PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Nhân viên y tế của bệnh viện: Bác sĩ, Điều dưỡng, Nữ hộ sinh, kỹ thuật viên,dược sĩ, Hộ lý, NV khác
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
+ Thời gian tiến hành nghiên cứu:
Từ tháng 04/ 2012 đến tháng 09/2012 tại bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp.
Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp.
Thiết kế nghiên cứu
Phỏng vấn đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi có cấu trúc được soạn sẳn.
Mẫu và phương pháp chọn mẫu
Dựa trên cách tính cỡ mẫu của phần mềm Sample Size 2.0 của WHO, cỡ mẫu được tính theo ước lượng một tỷ lệ:
Q = 1 – P α / 2 2 = 1,96 (với mức ý nghĩa α = 0,05) d: độ chính xác mong muốn (mức sai số cho phép) là 0,05 n: số nhân viên sẽ tham gia nghiên cứu
Như vậy, cỡ mẫu là:
Do chưa có nghiên cứu về VHATNB, p được chọn là 0,5 để đảm bảo cỡ mẫu lớn nhất, dẫn đến n = 384 Để phòng ngừa tỷ lệ từ chối hoặc không tiếp cận của đối tượng nghiên cứu, cỡ mẫu sẽ được tăng thêm 10% và làm tròn số, tổng số mẫu điều tra cuối cùng là n = 400.
Sử dụng bảng chấm công của phòng Tổ chức cán bộ của BV
Chọn NV số 1 sau đó chọn người thứ 2 bằng cách cộng thêm 2 cho đến khi đủ mẫu
Phương pháp thu thập số liệu
+ Kỹ thuật thu thập thông tin:
Phỏng vấn đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi có cấu trúc được soạn sẳn.
Để tiến hành khảo sát, bộ câu hỏi sẽ được đặt trong bì thư Điều tra viên sẽ trực tiếp gặp nhân viên trong danh sách được chọn tại khoa/phòng, hướng dẫn họ cách điền vào bộ câu hỏi Sau khi hoàn thành, bì thư sẽ được dán kín và sẽ được thu lại tại khoa sau một tuần.
+ Công cụ thu thập số liệu:
Phiếu điều tra được thiết kế theo kiểu phiếu tự điền (phụ lục 1)
Xử lý số liệu
- Sử dụng phần mềm Epi.data và phần mềm SPSS 12.0 để nhập và phân tích số liệu
2.6.1.Sai số chọn Đối tượng từ chối tham gia điều tra.
- Do bộ câu hỏi: Trong quá trình dịch thuật dùng từ không gần gũi, gây hiểu nhầm.
- Do đối tượng nghiên cứu trả lời không đúng: không biết, không hiểu câu trả lời.
- Sai số do ngại, nể nang LĐ khoa, LĐBV
- Do người nhập liệu nhập sai.
- Chọn mẫu dự phòng 10% cho các đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu
- Giải thích rõ ràng mục đích điều tra cũng như tính bí mật của thông tin để cố gắng thuyết phục các đối tượng tham gia
- Tập huấn kỹ trước khi điều tra, điều tra thử trước khi điều tra chính thức.
- Thử nghiệm bộ câu hỏi trước khi tiến hành điều tra nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành kiểm tra các phiếu điều tra ngay sau khi nhận và thu thập Những phiếu có thông tin không đầy đủ hoặc không hợp lý, chẳng hạn như chọn toàn điểm 3, 4, 5 hoặc bỏ trống hơn 1/3 câu hỏi, sẽ bị loại bỏ.
Biến số nghiên cứu, khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
Bảng 2.1 Biến số nghiên cứu Số
Biến số Định nghĩa biến
1 Các biến số thông tin về đối tượng nghiên cứu
Là thời gian được tính theo năm dương lịch được tổ chức quyết định phân công về công tác tại bệnh viện
Liên tục Bảng hỏi có cấu trúc
Thời gian làm việc (giờ/tuần)
Là tổng số giờ làm việc trong một tuần
Liên tục Bảng hỏi có cấu trúc
Biến số Định nghĩa biến
Là khoa/ phòng đang phục vụ hiện tại:
- Khoa lâm sàng: khoa có giường bệnh bao gồm các khoa: Nội, Ngoại, sản, Nhi, Nhiễm, cấp cứu, Hồi sức, phẩu thuật, khám bệnh
- Khoa không giường bệnh và khác:
Xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, Thăm dò chức năng, Dược, VTTTB, ĐD, KHTH, TCCB, TCKT, HCQT.
Bảng hỏi có cấu trúc
Là công việc hiện tại có khám bệnh, chăm sóc, thực hiện các kỹ thuật cho người bệnh.
