1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác tổ chức và quản lý lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai

44 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công tác tổ chức và quản lý lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn Hóa
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Thành phố Lào Cai
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 488,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI MỞ ĐẦU

  • Chương 1

    • 1.1. Điều kiện địa lý

      • 1.1.1. Vị trí địa lý

      • 1.1.2. Diện tích, dân số, giao thông

      • 1.1.3. Các đơn vị hành chính

    • 1.2. Lịch sử và kinh tế, xã hội

      • 1.2.1. Lịch sử

      • 1.2.2. Kinh tế, xã hội

  • Chương 2

    • 2.1. Khái niệm lễ hội truyền thống

    • 2.2. Quản lý Nhà nước về lễ hội truyền thống

    • 2.3. Những phương diện cơ bản trong hoạt động quản lý, tổ chức lễ hội truyền thống

  • Chương 3

    • 3.1. Giới thiệu về lễ hội Lồng tồng

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

Được gắn bó và làm việc ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai một thời gian và tôi là một người học tập – nghiên cứu về văn hóa nên tôi quyết định chọn đề tài “Công tác tổ chức và quản lý lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.

Điều kiện địa lý

Huyện nằm ở trung tâm tỉnh Lào Cai, giáp huyện Hà Khẩu (Vân Nam - Trung Quốc) ở phía Bắc với 7 km đường biên, huyện Mường Khương ở phía Tây, huyện Bắc Hà và Mường Khương ở phía Đông và Đông Bắc, huyện Sa Pa ở phía Tây, và huyện Bảo Yên cùng Văn Bàn ở phía Nam.

1.1.2 Diện tích, dân số, giao thông

Huyện có diện tích 691,55 km² và dân số 100.577 người, là huyện đông dân nhất tỉnh Lào Cai tính đến năm 2009 Huyện lỵ là thị trấn Phố Lu, nằm cách thành phố Lào Cai khoảng 40 km về phía đông nam Trên địa bàn huyện có Quốc lộ 70, đường sắt Côn Minh-Hà Nội, Quốc lộ 4E và sông Hồng, cùng với nhiều tỉnh lộ và đường liên xã kết nối các thôn bản.

1.1.3 Các đơn vị hành chính

Bảo Thắng có 15 xã, thị trấn: bên hữu ngạn sông Hồng có 5 xã và 01 thị trấn, bên tả ngạn sông Hồng có 7 xã và 2 thị trấn:

1 Thị trấn Phố Lu (huyện lị)

2 Thị trấn Nông trường Phong Hải

Lịch sử và kinh tế, xã hội

1.2.1 Lịch sử Địa danh Bảo Thắng có từ thời xưa (Bảo Thắng quan) dùng để chỉ vùng cửa khẩu của Đại Việt thông sang Trung Quốc Lợi dụng sự suy yếu của ĐạiViệt, trong các năm 1688 và 1690 các Thổ ty Khai Hóa, Mông Tự (Vân Nam nhà Thanh) đã chiếm một số thôn, động của châu Thủy Vĩ Nhà Lê đòi nhiều lần nhưng quân Thanh không trả Từ năm 1848, thổ phỉ và nạn cướp bóc hoành hành mạnh ở vùng này Để đối phó, vua Tự Ðức phải nhờ quân Thanh vào cùng tiễu phỉ Sau đó nhà Nguyễn còn dùng dư đảng của phong trào TháiBình Thiên Quốc là Lưu Vĩnh Phúc được giao quyền cai trị và thu thuế vùngBảo Thắng Cuối thế kỷ 19 vùng này thuộc châu Thủy Vĩ , phủ Quy Hóa, trấnHưng Hóa Khi đó Bảo Thắng bao gồm cả một phần thành phố Lào Cai sau này (Khu vực cửa khẩu và các phường: Phố Mới, Vạn Hoà, Nam Cường,Thống Nhất, Pom Hán, Soi Lần; các xã Cam Đường, Tả Phời, Hợp Thành)Năm 1905, người Pháp lấy phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên hữu ngạn sông Hồng sáp nhập vào Chiêu Tấn, vẫn lấy tên là châu Thuỷ Vỹ Từ đó địa danh Chiêu Tấn không còn Phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên tả ngạn sôngHồng được tách ra lập thành châu Bảo Thắng, ổn định đến khi lập tỉnh LàoCai (năm 1907) Khi đó châu Bảo Thắng có 11 xã, phố trại và 30 làng, bản,phố: Lào Cai , Phố Mới, Trại Mới, Soi Mười, Sơn Mãn , Giang Đông, CánhChín, Thái Niên, Phố Lu, Xuân Quang, Phong Niên Còn châu Thuỷ Vĩ có 4 xã là xã Nhạc Sơn (16 thôn bản) xã Xuân Giao (14 thôn bản); xã Cam Đường

