Vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại và chế tài do vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam Vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại và chế tài do vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
TP.HCM KHOA LUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
VI PHẠM CƠ BẢN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
VÀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM CƠ BẢN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
Giảng viên hướng dẫn: TS NGUYỄN THÀNH ĐỨC Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ HỒNG NGA
Mã sinh viên : 1411270759 Lớp : 14DLK08
TP Hồ Chí Minh, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: NGUYỄN THỊ HỒNG NGA, MSSV:1411270759
Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong khóa luận tốt nghiệp này được đút kết từ kiến thức và kinh nghiệm của bản thân trong quá trình học tập
và nghiên cứu Ngoài ra còn được thu thập từ nguồn thực tế, trên các sách báo khoa
học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng qui định) ;
Nếu sai sót Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của Nhà Trường và Pháp luật
TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 07 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Hồng Nga
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong khoảng thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh - HUTECH, dưới sự giúp đỡ và giảng dạy nhiệt tình từ quý thầy cô em đã tích góp được nhiều kiến thức bổ ích và kinh nghiệm thực tiễn
quý báu Với đề tài: “ Vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại và chế tài do
vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam” em đã có
cơ hội vận dụng kiến thức đã học được để nghiên cứu về vấn đề thực tiễn có liên quan đến đề tài nhằm củng cố kiến thức cá nhân và trao đổi học hỏi kiến thức với những bạn đọc quan tâm đến đề tài nghiên cứu này
Em xin gửi lời cảm ơn đến chân thành và sâu sắc nhất đến quý thầy cô giảng viên trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn đến Ts Nguyễn Thành Đức, người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Do còn nhiều hạn chế trong việc tìm hiểu kiến thức, tài liệu liên quan cũng như kinh nghiệm thực tiễn nên bài viết còn nhiều thiếu sót Mong Qúy thầy cô cùng các bạn đọc đóng góp ý kiến để bài viết được hoàn thiện hơn
En xin cảm ơn
TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 07 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hồng Nga
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VI PHẠM CƠ BẢN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM CƠ BẢN NGHĨA VỤ HỢP
ĐỒNG 4
1.1 Khái quát về hợp đồng 4
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng 4
1.1.2 Đặc điểm hợp đồng 8
1.1.3 Nguyên tắc giao kết hợp đồng 9
1.2 Khái quát về vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại 11
1.2.1 Khái niệm về vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại 11
1.2.2 Đặc điểm của vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại 12
1.3 Khái quát về chế tài áp dụng do vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại 13
1.3.1 Khái niệm về chế tài áp dụng do vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại 13
1.3.2 Căn cứ áp dụng chế tài 14
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ VI PHẠM CƠ BẢN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM CƠ BẢN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG 18
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam quy định về vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại 18
2.1.1 Phân loại vi phạm hợp đồng trong thương mại 18
2.1.2 Vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại 19
2.2 Thực trạng pháp luật Việt Nam quy định về chế tài áp dụng do vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng 25
2.2.1 Các loại chế tài áp dụng do vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng 25
Trang 62.2.2 Mối quan hệ giữa các chế tài áp dụng do vi phạm cơ bản với vi phạm không cơ bản nghĩa vụ hợp đồng 33
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VI PHẠM CƠ BẢN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ CHẾ TÀI ÁP DỤNG ĐỐI VỚI HÀNH VI VI PHẠM CƠ BẢN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI 36 3.1 Thực tiễn áp dụng về vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng và chế tài do vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại 36
3.1.1 Thực tiễn áp dụng về vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng 36
3.1.2 Thực tiễn áp dụng chế tài do vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng 38
3.2 Kiến nghị giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật đối với vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng và chế tài áp dụng do vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng 43
3.2.1 Kiến nghị giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật đối với vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng 43
3.2.2 Kiến nghị giải pháp hoàn thiện về chế tài áp dụng do vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng 44
KẾT LUẬN 48 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 71
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một quốc gia sẽ không thể phát triển nếu “ bế quan tỏa cảng”, không mở rộng giao lưu về mọi mặt với thế giới Vì thế để phát triển, hội nhập kinh tế là một
xu hướng tất yếu đối với bất kỳ quốc gia nào Trong quá trình hội nhập yêu cầu được đặt ra là phải định hướng nền kinh tế quốc gia, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, thu hút đầu tư của nước ngoài, phát triển khoa học công nghệ, đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình hội nhập kinh tế, hoạt động thương mại ở nước ta đã phát triển nhanh chóng và mang lại nhiều thành quả kinh tế Tuy nhiên khi thị trường tiến thêm một bước phát triển thì đồng nghĩa với việc phát triển các mối quan hệ thương mại ngày càng được mở rộng; việc giao kết, thực hiện các hợp đồng thương mại ngày càng phổ biến
Hợp đồng là một thuật ngữ quen thuộc và hay được nhắc đến đầu tiên nếu chúng ta tiến hành thực hiện các giao dịch Việc giao kết hợp đồng sẽ phát sinh
sự ràng buộc giữa các bên chủ thể tham gia trong hợp đồng Sự ràng buộc đó yêu cầu các bên phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình với bên còn lại theo đúng thỏa thuận Nhưng không phải lúc nào hợp đồng cũng được thực hiện đúng theo thỏa thuận ban đầu Khi một hoặc cả hai bên không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình với bên còn lại thì lúc này sẽ xuất hiện hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Do đó, cần có biện pháp ràng buộc các bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình và khắc phục hậu quả của hành vi vi phạm hợp đồng gây ra Vì thế chế tài trong thương mại là một chế định không thể thiếu
Có thể thấy so với LTM 1997 thì LTM 2005 hiện hành đã có rất nhiều quy định mới LTM 2005 quy định thêm hai loại chế tài mới: chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng và chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng Ngoài ra còn xuất hiện thêm thuật ngữ mới là “vi phạm cơ bản” nghĩa vụ hợp đồng; chia hành vi vi phạm hợp đồng thành hai loại là: vi phạm cơ bản và vi phạm không cơ bản Từ đó dẫn đến việc chế tài áp dụng đối với hành vi vi phạm cũng sẽ có hai loại là chế tài áp dụng
Trang 82
với hành vi vi phạm cơ bản và chế tài áp dụng với hành vi vi phạm không cơ bản Việc áp dụng loại chế tài nào phụ thuộc vào loại hành vi vi phạm dẫn đến hậu quả pháp lý khi áp dụng chế tài cũng khác nhau Tuy nhiên sau hơn 10 năm ban hành thì đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có một văn bản nào hướng dẫn cụ thể về hành vi
“ vi phạm cơ bản” nghĩa vụ hợp đồng Điều này đã dẫn đến rất nhiều khó khăn và bất cập trong quá trình nghiên cứu học tập và áp dụng pháp luật vào thực tiễn
Chính vì lý do đó mà tác giả quyết định chọn đề tài “ vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại và chế tài do hành vi vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt
nghiệp
2 Mục đích của đề tài
Với đề tài này, tác giả mong muốn sẽ làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
và thực tiễn thông qua việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề
có liên quan đến vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng và chế tài áp dụng do vi phạm
