Nghiên cứu về Phạm Quỳnh nói chung và Nam Phong tạp chí nói riêng là một vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp. Bởi lẽ như trên đã nói, sự nghiệp văn hóa – văn học của Phạm Quỳnh khá đồ sộ, trải rộng trên hầu khắp các lĩnh vực. Dẫu có nhiều tham vọng, nhưng vì nhiều lí do, người viết chỉ có thể tiến hành nghiên cứu và hệ thống lại một khía cạnh nhỏ trong sự nghiệp của Phạm Quỳnh như đã xác định ở trên, với mong muốn góp thêm tiếng nói vào việc nghiên cứu sự nghiệp của học giả này.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọ đề tài
Văn hóa Việt Nam nói chung và Văn học học Việt Nam nói riêng,trong tiến trình lịch sử của mình đã có những cuộc tiếp xúc, ảnh hưởng lớn,hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp với văn hóa, văn học nước ngoài Trong quátrình tiếp xúc ấy, văn hóa - văn học Việt Nam đã tiếp nhận, chắt lọc tinh hoacủa nhân loại để tự làm phong phú bản sắc văn hóa riêng của dân tộc
Trong suốt hành trình dài hơn mười thế kỷ phát triển của văn hóa –văn học Việt Nam, phải kể đến hai cuộc tiếp xúc lớn với những ảnh hưởng
Trong công cuộc tiếp nhận những kinh nghiệm và thành tựu của văn hóa– văn học phương Tây để hiện đại hóa nền văn hóa – văn học Việt Nam ởchặng đường những năm cuối thế kỷ XIX – đầu XX, công cuộc đầu thuộc vềnhững tên tuổi lớn như Pétrus Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyến
Bá Học, Phạm Duy Tốn, Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Paulus Huỳnh TịnhCủa…Đó là những người thuộc tầng lớp trí thức Tây học đầu tiên của ViệtNam, với tinh thần cầu thị, tư tưởng tiến bộ và hơn hết là tình thần yêu nước
và ý thức dân tộc, đã tự nguyện là những người đi tiên phong trong công cuộctiếp nhận, truyền bá những tư tưởng văn hóa – văn học văn minh của phươngTây, góp phần không nhỏ vào công cuộc chấn hưng, hiện đại hóa văn hóa –văn học dân tộc
1
Trang 2Một trong những nhân vật xứng đáng được lịch sử văn học Việt Namcông nhận có công trong công cuộc chấn hưng hiện đại nói trên đó là nhàvăn hóa, nhà báo, nhà văn, nhà giáo, học giả Phạm Quỳnh Trần Văn
Chánh, trong Lời giới thiệu Phạm Quỳnh và Thượng Chi văn tập vào tháng
7 năm 2005, đã viết về trường hợp Phạm Quỳnh như sau :
“ Trong lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ cận – hiện đại, Phạm Quỳnh có lẽ là một trong những nhân vật nổi bật nhưng lại có vẻ gây nhiều cuộc tranh luận với những ý kiến đánh giá khác nhau nhất Nói như vậy, dù tán thành hay phản đối, hoặc giữ thái độ chiết trung, mặc nhiên mọi người
đã thừa nhận vai trò không thể xem thường của nhân vật này trong bối cảnh lịch sử văn hóa cụ thể nhất định” [3,9].
Bằng tài năng và sở học uyên bác, bằng sự kiên trì và cẩn trọngtrong khoa học và đặc biệt là bằng tình yêu tha thiết với văn hóa, văn họcnước nhà, Phạm Quỳnh đã đóng góp một sự nghiệp trước tác khá đồ sộ
Tạp chí Nam Phong trong mười bảy năm tồn tại, ấn hành được 210 số,
riêng Phạm Quỳnh đã đóng góp có tới chục ngàn trang viết, trải rộng ra trênhầu khắp mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, triết học, giáo dục đếnvăn chương, ngôn ngữ,…Cùng với sự đóng góp lớn lao ấy, Phạm Quỳnhxứng đáng được thừa nhận là một trong những người có công lớn trong thời
kỳ đầu xây dựng và phát triển của nền báo chí và văn học quốc ngữ nướcnhà
Ngay trước năm 1945, tên tuổi của Phạm Quỳnh đã được nhắc đến
một cách trang trọng trong một số công trình nghiên cứu có giá trị như Phê bình và cảo luận của Thế Sơn, Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan…Ở miền Nam trước năm 1975,
trong một số sách văn học sử tiêu biểu của các tác giả Phạm Thế Ngũ,
Thanh Lãng…Tác giả Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong cũng được giới
thiệu khá chi tiết qua hàng trăm trang sách với tất cả khía cạnh phức tạp củavấn đề Năm 1936, cũng ở miền Nam, diễn ra cuộc tranh luận với tên gọi
2
Trang 3Vụ án truyện Kiều hết sức kịch liệt và kéo dài mà giáo sư Nguyễn Văn
Trung đã tập hợp thành một “hồ sơ”
Tuy nhiên trong suốt một thời gian khá dài, vì những lý do khácnhau, vấn đề Phạm Quỳnh vẫn chưa thực sự được tìm hiểu, nghiên cứu mộtcách đầy đủ xứng tầm với sự đóng góp của ông với nền văn hóa – văn họcnước nhà Thời gian gần đây, tư tưởng đổi mới tư duy do Đảng khởi xướng
và lãnh đạo đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhận thức và đánh giá lạimột cách khách quan hơn đối với một số vấn đề trong lịch sử văn hóa – vănhọc nước nhà Phạm Quỳnh và sự nghiệp của ông đã được đặt ra và đánhgiá lại trong tình hình chung ấy
Trong điều kiện như vậy, nghiên cứu để có cái nhìn toàn diện, kháchquan và khoa học về sự nghiệp văn hóa, văn học của Phạm Quỳnh nói
chung cũng như Nam Phong tạp chí nói riêng, với những đóng góp thiết
thực, nền móng cho sự nghiệp phát triển của văn học Việt Nam Đó cũng là
lý do mà chúng tôi chọn đề tài : KHẢO SÁT SỰ TIẾP NHẬN VĂN HỌC PHÁP TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ làm đối tượng nghiên cứu khoa
học để thực hiện luận văn
Nghiên cứu về Phạm Quỳnh nói chung và Nam Phong tạp chí nói
riêng là một vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp Bởi lẽ như trên đã nói, sựnghiệp văn hóa – văn học của Phạm Quỳnh khá đồ sộ, trải rộng trên hầukhắp các lĩnh vực Dẫu có nhiều tham vọng, nhưng vì nhiều lí do, ngườiviết chỉ có thể tiến hành nghiên cứu và hệ thống lại một khía cạnh nhỏ trong
sự nghiệp của Phạm Quỳnh như đã xác định ở trên, với mong muốn gópthêm tiếng nói vào việc nghiên cứu sự nghiệp của học giả này
2 MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài được thực hiên với mục đích khảo sát sự tiếp nhận văn học
Pháp trên Nam Phong tạp chí Nhằm tìm hiểu một cách có hệ thống sự tiếp
nhận văn học Pháp và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của văn học
3
Trang 4Việt Nam, cụ thể được thể hiện trên Nam Phong tạp chí Trên cơ sở đó,
đánh giá một cách đúng đắn và khách quan những đóng góp cho nền vănhọc nước nhà của Phạm Quỳnh
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chỉ giới hạn qua việctập trung khảo sát sự tiếp nhận văn học Pháp trên Nam Phong Cụ thể là hệthống lại những đóng góp của các tác giả tên tuổi, đặc biệt là học giả PhạmQuỳnh trong việc đổi mới tư tưởng cũng như đặt nền móng cho sự pháttriển nền văn học Việt Nam sau này Tuy Phạm Quỳnh có những đóng góp
to lớn, song ông không phải toàn bộ tờ báo Từ góc nhìn khác, cho tới nay,Phạm Quỳnh vẫn là một “tên tuổi nhạy cảm”, nên chúng tôi lựa chọn giảipháp trung hòa, nghiên cứu Nam Phong và những đóng góp to lớn củaPhạm Quỳnh
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu của đề tài là khảo sát sự tiếp nhận văn họcPháp trên Nam Phong tạp chí Phạm Quỳnh là đại diện một trong số nhữngngười đi tiên phong trong giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hóa văn họcViệt Nam Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả luận văn sẽ nêu lên ý kiếnđánh giá về những đóng góp của Phạm Quỳnh đối với văn hóa – văn họcnước nhà, chủ yếu ở giai đoạn những năm đầu thế kỷ XIX
Trong quá trình nghiên cứu và xử lí các yêu cầu khoa học do đề tàiđặt ra, chúng tôi chủ yếu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê, là phương pháp vay mượn từ một ngành khoahọc chuyên biệt của toán học – ngành thống kê học, được chúng tôi
sử dụng như một công cụ hỗ trợ cho việc thu thập, tổ chức và phântích các tài liệu, ý kiến có liên quan đến việc tìm hiều sự tiếp nhậncủa văn học Pháp và ảnh hưởng của nó đến các sáng tác của nhữnghọc giả cận hiện đại Cụ thể được thể hiện trên Nam Phong tạp chí.Qua đó chúng tôi có thể rút ra được những kết luận khách quan về sự
4
Trang 5ảnh hưởng của văn học Pháp trong quá trình phát triển văn học ViệtNam.
- Phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ các nét tương đồngcũng như dị biệt về nội dung và hình thức giữa văn học trung đại vàhiện đại Làm rõ được sự khác biệt của tình hình báo chí trước và từkhi Nam Phong tạp chí ra đời để làm rõ được vai trò của PhạmQuỳnh và Nam Phong đối với tiến trình phát triển của văn học và báochí thời kỳ đầu
- Phương pháp hệ thống được dùng để hệ thống hóa các công trìnhtrước tác của Phạm Quỳnh, đặc biệt là Nam Phong tạp chí Từ đó cónhững đánh giá, kết luận về đóng góp của Phạm Quỳnh trong một bốicảnh đặc biệt của lịch sử văn hóa dân tộc
- Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các thao tác quen thuộc như liệt kê,phân tích, tổng hợp v.v…
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
4.2 Ý nghĩa thực tiễn.
Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp thêm một cái nhìn hệ thống về quátrình tiếp nhận văn học Pháp cũng như sự đổi thay tiến bộ của văn học ViệtNam cụ thể trên Nam Phong tạp chí Ngoài ra kết quả nghiên cứu này cũng
5
Trang 6có thể được sử dụng ở cấp học trung học phổ thông và đại học như một tàiliệu tham khảo bổ ích, phục vụ cho giảng dạy và học tập văn học Việt Namgiai đoạn đầu thế kỷ XX.
5 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nam Phong tạp chí hay vấn đề Phạm Quỳnh và sự nghiệp của ông đãđược các nhà nghiên cứu quan tâm ngay từ khi ông còn sống
Trong tác phẩm Phê bình cảo luận, xuất bản năm 1933, tác phẩm
được xem như một công trình lý luận phê bình hiện đại đầu tiên của văn họcViệt Nam, Thiếu Sơn đã có những nhận định hết sức xác đáng và toàn diện
cả về tư tưởng chính trị cũng như về sự nghiệp văn hóa của Phạm Quỳnh.Đánh giá đóng góp của Phạm Quỳnh về văn hóa, ở phần thứ nhất, mục Phêbình nhân vật của tác phẩm này, Thiếu Sơn viết :
“…những công trình về văn học, triết học của Âu châu và nhất là của nước Pháp, ông diễn dịch ra quốc văn rất nhiều, mà dịch thật đúng, thật hay, vừa biết tôn trọng cái nguyên ý của tác giả lại vừa lựa theo cái giọng điệu của quốc văn.
Bởi mưu cái công cuộc mới mẻ đó, mà cái tiếng nói bản quốc còn nghèo nàn túng thiếu quá, nên ông lại phải lo tài bồi cho quốc văn, mượn những danh từ triết học khoa học của tiếng Tàu, tiếng Nhật cho nhập tịch vào quốc ngữ để có thể diễn thuật được những cái mà tiếng Nôm ta không đủ để gọi ra…( …)
Cái công phu trứ tác của ông, ích cho quốc dân không phải là nhỏ mà ảnh hưởng đối với nhân chúng cũng thiệt là sâu ( …)
Cái cây bút quốc văn của ông Phạm Quỳnh nó đã ảnh hưởng đến thế mà cái cây but Pháp văn của ông nó cũng danh giá lắm thay ( ….)