(137 thôn, bản) xã Gia Phú (16 thôn bản) với tổng số 83 thôn bản

Ngày 9-3-1944, thống sứ Bắc Kỳ ban hành nghị định bãi bỏ châu Thuỷ

Vĩ, châu Bảo Thắng, thành lập phủ Thuỷ Vĩ, phủ Bảo Thắng, 3 châu Bát Xát,

Sa Pa, Bắc Hà và khu đô thị Lào Cai thuộc Phủ Bảo Thắng, bao gồm 17 xã và làng như Nhạc Sơn, Cam Đường, Gia Phú, Xuân Giao, Pha Long, Mường Khương, Bản Lầu, Phong Niên, Xuân Quang, Phố Mới, Trại Mới, Soi Mười, Sơn Mãn, Cánh Chín, Giang Đông, Thái Niên, và Phố Lu Lỵ sở của phủ được đặt tại Lào Cai.

1944 mới gọi là huyện Tuy địa giới đã điều chỉnh nhiều lần nhưng địa danh

"Bảo Thắng" thì giữ nguyên suốt mấy chục năm và nó cũng không hàm ý chỉ vùng cửa khẩu với Trung Quốc nữa.

Sau khi tái chiếm Lào Cai vào tháng 12 năm 1947, thực hiện chính sách chia để trị, người Pháp đã lấy sông Hồng làm ranh giới để thành lập hai tỉnh: Phong Thổ thuộc xứ Thái tự trị bên hữu ngạn và tỉnh Lào Cai thuộc xứ Nùng tự trị bên tả ngạn, trong khi đó Bảo Thắng được chia đôi giữa hai tỉnh Tuy nhiên, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn giữ nguyên địa danh và địa giới cũ.

Trong Chiến dịch Lê Hồng Phong (từ 08/2 đến 10/3/1950), Bộ Chỉ huy quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chọn đồn Phố Lu làm điểm khởi đầu Trung đoàn 102, sử dụng súng ĐKZ mới chế tạo tại xưởng quân khí Trần Đại Nghĩa ở Việt Bắc, đã tiêu diệt 2 đại đội địch và hạ một máy bay, buộc lính trong đồn phải đầu hàng vào ngày 13 tháng 3.

Vào năm 1950, các khu vực như Phố Lu, Xuân Quang và Gia Phú đã được giải phóng, trong khi các khu du kích tại Phong Niên và Bản Lầu hoạt động mạnh mẽ Khu du kích tả ngạn sông Hồng đã chống lại các đợt càn quét của đối phương từ 5 đến 8 tháng 5 năm 1950, phá vỡ âm mưu của Pháp trong việc sử dụng người Việt đánh người Việt Nhờ vào sự hoạt động mạnh mẽ của các căn cứ du kích, Bảo Thắng đã trở thành cái nôi của phong trào cách mạng trong vùng hậu địch ở Lào Cai Trong giai đoạn II của Chiến dịch Lê Hồng Phong, từ 16/9 đến 14/10/1950, Bảo Thắng đã góp phần quan trọng vào việc giải phóng toàn bộ tỉnh Lào Cai vào ngày 01/11/1950.

Trong giai đoạn 1960-1975, một số xã đã được tách ra để thành lập thị xã Cam Đường, bao gồm các xã Cam Đường, Hợp Thành, Tả Phời và một số thôn thuộc xã Nam Cường Một thôn khác là Vạn Hoà cũng được nhập vào thị xã Lào Cai, trong khi một số xã như Lê Lợi, Bình Đẳng, Quang Trung đổi tên và các xã mới như Sơn Hải, Phong Hải được thành lập, dẫn đến sự thay đổi về địa danh và địa giới Sau Chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979, Chính phủ Việt Nam đã điều chỉnh địa giới vùng Lào Cai, hợp nhất thị xã Lào Cai và Cam Đường, đồng thời điều chỉnh địa giới một số xã của huyện Bảo Thắng, Mường Khương và thị xã Lào Cai thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, trong đó có sự sáp nhập của 2 xã Nam Cường (nay là phường Nam Cường) và Cam Đường vào thị xã Lào Cai.