cơ bản nghĩa vụ hợp đồng Để trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Bài nghiên cứu này sẽ có thể trở thành nguồn tham khảo cho những ai quan tâm đến pháp luật Việt Nam nói chung và vấn đề về vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng cùng với chế tài áp dụng nói riêng Thông qua đó, tác giả mong muốn những thông tin từ bài nghiên cứu này sẽ hỗ trợ một phần trong việc nghiên cứu, áp dụng, hoàn thiện phát triển pháp luật hợp đồng tại Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm các vấn đề: vi phạm cơ bản nghĩa vụ của hợp đồng, chế tài do vi phạm cơ bản của hợp đồng và lý luận áp dụng vào thực tiễn
Vấn đề vi phạm hợp đồng và các chế tài áp dụng có phạm vi nghiên cứu khá rộng Bởi vậy trong khuôn khổ giới hạn về số trang của đề tài nên tác giả sẽ dựa trên những quy định của pháp luật Việt Nam để tiến hành: khái quát chung về vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng và chế tài thương mại áp dụng do vi phạm cơ bản
Trang 93
nghĩa vụ hợp đồng, tổng hợp quy định của pháp luật về vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng và các chế tài áp dụng do vi phạm, lấy ví dụ thực tiễn về việc áp dụng chế tài do có vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng, và nêu kiến nghị của tác giả đối với vi oham cơ bản nghĩa vụ hợp đồng và chế tài áp dụng trong vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng
4 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu nêu trên, tác giả sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, so sánh, kết hợp phương pháp nghiên cứu lý luận với thực tiễn các quy định của pháp luật hiện hành với các quy định của pháp luật trước đó và các quy định của quốc tế
5 Kết cấu đề tài
Đề tài gồm lời mở đầu, nội dung đề tài và phụ lục Trong đó phần nội dung đề tài cũng được chia làm 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Tổng quan về vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại
và chế tài pháp lý do vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng
Chương 2: Thực trạng pháp luật quy định về vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại và chế tài pháp lý do vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng
Chương 3: Thực tiễn áp dụng, kiến nghị giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật đối với vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại và chế tài do vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng
Trang 104
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VI PHẠM CƠ BẢN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM CƠ BẢN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG 1.1 Khái quát về hợp đồng
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng
Trong lịch sử lập pháp của nhân loại, để tìm ra một thuật ngữ chính xác như thuật ngữ hợp đồng đang được các quốc gia trên thế giới hiện nay sử dụng là một điều không dễ dàng Tuy nhiên, thuật ngữ “Hợp đồng” là khái niệm được xuất hiện từ rất sớm trong các hoạt động mua bán cũng như quan hệ dân sự hàng ngày Trong quá trình phát triển kinh tế, với mỗi mô hình kinh tế chúng ta điều có các quy định về pháp luật hợp đồng tương ứng Do đó khái niệm về hợp đồng ở mỗi giai đoạn cũng có các cách hiểu khác nhau
Trong các văn tự cổ thuật ngữ “hợp đồng” được sử dụng như: “khế ước”,
“văn tự” (văn tự bán nhà, văn tự bán ruộng), chúng đều có thể được hiểu chung là
sự đồng thuận, đồng ý, giao kèo giữa các bên về một vấn đề nào đó, theo đó các bên
sẽ phải thực hiện các công việc, yêu cầu đã được giao kèo
Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội thì hệ thống pháp luật cũng ngày càng hoàn thiện Từ đó, khái niệm hợp đồng cũng được hiểu theo một cách cụ
thể và chi tiết hơn Về mặt thuật ngữ, hợp đồng được hiểu là: “ sự thỏa thuận, giao ước giữa hai hay nhiều bên quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thường được viết thành văn bản” 1
Như vậy, hợp đồng là công cụ pháp lý quan trọng và phổ biến để mọi người thực hiện các giao dịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình Xét về bản chất thì hợp đồng được tạo nên bởi sự thỏa thuận của các bên, là kết quả của một quá trình thương thảo, thống nhất ý kiến giữa các bên để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với nhau (trừ các quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định)
Do đó, nội dung trong hợp đồng có ý nghĩa ràng buộc các bên
1 Viện ngôn ngữ học 2006, Từ điển tiếng việt, NXB Đà Nẵng, Tr.466
Trang 115
Ngoài ra thì trong quá trình ký kết hợp đồng, dựa vào mục đích giao kết hợp đồng có thể chia làm 2 loại: hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại
Thứ nhất là hợp đồng dân sự, quy định tại điều 385 Bộ luật dân sự 2015
có đưa ra định nghĩa: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
Về mặt chủ thể, chủ thể của quan hệ hợp đồng là các bên giao kết trong hợp đồng Các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng có thể là cá nhân, pháp nhân Để tham gia giao kết hợp đồng và trở thành chủ thể hợp pháp của hợp đồng thì các bên phải có năng lực của chủ thể hợp đồng2 Cụ thể, trừ một số trường hợp pháp luật có quy định thì đối với cá nhân khi tham gia vào quan hệ hợp đồng thì phải có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự Ví dụ: những người từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi, nhóm người này theo quy định của pháp luật dân sự là người
có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ, khi thực hiện giao dịch dân sự thì phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác
Về mặt hình thức, hợp đồng là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các bên tham gia trong quan hệ hợp đồng và phải biểu hiện dưới một hình thức nhất định thì mới xác định được thời điểm giao kết hợp đồng để phát sinh các hiệu lực pháp lý có liên quan Trong đó giao dịch dân sự còn được xem như một hợp đồng dân sự3 nên trong quy định tại khoản 1 điều 119 BLDS 2015 có nêu: “ Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp, dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.” Từ
đó có thể nhận thấy pháp luật dân sự không có quy định riêng về hình thức của hợp đồng dân sự Do đó hình thức của hợp đồng có thể do các bên thống nhất, lựa chọn
2 Th.s Mai Xuân Minh, Pháp luật về hợp đồng, Trường ĐH Công Nghệ, Tr.10
3 Quy định tại điều 116 BLDS 2015: Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
Trang 12Trong hợp đồng dân sự thì cơ quan giải quyết tranh chấp chỉ có thể là tòa
án theo quy định của pháp luật tố tụng
Thứ hai là hợp đồng thương mại Theo điều 1 Pháp lệnh về hợp đồng
kinh tế ngày 25.09.1989 có quy định: “ Hợp đồng kinh tế là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình.” Song đến thời điểm
hiện tại thì Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế đã hết hiệu lực và vẫn chưa có bất kỳ một văn bản thay thế nào giải thích rõ ràng và cụ thể thuật ngữ hợp đồng kinh tế Vì vậy theo quy định của pháp luật hiện hành người ta không gọi “hợp đồng kinh tế” mà thay vào đó là hợp đồng thương mai - dựa vào chủ thể ký kết hợp đồng Tuy nhiên dựa vào khái niệm hợp đồng đã nêu và tham khảo điều 1 pháp lệnh về hợp đồng kinh tế thì ta có thể hiểu: Hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên, sự thỏa thuận đó nhằm mục đích kinh doanh “ Kinh doanh” được hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phảm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi4 Như vậy, mục đích kinh doanh là một trong những tiêu chí để phân biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại
Về chủ thể, theo quy định của pháp luật thương mại thì chủ thể của hợp đồng thương mại phải bắt buộc là thương nhân, cá nhân, tổ chức khác hoạt động có liên quan đến thương mại Tuy nhiên theo quy định tại khoản 3 điều 1 LTM 2005
4 Theo khoản 16 điều 4 luật doanh nghiệp 2015
Trang 137
quy định về phạm vi điều chỉnh của LTM có nêu: hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng luật này Như vậy, từ quy định này
có thể nhận thấy chủ thể trong hợp đồng thương mại phải có ít nhất một bên chủ thể
là thương nhân
Tuy nhiên, “ thương nhân” được hiểu và được pháp luật quy định như thế nào? Khái niệm về “ thương nhân” là khái niệm quan trọng, là căn cứ để xác định đúng chủ thể của hợp đồng trong thương mại, là căn cứ để hợp đồng thương mại có hiệu lực và là căn cứ để các bên trong quan hệ hợp đồng lựa chọn đúng luật