Mà đọc văn ông, tất cũng có thể biết thêm được cái tinh thần bổn sắc của nước Việt Nam nó cũng không đến nỗi hèn kém gì.” [18, 59,
60]
6
Trang 7Theo đánh giá của Thiếu Sơn trên đây, thì đóng góp của PhạmQuỳnh đối với văn hóa nước nhà quả là không nhỏ Sự đóng góp ấy trảirộng ra trên nhiều lĩnh vực : Ngôn ngữ, trước tác, học thuật…
Về sự nghiệp chính trị của Phạm Quỳnh, ông Thiếu Sơn cũng cónhững nhận xét khá khách quan và xác đáng Theo ông, việc Phạm Quỳnhtham gia làm chính trị, nhằm thực hiện cái ước muốn về chủ trương lập hiếncủa mình, cho dù “ Cái chương trình lập hiến của ông nó cũng có giá trị lắmchớ!” [19, 61], là không phù hợp với hoàn cảnh của đất nước lúc bấy giờ.Đây là điều đáng tiếc, nếu không nói là sai lầm Bản thân Phạm Quỳnhcũng chịu không ít hệ lụy từ hành động chính trị đó của mình Tuy nhiênđộng cơ, mục đích của hành động ấy cũng không ngoài tấm lòng thiết thavới đất nước, với dân tộc Chiêu tuyết cho Phạm Quỳnh, Thiếu Sơn viết:
“Căn cứ vào cái quan niệm riêng của ông , ông khởi thảo ra một cái chương trình Lập hiến mà cho rằng nếu thiệt hành ra thì sẽ thỏa mãn được cái tư tưởng quốc gia của dân tộc An Nam và định yên được thời cục” [18,
61]
Năm 1941, trong Việt Nam văn học sử yếu, phần chương trình dành
cho Năm thứ ba, ban Trung học Việt Nam, Dương Quảng Hàm đã viếthẳn một chương về Phạm Quỳnh với kết luận rất xác đáng về nhữngđóng góp của học giả – nhà văn này đối với nền quốc văn như sau:
“Ông Vĩnh có công diễn dịch những tiểu thuyết và kịch bản của Âu Tây và phát biểu những cái hay trong tiếng Nam ra; Ông Quỳnh thì có công dịch thuật các học thuyết tư tưởng của Thái Tây và luyện cho tiếng Nam có thể diễn đạt được các ý tưởng mới Đối với nền văn hóa cũ của nước ta thì ông Vĩnh hay khảo cứu những phong tục tín ngưỡng của dân chúng, mà ông Quỳnh thường nghiên cứu đến chế độ, văn chương của tiền nhân Văn ông Vĩnh có tính cách giản dị của một nhà văn bình dân, văn ông Quỳnh có tính cách trang nghiêm của một học giả Tuy văn
7
Trang 8nghiệp của mỗi người có tính cách riêng, nhưng hai ông đều có công với việc thành lập quốc văn vậy.” [8, 403].
Năm 1942, khi xuất bản bộ sách Nhà văn hiện đại, ở phần Các nhà văn đi tiên phong, nhà nghiên cứu phê bình văn học Vũ Ngọc Phan đã
dành hơn ba mươi trang sách viết về Phạm Quỳnh cùng những đánh giákhá trọng thị đối với các công trình khảo cứu, dịch thuật, du ký và bìnhluận của ông:
“Ông là người viết nhiều nhất trong tạp chí Nam Phong(…) [16, 73] Nhưng một điều mà người đọc nhận thấy trước nhất trong những bài biên tập và trước thuậtcủa ông là ông không cẩu thả(…) [16, 75] Phạm Quỳnh
là một nhà văn có thể bàn luận một cách vững vàng và sáng suốt bất cứ về một vấn đề gì, từ thơ văn cho đến triết lý, đạo giáo cho đến chính trị, xã hội, không một vấn đề nào là ông không tham khảo tường tận trước khi đem bàn trên mặt giấy Trong lịch sử văn học hiện đại, người ta sẽ không thể nào quên được tạp chí Nam Phong, vì nếu ai đọc toàn bộ tập tạp chí này, cũng phải nhận là rất đầy đủ, có thể giúp cho người học giả một phần to tát trong việc soạn một bộ bách khoa toàn thư bằng quốc văn” [16, 109].
Ở miền Nam, trước năm 1975, tên tuổi và sự nghiệp của PhạmQuỳnh cũng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm tìm hiểu Kết quảnghiên cứu về Phạm Quỳnh được công bố qua một số công trình tiêubiểu như: các bộ sách văn học sử của các tác giả Thanh Lãng, Phạm Thế
Ngũ…; như: Văn học Việt Nam dẫn luận (Introduction à la litérature
Vietnamiene) của Maurice Durant và Nguyễn Trần Huân (Maison neulve
et la rose, Paris, 1969); như: Bài học Phạm Quỳnh của Thiếu Sơn, Chủ đích Nam Phong, Trường hợp Phạm Quỳnh, Vụ án truyện Kiều của
Nguyễn Văn Trung…
Đặc biệt, trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (tập III, phần
văn học hiện đại), tác giả Phạm Thế Ngũ đã dành hẳn một chương
8
Trang 9(Chương III) với hơn một trăm hai mươi trang sách để nghiên cứu mộtcách hết sức tỉ mỉ, nghiêm túc, khách quan về cuộc đời, sự nghiệp cũng
như những đóng góp của Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí đối với văn
hóa, văn học dân tộc, mà ta có thể tách ra như một công trình khoa học độclập
Trong mục bàn về Tư tưởng bảo thủ của Phạm Quỳnh, tác giả nêu
nhận định:
“Như vậy, việc ý thức cái cốt cách, cái cá tính, cái bản ngã của mình để mà bảo vệ, mà tài bồi thật là tối cần Nó chỉ có thể có với dân tộc nào hoặc với những ai quay về mình còn thấy cái gì cho là đáng quý đáng yêu, nghĩa là còn có tinh thần bảo thủ Không có nó, người ta sẽ trôi dạt đến chỗ bơ vơ mất gốc Có nó, người ta có thể chống chọi lại mọi mưu
mô quyến rũ từ ngoài, mọi mặc cảm tự ti từ mình Vấn đề đặt ra cho cả dân tộc cũng như cho mỗi cá nhân [14, 145].
Tuy bàn về “tư tưởng bảo thủ” của Phạm Quỳnh nhưng cách viết như
trên của Phạm Thế Ngũ chính là đã công tâm nhận ra cái ưu điểm củaPhạm Quỳnh trong việc tiếp thụ và vận dụng kinh nghiệm văn hóa TháiTây vào việc xây dựng văn hóa nước nhà
Kết thúc mục nghiên cứu về Chủ nghĩa quốc gia của Phạm Quỳnh,
tác giả cũng có những ý kiến hết sức khách quan và công tâm:
“Ngày nay chúng ta có nghiên cứu Phạm Quỳnh là nghiên cứu nhà báo và nhà văn của tạp chí Nam Phong, con người cùng tư tưởng trước
1932, con người tốt đẹp đã đóng một vai trò tương đối tiến bộ trong một giai đoạn lịch sử chánh trị và nhất là đã dày công xây đắp cho nền học và nền văn mới” [14, 170].
Ở miền Bắc, từ sau năm 1945 đến năm 1975, vấn đề Phạm Quỳnh làmột vấn đề hết sức nhạy cảm Trong suốt thời gian này, hầu như không cómột công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, khách quan về PhạmQuỳnh cũng như những đóng góp của ông đối với văn hóa và văn học nước
9
Trang 10Học giả Đặng Thai Mai, một người có uy vọng lớn trong giới nghiên
cứu văn học ở miền Bắc lúc bấy giờ, trong sách Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX (xuất bản năm 1961), thủy chung vẫn đánh giá Phạm
Quỳnh chỉ là một tên tay sai, bồi bút phục vụ cho mưu đồ xâm lăng, đồnghóa của thực dân Pháp đối với dân tộc ta Ông cả quyết khẳng định:
“Phạm Quỳnh đã đọc khá nhiều sách, đã viết về rất nhiều vấn đề Nhưng y chưa hề nghiên cứu về một vấn đề gì Và về mọi mặt, chỗ “độc đáo” của y là điểm lạc hậu của bọn học giả phản động Pháp! Cảm tưởng cuối cùng của người đọc Nam Phong, nếu họ chịu khó suy nghĩ, thì Phạm Quỳnh là một người đã đọc khá nhiều sách và đã đem học thức ra bán rẻ cho bọn thống trị; là một nhà “học giả” có đủ chữ Hán và tiếng Việt để bịp người Tây; và cũng có đủ chữ Tây để lòe người An Nam” [10, 124].
Sau những nhận định có tính chất phán quyết chung thẩm của ĐặngThai Mai thì vấn đề Phạm Quỳnh hầu như không có ai bàn đến hoặc có thìcũng chẳng nói khác hơn (ngoại trừ duy nhất ý kiến của nhà văn Nguyễn
Công Hoan trong Đời viết văn của tôi, NXB Văn học Hà Nội 1971)1.Đây có lẽ cũng là hiện tượng có thể giải thích được trong một giai đoạnđặc biệt của lịch sử!
Nhà văn Nguyễn Công Hoan cho biết, Phạm Quỳnh là “người có chínhkiến”; là người chủ trương thuyết lập hiến, rằng “người Pháp nên thi hànhđúng Hiệp ước 1884 nghĩa là chỉ đóng vai trò bảo hộ, còn công việc trongnước thì để vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy Bấy giờ, Phạm Quỳnhvào Huế làm quan không phải vì danh Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơnnhiều Thượng thư Nam triều Mà cũng chẳng phải vì lợi Đơn cử làm chủ
bút Nam phong, Phạm Quỳnh được cấp 600 đồng một tháng Món này to
hơn lương Thượng thư Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ để lấy danh nghĩaChính phủ Nam triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884 Vậy là một người
10
Trang 11yêu nước như Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳngqua là một việc miễn cưỡng trái với ý mình để khuyến khích bạn đồngnghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng một người dân mất nước aikhông đau đớn, ai không khóc thầm”.
Cho đến gần đây, trong không khí đổi mới và dân chủ của đời sốngvăn hóa tư tưởng, với sự nhận thức trầm tĩnh, khách quan hơn về cácvấn đề thuộc quá khứ lịch sử, Phạm Quỳnh và văn nghiệp của ông mớiđược nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học quan tâm trởlại
Năm 2000, tên của Phạm Quỳnh chính thức được nêu lên thành mục
trong quyển Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của Nhà xuất bản giáo dục Năm 2004, Từ điển văn học, bộ mới (Nhà xuất bản Thế giới, tháng
10/ 2004) đã bổ sung mục Phạm Quỳnh, do Nguyễn Huệ Chi viết, dài đến
ba trang Trong đó, công lao của ông đối với văn học nước nhà đã đượcđánh giá một cách khách quan và thừa nhận một cách trang trọng Kết luận
về Phạm Quỳnh, tác giả Nguyễn Huệ Chi có đoạn viết: “Là người biên khảo, lần đầu tiên Phạm Quỳnh cung cấp cho người đọc những khái niệm bước đầu về mỹ học nói chung cũng như về thơ, về tiểu thuyết…nói riêng”
[9, 1366]
Ngoài những công trình có tính chất quy mô như trên, từ những năm
2000 đến nay tạp chí Nghiên cứu văn học lần lượt đăng tải nhiều bài nghiên cứu sâu sắc và nghiêm túc về Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí: “Báo chí và văn chương qua một trường hợp: Nam Phong tạp chí”
(Nguyễn Đình Chú, Trịnh Vĩnh Long – Số 2, 2005), “ Về thuật ngữ tiểu
thuyết trên tạp chí Nam Phong” (Nguyễn Đức Thuận – Số 2, 2005), “Vai trò của trí thức trong quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX” (Vương Trí Nhàn
– Số 7, 2005), “Tình hình nghiên cứu phần văn trên Nam Phong tạp chí (1917 – 1934) từ 1975 đến nay” (Nguyễn Đức Thuận – Số 5, 2006),
11
Trang 12“Thượng Chi bàn về tiểu thuyết trên tạp chí Nam Phong” (Nguyễn Đình Chú – Số 4, 2007), “Thể tài du ký trên tạp chí Nam Phong” (Nguyễn Hữu
Sơn – Số 4, 2007) …
Ý thức sâu sắc về giá trị di sản tinh thần quý báu của cha ông và vớiniềm kính trọng một bậc thức giả, chúng tôi đã dành nhiều thời gian tìmhiểu về vấn đề Phạm Quỳnh Chúng tôi lấy làm băn khoăn khi nhận thấyrằng, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cáchđầy đủ và hệ thống về tư tưởng mỹ học và văn học của Phạm Quỳnhcũng như những đóng góp và hạn chế của những tư tưởng đó đối với vănhóa – văn học Việt Nam trong một giai đoạn đặc biệt của lịch sử văn hóa– văn học của dân tộc Thảng hoặc, những vấn đề này cũng được nhắcđến trong một số công trình nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu uy tínnhưng để có một sự xem xét, nghiên cứu một cách hệ thống, kỹ lưỡng thì,như đã nói ở trên, cho đến nay vẫn còn là vấn đề bỏ ngõ
ề tài Khảo sát sự tiếp nhận văn học Pháp của Phạm Quỳnh trên Nam Phong tạp chí có lẽ là một vấn đề vẫn mang tính nhạy cảm Trở ngại
không nhỏ đối với người thực hiện luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cógiá trị điểm tựa hết sức hạn chế, chúng tôi hầu như phải tự mình giải quyếttất cả các nội dung khoa học mà không được kế thừa nhiều thành quả củanhững nhà nghiên cứu đi trước
6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn gòm ba chương
Chương 1: Vai trò của Phạm Quỳnh trong việc truyền bá tư tưởng vănhóa, văn học Pháp trên Nam Phong những năm đầu thế kỷ XX
Chương 2 : Sự tiếp nhận văn học Pháp trên Nam Phong tạp chí cùngnhững tiến bộ văn học nước nhà
Chương 3 : Các tác giả đóng góp vào việc truyền bá văn hóa, văn họcPháp – châu Âu trên Nam Phong
12
Trang 13CHƯƠNG 1.