Trong quá trình Đổi mới, Chính phủ CHXHCN Việt Nam đã quyết định giải thể xã Tằng Loỏng để thành lập thị trấn Tằng Loỏng, một thị trấn công nghiệp Đồng thời, hai xã Tả Phời và Hợp Thành của huyện Bảo Thắng cũng được tách ra và sáp nhập vào thị xã Lào Cai Hiện tại, huyện Bảo Thắng bao gồm 13 xã và 3 thị trấn.

Khi tỉnh Lào Cai được tái lập vào ngày 12 tháng 8 năm 1991, địa giới Bảo Thắng vẫn được giữ nguyên và thị trấn Phố Lu trở thành nơi tập trung của một số cơ quan tỉnh Đến năm 1994, khi thị xã Lào Cai hoàn tất việc tái thiết cơ sở hạ tầng với các cây cầu và tuyến đường bộ, đường sắt được nối thông, Phố Lu chỉ còn là thị trấn huyện lị.

Huyện nằm ở trung tâm Lào Cai với dân số đông (100.577 người) và có lợi thế về giao thông đường sắt, thủy, bộ Trình độ dân cư tại đây cao hơn một số huyện khác, đồng thời là khu vực biên giới, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội, đồng thời là cửa ngõ vào thành phố tỉnh lị.

Khái niệm lễ hội truyền thống

Lễ hội là một thuật ngữ ghép có nhiều ý nghĩa khác nhau Theo từ nguyên, lễ hội được hình thành từ hai thành phần chính là "lễ" và "hội", trong đó "lễ" thể hiện các nghi thức trang trọng, còn "hội" là không gian giao lưu, kết nối cộng đồng.

Trong cuốn "Cơ sở văn hóa Việt Nam", Trần Ngọc Thêm nhấn mạnh rằng lễ hội là hệ thống phân bố theo không gian, diễn ra vào mùa xuân và mùa thu, khi công việc đồng áng nhàn rỗi Mỗi vùng miền đều có lễ hội riêng, bao gồm phần lễ để tạ ơn và cầu xin sự bảo trợ từ thần linh, cùng phần hội với các trò chơi giải trí phong phú, xuất phát từ ước vọng thiêng liêng của người nông nghiệp.

Lễ hội là sự kiện vui chơi lớn, thu hút đông đảo người tham gia, thường diễn ra theo phong tục hoặc vào những dịp đặc biệt Trong đó, phần lễ đóng vai trò chủ đạo, còn phần hội là sự kết hợp, mở rộng từ phần lễ.

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (2005), lễ là hệ thống hành vi thể hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh ước mơ chính đáng của họ trước những điều chưa thể thực hiện Trong khi đó, hội là hoạt động văn hóa, tôn giáo và nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu sống và sự phát triển của cộng đồng, nhằm mang lại bình yên cho cá nhân, hạnh phúc cho gia đình, và sự thịnh vượng cho dòng họ, cùng với sự sinh sôi của gia súc và mùa màng, tất cả đều hướng tới mục tiêu chung là “Nhân khang, vật thịnh”.

Còn theo cuốn Văn hóa học (1997), tác giả Đoàn Văn Chúc cho rằng:

Lễ là sự bày tỏ lòng kính trọng đối với các sự kiện xã hội, tự nhiên hoặc tư tưởng, được thực hiện theo nghi thức quy mô, tùy thuộc vào cấp nhóm xã hội tổ chức Hội là cuộc vui chơi với nhiều hoạt động giải trí công cộng, diễn ra tại một địa điểm cụ thể để kỷ niệm sự kiện, thể hiện sự phấn khởi của công chúng trong dịp lễ.

Lễ hội là hoạt động tập thể gắn liền với tín ngưỡng và tôn giáo, bao gồm hai thành phần chính là lễ và hội Sự kết hợp này thể hiện mối quan hệ giữa con người với thần linh, cũng như giữa thế giới âm và dương, mang đến không khí vui tươi và sự kết nối tâm linh.