áp dụng Vì thế khái niệm “ thương nhân” đều được pháp luật thương mại của các quốc gia trên thế giới quy định Nhưng mỗi quốc gia khác nhau lại có cách quy định khác nhau
Theo điều 1, Bộ LTM của Pháp (1807) quy định: “ Thương nhân là người thực hiện các hành vi thương mại và lấy đó làm nghề nghiệp thường xuyên của mình”
Với quan niệm, hành vi thương mại là hành vi của các thương gia, cho nên pháp luật Thương mại Cộng hòa Liên bang Đức quy định về thương nhân (thương gia) có phần phức tạp hơn Theo pháp luật thương mại Đức, thương gia bao gồm các loại: thương gia đương nhiên, thương gia do đăng ký, thương gia do hình thức pháp lý, thương gia nhỏ và thương gia giả tạo5 Theo quy định tại khoản 6, điều 5, LTM 1997 của Việt Nam: Thương nhân gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác,
hộ gia đình có đăng ký kinh doanh, hoạt động thương mại một cách độc lập và thường xuyên
Theo quy định tại khoản 1, điều 6 LTM 2005 của Việt Nam quy định: Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh
5
Khoa luật, Tài liệu Luật thương mại, Trường ĐH Công nghệ, tr.1
Trang 148
Như vậy, từ quy định về “Thương nhân” của các nước trên thế giới cũng như pháp luật hiện hành của Việt Nam, có thể hiểu: Thương nhân có thể là cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác được thành lập hợp pháp và thực hiện hành vi thương mại một cách thường xuyên
Về hình thức hợp đồng thương mại, trừ các trường hợp pháp luật thương mại có quy định khác, hợp đồng thương mại có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản, hoặc bằng hành vi cụ thể Nhưng khác với hợp đồng dân sự, hình thức của hợp đồng thương mại thường yêu cầu có tính chặt chẽ hơn và có một số điều khoản
mà hợp đồng dân sự không có như: điều khoản thời gian, địa điểm giao hàng; điều khoản bảo hiểm, chuyển đổi rủi ro; điều khoản vận chuyển
Về mục đích của hợp đồng thương mại, các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng thương mại để thực hiện các hoạt động thương mại bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại nhằm mục đích sinh lợi là chính
Không giống với hợp đồng dân sự, cơ quan giải quyết tranh chấp của
hợp đồng thương mại ngoài tòa án thì còn có cơ chế trọng tài thương mại
1.1.2 Đặc điểm hợp đồng
Thứ nhất, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên Hợp đồng là một giao
dịch có nhiều bên tham gia để tạo lập sự ràng buộc pháp lý với nhau dựa trên sự cam kết, thỏa thuận Sự thỏa thuận từ hai bên trở lên mới được xem là thỏa thuận trong hợp đồng, nếu chỉ là sự đồng ý từ một bên thì là hành vi pháp lý đơn phương Yếu tố thỏa thuận vừa là nguồn gốc, vừa là cơ sở nền tảng tạo nên hợp đồng Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì yếu tố thỏa thuận rất được đề cao và có thể nói tất cả các hợp đồng đều dựa trên sự thỏa thuận của các bên Tuy nhiên cũng không thể nói mọi thỏa thuận đều là hợp đồng Một sự thỏa thuận chỉ được xem là hợp đồng nếu nó được hình thành dựa trên sự ưng thuận, phù hợp với ý chí, mục của các bên, không được đe dọa, lừa dối, mua chuộc Những trường hợp có sự lừa dối, đe dọa, cưỡng bức thì dù có sự ưng thuận cũng không được coi là hợp đồng Đặc biệt
sự thỏa thuận này phải hợp pháp và không trái với đạo đức xã hội
Trang 15Thứ ba, nội dung các bên quy định trong hợp đồng không được trái quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Khi giao kết hợp đồng thì các bên được tư do
thỏa thuận, tự do quy định nội dung hợp đồng, tự do xác định quyền và nghĩa vụ giữa các bên Tuy nhiên sự tự do này không phải là tuyệt đối Trong một số trường hợp nhất định, nhà nước buộc phải sử dụng quyền lực của mình để can thiệp vào việc ký kết hợp đồng của các bên nhằm tránh trường hợp các bên vi phạm pháp luật hợp đồng Chỉ khi nào nội dung của hợp đồng không trái với quy định của pháp luật
và đạo đức xã hội thì hợp đồng mới phát sinh hiệu lực, qua đó quyền và nghĩa vụ của các bên mới bị ràng buộc và nội dung quy định trong hợp đồng mới được pháp
luật bảo vệ
1.1.3 Nguyên tắc giao kết hợp đồng
Thứ nhất, tự do giao kết nhưng không được trái quy định của pháp luật
và đạo đức xã hội Từ các nhu cầu khác nhau mà các chủ thể tham gia quan hệ hợp
đồng nhằm đạt được những lợi ích nhất định Vì vậy pháp luật tôn trọng sự tự do giao kết hợp đồng giữa các chủ thể và ghi nhận thành nguyên tắc chung Theo đó, các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng có quyền tự do ý chí trong việc lựa chọn hợp đồng mà mình giao kết, tự do lựa chọn chủ thể giao kết, tự do thỏa thuận các quyền và nghĩa vụ trong quá trình giao kết Không một chủ thể nào được phép can
Trang 16Thứ hai, tự nguyện bình đẳng, thiện chí hợp tác trung thực ngay thẳng vì lợi ích chung Khi tham gia giao kết hợp đồng, các bên được hoàn toàn tự nguyện,
không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào Việc giao kết hợp đồng chỉ được coi là tự nguyện khi hình thức của hợp đồng phản ánh một cách khách quan, trung thực mong muốn, nguyện vọng của các bên chủ thể tham gia hợp đồng Mọi hành vi tác động làm ảnh hưởng đến sự tự nguyện của các bên có thể làm cho hợp đồng bị vô hiệu Nguyên tắc này nhằm đảm bảo được bản chất của quan hệ pháp luật hợp đồng
Ngoài ra các bên chủ thể khi tham gia các quan hệ trao đổi phải bình đẳng với nhau; không ai được viện lý do khác biệt về hoàn cảnh kinh tế, thành phần
xã hội, dân tộc, giới tính hay tôn giáo… để tạo ra sự bất bình đẳng trong quan hệ hợp đồng Hơn nữa, ý chí tự nguyện của các bên chủ thể tham gia hợp đồng chỉ được bảo đảm khi các bên bình đẳng với nhau trên mọi phương diện Chính vì vậy, pháp luật không thừa nhận những hợp đồng được giao kết thiếu sự bình đẳng và ý chí tự nguyện của một trong các bên chủ thể Tuy nhiên, trên thực tế thì việc đánh giá một hợp đồng có được giao kết bảo đảm ý chí tự nguyện của các bên hay chưa, lại là một công việc hoàn toàn không đơn giản và khá phức tạp bởi nhiều nguyên do chủ quan và khách quan khác nhau
6 khoản 2 điều 3 Bộ Luât dân sự 2015
Trang 1711
Việc xác định các nguyên tắc khi giao kết hợp đồng có một ý nghĩa rất quan trọng trong lý luận cũng như trong thực tiễn áp dụng chế định hợp đồng, góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình điều chỉnh các quan hệ pháp luật về hợp đồng
1.2 Khái quát về vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại
1.2.1 Khái niệm về vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại
Vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng là căn cứ quan trọng để áp dụng các chế tài đối với bên bị vi phạm Khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng hay vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng không phải là một thuật ngữ xa lạ đối với các nước như Anh, Ca-na-da, Đức và các quốc gia ký kết Công ước viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Tại Việt Nam, Trước năm 2005 thuật ngữ “ vi phạm cơ bản” nghĩa vụ hợp đồng chưa từng được xuất hiện trong những quy định của pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật hợp đồng nói riêng mà thay vào đó là thuật ngữ “vi phạm nghiêm trọng” Đến khi Luật thương mại được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 và có
hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2006 thì có quy định:
Khoản 12 điều 3 có quy định: Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này
Khoản 13 điều 3 có quy định: Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng
Ngoài ra khi tham khảo quy định quốc tế tại Điều 25 Công ước Viên của Liên hợp quốc năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế quy định: “ Một
sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản, nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ khi bên vi phạm không tiên liệu được
Trang 1812
hậu quả đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ
cũng ở vào hoàn cảnh tương tự ”
Như vậy khái niệm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng có thể được hiểu là: việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không đúng theo thỏa thuận giữa các bên gây ra thiệt hại cho bên kia, làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng
Ví dụ, các bên thỏa thuận cụ thể về nghĩa vụ giao hàng trong hợp đồng nhưng người bán không giao hàng hoặc giao hàng thiếu, giao sai hàng hoặc giao hàng không đúng chất lượng như đã thỏa thuận trong hợp đồng Như vậy, nếu người bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng như: hàng hóa được giao thiếu về số lượng, giao không phù hợp về chất lượng hoặc giao sai chủng loại hàng mà các bên