VAI TRÒ CỦA PHẠM QUỲNH TRONG VIỆC TRUYỀN BÁ TƯTƯỞNG VĂN HÓA, VĂN HỌC PHÁP TRÊN NAM PHONG NHỮNGNĂM ĐẦU THẾ KỶ XX
1.1. Tình hình văn học những năm đầu thế kỷ XX.
Trước khi bị người Pháp xâm lược và đô hộ thì Việt Nam đã là mộtquốc gia có nền văn học phát triển với bản sắc độc đáo gắn với bề dàyhàng ngàn năm văn hiến của lịch sử dân tộc
Văn học viết Việt Nam chính thức ra đời từ thế kỷ X cùng với nềnđộc lập, tự chủ của dân tộc và từ đó trở thành một bộ phận quan trọng,không thể thiếu của nền văn hóa dân tộc Trong tiến trình ngót mười thế
kỷ xây dựng và phát triển, văn học viết Việt Nam, một mặt chủ động tiếpthu một cách có chọn lọc những yếu tố ngoại lai, mặt khác kế thừanhững thành quả của văn hóa, văn học dân gian dân tộc, đã đạt được nhiềuthành tựu rực rỡ, kết tinh trong sáng tác của những tên tuổi lớn nhưNguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu,Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương,…
Tuy đã đạt được những thành tựu lớn về nhiều phương diện, nhưngcho đến cuối thế kỷ XIX, nhìn chung văn học viết Việt Nam vẫn như mộtdòng sông nhỏ hiền hòa, êm trôi giữa đôi bờ của vùng đất văn hóa Trungđại phương đông, phong kiến, cổ truyền, chở nặng trong mình những hạtphù sa của tư tưởng văn hóa ấy và vẫn còn quẩn quanh trong vùng châu thổgià cỗi này mà chưa vươn mình ra biển lớn của văn học thế giới; nó vẫnnằm trong quĩ đạo của văn hóa – văn học khu vực Đông Á, mà Trung Hoa
là nền văn hóa – văn học hạt nhân Nói một cách cụ thể, đó vẫn là mộtnền văn học chịu ảnh hưởng và sự chi phối sâu sắc của văn học và vănhóa phương Đông, mà chủ yếu là của Trung Hoa, về nhiều phương diện:
tư tưởng học thuật, quan niệm văn học, hệ thống thi pháp, thể loại, ngônngữ, chữ viết,… Chính
13
Trang 14sự chi phối và ảnh hưởng ấy mà trên đại thể, văn học Việt Nam thờiTrung đại có những đặc điểm nổi bật sau đây:
Về phương diện nội dung tư tưởng, văn học Trung đại Việt Nam chịuảnh hưởng sâu sắc các hệ tư tưởng Phật giáo, Lão giáo, và đặc biệt là Nhogiáo
Yêu nước trong văn học Trung đại Việt Nam luôn gắn liền với tưtưởng trung quân, ở những thời đoạn giai cấp phong kiến có vai trò tíchcực xứng đáng đại diện cho bản lĩnh và quyền lợi dân tộc đã đành, đến khichế độ phong kiến suy thoái, giai cấp phong kiến đã trắng trợn bộc lộ sựphản động, quay lưng lại với dân tộc, thì trong sáng tác của các nhà nho,
tư tưởng ấy vẫn ngự trị, dù cho các tác giả có giả tưởng chuyển hướng
lý tưởng vào một vị minh quân nào đi chăng nữa Thế kỷ XV, Nguyễn
Trãi khăng khăng giữ tấm lòng “Trung lẫn hiếu, mài chẳng khuyết nhuộm chẳng đen” Đến cuối thế kỷ XIX, Nguyễn Đình Chiểu vẫn viết Lục Vân Tiên với tuyên ngôn:
“Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”
(Lục Vân Tiên)
Ngay cả khi triều đình Tự Đức quay lưng lại với dân chúng, nhẫn tâmbán rẻ Nam Kỳ cho thực dân Pháp thì trong sáng tác của nhà thơ đượcxem là lá cờ đầu của dòng văn học yêu nước chống thực dân Pháp vàocuối thế kỷ XIX vẫn thấy xuất hiện những dòng thơ, những câu văn cảmđộng đến tuyệt vọng về tư tưởng trung quân:
“Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó”
Trang 15Một trận mưa nhuần rửa núi sông”
(Xúc cảnh)
Nhân đạo cũng là một nội dung lớn của văn học Trung đại Việt Nam
Đó là tình cảm tự nhiên, thiết tha trân trọng những giá trị nhân sinh, chânthành xúc cảm trước sự vui buồn của con người, căm phẫn những thếlực gian tà chà đạp quyền lợi nhân dân và tổ quốc Những tình cảm đótùy hoàn cảnh lịch sử – xã hội và tùy vào từng tác giả mà có sắc tháikhác nhau ở mỗi tác phẩm nhưng, hoặc nhạt hoặc đậm, có chịu ảnh hưởng
tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo hoặc là tư tưởng nhân nghĩa của Nhogiáo
Về phương diện hình thức, văn học viết Trung đại Việt Nam là mộtnền văn học song ngữ, một bộ phận viết bằng chữ Hán và một bộ phận viếtbằng chữ Nôm Buổi đầu xây dựng nền văn học viết nước nhà, do chưa cóvăn tự riêng nên cha ông ta lâm thời buộc phải vay mượn chữ Hán đểsáng tác Bộ phận văn học chữ Hán vì vậy ra đời trước Đã vay mượn chữHán thì buộc phải vay mượn luôn cả hệ thống kinh nghiệm văn học docác thế hệ thi văn nhân Trung Hoa đúc rút qua thực tiễn hàng ngàn nămsáng tác, bao gồm từ quan niệm văn học, loại thể, cho đến thủ pháp nghệthuật và nguồn thi văn liệu,… Tuy vay mượn văn tự và thi pháp TrungHoa nhưng suốt trong quá trình sáng tác, mỗi một tác giả đều luôn có ýthức Việt hóa sáng tác của mình để tác phẩm là của dân tộc Đến thế kỷXIII, chữ Nôm bắt đầu được sử dụng để sáng tác và dưới thời Trần cănbản chỉ mới ở mức độ ứng dụng kinh nghiệm đúc rút được từ sáng tácvăn thơ chữ Hán vào sáng tác thơ văn chữ Nôm Sau nhiều thế kỷ bền bĩ
nỗ lực, đến thế kỷ XVIII, XIX các tác giả mới có điều kiện vận dụng mộtcách trực tiếp và rộng rãi kinh nghiệm văn học dân gian dân tộc vào sángtác văn học chữ Nôm, đưa văn học tiếng Việt phát triển đạt được nhiềuthành tựu rực rỡ
Một đặc điểm quan trọng nữa về mặt hình thức của văn học ViệtNam Trung đại đó là tính quy phạm khá rõ rệt Tính quy phạm thể hiệntrước hết ở quan điểm nghệ thuật coi trọng mục đích giáo huấn của
Trang 16văn chương, xem văn chương là công cụ chuyển tải đạo lý, là
phương tiện phục vụ cho việc “sửa sang việc đời” Quan niệm “Văn dĩ tải đạo” (Văn để chở đạo) và “Thi ngôn chí” (Thơ nói chí) có địa vị
thống soái, chi phối quá trình văn học từ sáng tác đến tiếp nhận.Chúng ta dễ dàng nhận thấy quan niệm ấy được phát biểu công khaiqua sáng tác của nhiều tác giả:
“Đao bút phải dùng tài đã vẹn,
Chỉ thư nấy chép việc càng chuyên Vệ Nam mãi mãi ra tay thước, Điện Bắc đà đà yên phận tiên.”
(Nguyễn Trãi) “Học theo ngòi bút chí công,
Trong thơ cho ngụ tấm lòng Xuân Thu.”
(Nguyễn Đình Chiểu) “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.”
(Nguyễn Đình Chiểu)
Cái gốc của văn chương là đạo lý:
“Văn và đạo tuy có tên khác nhau nhưng nội dung của nó thì bắt nguồn từ đạo” (Nguyễn Văn Siêu).
“Văn của thánh nhân là để chở đạo, văn của văn nhân là để luận đạo Cho nên bàn về văn của thánh nhân – như sự trong sáng, tinh tế của Chu dịch, sự thông thoát chí lý của Thượng thư, sự uyển chuyển trung hậu của Kinh thi, sự cung kính trang nghiêm của Kinh lễ, sự khen chê có cân nhắc của sách Xuân Thu – văn đến năm kinh là tột đỉnh…”
(Nguyễn Tư Giản)
Lực lượng sáng tác của văn học thời kỳ trung đại từ sau thế kỷ XIII
chủ yếu là nhà nho, những người được đào tạo từ “cửa Khổng sân Trình”.
Họ thấm nhuần giáo huấn của Tứ thư, Ngũ kinh, họ tha thiết trung thành
với đạo của người quân tử Thơ văn là để nói lên cái chí của người quân
tử, nó không tách rời với mục đích giáo huấn Nguyễn Bỉnh Khiêm đã
khẳng định: “Ôi, nói tâm là nói về cái chỗ mà chí đạt tới vậy, mà thơ là để nói chí” Văn là để chở đạo, thơ để nói chí mà đạo và chí thì noi theo mẫu
mực thánh nhân, còn cách thức tư duy và hình thức biểu đạt cũng tuântheo những kiểu mẫu có sẵn, đã trở thành công thức,… nên văn học thời
Trang 17kỳ trung đại nhìn chung có xu hướng bị xóa nhòa phong cách, mang tính
“phi ngã”….