Con người thể hiện niềm mong ước của mình với các vị thần linh, đồng thời thỏa mãn khát vọng trở về nguồn cội Điều này cũng đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh và giao lưu sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

Trước kia, con người chưa thể kiểm soát thiên nhiên và xã hội, dẫn đến sự bất lực trước thiên tai và bất công Vì vậy, họ đã đặt niềm tin vào các thần linh như trời đất, núi sông, và xây dựng miếu, đình để thờ cúng Những lễ hội truyền thống được tổ chức nhằm thể hiện lòng biết ơn đối với các vị thần đã ban cho sức khỏe và mùa màng bội thu, đồng thời cầu mong sự bảo vệ và phúc lành từ các thần linh Tôn giáo và tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến các lễ hội, giúp nâng cao giá trị văn hóa và tinh thần của cộng đồng.

Lễ hội truyền thống là một phần quan trọng trong di sản văn hóa của dân tộc, được các thế hệ kế tiếp gìn giữ và phát huy nhằm bảo tồn những giá trị tốt đẹp Đây không chỉ là hoạt động văn hóa mà còn phản ánh các mô hình xã hội qua các giai đoạn lịch sử khác nhau Theo Hán – Việt từ điển bách khoa, "thống" có nghĩa là sự kết nối, trong khi "truyền" mang ý nghĩa trao lại, cho thấy sự chuyển giao văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Lễ hội dân gian là một phần quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của các xã hội truyền thống, nơi mà các cộng đồng được tổ chức dựa trên tính chất cộng đồng mạnh mẽ Những xã hội này bao gồm các thị tộc, bộ lạc và liên minh bộ lạc, tồn tại trước khi hình thành các dân tộc quốc gia Do đó, lễ hội truyền thống và lễ hội dân gian đều phản ánh sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân qua các thời kỳ.

Lễ hội truyền thống được định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào góc nhìn của từng tác giả, nhưng các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng nó là hình thái văn hóa với tính chất hai mặt trong một thể thống nhất Đây là hệ thống hành vi nghi thức thể hiện ứng xử của cộng đồng đối với một đối tượng thần linh nhất định, kèm theo các hoạt động văn hóa minh họa cho các hành vi nghi lễ Mối quan hệ giữa tính thiêng liêng của lễ hội và số lượng người tham gia rất rõ ràng: lễ càng thiêng thì hội càng đông, và ngược lại.

Quản lý văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp cận và nghiên cứu lễ hội, nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Tất cả các yếu tố của lễ hội đều được chú trọng để tái sáng tạo những giá trị văn hóa bác học dựa trên nền tảng dân gian Việc bảo tồn và khai thác vốn văn hóa truyền thống, cùng với sự tái sáng tạo, giúp tạo nên những lễ hội mang ý nghĩa đúng đắn, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của cộng đồng.

Lễ hội truyền thống là những sự kiện văn hóa được phát triển và bảo tồn qua các phương thức dân gian, xuất phát từ các hình thái văn hóa lịch sử Những lễ hội này thường được truyền lại trong các cộng đồng nông nghiệp như một phần của phong tục tập quán.

Quản lý Nhà nước về lễ hội truyền thống

Quản lý là khái niệm quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ nhóm nhỏ đến quy mô quốc gia và quốc tế Để tồn tại và phát triển, con người cần nỗ lực trong tổ chức và thừa nhận sự quản lý Do đó, các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực như kinh tế và luật học đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về quản lý.

Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người. Theo nghĩa hẹp, quản lý là sự sắp đặt , chăm nom công việc.

Hoặc có nhiều định nghĩa sau:

Quản lý bao gồm các hoạt động thiết yếu nhằm phối hợp giữa con người trong các nhóm và tổ chức để đạt được mục tiêu chung.

Quản lý là quá trình hợp tác giữa các cá nhân, nhóm và nguồn lực khác nhằm đạt được các mục tiêu chung của tổ chức.

Quản lý là nghệ thuật đạt được mục tiêu thông qua việc điều phối và hướng dẫn hoạt động của người khác Đó là khả năng xác định rõ ràng những gì cần làm và đảm bảo rằng công việc được hoàn thành một cách hiệu quả và tiết kiệm nhất.

Quản lý là tổ chức điều khiển các hoạt động hoặc trông coi và giữu gìn theo những yêu cầu nhất định.

Theo điều khiển học, quản lý là quá trình điều khiển và định hướng một hệ thống hoặc quá trình dựa trên các quy luật và nguyên tắc nhất định Mục tiêu của quản lý là hướng dẫn quá trình này hoạt động theo ý muốn của người quản lý, nhằm đạt được những mục tiêu đã được xác định trước.