đã thỏa thuận trong hợp đồng, thì được coi là người bán đã có sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
1.2.2 Đặc điểm của vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại
Thứ nhất, vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại cũng là một dạng của vi phạm hợp đồng Khi giao kết hợp đồng, điều mà các chủ thể trong hợp
đồng không hy vọng nhất đó chính là xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng Khi một bên không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của mình trong hợp đồng Tùy vào từng hành vi và thiệt hại do bên vi phạm mà xác định mực độ vi phạm của hợp đồng Muốn xác định một hành vi vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng trong thương mại thì trước hết cần phải xác định có hành vi vi phạm hợp đồng
Thứ hai, hành vi vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng trong thương mại gây hậu quả nghiêm trọng Khi các bên giao kết hợp đồng thương mại đa số vẫn là
vì mục đích lợi ích mang lại từ hợp đồng Một hành vi được xem là vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng trong thương mại khi có một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích giao kết của hợp đồng Việc mục đích giao kết của hợp đồng không đạt được sẽ mang lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh của bên bị vi phạm Ngoài ra,
Trang 1913
không phải hành vi vi phạm nào cũng gây ra hậu quả bất lợi đối với bên bị vi phạm
mà còn làm ảnh hưởng đến bên vi phạm trong một số trường hợp
1.3 Khái quát về chế tài áp dụng do vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại
1.3.1 Khái niệm về chế tài áp dụng do vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại
Trước tiên chế tài được hiểu là một bộ phận của quy phạm pháp luật, là biện pháp mà nhà nước sẽ áp dụng để xác định các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với những chủ thể có hành vi vi phạm những quy định của pháp luật và làm ảnh hưởng đến lợi ích của những cá nhân, tổ chức khác Theo lý luận pháp luật Việt Nam và từ điển luật học, chế tài là một trong ba bộ phận cấu thành nên một quy phạm pháp luật bao gồm giả định, quy định, và chế tài Nó là một bộ phận xác định trách nhiệm pháp lý khi có hành vi vi phạm các quy tắc xử sự chung của xã hội được quy định trong phần giả định và quy định của pháp luật7
Để ngăn ngừa hành vi vi phạm hợp đồng, bù đắp tổn thất do sự vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm, pháp luật cho phép các bên trong hợp đồng thỏa thuận những biện pháp áp dụng đối với bên có hành vi vi phạm hợp đồng Đối với bên vi phạm hợp đồng thì đây là trách nhiệm phải chịu đối với các hậu quả do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra, còn đối với bên bị vi phạm thì đây là biện pháp đảm bảo các quyền lợi hợp pháp của mình
Những biện áp chế tài này luôn mang lại hậu quả bất lợi cho chủ thể bị
áp dụng, đồng thời thể hiện quyền lực của nhà nước trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội
Chế tài thương mại còn có thể được hiểu là chế tài mà cơ quan nhà nước, bên bị vi phạm áp dụng đối với chủ thể vi phạm khi có những hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng Chế tài là hình thức biểu hiện của trách nhiệm vật chất, mang lại thiệt hại về kinh tế-tài chính đối với bên bị áp dụng trong quá trình hoạt động thương mại
7 Trường Đại học Luật Hà Nội, 2013, Lý luận nhà nước và pháp luật, NXB Công an nhân dân, Tr.134
Trang 2014
Từ những phân tích trên chúng ta có thể đưa ra kết luận về chế tài thương
mại như sau: chế tài thương mại là biện pháp được áp dụng đối với bên vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng Các biện pháp này mang trách nhiệm vật chất nên mang ý nghĩa bất lợi đối với bên vi phạm Việc sử dụng chế tài này do các bên thỏa thuận theo quy định của pháp luật
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tùy theo từng lĩnh vực mà có các loại chế tài khác nhau, nhưng cơ bản gồm các loại chế tài là: Chế tài hành chính, hình sự, dân sự, Việc áp dụng chế tài nào sẽ thuộc vào các đặc điểm của lợi ích
mà pháp luật bảo vệ8
Như vậy chế tài áp dụng do hành vi vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng được xem là một bộ phận nhỏ, là “tập hợp con” của chế tài trong thương mại và chỉ được áp dụng đối với các hành vi vi phạm cơ bản Cụ thể, trong LTM 2005 không
có ghi nhận đối với quy định chế tài nào sẽ được áp dụng đối với hành vi vi phạm
cơ bản; nhưng lại có quy định: “ bên bị vi phạm, không được áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng đối với vi phạm không cơ bản” 9 Từ đó ta có thể nhận định: Chế tài áp dụng đối với
hành vi vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng là một phần của chế tài thương mại và được áp dụng đối với chế tài tạm ngưng, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng nếu không có thỏa thuận khác
1.3.2 Căn cứ áp dụng chế tài
Chế tài là một loại trách nhiệm pháp lý gây bất lợi đối với chủ thể bị áp dụng, do đó chúng ra không thể áp dụng chế tài một cách tùy tiện mà phải tuân theo các điều kiện theo quy định của pháp luật Cũng như các dạng chế tài khác, việc áp dụng những biện pháp chế tài cụ thể đòi hỏi phải có những căn cứ xác định, theo LTM 2005 thì có ba căn cứ để áp dụng chế tài trong pháp luật thương mại bao gồm:
8 Viện khoa học pháp lý-bộ tư pháp 2006, từ điển luật học, NXB Từ điển bách khoa-NXB tư pháp, Tr.130
9 Điều 293 Luật thương mại 2005
Trang 21Thứ nhất, hành vi vi phạm hợp đồng như đã nêu ở mục 1.1.4 thì vi phạm
hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc quy định của pháp luật Hành vi vi phạm hợp đồng có thể xảy ra dưới bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình thực hiện hợp đồng Nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm này cũng xuất phát từ nhiều yếu
tố khác nhau Việc xác định nghĩa vụ trong hợp đồng là tiền đề quan trọng để xác định được hành vi vi phạm hợp đồng; có nghĩa vụ bắt buộc mới có thể có hành vi vi phạm hợp đồng và mới có các chế tài áp dụng đối với hành vi vi phạm hợp đồng này
Khác với LTM 2005, việc áp dụng các chế tài trong thương mại theo LTM 1997 còn đòi hỏi yếu tố lỗi, trong đó hành vi vi phạm hợp đồng luôn đi kèm với yếu tố lỗi, có vi phạm hợp đồng mà không có lỗi cũng không phát sinh trách nhiệm Măc dù lỗi theo LTM 1997 là lỗi suy đoán 10, nhưng việc xác định lỗi trên thực tế đôi khi rất khó khăn và tương đối trừu tượng; bên cạnh đó, trong quan hệ thương mại quốc tế, khái niệm lỗi được hiểu rất khác nhau giữa các hệ thống pháp luật khác nhau, điều này làm cho luật thương mại 1997 trở nên khó thích ứng với yêu cầu thực tiễn Do đó LTM 2005 đã sử dụng các căn cứ miễn trách nhiệm để thay thế cho yếu tố lỗi, kéo theo đó chế tài trong thương mại chỉ được áp dụng nếu bên có hành vi vi phạm hợp đồng không chứng minh được hành vi của mình nằm trong trong trường hợp miễn trách nhiệm11
Trang 2216
Thứ hai, thiệt hại thực tế Trước tiên “ thiệt hại” nói chung được hiểu là:
bị mất mát về người, về của cải vật chất hoặc tinh thần Nhưng trong quy định của pháp luật “thiệt hại” được hiểu là: tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm , uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; tài sản, danh dự,
uy tín của pháp nhân hoặc chủ thể khác được pháp luật bảo vệ12
“ Thiệt hại” được hiểu theo nhiều khái niệm khác nhau thế nhưng trong trường hợp này thiệt hại được xác định như thế nào? Vì mục đích khi giao kết hợp đồng thương mại giữa các chủ thể là lợi nhuận, lợi ích vật chất; thế nên khi có thiệt hại xảy thì thiệt hại này cũng sẽ dựa trên thiệt hại vật chất mà các bên phải chịu
Vậy “ thiệt hại vật chất” được xác định như thế nào theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành?
Theo quy định tại khoản 2 điều 361 BLDS 2015 có quy định: thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc
bị giảm sút
Đối với thiệt hại được xác định trong hợp đồng thương mại thì khoản thiệt hại do vi phạm hợp đồng được xác định là những giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm13 Như vậy thiệt hại vật chất thực tế có thể được chia làm hai loại thiệt hại: thiệt hại trực tiếp và thực hại gián tiếp
Thiệt hại trực tiếp: là những mất mát xảy ra khách quan trên thực tế và những thiệt hại đã xảy ra có thể tính toán được một cách dễ dàng và chính xác Đó