Về quy mô và phạm vi kết tinh, văn học trung đại có phạm vi kết tinh
ở văn vần hơn là văn xuôi; quy mô kết tinh vừa và nhỏ Quy mô nghệthuật này sẽ thiên về bút pháp chấm phá, điểm nhãn, gợi hơn là tả Các tácgiả văn học thời kỳ này thường hướng về cái đẹp trong quá khứ, thiên vềcái đẹp xinh xắn, thanh cao, tao nhã Do vậy, trong sáng tác của mình, họluôn thể hiện kiểu tư duy nghệ thuật giàu khả năng nắm bắt cái bản chất,cái tinh túy, cái thần của sự vật, của tâm trạng con người hơn cái vẻ bềngoài của sự vật
Văn học Việt Nam cho đến đầu thế kỷ XX mới thực sự bước vào thời
kỳ hiện đại hóa để hình thành nên một nền văn học mới Đó là một nềnvăn học phát triển trong xu hướng tiếp cận cùng văn học thế giới với
những nét đặc thù Nói như Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên, đó là “hầu như tân tạo trong một giai đoạn lịch sử mới”,
khác hẳn với văn học trung đại cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức thểloại
Ở phương diện nội dung, nếu như văn học trung đại chịu ảnh hưởng
và chi phối chủ yếu bởi tư tưởng, học thuật Trung Hoa; luân lý, đạo đứcKhổng Mạnh, thì sang thế thế kỷ XX, văn học hiện đại chủ yếu chịu ảnhhưởng của tư tưởng, học thuật phương Tây với những lý thuyết về dân chủ,
về ý thức cá nhân,… Do vậy, tuy vẫn tiếp thu và kế thừa những truyềnthống lớn của văn học dân tộc đó là yêu nước và nhân đạo, nhưng văn họchiện đại đã phát huy lên một bước mới: tinh thần dân chủ
Về nội dung yêu nước, văn học hiện đại không còn bị ràng buộc bởicái vòng kim cô của tư tưởng trung quân như trong văn học trung đại nữa
mà đã thực sự giải phóng với sự biểu hiện phong phú trên tinh thần dânchủ Các tác giả là những nhà cách mạng theo xu hướng tư sản, chẳng
hạn như Phan Bội Châu, ngay từ đầu thế kỷ đã quan niệm: “Dân là dân nước, nước là nước dân” Các tác giả thuộc bộ phận văn học cách mạng
vô sản thì gắn chủ nghĩa yêu nước với lý tưởng xã hội chủ nghĩa Với bộphận văn học hợp pháp, do nhiều lý do khách quan, tinh thần yêu nước
Trang 18được thể hiện một cách kín đáo hơn nhưng cũng không kém sâu sắc vàcảm động qua tình yêu đối với những đường nét, dáng vẻ đáng yêu của conngười và cảnh vật của đất nước; cái đẹp của văn hóa dân tộc và đặc biệt
là đối với ngôn ngữ dân tộc Ở khía cạnh này, Nguyễn Văn Vĩnh, PhạmQuỳnh là những là những gương mặt tiêu biểu
Tinh thần dân chủ cũng đem đến cho nội dung nhân đạo của văn họchiện đại những biểu hiện mới mẻ Đối tượng chủ yếu của văn học hiện đại
là những con người bình thường trong xã hội Chủ nghĩa nhân đạo trongvăn học hiện đại còn gắn liền với sự thức tỉnh về ý thức cá nhân củangười cầm bút Do vậy mà trong nhiều tác phẩm văn học thời kỳ này, tathấy sự thể hiện khá sâu sắc khát vọng sống, sự đề cao tài năng, phẩmgiá của mỗi con người; sự đấu tranh không khoan nhượng với luân lý,
lễ giáo phong kiến để bảo vệ hạnh phúc cá nhân, đặc biệt là các vấn đề vềtình yêu đôi lứa, hôn nhân, gia đình…
Ở phương diện hình thức thể loại, nếu văn học trung đại chỉ tập trungchủ yếu vào các thể loại văn vần với những hình thức chật hẹp và quyđịnh khắc khe, nghiêm ngặt về niêm luật; văn xuôi có thì cũng là loạivăn biền ngẫu và phương tiện sáng tác là chữ Hán, chữ Nôm, rất khókhăn cho sự tiếp nhận của công chúng bình dân, thì ở văn học hiện đại, tathấy có sự phát triển hết sức đa dạng các thể loại Bên cạnh các thể thơ cũ,
đã thấy xuất hiện các thể thơ tự do, thơ văn xuôi được sáng tác bằng chữquốc ngữ Đặt biệt là sự xuất hiện của các thể loại văn xuôi quốc ngữ nhưtiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, bút ký, tùy bút, lý luận phê bình vănhọc cũng như các thể kịch là dấu hiệu của một nền văn học hiện đại
Tuy nhiên để có một nền văn học hiện đại phát triển trong xuhướng tiếp xúc, hòa nhập với văn học thế giới, mang những nét đặc thùnhư đã nói ở trên, văn học Việt Nam đã phải trải qua một quá trình cáchtân, hiện đại hóa hết sức lâu dài và phức tạp với nhiều giai đoạn Mà mỗimột giai đoạn cách tân là kết quả của biết bao nhiêu tâm huyết, tài năngcủa các thế hệ cầm bút Về đại thể, văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XXcho đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, là một nền văn học đang ởtrong quá trình hiện đại hóa, mà thời gian từ năm 1900 đến 1930 là những
Trang 19giai đoạn đầu của quá trình ấy Trong khuôn khổ của luận văn này, chúngtôi chủ yếu chỉ tập trung khái quát tình hình văn học Việt Nam trong bamươi năm đầu của thế kỷ XX.
Như đã nói ở trên, văn học Việt Nam trong khoảng ba mươi năm đầuthế kỷ XX là nền văn học đang ở trong tiến trình hiện đại hóa Tiến trìnhnày trải qua hai chặng đường chủ yếu:
Chặng đường thứ nhất, diễn ra trong khoảng hai mươi năm đầu thế kỷ
XX Quá trình hiện đại hóa bắt đầu bằng sự hình thành các thể văn xuôiquốc ngữ Chữ quốc ngữ vốn do các giáo sĩ phương Tây sáng tạo ra vàokhoảng thế kỷ XVII nhằm phục vụ cho mục đích truyền giáo Sau gần bathế kỷ phát triển, với sự tham gia cải tiến, sáng tạo của của các thế hệgiáo sỹ phương Tây và trí thức Việt Nam, cho đến cuối thế kỷ XIX, chữquốc ngữ về cơ bản đã hoàn thiện và từ địa hạt tôn giáo, nó chuyển dầnsang lĩnh vực văn hóa, văn học Đầu thế kỷ XX, ý thức được sự thuận tiệncũng như tầm quan trọng của nó trong việc truyền bá tư tưởng văn minh
phương Tây, nâng cao dân trí, chấn hưng đất nước, các sỹ phu trong Duy tân hội và Đông kinh nghĩa thục cũng như một số trí thức Tây học có
tâm huyết như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh v.v…ra sức hô hào, vậnđộng cho việc truyền bá và học chữ quốc ngữ Nói về tầm quan trọng
cũng như sự tiện lợi của chữ quốc ngữ, thơ Đông kinh nghĩa thục có
đoạn viết:
“Trước hết phải học ngay quốc ngữ, Khỏi đôi đường tiếng, chữ khác nhau Chữ ta, ta đã thuộc làu,
Nói ra nên tiếng, viết câu nên bài Sẵn cơ sở để khai tâm trí…”
Năm 1907, cùng với sự vận động, hô hào tích cực của phong trào
Duy tân, Nguyễn Văn Vĩnh đã vận động đổi tờ báo chữ Hán Đại Nam Đồng Văn nhật báo thành tờ báo quốc ngữ Đăng Cổ tùng báo với hai tôn
chỉ: truyền bá học thuật phương Tây và cổ động cho chữ quốc ngữ Tiếp
theo Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh và phái Nam Phong cũng tích cực
ra sức truyền bá chữ quốc ngữ Năm 1917, trên tạp chí Nam Phong số ra đầu tiên, Phạm Quỳnh đã có hẳn một bài luận thuyết bàn về Văn quốc ngữ.
Chính sự truyền bá rộng rãi chữ quốc ngữ như vậy đã tác động tích
Trang 20cực đến sự hình thành tầng lớp công chúng văn học mới cũng như sự rađời và phát triển nền văn xuôi nước ta.
Nhưng điều kiện quan trọng hơn cho sự phát triển của văn xuôi quốcngữ ở giai đoạn này phải kể đến sự xuất hiện và phát triển của báo chícũng như phong trào dịch thuật Từ văn thông tin báo chí và văn dịchthuật mà câu văn xuôi nghệ thuật tiếng Việt ra đời, trưởng thành và pháttriển
Thực ra mầm mống của văn xuôi nghệ thuật tiếng Việt đã xuất hiện
vào cuối thế kỷ XIX với một số sáng tác như bài ký Chuyến đi thăm Bắc
Kỳ năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký (1876), truyện Thầy Lazaro Phiền của
Nguyễn Trọng Quản (1887)…Nhưng phải đến đầu thế kỷ XX thì mới cóhẳn một phong trào viết văn xuôi quốc ngữ, đặc biệt là ở miền Nam Năm
1910, Trần Thiện Trung đã cho ra đời cuốn tiểu thuyết Hoàng Tố Anh hàm oan viết theo lối mới khá chững chạc Tuy nhiên những sáng tác văn
xuôi trong giai đoạn này cũng mới chỉ là những thử nghiệm bước đầu chứchưa thực sự có giá trị cao về mặt nghệ thuật và phạm vi phát triển của nócũng mới chỉ thu hẹp ở một số đô thị ở miền Nam Văn xuôi giai đoạn nàychủ yếu vẫn tập trung ở mảng dịch thuật
Nhìn một cách tổng quát, sự phát triển của văn học Việt Nam tronggiai đoạn này vẫn gắn với những tên tuổi của những tác giả thuộc phong
trào Duy tân, Đông kinh nghĩa thục như Phan Chu Trinh, Phan Bội
Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, LươngVăn Can, Lê Đại…Với tư tưởng canh tân, họ kêu gọi nâng cao dân trí,khai thông dân khí, hô hào thực nghiệp, bỏ hư văn, học khoa học, phổbiến chữ quốc ngữ, mở rộng báo chí…Qua đó, họ đã tạo nên cả mộtphong trào sáng tác thơ văn tuyên truyền cổ động có nội dung chính trịmới mẻ, mang hơi thở và khí phách thời đại Tuy nhiên bộ phận văn họcnày cũng chỉ mới thể hiện sự đổi mới về tư tưởng chính trị, xã hội và họcthuật mà chưa có sự đổi mới thực sự về tư tưởng thẩm mỹ
Tóm lại là ở giai đoạn này, văn học đã có sự đổi mới về nội dung tưtưởng Chẳng hạn về ý thức hệ, văn học chủ yếu chịu sự chi phối của ýthức hệ tư sản; về lý tưởng chính trị xã hội, chủ nghĩa yêu nước đã gắn
Trang 21với lý tưởng cách mạng dân chủ tư sản, khác với văn học trung đại chủnghĩa yêu nước không thể tách rời lý tưởng tôn quân Về mặt nghệ thuật,văn học giai đoạn 1900 – 1920 vẫn chưa có những đổi mới đáng kể Cáctác giả chỉ dừng lại ở mức độ cách tân nghệ thuật sáng tác của nhà nhotrước kia Tiêu biểu nhất là thơ văn yêu nước và cách mạng Còn nhiềutác phẩm thể hiện những vấn đề mới của cách mạng bằng hình thức nghệthuật cũ Các tác giả còn ít dùng chữ quốc ngữ để sáng tác, chưa bỏ đượclối văn biền ngẫu, thơ vẫn là loại thể được ưa chuộng, ngôn ngữ vẫn cònmang tính chất cầu kỳ, bóng bẩy
Chặng thứ hai, diễn ra từ khoảng năm 1920 đến năm 1930 Quá trìnhhiện đại hóa đã đạt được nhiều thành tựu Văn học không chỉ đổi mới vềnội dung mà cả nghệ thuật cũng đã khác trước rất nhiều
Văn xuôi nghệ thuật đã phát triển mạnh hơn trước với sự phong phúcủa nhiều thể loại Ở thể loại tiểu thuyết, phải kể đến những gương mặttiêu biểu như Hồ Biểu Chánh ở trong Nam với hàng chục tiểu thuyết dày
dặn; Hoàng Ngọc Phách, Trọng Khiêm ở ngoài Bắc với các tác phẩm Tố Tâm, Kim Anh lệ sử Truyện ngắn ở giai đoạn này cũng đã phát triển với
những tên tuổi tiêu biểu như Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Nhất Linh
Về thể bút ký, có sự góp mặt của những gương mặt tiêu biểu như PhạmQuỳnh, Tương Phố, Đông Hồ… Phần lớn những tác giả kể trên thuộc lớptrí thức Tây học đầu tiên do vậy tác phẩm của họ chịu ảnh hưởng rõ rệttiểu thuyết, truyện ngắn của Pháp
Trên lĩnh vực thi ca, “cái Tôi” cá nhân đã bắt đầu cựa quậy từ cuối
thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX với những cá tính độc đáo như Hồ XuânHương, Nguyễn Du, Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ, thì đến giai đoạn này
nó càng tự khẳng định mạnh mẽ hơn với Trần Tuấn Khải, đặc biệt là Tản
Đà với hồn thơ phóng túng, tràn đầy tình cảm và cảm xúc Tuy nhiên, thơ
ca giai đoạn này cũng chỉ mới dừng lại ở chỗ khẳng định “cái Tôi” cá
nhân về mặt nội dung cảm xúc và khai thác những thể điệu tự do trong thơ
cổ, xét về mặt hình thức thể hiện, mà chưa thực sự cách tân một cách triệtđể
Ở giai đoạn này, văn học Việt Nam thấy xuất hiện một loại hình văn
Trang 22học mới du nhập từ phương Tây, tuy thành tựu còn khiêm tốn nhưng rấtđáng chú ý Đó là thể loại kịch nói với những tác phẩm của các tác giả
tiêu biểu như Chén thuốc độc, Tòa án lương tâm của Vũ Đình Long; Bạn
và vợ của Nguyễn Hữu Kim; Ông Tây An Nam của Nam Xương…
Tóm lại, trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX, tình hình văn học ViệtNam có nhiều biến động sâu sắc Văn học dân tộc đang trong cơn vật vã
dữ dội của sự sinh thành, sự lột xác để hòa mình vào với văn học hiện đạithế giới Sự chuyển mình ấy đã đạt được những thành tựu đáng kể cả vềnội dung lẫn hình thức, mặc dù nó vẫn chưa thực sự thoát ra khỏi ảnhhưởng của văn học cũ Tuy nhiên, để giai đoạn mở đường của văn họcViệt Nam trong quá trình hiện đại hóa có được những thành tựu bước đầunhư vậy là nhờ sự cống hiến to lớn và hết mình của những trí thức vừa cótâm, lại vừa có tài như thế hệ của Phạm Quỳnh