Quản lý được định nghĩa tổng quát là hoạt động có tổ chức của chủ thể nhằm tác động đến một đối tượng cụ thể Mục tiêu của quản lý là điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi con người, từ đó duy trì sự ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục đích nhất định.

Quản lý nhà nước là quá trình mà các chủ thể có quyền lực nhà nước tác động đến các đối tượng quản lý thông qua pháp luật, nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại Tất cả các cơ quan nhà nước đều tham gia vào chức năng này Nhà nước sử dụng chính sách và pháp luật để ủy quyền cho tổ chức hoặc cá nhân thực hiện hoạt động quản lý thay mặt cho mình.

Quản lý nhà nước về văn hóa là hoạt động của bộ máy hành pháp nhằm phát triển nền văn hóa Việt Nam, đảm bảo quyền cơ bản của người dân như quyền học tập, sáng tạo và tự do tín ngưỡng Nhà nước có trách nhiệm điều tiết để hài hòa các yếu tố văn hóa và đáp ứng nhu cầu xã hội Các cơ quan chức năng trung ương, bao gồm Chính phủ và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa – nghệ thuật, thực hiện các biện pháp bảo tồn và phát triển văn hóa, đồng thời ngăn chặn các hành vi truyền bá tư tưởng văn hóa tiêu cực và mê tín dị đoan.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trình các dự án và pháp lệnh liên quan đến tổ chức và quản lý hoạt động văn hóa, đồng thời quyết định quy hoạch và phát triển văn hóa Bộ cũng ban hành các nghị định và chế tài quản lý, cũng như quyết định các chính sách đầu tư và hợp tác quốc tế để phát triển văn hóa Tại địa phương, Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hóa theo quy định pháp luật, với sự hỗ trợ từ các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các Phòng Văn hóa Thông tin cấp huyện, và các Ban Văn hóa cấp phường, xã, thị trấn, nhằm tư vấn và giúp Ủy ban nhân dân quản lý hiệu quả văn hóa địa phương.

Nhà nước quản lý văn hóa thông qua chính sách và pháp luật, với các nguyên tắc thực hiện tư tưởng chủ đạo về phát triển nền văn hóa phù hợp với mục tiêu chung của đất nước Để tăng cường hiệu quả văn hóa trong việc hình thành nhân cách và nâng cao đời sống tinh thần, nhà nước đã ban hành hệ thống văn bản pháp luật nhằm chế ước những ảnh hưởng tiêu cực và loại bỏ hủ tục lạc hậu Quản lý văn hóa bằng pháp luật là yêu cầu khách quan, tạo hành lang pháp lý an toàn cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, trong đó quản lý lễ hội là một lĩnh vực cụ thể.

Quản lý nhà nước đối với lễ hội, đặc biệt là lễ hội truyền thống, là quá trình sử dụng các công cụ quản lý, chính sách, pháp luật và nguồn lực để kiểm soát và can thiệp vào các hoạt động lễ hội Quá trình này bao gồm bốn công đoạn: xác định nội dung và phương thức tổ chức, xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, và kiểm tra giám sát việc thực hiện, nhằm duy trì hệ thống chính sách và văn bản pháp quy của nhà nước.

Cơ sở pháp lý cho việc thực thi quản lý nhà nước đối với lễ hội truyền thống dựa vào hệ thống chính sách và pháp luật hiện hành của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Luật pháp và các văn bản pháp quy xác định rõ ràng mục tiêu của quản lý nhà nước trong việc duy trì và thực hiện nghiêm các điều khoản liên quan đến hoạt động lễ hội truyền thống, bao gồm các nghị định, chế tài và văn bản liên quan.

Theo quy định hiện hành, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm cấp phép và giám sát hoạt động lễ hội, phối hợp với các cơ quan chức năng như công an, quản lý thị trường, và y tế để xử lý sai phạm Mặc dù chính quyền địa phương chịu trách nhiệm quản lý nhà nước chung, nhưng trách nhiệm cụ thể được phân chia cho các đơn vị chức năng liên quan Do đó, việc kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm sẽ do các cơ quan chức năng khác nhau đảm nhận tùy theo từng trường hợp.

Những phương diện cơ bản trong hoạt động quản lý, tổ chức lễ hội truyền thống

2.3.1 Quản lý, tổ chức nội dung hoạt động của lễ hội

Các hoạt động lễ hội bao gồm nghi lễ, nghi thức tế, lễ rước, dâng hương và dâng lễ Ngoài ra, một số lễ hội còn có các sinh hoạt tín ngưỡng đặc trưng như hầu đồng và phát ấn.