là những thiệt hại do tài sản bị mất mát, hư hỏng, hoặc những chi phí dùng để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra
Trang 2317
Thiệt hại gián tiếp: là những thiệt hại được xác định dựa trên sự suy đoán ( những suy đoán này phải có căn cứ, tài liệu chứng minh tính chính xác của suy đoán) mới có thể xác nhận được Ví dụ như: khoản lợi ích mà bên bị vi phạm nhận được nếu không có hành vi vi phạm
Đặc biệt cần lưu ý là những thiệt hại được nhắc đến ở đây là những thiệt hại về mặt vật chất; đối với những thiệt hại phi vật chất như sự tổn hại uy tín của thương nhân, uy tín hàng hóa, sản phẩm không thuộc nghĩa vụ bồi thường của bên
vi phạm Thiệt hại vật chất xảy ra trên thực tế là căn cứ bắt buộc phải có khi áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại Còn đối với các chế tài khác thì đó được coi là tình tiết để xác định mức nặng nhẹ của chế tài được áp dụng14
Thứ ba, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế
Ngoài thiệt hại thực tế, quy định của pháp luật còn đòi hỏi giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế phải có mối liên hệ trực tiếp, hay còn được hiểu theo cách khác là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại hại thực tế Bởi vì một thiệt hại nào đó có thể do nhiều nguyên nhân gây ra,vì vậy để xác định bên vi phạm có chịu trách nhiệm với thiệt hại đó hay không thì cần phải chứng minh được rằng hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại mà
không phải do bất kỳ một hành vi nào khác
14 Đại học Luật Hà Nội,2009, Giáo trình luật thương mại tập 2, NXB nhân dân, Hà Nội, Tr.51
Trang 2418
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ VI PHẠM CƠ BẢN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM
CƠ BẢN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG 2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam quy định về vi phạm cơ bản nghĩa
vụ hợp đồng thương mại
2.1.1 Phân loại vi phạm hợp đồng trong thương mại
Từ khi Luật thương mại 2005 được ban hành và có hiệu lực thi hành thì
hành vi vi phạm hợp đồng trong thương mại được chia làm hai loại vi phạm gồm: vi phạm cơ bản và vi phạm không cơ bản nghĩa vụ hợp đồng Sở dĩ phân biệt vi phạm
cơ bản và vi phạm không cơ bản là để làm căn cứ áp dụng các chế tài cần thiết bởi khi một hợp đồng có hành vi vi phạm bị áp dụng chế tài sẽ đem lại hậu quả nghiêm trọng; nhằm đảm bảo lợi ích của các bên và lợi ích của xã hội một bên không thể lấy
cớ vi phạm hợp đồng của bên kia để giải phóng mình khỏi nghĩa vụ khi vi phạm không đáng kể
Như đã nêu ở mục 1.2 vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng là trường hợp
có sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng Tuy quy định của pháp luật thương mại lại không đúc kết và nêu rõ khái niệm đối với hành vi vi phạm không cơ bản, nhưng khi đối chiếu quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng ta có thể dùng phương pháp loại trừ: Khi có hành vi vi phạm theo hợp đồng thì ngoài trừ các
vi phạm cơ bản theo luật định thì các hành vi vi phạm còn lại có thể được xem như
là vi phạm không cơ bản
Như vậy, vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng được phân biệt với vi phạm không cơ bản là ở mức độ nghiêm trọng của hậu quả vi phạm hợp đồng, theo đó vi phạm cơ bản có thể làm mất đi ý nghĩa của việc giao kết hợp đồng trong khi vi phạm không cơ bản chỉ làm giảm ý nghĩa đó Tức là nếu là vi phạm cơ bản, thì vi phạm đó sẽ làm cho bên bị vi phạm không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng; còn nếu là vi phạm không cơ bản thì tuy thiệt hại là có xảy ra nhưng mục đích
Trang 2519
của việc giao kết hợp đồng vẫn đạt được Vì thế, hậu quả pháp lý đối với vi phạm
cơ bản và vi phạm không cơ bản là hoàn toàn khác nhau15
Việc quy định pháp luật có phân biệt thành hai loại vi phạm cơ bản và không cơ bản còn là một trong những căn cứ để áp dụng một số biện pháp chế tài khác nhau Theo điều 293 LTM 2005 “ Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên bị
vi phạm không được áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng đối với vi phạm không cơ bản” Như vậy có thể hiểu, nếu là vi phạm cơ bản thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ thực hiện hợp đồng; còn ngược lại với vi phạm không cơ bản thì chỉ có thể áp dụng chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại Điều này đảm bảo sự công bằng cho các bên trong việc thực hiện các hoạt động thương mại, tránh trường hợp một bên lấy lý do “đã có hành vi vi phạm hợp đồng” để yêu cầu tạm ngừng, đình chỉ hoặc hủy bỏ việc thực hiện hợp đồng mặc dù hành vi vi phạm là không đáng kể
2.1.2 Vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thương mại
So sánh LTM 2005 với BLDS 2015 hiện hành và Bộ luật dân sự 2005 được ban hành cùng thời điểm với LTM 2005, nhận thấy trong cả hai BLDS đều không có các quy định nào liên quan đến “ vi phạm cơ bản” hay “ vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng”, thay vào đó là xuất hiện thuật ngữ “vi phạm nghiêm trọng”16
Ví dụ, theo điều 516 BLDS 2015 “ Trường hợp bên cung ứng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng ” 17 Do đó, có thể thấy rằng khái niệm “ vi phạm cơ bản” trong LTM 2005 không nhất quán với BLDS 2015 Vì BLDS được coi là luật gốc điều chỉnh các vấn đề cơ bản trong quan hệ dân sự Trong khi đó, vi phạm hợp đồng cũng như quan hệ hợp đồng là những nội dung rất cơ bản và gắn liền với thực tiễn
Trang 26Căn cứ vào quy định về vi phạm cơ bản của pháp luật như trên thì có thể thấy, dấu hiệu để nhận biết một hành vi vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật được xem là vi phạm cơ bản khi có đủ hai yếu tố là: gây thiệt hại cho bên bị vi phạm và thiệt hại do hành vi vi phạm đó làm cho bên còn lại không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng Song, nhìn vào quy định trên thì thật khó để xác định vi phạm nào là cơ bản, vi phạm nào là không cơ bản Vì thế chúng ta cần làm sáng tỏ hai vấn đề:
Thứ nhất, hành vi vi phạm hợp đồng phải gây thiệt hại cho bên bị vi phạm
Như đã đề cập ở trên, theo quy định của pháp luật về vi phạm hợp đồng thì bên vi phạm có thể là không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nghĩa vụ theo thỏa thuận19
Tuy nhiên, không phải hành vi vi phạm nào cũng gây ra
18 Khoản 13 điều 3 LTM 2005
19 Khoản 12 điều 3 LTM 2005
Trang 2721
thiệt hại cho bên bị vi phạm Và theo khỏan 13 điều 3 về vi phạm cơ bản thì nếu có thiệt hại đi chăng nữa thì cũng có thể là thiệt hại vật chất hoặc thiệt hại về tinh thần LTM 2005 không giải thích, không có quy định nào liên quan đến giải thích “ thiệt hại” cũng như không đưa ra bất cứ dẫn chứng mức độ thiệt hại như thế nào thì sẽ cấu thành vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng LTM cũng không quy định về vấn đề thiệt hại có phải là tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra?
Giả sử, căn cứ vào điều 302 LTM 2005 chúng ta có thể suy luận gián tiếp được rằng: “thiệt hại” là tổn thất mà tổn thất đó phải là thực tế, trực tiếp mà bên bị
vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm Các nhà soạn thảo luật thương mại 2005 đã đồng nhất “thiệt hại” là “tổn thất”, trong khi đó, thiết nghĩ không phải lúc nào thiệt hại cũng là tổn thất Chẳng hạn, nếu người bán vi phạm nghĩa vụ đóng gói hay bảo hiểm hàng hóa nhưng hàng hóa vẫn đến nơi an toàn thì không có thiệt hại Mặt khác, nếu người mua bị mất khách hàng hay mất cơ hội bán lại hàng hóa thì không có tổn thất nhưng có thiệt hại xảy ra Như vậy, nội hàm của “ thiệt hại” quy định tại khoản 2 điều 302 LTM dường như rộng hơn cả nghĩa “ tổn thất” bởi nó bao gồm cả “ khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng”.20
Tuy nhiên, những vấn đề trên cũng chỉ là giả thuyết được suy luận, bởi những vấn đề này chưa được làm rõ khi dựa trên những quy định của pháp luật Việt Nam cũng như những hướng dẫn, giải thích của cơ quan có thẩm quyền
Thứ hai, thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra phải đến mức làm cho bên bị vi phạm không đạt được mục đích giao kết của hợp đồng
Với tiêu chí này, chúng ta cần làm sáng tỏ hai vấn đề là mục đích giao kết của hợp đồng và mức độ thiệt hại do mục đích hợp đồng không đạt được
20 Võ Sỹ Mạnh, “ Bàn về khái niệm VPCB nghĩa vụ hợp đồng theo quy định của LTM Việt Nam, Tạp chí
NN và PL, Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Viện NN và PL số 5-8/2013, TR.45-46
Trang 2822
Đối với “ mục đích giao kết của hợp đồng” Mục đích được hiểu là cái