1.2. Bối cảnh báo chí Việt Nam trước khi Nam Phong tạp chí ra đời.
Mầm mống báo chí đã có ở nước ta từ lâu, thể hiện dưới nhiều hìnhthức hết sức đa dạng, phong phú Đó là những câu vè lưu truyền trong dân
gian, những lời rao của mõ làng, những cuộc “giảng thập điều” trong trong sinh hoạt làng xã… cho đến những hình thức “thông tin chính thức” của nhà nước phong kiến bằng cách yết bảng văn ở Quảng Văn Đình
thời Lê Thánh Tông hay Quảng Minh Đình thời Nguyễn Gia Long…
Nói về nguồn gốc báo chí, trong bài Nước ta xưa có được tự do ngôn luận không? đăng trên tạp chí Tri Tân, số 206 (04/ 10/ 1945), Ứng
Hòe Nguyễn văn Tố cho biết:
“Khâm định Việt sử (quyển 14, tờ 15a) chép lại rằng: “Nguyên trước, những chiếu, lệnh của nhà vua, lâm thời bộ đem yết bảng, đến năm Tân Hợi (1491), vua Lê Thánh Tông cho dựng một cái đình ở ngoài cửa Đại Hưng (tức cửa Nam thành Thăng Long) để làm nơi niêm yết những phép tắc trị dân, đặt tên là Quảng Văn Đình… Ba chữ “Quảng Văn Đình” nghĩa là một cơ sở để thu nhặt giấy tờ ở các nơi Đến đời Gia Long (1802 – 1819), làm đình ở phường Nam Hưng (tức Cửa Nam bây giờ), trên có đặt tên là Quảng Minh Đình… cũng để dán những huấn lệnh của nhà vua Cạnh đó có hai tòa nhà ngói ở cửa Đông Nam gọi là
Trang 23Hiệp Nghị đường (Nhà để họp bàn), phàm dân gian có việc gì uất ức, cho đến bày tỏ, cho nên các đình, ở mé ngoài miếu thờ Thành Hoàng vừa là nơi để tụ họp khi tế lễ, lúc hương ẩm, vừa để dán những huấn lệnh của nhà vua, cứ ngày Một và Rằm các huynh thứ trong làng ra đọc những huấn lệnh và giảng nghĩa cho dân gian nghe, thường gọi là giảng thập điều”.
Như vậy cái đình tức là báo chí, có định lệ mồng Một và Rằm tức
là nhật báo hoặc tuần báo…Báo chí tức là những tờ huấn lệnh dán ở đình làng tựa như tờ Acta diurna của người La Mã đời xưa” [Dẫn theo Đỗ
Quang Hưng 37, 8; 9]
Cách cắt nghĩa độc đáo trên của Ứng Hòe cho ta ý niệm về một
“hình thức báo chí” trong xã hội Việt Nam cổ truyền Tuy nhiên, theo
đúng nghĩa hiện đại, báo chí Việt Nam chỉ thực sự xuất hiện cùng với sựthiết lập chế độ thuộc địa của Thực dân Pháp trên đất nước ta
Trang 24Báo chí ở Việt Nam ra đời đầu tiên và trước hết là nhằm phục vụcho mưu đồ xâm lăng và thống trị của thực dân Pháp về nhiều phươngdiện, đặc biệt là phương diện chính trị và văn hóa Ngay từ khi chiếm đượcNam Kỳ, vào năm 1861, thực dân Pháp đã cho xuất bản tờ công báo đầutiên phục vụ cho công cuộc viễn chính của chúng ở xứ này Đó là tờ
Bulletin officiel de l'Expédition de la Cochinchine (Kỷ yếu công vụ cuộc
viễn chinh xứ Nam Kỳ) mà nội dung của nó là những nghị định, công văn,đạo luật, các chỉ thị, các bài diễn văn… phát ra từ soái phủ Nam Kỳ Tờbáo được lưu hành và sử dụng như một phương tiện thông tin và thốngnhất chỉ đạo cho cuộc đánh chiếm và cai trị của Pháp ở Nam Kỳ Nó đặtnền móng cho các tờ công báo chính thức về sau này của chính quyền thựcdân
Cùng với tiến trình đánh chiếm và áp đặt chế độ cai trị của thực dânPháp lên các vùng đất của Việt Nam, hàng loạt tờ báo, tạp chí bằng tiếng
Pháp của chính quyền thực dân đã nối tiếp nhau ra đời: Le Courrier de Saigon (Tin Sài Gòn) ấn hành số đầu tiên vào ngày 01/ 01/ 1864, đến năm
1879 đổi thành Journal Officiel la Cochinchine (Công báo xứ Nam Kỳ),
và cuối cùng, năm 1889, mang tên Journal Officiel de l'Indochine (Công báo Đông Dương); những bản Niên giám (An nuaire) được xuất bản hàng năm, từ năm 1865; Bulletin Officiel du protectorat de l'Annam et du Tonkin (Kỷ yếu công vụ của nền bảo hộ xứ Trung và Bắc kỳ) ấn hành vào năm 1883, đến năm 1886 đổi thành Moniteur du Protectorat de l'Annam
et du Tonkin; L'Avenir du Tonkin (Tương lai xứ Bắc Kỳ - 1884); Bulletin
du comité agricole et industriel de la Cochinchine (Kỷ yếu của Ủy ban canh nông và kỹ nghệ xứ Nam Kỳ - 1869 – 1881); Bulletin de la Societé Etudes Indochinoise (Kỷ yếu của Hội nghiên cứu Đông Dương
– 1883); Revue Indochinoise (Tạp chí Đông Dương – 1892)…
Ngoài những tờ công báo của chính quyền thực dân, hàng loạt các tờbáo tư nhân bằng tiếng Pháp cũng thi nhau ra đời Tính từ sau 1861 chođến đầu thế kỷ XX, ta thấy số lượng các tờ báo bằng tiếng Pháp này chiếmmột số lượng đáng kể ở cả Bắc và Nam Kỳ
Ở Nam Kỳ (chủ yếu tập trung ở Sài Gòn) có các tờ báo sau đây:
Independance de Saigon (Sài Gòn độc lập – 1870), L'Ere nouvelle (Nhật
Trang 25tân báo – 1879), Journal de Saigon (Nhật báo Sài Gòn – 1880), Le Mékong (Mê Kông – 1883), Le Saigonais (Người Sài Gòn – 1883), L'Indochine (Đông Dương – 1884), Unité Indochinoise (Đông Dương thống nhất – 1884), La Trompette (Kèn đồng – 1884), L'Extrême Orent (Viễn Đông – 1887), L'Independant (Tự lập – 1888), Le Courier Saigonais (Tin Sài Gòn – 1889), Saigon Respublicain (Sài Gòn cộng hòa – 1888), Petites affiches (Rao vặt – 1888), Le Cochinchinois (Dân Nam
Kỳ - 1888), Le progres de Saigon (Sài Gòn tiến bộ - 1889), …
Ở Bắc Kỳ, dòng báo chữ Pháp có phần ít ỏi hơn Cuối thế kỷ
XIX, ngoài tờ báo L'Avernir du Tonkin (Tương lai xứ Bắc Kỳ) còn có các
tờ Le Courier d'Haiphong (Tin tức Hải Phòng - 1886), L'Indépendance Tonkinoise (Xứ Bắc Kỳ tự lập - 1889), L'escho du Tonkin (Tiếng vang Bắc Kỳ - 1896), Le France d'Asie (Pháp – Á, 1893), Le gazette d'Haiphong (Báo Hải Phòng, 1895)…
Có một thực tế là từ năm 1861, sau sự ra đời của tờ báo Bulletin officiel de l'Expédition de la Cochinchine (Kỷ yếu công vụ cuộc viễn chinh
xứ Nam Kỳ) tuy hàng loạt tờ báo bằng tiếng Pháp đã xuất hiện trên khắpcõi Việt Nam với số lượng khá lớn nhưng chủ yếu chúng chỉ dành cho độcgiả Pháp, chủ yếu là giới quân sự và dân sự trong bộ máy chính quyềnthuộc địa mà rất ít người Việt sử dụng được
Như đã nói ở trên, báo chí ở Việt Nam ra đời trước hết là nhằm phục
vụ cho mưu đồ xâm lăng và thống trị của thực dân Pháp Sau Hòa ước
1862, về cơ bản thực dân Pháp đã hoàn tất việc xâm chiếm và thiết lậpchế độ cai trị ở ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ Nhận thấy đã đến lúc cần phảitruyền bá học thuật và tư tưởng văn hóa Pháp vào Việt nam, nhất là tạocho việc đưa chữ Quốc Ngữ vào quĩ đạo xâm lăng văn hóa, đánh bại chữNho và văn hóa phương Đông, đầu năm 1865 Soái phủ Nam Kỳ đã quyết
định cho xuất bản tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở nước ta, tờ Gia Định báo.
Có thể nói đây là tờ báo mở đầu cho nền báo chí Việt Nam
Nhận thức được sức mạnh lớn lao của công cụ báo chí trong tiến trìnhxâm lăng, đô hộ và đồng hóa, nhưng đồng thời thực dân Pháp cũng ýthức một cách sâu sắc “tác hại” ghê gớm của nó đối với an nguy của nền
đô hộ của chúng ở Việt Nam Vì vậy mà trong suốt hơn 80 năm cai trị,
Trang 26thực dân Pháp đã thực hiện một chế độ báo chí hết sức khắt khe vàkhông đồng nhất ở cả ba kỳ trên đất nước ta Ngay cả ở Nam Kỳ, sau cáchiệp ước Harmand (1883) và Patenôtre (1884) đã thực sự trở thành xứthuộc địa trực trị của Pháp ở Đông Dương, lẽ ra phải được hưởng những
điều khoản của Luật thừa nhận tự do báo chí ngày 29 tháng 7 năm 1881 (
Loi du 29 Juiller 1881, sur la liberté de la presse) của Pháp, nhưng thực tếthì hoàn toàn ngược lại Về phạm vi điều chỉnh, điều 10, đạo luật nói trêncho phép áp dụng tại chính quốc cũng như tại Algérie và các xứ thuộc địakhác Về đối tượng áp dụng, các điều 5, 6, 7 của đạo luật này quy định: dùbáo chí xuất bản bằng tiếng Pháp hay tiếng bản xứ đều tự do, muốn ra báokhông cần phải có một điều kiện nào ngoài việc viên quản lý phải có quốctịch Pháp, đã là thành viên và có đăng ký thủ tục với Sở Biện lý Tuynhiên sớm nhận thấy chỗ “sơ hở chết người” này, một mặt, thực dân Phápvẫn cho phép báo chí bằng tiếng Pháp được tự do xuất bản, mặt khác,chúng ban hành sắc lệnh ngày 30 tháng 12 năm 1898, buộc tất cả các báotiếng Việt, chữ Hán và các tiếng khác phải có giấy phép trước khi xuấtbản Tất nhiên là đối với Trung Kỳ và Bắc Kỳ thì việc xuất bản báo chí lạicàng phức tạp và gắt gao hơn Và một điều mỉa mai là hầu như đa số các tờ
báo tiếng Việt, lúc đầu đều do người Pháp đứng tên: Gia Định báo (1865) với E Poteau, Đồng Văn nhật báo (1893) với F H Schneider, Nông Cổ Mín Đàm (1901) với Cavanaggio…
Do chính sách báo chí bất bình đẳng cùng với chế độ kiểm duyệt gắt
gao như vậy nên từ năm 1865, kể từ thời điểm Gia Định Báo ra đời, cho
đến đầu thế kỷ XX (năm 1900), thời gian ngót ngét gần nửa thế kỷ nhưng
ở Việt Nam chỉ lác đác dăm bảy tờ báo lớn nhỏ, kể cả viết bằng chữ Hán:
Gia Định báo (1865), Phan Yên báo (1868), Nhựt Trình Nam Kỳ (1883), Thông loại Khóa Trình (1888), Đại Nam Đồng Văn nhật báo (1893)…
trong số này, có những tờ phải sớm đình bản vì có hơi hướng yêu nước
như trường hợp Phan Yên báo chẳng hạn Sang đến đầu thế kỷ XX, do áp
lực của phong trào yêu nước ngày một phát triển, đặc biệt là các phong
trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, Đông Du, cùng với tình hình thế
giới có nhiều biến động, thực dân Pháp có nới lỏng chính sách báo chí đôichút Chính điều này đã tạo điều kiện cho nhiều tờ báo ra đời, góp phần
Trang 27vào sự phát triển của báo chí Việt Nam cũng như sự phát triển của chữquốc ngữ và văn học Tính từ thời điểm đầu thế kỷ XX đến năm 1917, khi
Nam Phong tạp chí ra đời, số lượng các tờ báo bằng tiếng Việt so với giai
đoạn trước đó đã có sự gia tăng đáng kể Chỉ trong 17 năm, số lượng các tờbáo đã gấp ba lần so với nửa thế kỷ trước đó Với sự ra đời nhanh chóngnhư vậy trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của văn hóa và xã hội nước
nhà, có thể nói báo chí trong thời kỳ này đã đóng vai trò “bà đỡ mát tay”
cho sự sinh thành, phát triển của văn học quốc ngữ và đã góp phần hình
thành nên đời sống văn học hiện đại Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, khi nghiên cứu về văn học giai đoạn 1907 –
1932, đã coi “vai trò tiên phong của báo chí” là một trong năm “yếu tính” của văn học Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam cũng đặc biệt nhấn mạnh tới tầm quan trọng của báo chí khi nói đến “văn học thế hệ 1913” và dành hẳn một chương cho Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh với hai tờ Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí, hai nhà
văn – nhà báo và hai tờ báo theo ông là tiêu biểu đương thời Bùi Đức
Tịnh trong Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới, Bằng Giang trong Văn học Quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865 – 1930 cũng cho báo chí
là một “bộ môn tiên phong của nền văn học mới”
Tuy nhiên, khảo sát chung các tờ báo ra đời trong giai đoạn từ năm
1900 đến năm 1917, trừ Đông Dương tạp chí và Trung Bắc tân văn, ta thấy
chúng vẫn còn nhiều hạn chế so với báo chí phương Tây cả về ngôn ngữ,nội dung, đề tài, phạm vi phản ánh Hầu hết các báo đều ở dạng sơ khai,chưa thật đúng với nghĩa một tờ báo hiện đại Sở dĩ có hiện tượng trên là
do sự chi phối của những nguyên nhân mà nhà chí sỹ Huỳnh Thúc Kháng
đã phân tích khá khái quát trên tờ Tiếng Dân do ông làm chủ bút:
- Thiếu tài liệu cho Bộ biên tập làm việc: Tài liệu là yếu tố quan trọng cho bất cứ tờ báo nào Muốn viết bài xã luận hay một bài báo đều cần nhiều tài liệu Riêng tờ Tiếng Dân thì tài liệu thiếu thốn quá nhiều.