Tổ chức và quản lý các hoạt động mang tính hội: các diễn xướng dân gian và đương đại, các trò chơi, trò diễn, các chương trình nghệ thuật

Quản lý và tổ chức lễ hội hiệu quả cần đảm bảo tính thiêng liêng của các nghi lễ cổ truyền, bảo tồn giá trị văn hóa tốt đẹp, đồng thời tránh các biểu hiện mê tín và lừa đảo Các hoạt động hội hè cũng cần đáp ứng nhu cầu sáng tạo và thưởng thức văn hóa của người dân, mang lại sự phong phú, hấp dẫn, phù hợp với thị hiếu công chúng, đồng thời đảm bảo tính giáo dục và nhân văn.

2.3.2 Quản lý phương diện tài chính của lễ hội

Mảng này gồm hai hoạt động chính:

Hoạt động tiếp nhận các khoản thu từ lễ hội bao gồm huy động nguồn vốn xã hội hóa như tiền công đức, tiền dầu nhang, và các khoản thu từ dịch vụ khác.

Quản lý hiệu quả việc sử dụng, chi tiêu và phân bổ nguồn vốn thu được là rất quan trọng, nhằm tránh các vấn đề tiêu cực, lãng phí và thiếu minh bạch.

2.3.3 Quản lý phương diện an ninh - xã hội của lễ hội

Các lễ hội thu hút đông đảo người dân và du khách, dẫn đến tình trạng chen lấn, xô đẩy và mất trật tự an ninh Điều này có thể gây ùn tắc giao thông, tai nạn, và gia tăng các hiện tượng tiêu cực như móc túi, lừa đảo, bắt chẹt khách, và cờ gian bạc lận.

Quản lý lễ hội hiệu quả đòi hỏi đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông, và phòng chống cháy nổ Đồng thời, cần chú trọng đến việc giám sát vệ sinh và an toàn thực phẩm để ngăn ngừa các vấn đề liên quan đến sức khỏe Việc trông coi phương tiện đi lại cũng là một phần quan trọng trong công tác tổ chức lễ hội.

2.3.4 Quản lý vấn đề bảo vệ môi trường

Một lễ hội thành công cần phải kết hợp phát triển với bảo vệ môi trường, nhằm giữ gìn cảnh quan sinh thái và đảm bảo sự phát triển bền vững Việc bảo vệ môi trường không chỉ diễn ra trong thời gian lễ hội mà còn cần được duy trì liên tục, bao gồm việc không xả rác bừa bãi, không xâm hại thiên nhiên và hạn chế ô nhiễm Điều này giúp tạo ra một môi trường sống hài hòa với thiên nhiên và góp phần bảo vệ hệ sinh thái.

2.3.5 Quản lý, bảo vệ khu di tích

Lễ hội là một biểu hiện văn hóa phi vật thể gắn liền với các di sản vật thể như di tích, cơ sở thờ tự và hiện vật Để tổ chức lễ hội thành công, cần đảm bảo việc trùng tu và bảo vệ các di tích, giữ cho cơ sở thờ tự khang trang, không bị biến dạng Công tác quản lý hiện vật và tài sản cũng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì giá trị của lễ hội.

Giới thiệu về lễ hội Lồng tồng

Lễ hội Lồng tồng - Một giá trị văn hóa giàu bản sắc

"Áo em thêu chỉ biếc hồng Mùa xuân ngày hội Lồng Tồng thêm vui”

Lễ hội Lồng tồng, hay còn gọi là Hội xuống đồng, là một lễ hội truyền thống của người Tày tại huyện Bảo Thắng, vùng núi phía Bắc, diễn ra vào tháng Giêng hàng năm Đây là hoạt động tín ngưỡng cầu mong mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi và mùa màng bội thu, nhằm nâng cao đời sống ấm no cho cộng đồng Lễ hội thường được tổ chức tại những ruộng tốt và lớn nhất, tuy chưa có tài liệu cụ thể về nguồn gốc, nhưng chắc chắn nó đã xuất hiện từ khi người dân nơi đây sống thành làng bản quần cư.