vạch ra làm đích nhằm đạt cho được.21 Như vậy, khi giao kết hợp đồng, các chủ thể vạch ra và mong muốn cái đích đạt được sẽ như thế nào? Vấn đề này không phải dễ dàng tìm được câu trả lời Mục đích của việc giao kết hợp đồng thương mại không được giải thích cụ thể trong các văn bản pháp luật Mà chúng ta chỉ có thể tìm thấy định nghĩa về mục đích của giao dịch dân sự được quy định tại điều 118 BLDS
2015 là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó, và đây cũng được xem như là mục đích giao kết của hợp đồng thương mại vì hợp đồng thương mại cũng là một dạng giao dịch dân sự22
Trong thực tiễn, mục đích giao kết hợp đồng thường được các bên thể hiện trong các điều khoản của hợp đồng hoặc ngầm định mục đích của hợp đồng nhằm ràng buộc trách nhiệm của bên kia Chẳng hạn, khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, người bán và người mua thỏa thuận với nhau rằng: hàng hóa là nguyên liệu được mua để sản xuất sản phẩm A, thì lúc này mục đích của người mua xem như không đạt được nếu người bán giao cho người mua nguyên liệu không thể
sử dụng để sản xuất sản phẩm A Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp này thì việc
lý giải, xác định mức độ “không sử dụng được” của nguyên liệu trong sản xuất thành sản phẩm cũng cần làm rõ thêm Như vậy, việc quy định về mục đích giao kết của hợp đồng cho thấy cơ sở xác định vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đầu tiên và trước hết nằm trong các điều kiện quy định rõ ràng hoặc ngầm định trong hợp đồng
Thế nhưng, mục đích giao kết của hợp đồng không phải lúc nào cũng được các bên thể hiện trong hợp đồng Trong trường hợp này, việc xác định mục đích giao kết của hợp đồng không phải là điều dễ dàng khi mà mỗi bên đều có những mong muốn, hướng đến các lợi ích khác nhau Vậy nên việc xác định mục đích giao kết hợp đồng lúc này cần gắn liền với mục đích của hoạt động thương mại bởi chủ thể của hợp đồng thương mại chủ yếu là thương nhân tiến hành hoạt động
21 https://vi.wiktionary.org/wiki/m%E1%BB%A5c_%C4%91%C3%ADch#Ti%E1%BA%BFng_Vi%E1%BB
%87t
22 Nguyễn Thị Hoa, 2015, Khóa luận tốt nghiệp “ Chế tài hủy bỏ hợp đồng thương mại”, ĐH Luật TP.HCM
Trang 2923
thương mại với mục tiêu lợi nhuận Chẳng hạn, khi người bán giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với người mua, hai bên không thỏa thuận rõ ràng mục đích của mua bán hàng hóa Đối với hợp đồng này, bên bán có trách nhiệm giao hàng và nhận thanh toán, còn bên mua có trách nhiệm thanh toán và nhận hàng Có thể thấy, bên bán hàng và bên mua hàng tuy có mục đích khác nhau nhưng cả hai đều vì lợi nhuận; bởi mua bán hàng hóa cũng là một hoạt động thương mại Vì vậy, bất kỳ một hành vi vi phạm nào cũng có thể dẫn đến mục đích sinh lời của bên kia không đạt được
Đối với mức độ thiệt hại do mục đích hợp đồng không đạt được Về cơ
bản, thiệt hại ở đây được xem là mục đích mà bên bị vi phạm mong chờ từ việc giao kết hợp đồng đã không còn, vì thế dẫn đến việc bên bị vi phạm mất đi “ mục đích sinh lời” từ việc thực hiện hợp đồng Từ đó có thể thấy khó khăn nhất trong việc phân tích tính cơ bản của hành vi vi phạm hợp đồng là “ thiệt hại đến mức làm cho bên bị vi phạm mất đi mục đích giao kết của hợp đồng” Như vậy thì mức độ thiệt hại như thế nào mới dẫn đến việc các bên mất đi mục đích sinh lời? Theo tác giả Võ
Sỹ Mạnh trong bài nghiên cứu khoa học : “ Bàn về khái niệm “vi phạm cơ bản” nghĩa vụ hợp đồng theo quy định của Luật thương mại Việt Nam năm 2005” thì đã
đưa ra công thức tính như sau:
A - B = C Trong đó:
A: Mục đích của giao kết hợp đồng của bên bị vi phạm
B: Thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra
C: Mức độ thiệt hại
Từ công thức trên cho thấy, nếu A - B cho kết quả âm (-C) thì có thể tạm thời kết luận thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra lớn hơn mục đích giao kết hợp đồng của bên bị vi phạm, tức là thiệt hại đến mức làm cho bên bi vi phạm không đạt được mục đích của giao kết hợp đồng ban đầu; nếu A - B cho kết quả dương (+C)
có thể kết luận rằng, thiệt hại do bên vi phạm gây ra chưa đến mức làm cho bên bị
vi phạm mất đi mục đích của giao kết hợp đồng Tuy nhiên, ngay cả khi thiệt hại
Trang 3024
như vậy cũng chưa có thể kết luận một cách chắc chắn rằng không có hành vi vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng; bởi để xem xét hành vi này còn tùy thuộc vào hoàn cảnh của từng vụ tranh chấp cụ thể.23
Tuy nhiên, chỉ mới dựa vào căn cứ như thế thì rất khó để xác định hành
vi vi phạm như thế nào là vi phạm cơ bản Bởi LTM 2005 không có bất kỳ ví dụ hay hướng dẫn nào trong việc xác định vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng Vì thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra đã không được giải thích cụ thể Khái niệm
“vi phạm cơ bản” nghĩa vụ trong hợp động theo LTM Việt Nam cũng khá mơ hồ và trừ tượng Một khó khăn nữa là làm thế nào để xác định một vi phạm hợp đồng xảy
ra nhưng mục đích của hợp đồng vẫn đạt được, vì mục đích của hợp đồng là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn nhận được khi giao kết hợp đồng?
Ví dụ trường hợp về xác định vi phạm cơ bản
Ví dụ 2: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa bên A ( Công ty
TNHH cơ khí Sói Đất) và bên B ( Công ty TNHH Đông Đô Thành) tại bản án số 1743/2007/KDTM-ST ngày 20/09/2007 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh24
Tình huống: Ngày 02/08/2006, bên A ký kết với bên B hợp đồng mua
bán số 009/HĐMB/DDT mua 1 chiếc ô tô mới 100%, được lắp táp tại Việt Nam năm 2006, giá 13.250 USD, thời gian giao xe là ngày 02 và 03/08/2006 Đến ngày 08/08/2006, bên B thực hiện giao xe là ô tô mới, được sản xuất lắp ráp tại xưởng ngày 09/12/2005 và chất lượng xe cũng không tốt như có nhiều vết han rỉ, sơn bị phồng rộp nhiều chỗ Bên A từ chối nhận xe và có khiếu nại yêu cầu bên B giao xe theo đúng hợp đồng là loại xe được lắp ráp tại Việt Nam năm 2006 Ngày 08/09/2006, bên A có văn bản số 139/CV-AA gửi bên B thông báo hủy bỏ hợp đồng Ngày 16/04/2007, bên A khởi kiện bên B và yêu cầu hủy bỏ hợp đồng mua bán số 009/HĐMB/DDT
Trang 3125
Quan điểm của tòa án: Toàn án nhận định việc Bên B giải thích ô tô trên
vẫn là sản xuất theo kiểu dáng, chất lượng của loại xe sản xuất năm 2006 để từ chối yêu cầu khiếu nại, khởi kiện của bên A là không đúng với nội dung Điều 1 của hợp đồng về quy cách hàng hóa là “ lắp ráp tai Việt Nam năm 2006” Tòa án xác định đây là vi phạm cơ bản theo điểm b khoản 4 điều 312 LTM 2005 nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của B
Nhận xét: Có thể nhận thấy, việc xác định vi phạm cơ bản trong trường
hợp này đã không làm vào rõ: thiệt hại của bên A trong trường hợp này là thiệt hại như thế nào? Mục đích mua xe của bên A là gì? Việc bên B giao xe không đúng yêu cầu trong hợp đồng có làm ảnh hưởng trực tiếp, gây thiêt hại đến bên B không? Mà chỉ quan tâm đến “A cần nhận xe” theo yêu cầu nhưng không nhận được
2.2 Thực trạng pháp luật Việt Nam quy định về chế tài áp dụng do vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng
2.2.1 Các loại chế tài áp dụng do vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng
Chế tài thương mại là một trong những chế định quan trọng của LTM
2005 Đây cũng là chế định được sử dụng khá phổ biến và khá thường xuyên khi các bên thực hiện giao kết hợp đồng thương mại Tuy nhiên để áp dụng một cách chính xác thì các bên cần tìm hiểu kỹ bản chất của các chế tài để khi áp dụng thì nó thật sự phát huy được hiệu quả trên thực tế, đủ sức để phòng ngừa và hạn chế vi phạm
Căn cứ vào Luật thương mại 2005, quy định tại điều 292, chế tài trong thương mại có tất cả 6 loại gồm: buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, buộc bồi thường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng Ngoài ra các bên có thể tự do thỏa thuận các biện pháp khác mà không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam; điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế Như vậy, so với LTM 1997 thì LTM 2005 có thêm hai loại chế tài mới là tạm ngừng thực hiện hợp đồng và đình chỉ thực hiện hợp đồng
Trang 32bản thì bên bị vi phạm vẫn được áp dụng chế tài tạm đừng, đình chỉ, hủy bỏ hợp đồng Với phạm vi nghiên cứu đề tài, tác giả sẽ chỉ đề cấp đến các chế tài áp dụng với “ vi phạm cơ bản” là chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng
Tạm ngừng thực hiện hợp đồng và Đình chỉ thực hiện hợp đồng