- Đường giao thông khó khăn: Muốn được độc giả chú ý, tờ báo cần có tin tức hằng ngày Phương tiện giao thông ở xứ ta còn yếu kém, muốn đi từ Nam ra Bắc, phải tốn 5, 7 ngày, vùng
Trang 28thôn quê, vùng sơn cước lại là nơi khó tới lui Như vậy làm sao thu thập tin tức?
- Nạn mù chữ: Báo sống nhờ độc giả Ở Trung Kỳ, ngoại trừ thành thị, chỉ có 10 phần trăm dân chúng ở thôn quê biết đọc Bởi vậy người ta đọc báo rất ít.
- Sự yếu kém về kỹ nghệ và thương mại: Báo phát triển mạnh khi giới doanh thương chú ý đến nó Giới doanh thương cần quảng cáo hàng hóa trên báo và họ cần giúp đỡ cho tờ báo được sống Ở xứ ta, thương mại và kỹ nghệ hầu như không có vậy thì tờ báo làm sao đứng vững lâu dài nếu thiếu người chịu đăng quảng cáo.
- Hiện tượng tâm lý: Ở những nước tiên tiến, báo chí được phồn thịnh nhờ tất cả mọi người đọc báo, từ kẻ doanh nghiệp đến người lao động, từ văn sỹ đến chính trị gia Báo chí nhờ đó mà trở thành một lực lượng đáng kể Nhưng ở xứ ta, thấy ít nói đến báo chí và thích đọc báo Không được dư luận công chúng biết đến thì báo khó mà sống dai được [Dẫn theo Đỗ Quang
Hưng 37, 220]
Nhưng Huỳnh thúc Kháng cũng chỉ mới phân tích đến những nguyênnhân kinh tế, xã hội mà chưa đề cập đến một nguyên nhân hết sức quantrọng, kìm hãm sự phát triển của báo chí trong giai đoạn này đó là chínhsách báo chí hà khắc cùng với một chế độ kiểm duyệt vô cùng gắt gao củathực dân Pháp Tất cả những nguyên nhân trên đã kìm hãm sự phát triểncủa báo chí Việt Nam trong thời kỳ này
Tóm lại, cho đến đầu thế kỷ XX báo chí vẫn là một cái gì đó chưađược biết đến một cách rộng rãi trong đời sống Việt Nam Do ảnh hưởngcủa phong trào yêu nước cùng với nhiệt tình, tâm huyết của những nhà tríthức nặng lòng với dân tộc, báo chí Việt Nam từ sau năm 1900 trở đi đã có
phần khởi sắc nhưng phải đợi đến khi Đông Dương tạp chí (1913) và Trung Bắc tân văn (1915) ra đời thì báo chí Việt Nam mới bước sang một
kỷ nguyên mới Và đến năm 1917, với sự ra đời của Nam Phong tạp chí
thì báo chí Việt Nam mới thực sự trưởng thành vượt bậc
1.3 Vai trò của Phạm Quỳnh trong đổi mới văn hóa – văn học Việt
Trang 291.3.1 Đối với báo chí :
Bàn về những điều kiện cho sự phát triển của tư tưởng, học thuật,ngôn ngữ và văn học hiện đại những năm đầu thế kỷ XX, không thểkhông nhắc đến vai trò vô cùng quan trọng, có tính tiên phong của báochí Mà nói đến báo chí, thì không thể không nhắc đến những tên tuổilớn, có ảnh hưởng đến sự phát triển của nó trong những bước phát triển
đầu tiên của buổi sơ khai như Pestrus Trương Vĩnh Ký với Gia Định báo; Diệp Văn Cương với Phan Yên báo; Lương Khắc Ninh, Gilbert Trần
Chánh Chiếu, Nguyễn Đồng Trụ, Lê Văn Trung, Nguyễn Chánh Sắt…
với Nông Cổ Mín Đàm; Nguyễn Văn Vĩnh và một số cây bút của phong trào Đông kinh nghĩa thục với Đăng Cổ tùng báo…Một trong số những
nhân vật có công rất lớn đối với sự phát triển của báo chí Việt Nam tronggiai đoạn mở đầu này, nhất thiết phải nói đến là nhà báo Phạm Quỳnh, chủ
bút Nam Phong tạp chí.
Nói đến Phạm Quỳnh là nói đến một trong những trường hợp đặc
biệt của văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX Đó là một trong “những người khổng lồ”1 cách đây hơn một thế kỷ mà tài năng, trí tuệ thể hiện một
cách rờ rỡ trên mọi lĩnh vực văn hóa Nhà nghiên cứu phê bình văn học
Vũ Ngọc Phan, trong tác phẩm Nhà văn hiện đại (Quyển 1, phần III), khi
bàn về Phạm Quỳnh, đã có những nhận xét khá xác đáng về sự uyên bác và
nghiêm túc, cẩn trọng của nhân vật này như sau: “Phạm Quỳnh là một nhà văn có thể bàn luận một cách vững vàng và sáng suốt bất cứ về một vấn đề gì, từ thơ văn cho đến triết lý, đạo giáo cho đến chính trị, xã hội, không một vấn đề nào là ông không tham khảo tường tận trước khi đem bàn lên mặt giấy” [16, 109].
Nói Phạm Quỳnh là một trong những trường hợp đặc biệt là vì ngoàinhững uẩn khúc của cuộc đời đã gây nên không ít những cuộc tranh luậnvới lắm nhận định, đánh giá khen chê từ bảy thập kỷ qua, sự nghiệp vănhóa của ông cũng hết sức đồ sộ, thể hiện ở tất cả mọi lĩnh vực Ở PhạmQuỳnh là sự tổng hòa của những nhân tố đáng khâm phục: một học giảuyên bác, một nhà văn hóa lớn, một nhà văn tâm huyết và một nhà báo
Trang 30có tài Khác với Nguyễn Văn Vĩnh, khởi đầu sự nghiệp văn hóa là mộtnhà văn, báo chí là lĩnh vực mà Phạm
1 Chữ dùng của Nguyên Ngọc
Quỳnh tiếp xúc trước nhất, và cũng ở lĩnh vực này, tinh hoa củacon người học giả, con người văn hóa, con người nhà văn của ôngđược phát tiết Sự nghiệp báo chí của Phạm Quỳnh bắt đầu từ rất sớm
Ngay từ khi Nam Phong tạp chí chưa ra đời, ông đã là một nhà báo
chuyên nghiệp Năm 1913, khi mới ngoài hai mươi tuổi, Phạm Quỳnh đã
là một trong những thành viên của Ban biên tập, gồm nhiều cây bút tên
tuổi của tờ Đông Dương tạp chí như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Tố,
Phạm Duy Tốn, Nguyễn Đỗ Mục, Phan Kế Bính…do Nguyễn Văn Vĩnh
làm chủ bút Với Đông Dương tạp chí, Phạm Quỳnh đã nổi danh là nhà
báo sâu sắc, độc đáo, uyên thâm qua những bài dịch thuật văn học và tư
tưởng mà ông gửi đăng trên báo này Và năm 1917, khi Nam Phong tạp chí ra đời, ông trực tiếp làm tổng biên tập và là cây bút chủ lực với hàng
ngàn trang viết trên tất cả mọi lĩnh vực trong suốt thời gian tồn tại của tờ
báo cho đến khi nó đình bản vào năm 1934 Với Nam Phong tạp thí,
Phạm Quỳnh là linh hồn của tờ báo và cũng trên mặt báo này toàn bộ sựnghiệp văn hóa của Phạm Quỳnh được thể hiện Vì vậy mà khi nói đến
Nam Phong tạp chí tức là nói đến Phạm Quỳnh và ngược lại Có thể nói
ngay rằng Phạm Quỳnh là một nhà báo lớn, có những đóng góp vô cùngquan trọng cho sự phát triển của báo chí Việt Nam những năm đầu thế kỷXX
Nếu chia tiến trình phát triển của báo chí Việt Nam từ năm 1865
(thời điểm ra đời của tờ báo tiếng Việt đầu tiên: Gia Định báo) đến năm
1945 ra làm bốn giai đoạn (1865 – 1907; 1907 – 1918; 1918 – 1930; 1930– 1945) thì từ năm 1865 đến năm 1907 là giai đoạn hình thành, báo chívẫn còn mang tính sơ khai; giai đoạn từ 1907 đến năm 1918, báo chí ViệtNam đã có sự trưởng thành cả về số lượng và chất lượng Trong số hơn ba
mươi tờ báo xuất bản trong giai đoạn này thì Đông Dương tạp chí được xem là tờ báo mở ra một kỷ nguyên mới và Nam Phong tạp chí là sự
trưởng thành vượt bậc tạo nên sự phát triển mạnh mẽ, rầm rộ của báo chí
Trang 31Việt Nam ở các giai đoạn sau Có được thành tích ấy là sự đóng góp tàinăng tâm huyết của những cây bút xuất sắc, đặc biệt trong đó cóNguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh.
Với Đăng Cổ tùng báo và đặc biệt là Đông Dương tạp chí, Nguyễn
Văn Vĩnh được xem là người đóng vai trò tiên phong cho nền báo chí Việt
Nam hiện đại thì với Nam Phong tạp chí, Phạm Quỳnh là người có công
đối với sự hoàn thiện và phát triển vượt bậc của thể loại báo chí Ở giaiđoạn đầu, báo chí ra đời mục đích chủ yếu là thông báo những tin tứctrong các địa phương và ban bố những mệnh lệnh, chỉ thị của chính quyềnthực dân Một số tờ báo cũng có các mục về văn học với một vài bản dịchtiểu thuyết Trung Hoa ra tiếng Việt, nhưng nhìn chung nội dung của báocòn nghèo nàn, ngôn ngữ còn hạn chế, cách đưa tin còn vụng về, chưa đảm
bảo được tính ngắn gọn, chính xác…Đến Nam Phong, dưới sự điều hành
và tác nghiệp của Phạm Quỳnh, báo chí đã mang một diện mạo mới
Ra đời trong bối cảnh đặc biệt của tình hình lịch sử, chính trị, xã hội
và văn hóa Việt Nam lúc bấy giờ, Nam Phong tạp chí xác định rất rõ ràng
và thiết thực tôn chỉ của mình qua Mấy nhời nói đầu của ông chủ bút Phạm Quỳnh, đăng trong số ra đầu tiên vào tháng Bảy năm 1917 là “đem sức nhỏ, tài mọn mà giúp cho sự học trong nước” Cụ thể đó là:
1/ Dùng chữ quốc ngữ để diễn tả, giải thích các tư tưởng, học thuật Âu - Á để mang những kiến thức này đến cho người không biết tiếng Pháp hoặc chữ Nho.