Từ lâu, đồng bào Tày - Nùng ở miền núi phía Bắc đã sống hòa mình với thiên nhiên và giữ gìn các phong tục tập quán truyền thống Nhiều nét văn hóa và ứng xử của họ với môi trường xung quanh vẫn được duy trì cho đến ngày nay Lễ hội Lồng tồng, một phần quan trọng trong đời sống văn hóa của người Tày, Nùng, đã được truyền lại qua nhiều thế hệ và diễn ra tại các tỉnh như Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và một số tỉnh Tây Bắc.

Lễ hội Lồng tồng và lễ xuống đồng của người Kinh thể hiện tín ngưỡng phồn thực, với các nghi thức sinh động Chủ lễ khởi đầu bằng việc vạch một đường cày đầu năm, đánh dấu sự khởi đầu của mùa vụ nông nghiệp Ngày thực hiện lễ hội được chọn kỹ lưỡng để cầu mong mưa thuận gió hòa, cuộc sống dân làng thịnh vượng Sau khi dâng hương kính cáo các vị thần, một người đại diện trong làng sẽ mắc ách vào con trâu mộng để thực hiện nghi thức vạch luống cày, mở đầu cho cuộc sống nông tang.

Tại Lễ hội, các sản vật được dâng cúng lên trời đất và Thần Nông không chỉ mang ý nghĩa giao hoà giữa thiên nhiên mà còn thể hiện thành quả lao động cần cù của con người Những sản phẩm này là sự tri ân đối với trời đất và các vị tiền nhân, thánh thần, với mong muốn được phù hộ, che chở cho cuộc sống của nhân dân luôn thuận lợi, bội thu trong sản xuất và an khang trong đời sống.

Lễ hội Xuống đồng không chỉ nổi bật với phần lễ mà còn rộn ràng với phần hội, mang đến không khí vui tươi qua các làn điệu dân ca, dân vũ và những trò chơi truyền thống Sau những ngày Tết, người Tày lại hối hả chuẩn bị cho lễ hội Lồng tồng, với sự tham gia tích cực của người dân trong xã Các cụ cao niên tổ chức họp bàn để phân công công việc, trong khi thanh niên chuẩn bị trang phục và giày dép, còn các thiếu nữ thì cùng nhau khâu còn, đan yến và làm bánh trái để phục vụ lễ hội.

Hội Lồng tồng lớn nhất thường diễn ra vào ngày 4 - 10 tháng giêng tại các huyện như Định Hóa (Thái Nguyên), Yên Sơn, Chiêm Hóa, Nà Hang (Tuyên Quang) và Ba Bể (Bắc Kạn) Tùy thuộc vào từng địa phương, các bản làng sẽ ấn định ngày tổ chức phù hợp với địa hình Các địa phương lân cận có thể thỏa thuận chọn ngày khác nhau để thuận tiện cho việc giao lưu và trao đổi.

Lễ hội Lồng tồng của người Tày, Nùng là một nghi thức văn hóa đặc trưng, thể hiện tín ngưỡng phồn thực, cầu mưa và thờ mặt trời Đây là lễ hội cầu mưa của người nông dân, mang ý nghĩa chào mừng mùa xuân mới và cầu mong vụ mùa bội thu Lễ hội không chỉ thể hiện những hoạt động tín ngưỡng dân gian mà còn cầu chúc sức khỏe, ấm no và hạnh phúc cho mọi người trong bản làng.

Lễ hội Lồng tồng là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc của tộc người Tày, Nùng ở miền Bắc, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Đây được xem như một bảo tàng sống, nơi giá trị văn hóa được truyền lại qua các thế hệ Trong bối cảnh hiện nay, Lễ hội Lồng tồng không chỉ mang lại những giá trị văn hóa quý báu mà còn góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của cộng đồng.

3.3.1 Về giá trị văn hóa

Lễ hội Lồng tồng của người Tày, Nùng là sự giao thoa văn hóa dân gian, bao gồm nghi lễ, truyện cổ tích, và các làn điệu hát truyền thống như then, Sli, lượn Đây là bức tranh toàn diện về đời sống văn hóa của cộng đồng Tày, Nùng ở miền Bắc, trở thành hoạt động văn hóa tinh thần quan trọng sau một năm lao động vất vả Lễ hội không chỉ là dịp để mọi người nghỉ ngơi, đoàn tụ gia đình mà còn giúp xua tan những lo âu, phiền muộn trong cuộc sống Qua lễ hội, thế hệ trẻ được nhắc nhở về lòng biết ơn và tôn kính đối với các bậc tiền nhân đã góp công xây dựng và bảo vệ quê hương.