Để theo kịp sự phát triển của nền kinh tế và mục tiêu phát triển, hoàn thiện pháp luật Việt Nam, chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng và đình chỉ thực hiện hợp đồng là hai chế tài mới, lần đầu tiên được quy định trong LTM 2005
Theo quy định của LTM, tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng Còn đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Cả hai loại chế tài này đều làm gián đoạn quá trình thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
Vì hậu quả nghiêm trọng khi áp dụng hai loại chế tài này, nên các bên chủ thể chỉ được áp dụng chế tài này khi có hành vi vi phạm đã được các bên thỏa thuận áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng hay đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc khi có hành vi vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng Đối với hành vi vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thì bên vi phạm có quyền áp dụng hai loại chế tài này mà không cần thỏa thuận trước trong hợp đồng
Đối với chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng thì khi chế tài này được bên bị vi phạm áp dụng đối với hành vi vi phạm của bên vi phạm thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực Tức là hợp đồng chỉ bị tạm ngưng trong một khoản thời gian nhất định
25 Điều 293 Luật thương mại 2005
Trang 3327
và sau khi hợp đồng bị tạm ngừng thì hợp đồng sẽ tiếp tục được thực hiện khi hành
vi vi phạm đã được khắc phục, mâu thuẫn giữa các bên đã được giải quyết So với BLDS 2015 thì không hề có quy định về chế tài tạm ngưng thực hiện hợp đồng Tuy nhiên theo quy định tại BLDS thì vẫn có ghi nhận về trường hợp quy định “quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ” Theo đó, bên phải thực hiện nghĩa vụ có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ đến hạn nếu bên còn lại trong hợp đồng chưa thực hiện hoặc không thể thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết trong hợp đồng26
Như vậy trong trường hợp này quy định hoãn thực hiện nghĩa vụ có bản chất giống với chế tài tạm ngưng thực hiện nghĩa vụ trong thương mại
Tương tự như thế, khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện thì hiệu lực hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ thực hiện hợp đồng Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng Có cùng bản chất với chế tài này chính là quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong pháp luật dân sự khi một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận khác27
Ngoài ra khi áp dụng hai loại chế tài này, bên bị vi phạm vẫn có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật thương mại Không những thế, theo quy định tại khoản 2 điều 299 LTM 2005 thì bên bị vi phạm còn có thể áp dụng một trong hai loại chế tài này khi bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo thời hạn được ấn định
Mặc khác để bảo vệ lợi ích của bên vi phạm, thì theo luật thương mại còn có quy định bên áp dụng chế tài tạm ngừng hoặc đình chỉ thực hiện hợp đồng phải có nghĩa vụ thông báo cho bên còn lại biết, trong trường hợp không thông báo
26 Điều 411 BLDS 2015
27 Điều 428 BLDS 2015
Trang 3428
mà gây ra thiệt hại cho bên kia thì bên tạm ngừng, đình chỉ thực hiện hợp đông phải
có nghĩa vụ bồi thường28
Tuy nhiên trong quy định của pháp luật về việc bên tạm ngừng, đình chỉ thực hiện hợp đồng phải „ thông báo ngay” cho bên kia biết mà không quy định về thời gian cụ thể hoặc thời hạn bao lâu thì được xem là “ngay” Vậy nên trong trường hợp này đây lại là một vấn đề cần được “quan tâm” để khắc phục “ lỗ hỏng”
và hoàn thiện quy định của pháp luật thương mại Nhưng cũng không vì thế mà các bên có thể lấy lý do để chậm trễ thông báo được Trong trường hợp này các bên phải thực hiện thông báo trong một thời hạn hợp lý, tùy vào hoàn cảnh của từng vụ việc
Hủy bỏ hợp đồng
Trong thực tiễn, hủy bỏ hợp đồng là chế tài mà các bên chủ thể e ngại nhất, làm ảnh hưởng đến lợi ích, quyền và nghĩa vụ của các bên nhiều nhất Thông thường chế tài này chỉ áp dụng khi tình thế bắt buộc, không có lựa chọn khác
Ở Việt Nam, chế tài hủy bỏ hợp đồng đã được xuất hiện từ rất sớm trong các quy định của pháp luật Quyền hủy bỏ hợp đồng được ghi nhận tại điều 26 PLHĐKT 1989 cho các bên quyền hủy bỏ hợp đồng kinh tế đã có hiệu lực bằng sự thỏa thuận được thực hiện dưới dạng văn bản Tương tự điều 235 LTM 1997 ra đời sau đó cũng có quy định về quyền hủy bỏ hợp đồng này, tuy nhiên ở cả 2 văn bản pháp luật trên quy định về quyền hủy bỏ hợp đồng cũng còn hạn hẹp, chỉ khi việc vi phạm của bên kia là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận Mãi đến khi LTM 2005 được ban hành thì mới có được những bước tiến đáng kể so với những văn bản cũ: mở rộng khả năng hủy bỏ hợp đồng cho các chủ thể, phân loại hủy bỏ hợp đồng và hậu quả pháp lý cũng rõ ràng hơn
Pháp luật kinh doanh quốc tế và pháp luật của một số nước có nền lập pháp lâu đời, và cả pháp luật Việt Nam cũng chỉ dừng lại ở việc liệt kê các điều
28 Điều 315 LTM 2005
Trang 3529
kiện để bên bị vi phạm áp dụng chứ không đúc kết thành ngôn ngữ nhất định những đặc trưng cơ bản tạo thành nội dung của khái niệm hủy bỏ hợp đồng.29
Ví dụ 3: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa người
mua Nga ( nguyên đơn) và người bán Đức ( bị đơn) Vì các bên có trụ sở thương mại tại các nước thành viên CISG nên các quy định của Công ước này đươc áp dụng khi giải quyết tranh chấp.30
Tình huống: Người mua đã nộp đơn kiện người bán trên cơ sở hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế được ký kết ngày 03/03/2001 với lý do người bán không thực hiện nghĩa vụ giao hàng trong khi người mua đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán Ngày 25/06/2001, người bán giao một phần hàng hóa; sau đó, trình các tài liệu cho ngân hàng và được nhận thanh toán heo thư tín dụng được ngừi mua mở tại ngân hàng Tuy nhiên, số hàng hóa còn lại vẫn chưa được giao Khi sự chậm trễ trong việc giao hàng đã vượt quá hai tháng, người mua gửi cho người bán thông báo hủy
bỏ hợp đồng Trong đơn khởi kiện, người mua yêu cầu hủy bỏ hợp đồng, đòi lại toàn bộ số tiền đã thanh toán, phạt vi phạm hợp đồng đối với sự chậm trễ trong việc giao hàng, bồi thường thiệt hại mà người mua phải chịu và chi phí hợp lý
Quan điểm của tòa án: Ngày 16/06/2003, Tòa án trọng tài thương mại
quốc tế cua Liên bang Nga đã ra phán quyết, trong đó, nhận định người mua có căn
cứ để tuyên bố hủy hợp đồng Khi xem xét yêu cầu người mua đòi nhận lại toàn bộ
số tiền đã thanh toán cho hàng hoám Tòa cho rằng dù sao một phần hàng hóa đã thực sự được chuyển giao bởi người bán theo hợp đồng Tòa chấp nhận yêu cầu của người mua đòi được hoàn trả lại số tiền đã trả cho hàng hóa không được giao và áp dụng phạt hợp đồng đối với sự chậm trễ trong việc giao hàng Tuy nhiên, Tòa bác
bỏ yêu cầu được nhận lại khoản tiền đã thanh toán cho hàng hóa đã được chuyển giao
29 Võ Văn Đạt, 2014, Luận văn thạc sỹ “Chế tài hủy bỏ hợp đồng trong LTM 2005, ĐH Luật TP HCM Tr 8
30 Tham khảo Nguyễn Thị Hoa, 2015, Khóa luận tốt nghiệp “ Chế tài hủy bỏ hợp đồng thương mại, Đại học Luật TP.HCM
Trang 3630
Nhận xét: Đây là trường hợp được xem là việc vi phạm hợp đồng đã ảnh
hưởng đến một phần hợp đồng Vì vậy cơ quan giải quyết tranh chấp đã chỉ áp dụng điều 51 CISG31, chỉ cho phép hủy một phần hợp đồng
Tương tự với quy định tại điều 51 của CISG Theo quy định tại điều 312 LTM 2005 của Việt Nam, hủy bỏ hợp đồng bao gồm hai loại: hủy bỏ toàn bộ hợp đồng và hủy bỏ một phần hợp đồng Trong đó, Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi
bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn có hiệu lực
Sau khi hủy bỏ hợp đồng, các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi hủy bỏ hợp đồng và giải quyết tranh chấp nếu có Điều này cũng tương tự như hậu quả của chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng, nhưng có một điểm khác biệt quan trọng là việc hủy bỏ hợp đồng sẽ dẫn đến hậu quả hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, tức việc hủy bỏ hợp đồng sẽ đồng nghĩa với việc hủy bỏ luôn phần nghĩa vụ mà các bên đã thực hiện
Đặc biệt, đối với những hợp đồng giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần, bên bị vi phạm chỉ có thể hủy bỏ hợp đồng đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ có xảy ra vi phạm cơ bản Việc hủy bỏ hợp đồng trong những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ trước đó hoặc sau này phải rơi vào những trường hợp sau:32