2/ Nâng cao trình độ chữ quốc ngữ thành một nền ngôn ngữ so sánh được với tiếng Pháp và chữ Nho.
Với việc xác định rõ ràng tôn chỉ, mục đích như vậy, Phạm Quỳnh đãchỉ ra những đặc trưng cơ bản, mang tính lý luận của thể loại báo chí, đó làchức năng thông tin, tuyên truyền và giáo dục
Về nội dung của tờ báo, Phạm Quỳnh và nhóm biên tập Nam Phong,
gồm nhiều cây bút nổi tiếng như Phan Khôi, Nguyễn Bá Học, Nguyễn
Bá Trác, Nguyễn Hữu Tiến, Trần Văn Ngoạn, Thân Trọng Huề, Trần Mỹ,Hoàng Yến, Tản Đà, Dương Bá Trạc, Hoàng Tích Chu, Nguyễn MạnhBổng…đã đề ra các nội dung cơ bản mà Phạm Quỳnh đã xác định trong
bài Mấy nhời nói đầu, được Phạm Thế Ngũ tóm lược như sau:
Trang 321/ Mục luận thuyết: Bàn chung những vấn đề có liên hệ đến thời thế, nhất là những vấn đề có liên hệ đến riêng dân ta, để cho độc giả trong nước có một quan niệm minh chính về các vấn đề đó.
2/ Mục văn học bình luận: Gồm những khoa văn chương lịch sử, đại để những môn tổng danh gọi là văn học Bàn rộng những sách hay dù
cũ dù mới, thâu thập những ý kiến tư tưởng mới hay danh tiếng.
3/ Mục triết học bình luận: Nghiên cứu các lý thuyết tư tưởng đời xưa đời nay, so sánh tư tưởng Âu Tây với Á Đông ta để giúp cho sự đề xướng một tư trào riêng cho nước ta Tôn chỉ là giúp cho quốc dân về trí thức và đạo đức.
4/ Mục khoa học bình luận: Không chuyên luận về từng khoa một nhưng chỉ trình bày những vấn đề đại cương, những nguyên lý, lịch sử tiến hành của khoa học.
5/ Mục văn uyển: Sưu tầm những thi ca cũ bằng chữ Hán, chữ Nôm, đồng thời đăng tải những bài thơ mới đủ các loại: Đường thi, phú,
ca trù, văn tế, kinh sách, lục bát trường thiên.
Trang 336/ Mục tạp trở: Gồm có những bài nho nhỏ, những câu chuyện vụn vặt không thuộc vào những loại trên, những bài giới thiệu sách mới, những bài danh ngôn trích lục các sách, những tin tức về học giới.
7/ Mục thời đàm: Bàn về thời sự các việc lớn trong cũng như ngoài nước, luôn luôn giữ một thái độ bình tĩnh mà thuật những việc đó, mưu toan ích lợi cho dân ta.
8/ Mục tiểu thuyết: Dịch những bộ tiểu thuyết hay ở Pháp văn ra, cần nhất là những cuốn có văn chương hay, nghĩa lý cao, kết cấu khéo, làm mẫu mực cho tiểu thuyết ta sau này.
So với Đông Dương tạp chí, nội dung của Nam Phong tạp chí phong
phú hơn nhiều Các bài biên tập, khảo cứu vừa sâu, vừa rộng Với chủtrương dung hòa Đông – Tây, vừa thâu thái những tinh thần tiến bộ của
tư tưởng Thái – Tây, vừa bảo tồn cổ học và quốc túy, Nam Phong đã tạo được đất đứng cho cả những cây bút xuất thân Nho học Đặc biệt, Nam Phong rất chú trọng thơ ca Tạp chí đăng tải rất nhiều thơ ca kim cổ, góp
phần tạo nên một phong trào thơ ca sôi nổi lúc bấy giờ
Với những nội dung phong phú như vậy, rõ ràng thông qua Nam Phong, Ban biên tập của tờ báo, mà chủ yếu là Phạm Quỳnh, đã góp phần
vô cùng to lớn trong việc hoàn thiện và phát triển báo chí Việt Nam, đưabáo chí Việt Nam mau chóng vươn lên trình độ hiện đại, đúng với đặctrưng của thể loại
Hầu hết các mảng nội dung của báo Nam Phong, đặc biệt là trong
thời gian làm chủ bút, Phạm Quỳnh đều tham gia tác nghiệp Ông viết rấtnhiều và đều đặn trên các số báo với khối lượng rất lớn những bài từ dịchthuật, khảo cứu, luận thuyết, đến ký sự, đoản thiên…
Nam Phong tạp chí là một tờ báo lớn, mặc dù hình thức chân
phương, thường in với khổ lớn, đậm đặc những chữ theo hai cột dài, trêndưới trăm trang, không kể phần chữ Hán và chữ Pháp, với những nộidung phong phú, gồm nhiều mục như đã nói ở trên, nó vẫn có sức hấpdẫn đối với độc giả thời bấy giờ vì bài vở được kén chọn kỹ càng và còn vì
độ sâu tri thức của các bài viết Với phong cách của một tạp chí có tính
bách khoa toàn thư như vậy Nam Phong đã để lại một kho tư liệu quý mà đầu thập kỷ bốn mươi Tạp chí Tri Tân đã tính đến chuyện làm thư mục về
Trang 34nó Ngay cả Dương Quảng Hàm, khi soạn bộ sách Việt Nam văn học sử yếu, hầu như cũng dựa vào tư liệu lấy từ Nam Phong tạp chí là chủ yếu Đó
là những đóng góp quý báu của Phạm Quỳnh và Nam Phong đối với báo
chí nói riêng, cũng như đối với văn hóa nước nhà vậy!
Một đóng góp quan trọng nữa của Phạm Quỳnh và báo Nam Phong
đối với báo chí Việt Nam đó là về mặt ngôn ngữ báo chí và cách thức
biên tập, đưa tin Ngôn ngữ báo chí đến thời Nam Phong đã đạt đến sự
trong sáng, rõ ràng về mặt từ ngữ; khúc chiết, mạch lạc về cách hành văn.Cách đưa tin cũng ngắn gọn, chính xác và hấp dẫn, thể hiện qua nhữngbài biên tập kỹ càng và sâu sắc của Phạm Quỳnh và Ban biên tập
Tiếp nối sự nghiệp truyền bá chữ quốc ngữ của thế hệ trí thức đitrước như Pétrus Trương Vĩnh Ký, Paulus Huỳnh Tịnh Của và sau này là
của Nguyễn Văn Vĩnh và các chí sỹ trong phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, Phạm Quỳnh và báo Nam Phong đã kiên trì nghiên cứu, cải
tạo câu văn quốc ngữ, khiến nó có khả năng diễn đạt một cách trong sáng,
rõ ràng mọi khái niệm thâm thúy của tư tưởng triết học kim cổ đông tâythông qua việc tổ chức biên dịch, giới thiệu các tư tưởng ấy trên mặt báo
Những cố gắng ấy của Phạm Quỳnh và Nam Phong đã góp phần không
nhỏ trong việc phát triển ngôn ngữ tiếng Việt nói chung và ngôn ngữ báo
chí, nói riêng Ngay trong những số đầu của Nam Phong, Phạm Quỳnh đã nêu vấn đề Văn quốc ngữ (Số 2 – Năm 1917) làm mục tiêu để xây dựng và
phát triển tờ báo:
“Vấn đề quan trọng nhất trong nước ta ngày nay là vấn đề văn quốc ngữ, vấn đề ấy có giải quyết được thì sự học mới có thể tấn tới, dân trí mới có thể mở mang, cuộc tiến hóa sau này mới có thể mong mỏi được Đến ngày chữ quốc ngữ dùng làm quốc văn được thì người nước Nam mới
có thể thâu thái các khoa học mới, mà gây thành nền học thích hợp với trình độ, với tính cách dân ta Đến ngày ấy thì người nước ta mới phát biểu được tinh thần cốt cách của mình, tinh thần cốt cách ấy hiện nay còn mập mờ phảng phất như ảnh không hình vậy Nói rút lại quốc ngữ có phát đạt thì nền quốc học mới gây dựng được, quốc dân ta mới không đến nổi chung kiếp đi học mướn viết nhờ như từ xưa đến nay vậy” [3, 58].
Không chỉ nêu lên tầm quan trọng của văn quốc ngữ đối với nền học
Trang 35của nước nhà, trong bài viết này Phạm Quỳnh cũng đã chỉ ra những giảipháp cụ thể để phát triển văn quốc ngữ cũng như trách nhiệm của các tríthức Tây học và Nho học đối với việc phát triển ấy Đánh giá về công lao
của Phạm Quỳnh và báo Nam Phong đối với nền quốc văn của nước nhà,
Vũ Ngọc Phan đã viết trong Nhà văn hiện đại (Tập 1, quyển nhất, phần Các nhà văn hồi mới có chữ quốc ngữ) như sau:
“Đến cái công của Phạm Quỳnh đối với quốc văn thì ai cũng phải nhận là một công lớn như công của Nguyễn Văn Vĩnh vậy
Trong mười sáu năm chủ trương Nam Phong tạp chí, ông đã xây đắp cho nền móng quốc văn được vững vàng bằng những bài bình luận
và khảo cứu rất công phu mà từ Bắc chí Nam người thức giả đều phải lưu tâm đến Nhiều người thanh niên trí thức đã có thể căn cứ vào những bài trong Nam Phong tạp chí để bồi bổ cho cái học còn khuyết điểm của mình Thậm chí có người đã lấy Nam Phong làm sách học mà cũng thâu thái được tạm đủ tư tưởng học thuật Đông Tây Muốn hiểu được những vấn đề về đạo giáo, muốn biết văn học sử cùng học thuật tư tưởng nước Tàu, nước Nhật, nước Pháp, muốn đọc thi ca Việt Nam từ thời Lý, Trần cho đến ngày nay, muốn biết thêm lịch sử nước Nam, tiểu sử của các đấng danh nhân nước nhà, muốn am hiểu các vấn đề chính trị xã hội Âu Tây
và cả những học thuyết của mấy nhà hiền triết cổ La – Hy, chỉ đọc kỹ Nam Phong là có thể hiểu biết được Một người chỉ biết đọc quốc ngữ mà có khiếu thông minh có thể dùng Nam Phong tạp chí để mở mang học thức của mình Nam Phong tạp chí sinh sau Đông Dương tạp chí bốn năm, nhưng sống lâu hơn và ở vào một thời thích hợp hơn nên ảnh hưởng về đường văn chương đối với quốc dân Việt Nam đã to tát hơn nhiều [16,
có ý nghĩa về tư tưởng cũng như học thuật trên báo chí như cuộc tranh
luận về Truyện Kiều, cuộc tranh luận về quốc học…Thông qua những
cuộc tranh luận như vậy, rõ ràng không khí sinh hoạt báo chí đã trở nên
Trang 36sôi động chứ không tĩnh lặng, buồn tẻ như giai đoạn đầu.
