là những người mẹ, người cha chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy bảo con khôn lớn, chăm lo, vun đắp cho hạnh phúc gia đình Điều này cho thấy giũa Then với những người xung quanh cũng không có sự khác biệt gì Tuy nhiên trong gia đình có vợ hoặc chồng làm Then thì người còn lại có phần vất vả hơn so với những gia đình không có người làm Then vì đôi khi Then đi vắng chồng hoặc
vợ phải ở nhà quán xuyến, đảm đang chăm lo việc nhà, chăm sóc con cái Không phải Then nào cũng được ủng hộ từ phía gia đình Bà Then K tâm sự từ lúc bà trở thành Then đến giờ chồng bà luôn coi bà là người không bình thường
từ đó ông nhà suốt ngày tụ tập uống rượu với bạn bè, lúc nào cũng trong tình trạng say xỉn rồi chửi mắng vợ con là "đồ vô tích sự" cho nên tinh thần của bà không được thoải mái Bà nói: " vì đã được ông trời lựa chọn làm nghề Then nên tôi phải theo" Bà thường xuyên phải đi vắng nên việc nhà, con cái không
có ai quán xuyến, chăm lo, cuộc sống gia đình trở nên bất hòa
Trong bữa ăn hàng ngày thì giữa Then và những người bình thường cũng có sự khác biệt, khi xới cơm phải xới cho Then trước và các thành viên khác không được ăn cơm trước Then
Trang 16Mối quan hệ giữa Then với họ hàng, làng xóm cũng có sự khác biệt Những người tin theo Then họ đều có thái độ kính trọng Then vì trong suy nghĩ của họ Then được trời giao phó co nhiệm vụ đi cứu nhân độ thế, luôn giúp đỡ những người gặp khó khăn, ốm đau, bệnh tật Chính vì thế họ luôn được đón nhận tình cảm yêu mến từ phía những người xung quanh Khi tham dự bữa cỗ hay tiệc tùng người chủ nhà luôn sắp xếp cho Then ngồi những vị trí sang trọng và mâm
có đó có người chủ nhà, người trưởng họ, người lớn tuổi để họ trò chuyên, vui tươi, kính mến Then
Từ những dẫn chứng, tìm hiểu phần trên cho thấy rõ ràng mối quan hệ giữa Then với gia đình, dòng họ, hàng xóm có sự khác biệt
mà ngay cả trong cuộc sống đời thường họ vẫn phải thực hiện những kiêng kỵ
mà bắt buộc những người Then không được mắc phải Những người làm Then phải kiêng kỵ trong ăn uống, mặc, ở và quan hệ vợ chồng (nếu có)
Đa số những người Then đều khá kỹ tính trong ăn uống Then không bao giờ ăn những thứ người khác đã ăn cũng giống như một trong 10 điều kiêng kỵ, điều cấm của Phật giáo đó là "không sát sinh" chính vì vậy Then không bao giờ tự tay giết thịt gia súc, gia cầm Các Then không ăn thịt những con vật đã chết và phải kiêng ăn thịt chó, thịt trâu, thịt bò và thịt rắn Nếu như không may, vô tình
ăn phải thịt những động vật trên bị thần linh trách phạt Nếu gặp trường hợp như vậy người nhà phải biết thắp hương, khấn vái, cầu xin thần linh bỏ qua Và giải
uế bằng nước gừng tươi với lá chanh, vẩy lên người vì Then quan niệm những con vật mà họ phải kiêng kỵ là " bẩn ", " uế tạp " cho nên họ phải giải uế bằng cách đó Chính vì phải kiêng kỵ rất nhiều thứ như vậy nên các Then rất ngại đi
Trang 17tham dự những đám cỗ, hoặc nơi đông người Đa số họ để người nhà mình đi hoặc nếu trong trường hợp bất đắc dĩ thì họ phải đi
Trong lĩnh vực ở, mặc, các Then luôn phải chú ý ăn mặc gọn gàng, đồ dùng của Then không được để lẫn với các thành viên khác trong gia đình
Trong quan hệ vợ chồng của Then: phải kiêng quan hệ vợ chồng trước và sau khi đi làm các lễ lớn Ngoài ra các Then còn phải kiêng kỵ những ngày 1,14,15,30 âm lịch hàng tháng đó là các ngày mà các Then không đi xa hành lễ
mà chỉ ở nhà thắp hương, cầu cho những người con sớ, con hương đã tin và theo các Then Nếu như không thực hiện kiêng kỵ trong những ngày trên thì cả Then
và vợ hoặc chồng Then đều bị ma Then trách phạt
Qua những kiêng kỵ mà người làm Then phải thực hiện trên cho ta thấy sự khác biệt giữa các Then và những người bình thường họ phai thực hiện nhũng kiêng
ky rất nghiêm ngặt Và qua những kiêng kỵ đó còn phản ánh niềm tin tôn giáo, Then với tư cách là một người hành nghề tôn giáo luôn có sự khác biệt với những người xung quanh
2.3 Then với nghiệp Then
2.3.1 Những mối quan hệ trong nghiệp Then
Cũng như bản thân mỗi chúng ta không ai tự lớn lên và trưởng thành mà không qua bàn tay chăm sóc của cha mẹ Với Then cũng vậy trong cuộc đời làm Then của mình Then phải có thầy mẹ, thầy cha dìu dắt Then ngay từ khi mới chập chững bước vào nghề Chính vì vậy mối quan hệ giữa Then với thầy mẹ, thầy cha rất đặc biệt
Để tỏ lòng hiếu thảo, biết ơn của mình vào những ngày lễ tết lớn Các Then chuẩn bị bánh trái, gà, vịt, cùng một lít rượu để đi chơi nhà thầy Trong suy nghĩ của Then luôn cho rằng nhờ có công lao của "cha, mẹ " đã dạy dỗ, giúp
đỡ nên họ mới có được ngày hôm nay
Việc đi lễ các Then thầy cũng là ý nguyện của trời nếu các Then không có lòng biết ơn đến thầy cha, thầy mẹ thì họ sẽ không được hưởng lộc, hưởng phúc và gặp những vận hạn