Nhị phân Bảng hỏi có cấu trúc
Thời gian làm việc theo chuyên ngành
Là thời gian tính theo năm dương lịch của đối tượng nghiên cứu được phân công phục vụ theo ngành
Liên tục Bảng hỏi có cấu trúc
2 Xác định tỉ lệ đáp ứng tích cực của nhân viên về 7 lĩnh vực ATNB trong phạm vi khoa/ phòng
Biến số Định nghĩa biến
Vai trò của lãnh đạo về ATNB
Mức độ nhân viên đánh giá hoạt động của lãnh đạo trong lĩnh vực an toàn, an ninh (ATNB) rất quan trọng Nghiên cứu này tập trung vào việc nhân viên nhận xét liệu lãnh đạo có ghi nhận các ý kiến và giải pháp cải thiện ATNB từ cấp dưới hay không, cũng như việc lãnh đạo có bỏ qua các vấn đề liên quan đến ATNB.
Thứ bậc Bảng hỏi có cấu trúc trả lời câu hỏi:B1, B2, B3r, B4r
Sự cải thiện liên tục về ATNB
Mức độ nhận định của người được hỏi về việc tổ chức có cải thiện liên tục trong an toàn và bảo mật thông tin (ATNB) hay không là rất quan trọng Đặc biệt, cần chú ý đến những thay đổi tích cực và hiệu quả sau khi xảy ra sai sót.
Bảng hỏi có cấu trúc trả lời câu hỏi: A6, A9, A13
Hoạt động nhóm trong khoa
Mức độ tự đánh giá của nhân viên về hoạt động nhóm trong khoa phản ánh sự hỗ trợ lẫn nhau, tôn trọng và khả năng làm việc cùng nhau như một đội.
Bảng hỏi có cấu trúc trả lời câu hỏi: A1, A3, A4, A11
Giao tiếp cởi mở trong ATNB
Là nhận xét của nhân viên trong việc phát biểu thoải mái hay không lúc họ thấy sự việc tiêu cực có thể ảnh
Bảng hỏi có cấu trúc trả lời câu hỏi:
Biến số Định nghĩa biến
Ph.pháp thu thập hưởng đến bệnh nhân và cảm thấy tự do để đặt câu hỏi với những người có quyền nhiều hơn
Thông tin và phản hồi về sai sót
Mức độ nhân viên cảm nhận khi xảy ra sai sót tại khoa bao gồm ba yếu tố chính: thông báo kịp thời về sai sót, cung cấp thông tin phản hồi về các biện pháp khắc phục, và đề xuất các giải pháp nhằm phòng ngừa sai sót trong tương lai.
Bảng hỏi có cấu trúc trả lời câu hỏi:
Phản ứng với các sai sót
Là mức độ nhân viên cảm nhận lúc phạm sai sót: sợ bị trừng phạt và ghi lí lịch
Thứ bậc Bảng hỏi có cấu trúc trả lời câu hỏi:
Vai trò của nhân lực trong ATNB
Nhận xét của nhân viên về nhân sự cho thấy rằng số lượng nhân viên và thời gian làm việc của họ cần được đánh giá để đảm bảo khả năng chăm sóc tốt nhất cho bệnh nhân Việc đảm bảo đủ nhân lực và thời gian làm việc hợp lý sẽ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
Bảng hỏi có cấu trúc trả lời câu hỏi:
3 Xác định tỉ lệ đáp ứng tích cực của NVYT về 4 lĩnh vực ATNB ở phạm vi bệnh viện.
Biến số Định nghĩa biến
ATNB được đánh giá là ưu tiên hàng đầu trong việc cải thiện môi trường làm việc Nhân viên nhận thấy rằng công ty tạo ra một môi trường thuận lợi để nâng cao an toàn và bảo mật, góp phần vào sự phát triển bền vững của tổ chức.
Bảng hỏi có cấu trúc trả lời câu hỏi:
Đánh giá của nhân viên về môi trường làm việc tại bệnh viện cho thấy an toàn và nâng cao chất lượng môi trường làm việc là ưu tiên hàng đầu Mức độ hợp tác và phối hợp liên khoa trong chăm sóc bệnh nhân cũng được nhân viên đánh giá cao, cho thấy sự quan tâm đến việc cải thiện an toàn và chất lượng dịch vụ y tế.
Bảng hỏi có cấu trúc trả lời câu hỏi:
Giao ca và chuyển bệnh
-Mức độ nhân xét của nhân viên về trao đổi thông tin ATNB trong toàn bệnh viện:
- Giao ca: Những thông tin quan trọng trong chăm sóc người bệnh thường bị mất trong quá trình bàn giao phiên trực
- Nguy cơ về ATNB khi NB không được theo dõi liên tục trong quá trình giao ca và chuyển khoa
Bảng hỏi có cấu trúc trả lời câu hỏi:
Biến số Định nghĩa biến
R: tiểu mục diễn đạt ngược
4 Xác định mức độ nhận thức chung của nhân viên về VHATNB
Nhận thức chung về ATNB
Cảm nhận tổng quát của nhân viên về sự quan tâm của đơn vị đối với ATNB.
Bảng hỏi có cấu trúc trả lời câu hỏi:
Số sự cố được báo cáo
Nhân viên tự xếp hạng mức độ thực hiện ATNB của khoa, phòng theo 5 mức độ:
Nhân viên cần thực hiện việc tự đánh giá bản thân và báo cáo các sự kiện như lỗi, sai sót, sự cố, tai nạn, và thương tổn, bao gồm cả những trường hợp có hoặc không có ảnh hưởng đến bệnh nhân.