Ở giai đoạn đầu của lịch sử phát triển báo chí Việt Nam, ta dễ thấy
là lực lượng độc giả còn rất hạn chế, chủ yếu tập trung vào thành phầntrí thức và các viên chức của chính quyền thực dân Đây là hiện tượngkhông khó lý giải ở một xã hội kém phát triển như nước ta thời bấy giờ.Những nguyên nhân chủ yếu đưa đến hạn chế về lực lượng độc giả tronggiai đoạn đầu của báo chí Việt Nam có thể kể đến đó là: sự yếu kém vềkinh tế; sự lạc hậu về cơ sở hạ tầng, trong đó có sự hạn chế về giaothông, về kỹ thuật in ấn; tâm lý, thói quen của công chúng độc giả và đặcbiệt là nạn mù chữ Số lượng người biết chữ quốc ngữ ngày càng gia tăng
là nhân tố khách quan, nhưng chính nội dung hấp dẫn và cách hành văn
sáng sủa của các bài viết đăng trên Nam Phong tạp chí lại là nhân tố “nội lực” mà Phạm Quỳnh và báo Nam Phong đã phát huy tác dụng thay đổi
thói quen, tâm lý của công chúng, thu hút sự chú ý của công chúng đối vớibáo chí và qua đó, góp phần không nhỏ trong việc phát triển lực lượngđộc giả không phải chỉ cho Nam Phong Tạp Chí nói riêng, mà còn cả chobáo chí Việt Nam lúc bấy giờ
Đối với việc rèn luyện đội ngũ nhà báo, bằng vào việc nêu ra nhữngvấn đề về vai trò, trách nhiệm, nghĩa vụ của người làm báo cũng như chứcnăng, tác dụng của báo chí đối với đời sống xã hội, chính Phạm Quỳnh làngười sớm có ý thức xây dựng cơ sở lý luận nghiệp vụ báo chí để làm
cẩm nang cho những người hành nghề Trong bài Nghĩa vụ làm báo, đăng trên Nam Phong tạp chí, số 6 năm 1917, sau khi trích dịch nguyên văn
bài diễn thuyết của ông toàn quyền Albert Sarraut đọc tại Hội các báoquán Nam Kỳ vào tháng 10 năm 1917, Phạm Quỳnh đã bàn luận mộtcách hết sức cặn kẽ, với những ý kiến vô cùng sâu sắc về sức mạnh, tácdụng của báo chí và thiên chức, nghĩa vụ của người làm báo Theo PhạmQuỳnh thì nghề làm báo chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong xã
hội, và nhà báo là người có thế lực rất lớn, thế lực ấy có thể “chuyển dịch được lòng người, thay thế được cục diện, rèn đúc uốn nắn được cái vật vô hình, vô trạng gọi là “dư luận” vậy” [4, 66] Sở dĩ nhà báo có được uy quyền, sức mạnh như vậy là bởi “nhà báo vừa tiêu biểu mà vừa tạo thành ra dư luận trong một nước”, [4, 66] mà dư luận ấy chính là sức
Trang 37mạnh của quần chúng nhân dân Uy quyền của nhà báo là ở chỗ tiêu biểucho sức mạnh ấy, phát ngôn và điều tiết cho sức mạnh ấy Và cái công cụ
để thực hiện uy quyền của nhà báo chính là báo chí, bởi vì “ai nói đến báo
là nói đến dư luận, ai hỏi đến dư luận là tìm đến báo, báo với dư luận, dư luận với báo là lần lót, là hình ảnh cho nhau, là tinh thần và hình thức của nhau vậy.” [4, 66] Theo Phạm Quỳnh, để thực hiện sứ mạng lớn lao của
mình, nhà báo cần phải thực hiện tốt những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Xác định rõ ràng tư tưởng, lập trường chính trị
- Xây dựng chương trình, kế hoạch rõ ràng cho việc tác nghiệp
- Nhà báo phải là người trung gian, là chiếc cầu nối giữa chính quyền vànhân dân; giữa nhà nước và xã hội
- Nhà báo không chỉ là người phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ chính trịtrong hiện tại mà cả trong tương lai
Kết luận về tác dụng của báo chí và vai trò của nhà báo đối vớivận mệnh của đất nước, Phạm Quỳnh viết:
“Nước Nam ta sau này hay hay dở, các nhà báo cũng có phần vào đấy Nếu biết khéo dùng cái động lực là tờ báo ngọn bút kia, mà gây thành một dư luận sáng suốt khôn ngoan, thông hiểu tình thế, giúp được cho cái công tiến hóa về chính trị của quốc dân, thì mới thực là xứng đáng với lương tâm cùng thiên chức của nhà nghề vậy” [3, 70].
Đánh giá về vai trò của thế khai phá và đặt nền móng báo chíhiện đại Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, từ những trình bày ở trên
có thể rút ra nhận định: Nếu Nguyễn Văn Vĩnh được xem là nhà báo tiên
phong “mở lối cho nghề xuất bản và phong trào ngôn luận quốc văn của người mình” [16, 106] thì Phạm Quỳnh là người có công lớn trong việc
phát triển báo chí Việt Nam hiện đại Bằng tài năng và tâm huyết của mình,ông đã có những đóng góp quan trọng cho báo chí nước nhà cả về mặt lýluận và thực tiễn
1.3.2 Đối với Văn học.
Đối với công cuộc xây dựng và phát triển nền văn học Việt Nam theohướng hiện đại trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX, Phạm Quỳnh với vaitrò là một trong những nhà văn đi tiên phong, đã có những đóng góp nhấtđịnh, cần được ghi nhận Sự đóng góp ấy, thể hiện trên nhiều lĩnh vực văn
Trang 38học: Tiếp tục công cuộc truyền bá chữ quốc ngữ đã được khởi xướng ở giaiđoạn trước, cải tiến câu văn quốc ngữ, xây dựng và phát triển nền quốc văn;phát triển phong trào dịch thuật; giới thiệu những khái niệm cơ bản, mangtính lý luận về đặc điểm, kết cấu, nguyên tắc xây dựng các thể loại văn họccũng như việc phát triển các thể loại đó.
Về việc truyền bá chữ quốc ngữ, như đã nói qua ở phần Vai trò của Phạm Quỳnh đối với báo chí, tiếp tục sự nghiệp của thế hệ trí thức đi trước
như Pétrus Ký, Paulus Của và sau này là Nguyễn Văn Vĩnh và các chí sỹ
trong phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, Phạm Quỳnh và các đồng sự của ông trong Nam Phong tạp chí đã ra sức quảng bá chữ quốc
ngữ đến mọi tầng lớp độc giả thông qua những bài viết được biên tập
kỹ càng, bao quát nhiều lĩnh vực, nội dung chọn lọc, sâu sắc mà đơngiản, dễ đọc, dễ hiểu Mục đích đầu tiên và quan trọng nhất mà Phạm
Quỳnh và các cộng sự của ông hướng đến khi thành lập Nam Phong tạp chí không ngoài việc xây dựng, nâng cao trình độ quốc ngữ, nhằm thay thế
tiếng Pháp và chữ Nho Trong bài diễn thuyết ở Hội Trí tri (Hà Nội ngày
thứ Năm 21 tháng 4 năm 1921) nhân dịp ra mắt công trình khảo cứu Tục ngữ ca dao, Phạm Quỳnh cũng nhắc lại điều này:
“Tôi bình sinh chỉ có một chút nhiệt thành, là nhiệt thành với chữ quốc ngữ, hết sức trông mong về cái vận mệnh quốc văn ta sau này, thường nghe thiên hạ phẩm bình về văn quốc ngữ, người khen thời hởi dạ, người chê thì đau lòng, dường như có quan hệ đến công phu bấy lâu nay,
Nam Phong tạp chí do Louis Marty, trưởng phòng chính trị Sở mật
thám của Phủ toàn quyền Pháp tại Đông Dương thành lập và bảo trợ, tấtnhiên là nhằm phục vụ cho mục đích chính trị của Pháp tại Đông Dương,nói chung và Việt Nam, nói riêng Nhưng khi được giao cho quản lý và
Trang 39điều hành, Phạm Quỳnh và các đồng sự của ông đã lợi dụng tờ báo nhưmột công cụ để xây dựng, truyền bá chữ quốc ngữ và các tư tưởng họcthuật Âu Tây, góp phần xây dựng và phát triển nền học thuật nước nhà Tahãy nghe Phạm Quỳnh kín đáo giải bày tâm nguyện của mình trong câu
trả lời bài phỏng vấn của ông Đào Hùng, phóng viên báo Phụ Nữ tân văn:
“Sở dĩ tôi nhận mở báo Nam Phong là vì chính phủ tự lòng cho phép chớ không phải tôi yêu cầu Vả tôi cũng muốn lợi dụng làm một cơ quan bồi bổ quốc văn, cho thêm nhiều tiếng, cho đủ tài liệu để phiên dịch và truyền bá các tư tưởng Âu Tây…” [Dẫn theo Phạm Thế Ngũ, 14,
129]
Phát ngôn một cách kín đáo tế nhị trên báo như vậy, nhưng thật ra, ýđịnh thành lập một tờ tạp chí để xây dựng, phát triển quốc ngữ, truyền bá
tư tưởng Âu Tây là điều mà Phạm Quỳnh đã từng ấp ủ ngay từ khi ông còn
cộng tác với Đông Dương Tạp Chí Phạm Thế Ngũ, trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, đã viết về điều này như sau:
“Nên nói thêm là đối với Phạm Quỳnh việc phiên dịch và truyền bá
tư tưởng Âu Tây ấy là trong một mục đích rộng rãi hơn, mà ông từng ấp
ủ ngay từ ngày viết trên Đông Dương, ấy là xây dựng cho nước nhà trong buổi Âu - Á giao thoa, một nền học thuật mới để thay thế cho Hán học suy tàn…” [14, 129].
Vấn đề mà Phạm Quỳnh và phái Nam Phong của ông đặc biệt quan tâm khi thực hiện tôn chỉ, mục đích của tờ báo chính là xây dựng, “bồi bổ quốc văn, cho thêm nhiều tiếng, cho đủ tài liệu để phiên dịch và truyền bá các tư tưởng Âu Tây” [Dẫn theo Phạm Thế Ngũ, 14, 129] Nghĩa là phải
xây dựng, phát triển một nền quốc văn mới chứ không chỉ đơn thuần vềmặt văn tự Chữ quốc ngữ, trải qua ba thế kỷ hình thành, phát triển cùngvới sự tích cực truyền bá của nhiều thế hệ trí thức ở các giai đoạn trước và
sau này là của Nguyễn Văn Vĩnh, cho đến khi Nam Phong ra đời, đã mặc
nhiên được thừa nhận ở nước ta, bởi tính đơn giản và tiện lợi của nó Tuynhiên, từ thứ chữ đó mà xây dựng một nền văn mới, đủ sức diễn tảnhững tình cảm sâu sắc, thắm thiết; những tư tưởng, học thuật sâu xa, thâmthúy của văn hóa Đông – Tây là cả một nhiệm vụ khó khăn, nặng nề, cần
Trang 40nhiều công sức, tâm huyết và trí tuệ Phạm Quỳnh và Phái Nam Phong đã
tự nguyện gánh lấy nhiệm vụ khó khăn, nặng nề ấy Một trong những khókhăn, trở ngại cho công cuộc xây dựng quốc văn mà Phạm Quỳnh và cácđồng sự của ông vấp phải, đó là tâm lý sùng ngoại, coi thường quốc ngữ,
với thành kiến “nôm na là cha mách qué” của cả hai phái tân học lẫn cựu học Chính vì vậy mà ngay trong bài luận thuyết Văn quốc ngữ, đăng trên
số 2 – năm 1917, của Nam Phong tạp chí, Phạm Quỳnh đã thiết tha kêu
gọi:
“Nào các nhà Tây học, sau khi các ông đọc xong một truyện hay, lại chẳng nên nghĩ rằng câu truyện này ta thử thuật lại ra tiếng ta cho vợ con ta nghe xem năm phần có được một phần không Đương khi các ông gặp được một tư tưởng lạ, lại chẳng nên tự hỏi rằng: tư tưởng này ta thử đem diễn ra lời nôm xem mười phần có được một phần không, cái ý nghĩa của nó sẽ kém đi bao nhiêu, sự sâu sắc của nó sẽ giảm mất chừng nào Ông tự nghĩ tự hỏi thế rồi ông thử cầm bút viết lần đầu tất chưa được thanh thoát lắm, lần thứ hai đến lần thứ ba thì có lẽ năm phần đã đến được ba mà mười phần đã đến được bảy rồi Thế là đội văn nôm được thêm một suất tinh binh, mà thiện nghiệp của ông được tăng một công đức mới vậy! Việc đó tưởng cũng không khó khăn gì, miễn là có chút hảo tâm
là đủ Và các ông cũng có thể tự chắc rằng có công tất có quả, vì một cái tiếng đã dùng để giải bày được tính tình tâm sự một cô Kiều không phải là tiếng man mọi gì mà không thể thành văn được.
Lại các nhà Nho học trong khi các ông bình một đoạn văn hay, lời gióng giả như bài biểu Chư Cát, giọng nhịp nhàng như bài tựa Vương Bột, khí mát mẻ như bài phú Đông Pha, tình cảm động như bài văn Hàn
Dũ, lại chẳng nên tự hứa trong bụng rằng: Ta sẽ cố luyện cho tiếng nôm
ta cũng có cái thể cách trang nghiêm như lời văn chữ, để gây lấy một lối từ chương cho người mình sau này cũng có thể làm tựa, làm ký, làm tứ lục, biền ngẫu được như người Tàu Nếu cái văn chương mới ấy mà gây dựng nên được thì công đức của các ông không phải là nhỏ vậy” [3, 61].
Không chỉ kêu gọi những nhà trí thức có ý thức trong việc xâydựng, phát triển văn quốc ngữ, Phạm Quỳnh còn hướng đến đông đảocông chúng độc giả, phát động ở họ ý thức cảm thông và trân trọng những