Hành vi không thực hiện hợp đồng của một bên là cơ sở để bên kia kết luận rằng vi phạm cơ bản sẽ xảy ra đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ tiếp theo Trường hợp này bên bị vi phạm có quyền hủy bỏ hợp đồng đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ này
31
Điều 51 CISG quy định “ nếu người bán chỉ giao một phần hàng hóa hoặc chỉ một phần hàng hóa đã giao phù hợp với hợp đồng thì hủy bỏ hợp đồng sẽ chỉ được áp dụng đối với phần hàng hóa thiếu hoặc phần hàng không phù hợp với hợp đồng; người mua chỉ được tuyên bố hủy bỏ toàn bộ hợp đồng nếu không thực hiện hợp đồng hoặc một phần hàng hóa không phù hợp với hợp đồng cấu thành một sự vi phạm chủ yếu hợp đồng
32 xem điều 313 Luật thương mại 2005
Trang 3731
Giữa các lần giao hàng, cung ứng dịch vụ có mối quan hệ với nhau, nên việc hủy bỏ hợp đồng đối với một lần giao hàng, cung ứng dịch vụ sẽ làm cho những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ trước đó không thể sử dụng đúng mục đích
mà các bên đã dự kiến vào thời điểm giao kết hợp đồng Trường hợp này bên bị vi phạm có quyền hủy bỏ hợp đồng đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ đã
và sẽ xảy ra
Mục đích của việc áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng là chấm dứt quyền
và nghĩa vụ của các bên đã giao kết trong hợp đồng, đưa các bên trở về trạng thái ban đầu trước khi ký kết hợp đồng, trao trả cho nhau những gì đã nhận Do đó, các bên có quyền yêu cầu đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, nếu các bên đều có ngĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải được thực hiện đồng thời; trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền33
Ngoài việc đòi lại những lại ích mà các bên đã thực hiện, nếu có thiệt hại xảy ra, bên bị vi phạm còn có quyền yêu cầu được bồi thường thiệt hại34.Trên thực
tế, việc bồi thường thiệt hại là hoàn trả lại những lợi ích vật chất mà các bên sẽ nhận được khi hợp đồng được thực hiện đúng và đầy đủ Nhưng trong trường hợp bồi thường thiệt hại do hủy bỏ hợp đồng thì phạm vi yêu cầu bồi thường mà bên vi phạm phải bồi thường là những chi phí mà bên bị vi phạm đã bỏ ra hoặc những chi phí, tổn thất khác phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng Điều này đồng nghĩa với việc những khoản lợi mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng sẽ không được tính vào thiệt hại để bồi thường
Tuy nhiên cần phân biệt giữa hậu quả giữa hợp đồng vô hiệu theo BLDS
2015 với hậu quả của việc áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng theo LTM 2005 Mặc
dù hợp đồng trong cả hai trường hợp này điều không có hiệu lực kể từ thời điểm ký kết, song những gì các bên đã thực hiện trong hợp đồng bị hủy bỏ không thể xem
33 xem điều 314 LTM 2005
34 điều 316 LTM 2005
Trang 3832
như là chưa từng tồn tại và do đó không thể hoàn trả về đúng hiện trạng như trước khi hợp đồng được thực hiện giống như hợp đồng vô hiệu được Bởi vậy hợp đồng khi đã bị hủy bỏ thì các bên có quyền yêu cầu đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, quyền này gần như đồng nghĩa với việc các bên thanh toán giá trị phần hợp đồng đã được thực hiện như trong trường hợp hợp đồng
đã được thực hiện theo đúng thỏa thuận Hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các bên, nhưng nếu như hợp đồng bị hủy bỏ thì bên bị thiệt hại sẽ được bồi thường35 Một điểm khác nữa giữa hậu quả của hợp đồng bị hủy với hợp đồng bị vô hiệu là: khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu thì các bên hoàn trả cho nhau những gì đã thưc hiện trước đó bằng hiện vật, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải trả lại bằng tiền; còn hợp đồng bị tuyên hủy thì các bên đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng Điều này
có nghĩa là đối với hợp đồng vô hiệu thì việc hoàn trả được tính bằng hiện vật, còn với hợp đồng bị hủy bỏ thì việc hoàn trả được tính bằng việc thanh toán giá trị phần lợi ích mà một trong các bên đã thực hiện36
Như vậy, trừ các trường hợp được miễn trách nhiệm được quy định tại điều 294 LTM thì chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường hợp sau:
Một, Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng
Hai, Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng
Ba, Một bên không thực hiện nghĩa vụ giao hàng, cung ứng dịch vụ đã thỏa thuận với bên còn lại
Việc LTM 2005 quy định các trường hợp được phép hủy bỏ hợp đồng cũng giống với quy định trong BLDS 2015 khi cho phép một bên hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp “ xảy ra hành vi vi phạm mà các bên thỏa thuận là điều kiện hủy
35 điều 314 LTM 2005
36 Trích Nguyễn Thị Lê, 2012, Khóa luận tốt nghiệp “ Mối quan hệ giữa các chế tài thương mại trong Luật thương mại 2005”, ĐH Luật T.HCM
Trang 39Theo quy định của pháp luật thương mại và đã được tác giả đã nhắc đến
ở vấn đề trước, các chế tài áp dụng đối với vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng bao gồm: chế tài tạm ngưng, đình chỉ, hủy bỏ hợp đồng Các chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng mặc dù giống nhau
về điều kiện áp dụng (xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện
để tạm ngừng, đình chỉ, hủy bỏ hợp đồng và một bên vi phạm nghĩa vụ cơ bản hợp đồng); về hình thức áp dụng (đều là không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng) và đều được áp dụng kèm chế tài bồi thường thiệt hại37
Tuy nhiên giữa các chế tài này vẫn có những khác biệt nhất định về hậu quả pháp lý:
Đối với trường hợp tạm ngừng thực hiện hợp đồng thì khi áp dụng chế tài này, hợp đồng vẫn còn hiệu lực
Đối với trường hợp đình chỉ thực hiện hợp đồng thì hợp đồng chấm dứt hiệu lực từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ hợp đồng Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đã được thỏa thuận trong hợp đồng, bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng
Còn đối với hợp đồng bị hủy bỏ thì có hai trường hợp xảy ra: hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn có hiệu lực và hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc hủy bỏ hoàn toàn việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, lúc này hợp đồng sẽ không có hiệu lực từ thời điểm
37 Đại học Luật Hà Nội, 2009, Giáo trình Luật thương mại tập 2, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, Tr.58
Trang 4034
giao kết Các bên có quyền đòi lại lợi ích theo phần nghĩa vụ mình đã thực hiện theo hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì phải thực hiện đồng thời; trường hợp không thể trả bằng chính lợi ích mình đã nhận thì phải hoàn trả bằng tiền
Ngoài ra, xét về hậu quả pháp lý thì khi áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng thì hợp đồng vẫn có hiệu lực Do đó, khi đã áp dụng chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng thì không thể có sự kết hợp giữa hai chế tài này với chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng Nếu việc áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng mà không đem lại hiệu quả thì liệu bên bị vi phạm có quyền áp dụng các chế tài đình chỉ hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng không? Xét về quy định của pháp luật thì không cấm trường hợp như vậy, vì thế nên trên thực tiễn ta vẫn có thể áp dụng
Tuy nhiên hạn chế của LTM 2005 là không quy định thời gian áp dụng chế tài tạm ngưng thực hiện hợp đồng là bao lâu?Vấn đề này rất dễ làm phát sinh tranh chấp cũng như gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
Thứ hai, về mối quan hệ đối với các chế tài áp dụng do vi phạm cơ bản và vi phạm không cơ bản
Như vậy, vi phạm cơ bản hay không cơ bản chính là căn cứ để các chủ thể lựa chọn chế tài áp dụng Đối với vi phạm cơ bản thì được áp dụng các chế tài đình chỉ, tạm ngưng, hủy bỏ hợp đồng; đối với vi phạm không cơ bản thì áp dụng đối với các loại vi phạm còn lại như buộc thực hiện đúng hợp đồng, bồi thường thiệt hại, phạt hợp đồng
Mối quan hệ giữa các chế tài áp dụng do có hành vi vi phạm cơ bản nghĩa cụ hợp đồng với chế tài bồi thương thiệt hại Theo CISG 1980, người mua,
người bán không mất quyền đòi bồi thường thiệt hại khi họ sử dụng các biện pháp bảo hộ pháp lý khác Theo quy định tại điều 316 LTM 2005 thì “ một bên không bị mất đi quyền yêu cầu bồi thương thiệt hại đối với tổn thất do vi phạm do vi phạm hợp đồng của bên kia khi đã áp dụng các chế tài khác” Với quy định trên chúng ta