3.3.2 Về giá trị lịch sử

Lễ hội Lồng tồng là sự kiện quan trọng, gắn kết nhiều thế hệ trong cộng đồng người Tày, Nùng Thông qua các nghi thức và tín ngưỡng dân gian, lễ hội phản ánh quá trình phát triển của tộc người qua các thời kỳ lịch sử Nó không chỉ khơi dậy tình yêu quê hương mà còn giáo dục tính nhân văn, đồng thời tôn vinh giá trị văn hóa làng bản và ghi dấu những giá trị lịch sử của cộng đồng.

Lễ hội Lồng tồng, diễn ra hàng năm, là di sản văn hóa quý báu được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tôn vinh công lao của các vị nhân thần, tướng lĩnh đã bảo vệ quê hương và các thần linh phù hộ cho nghề nông phát triển Qua các nghi thức, hình thức diễn xướng và trò chơi truyền thống, lễ hội không chỉ phản ánh lịch sử phát triển của làng quê từ xưa đến nay mà còn giáo dục truyền thống và củng cố tinh thần đoàn kết cộng đồng.

Tham dự lễ hội, người xem không chỉ trải nghiệm các nghi thức nghệ thuật uy nghi mà còn cảm nhận mối quan hệ gắn kết giữa làng và nước, cá nhân và cộng đồng, cũng như sự hòa quyện giữa quá khứ và hiện tại Truyền thống yêu quê hương, yêu đất nước được bảo tồn như một tài sản văn hóa quý giá, kết nối cộng đồng của đồng bào Tày, Nùng tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam.

3.3.3 Về giá trị kinh tế

Lễ hội Lồng tồng của người Tày, Nùng là một trong những điểm du lịch hấp dẫn tại các tỉnh miền Bắc như Quảng Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lào Cai, Hà Giang và Yên Bái Những lễ hội này không chỉ thu hút du khách mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các tour du lịch khám phá văn hóa và phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số tại khu vực này.

Để Lễ hội Lồng tồng trở thành điểm du lịch hấp dẫn, các tỉnh cần thực hiện điều chỉnh và đầu tư hợp lý Cần có kế hoạch trùng tu và sửa chữa đúng quy mô, nguyên trạng như trước đây, đồng thời khắc phục mặt bằng và khuôn viên để tạo ra không gian và cảnh quan môi trường thu hút du khách.

Lễ hội Lồng tồng cần sự đóng góp từ cộng đồng và hỗ trợ tài chính từ Nhà nước, đồng thời cần khôi phục các hoạt động lễ hội để bảo tồn bản sắc văn hóa độc đáo của người Tày và Nùng.

3.3.4 Về giá trị xã hội trong đời sống đương đại

Ngày đăng: 04/05/2021, 13:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1932), Hán Việt từ điển (tái bản 1990), Nxb KHXH Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NxbKHXH Việt Nam
Năm: 1932
2. Bộ Văn hóa Thông tin (1989), Quy chế mở hội truyền thống ban hành kèm theo quyết định số 54/VHQC ngày 04/10/1989, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế mở hội truyền thống
Tác giả: Bộ Văn hóa Thông tin
Năm: 1989
3. Bộ Văn hóa Thông tin (2001), Quy chế tổ chức lễ hội ban hành kèm theo Quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT ngày 28/3/2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế tổ chức lễ hội
Tác giả: Bộ Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
4. Chính phủ (2010), Quy định về tổ chức hoạt động và quản lý lễ hội, Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về tổ chức hoạt động và quản lýlễ hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
5. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hóa học, Nxb VH-TT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb VH-TT
Năm: 1997
6. Đinh Gia Khánh (1993), Lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống trong xã hội hiệnđại
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1993
7. Mai Hữu Luân (2003), Quản lý hành chính nhà nước, Nxb Học viện Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hành chính nhà nước
Tác giả: Mai Hữu Luân
Nhà XB: NxbHọc viện Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
8. Hoàng Nam (2005), Một số giải pháp quản lý lễ hội dân gian, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp quản lý lễ hội dân gian
Tác giả: Hoàng Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2005
9. Lê Trung Vũ (chủ biên) (1992), Lễ hội dân gian, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội dân gian
Tác giả: Lê Trung Vũ (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoahọc Xã hội
Năm: 1992

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w