Bảng hỏi có cấu trúc
Bảng hỏi có cấu trúc
Ghi chú: "R" chỉ ra mục ngược lại diễn đạt.
2.7.2.khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá:
- Các ý kiến trả lời được cho điểm theo thang điểm 5 Liker:
1đ (Hoàn toàn không đồng ý), 2đ (không đồng ý một phần), 3đ (không ý kiến), 4đ (Đồng ý), 5đ (hoàn toàn đồng ý)
- Phân tích và nhóm lại thành 3 nhóm:
+ Nhóm 1: Hoàn toàn không đồng ý/ không đồng ý một phần
+ Nhóm 3: Đồng ý/ hoàn toàn đồng ý
Tỷ lệ phần trăm nhân viên trả lời "Hoàn toàn đồng ý" hoặc "Đồng ý" cho các tiểu mục diễn đạt tích cực, hoặc "Hoàn toàn không đồng ý" và "Không đồng ý một phần" cho các tiểu mục diễn đạt tiêu cực.
Trong khoa, mọi người hỗ trợ lẫn nhau, với 50% số người được hỏi hoàn toàn đồng ý và 25% đồng ý, tỷ lệ phản hồi tích cực cho mục này đạt 75%.
Trong một khảo sát về an toàn người bệnh tại khoa/phòng, có 80% người tham gia không tin rằng có nhiều vấn đề về an toàn người bệnh, với 60% hoàn toàn không đồng ý và 20% không đồng ý với nhận định này.
+ Tổng hợp trung bình tỷ lệ phần trăm đáp ứng chưa tích cực:
Trung bình tỷ lệ % đáp ứng chưa tích cực các tiểu mục trong từng lãnh vực.
Trong một lĩnh vực có ba tiểu mục, tỷ lệ phần trăm đáp ứng chưa tích cực của các tiểu mục lần lượt là 50%, 55% và 60% Tính trung bình tỷ lệ phần trăm đáp ứng chưa tích cực sẽ là: (50 + 55 + 60)/3.
Sự kiện: được định nghĩa là bất kỳ lỗi, sai sót, sự cố, tai nạn, hoặc thương tổn có hay không có kết quả ảnh hưởng đến người bệnh[2]
- An toàn người bệnh: tránh và phòng ngừa tổn thương cho người bệnh hoặc sự kiện bất lợi do các quá trình chăm sóc [1]
- Sai lầm y khoa: là sự cố nguy hiểm xảy ra cho người bệnh trong quá trình điều trị hoặc chăm sóc y tế[2]
- Nhầm lẫn:Không thực thi được thao tác, hành động đã lên kế hoạch theo ý muốn
(nghĩa là sai lầm trong thực hành) hoặc thực thi một kế hoạch sai (sai lầm trong việc lên kế hoạch)[2]
- Vấn đề: là điểm yếu, điểm tồn tại[2].
- Xác định điểm mạnh của các lãnh vực trong nền VHATNB: trung bình tỉ lệ đáp ứng tích cực từ 75% trở lên.
- Xác định điểm yếu cần cải thiện của các lãnh vực trong nền VHATNB: trung bình tỉ lệ đáp ứng thấp dưới 75%
Để kiểm định độ tin cậy của thang đo, hệ số Cronbach’s alpha được sử dụng để đánh giá các yếu tố cấu trúc trong VHATNB Các yếu tố có hệ số Cronbach’s alpha cao cho thấy độ tin cậy tốt của thang đo.
≥ 0,6 , tốt nhất > 0,8 thì thang đo được xem là có độ tin cậy với mẫu nghiên cứu[3]
Đạo đức trong nghiên cứu
Trước khi tiến hành phỏng vấn, đối tượng nghiên cứu sẽ được giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu Việc phỏng vấn chỉ được thực hiện khi đối tượng nghiên cứu đồng ý hợp tác tham gia.
Tất cả thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu sẽ được bảo mật hoàn toàn Dữ liệu và thông tin thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu và không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác.
Nội dung nghiên cứu phù hợp, được Ban giám đốc, Hội đồng khoa học kỹ thuật bệnh viện Đa Khoa Đồng Tháp chấp thuận cho nghiên cứu tại BV.
Kết quả nghiên cứu sẽ được chia sẻ với Ban Giám đốc, đội ngũ bác sĩ và điều dưỡng của bệnh viện sau khi hoàn thành Những phát hiện này có thể đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các giải pháp nhằm phòng ngừa sai sót, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân khi khám và điều trị tại Bệnh viện Đa Khoa Đồng Tháp.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.2 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Thâm niên làm việc tại BV
Thâm niên làm việc tại khoa
Thời gian làm việc(giờ/tuần)
Khoa không giường bệnh và khác 100 25
Dược sĩ và khác 32 8 ĐD-HS-KTV 314 78,5
Có tiếp xúc trực tiếp NB 370 92,5
Không tiếp xúc trực tiếp NB 30 7,5
Theo bảng 2, 75% nhân viên làm việc tại các khoa lâm sàng, trong đó nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật viên chiếm tỷ lệ cao nhất với 78,5% Đặc biệt, 83,3% nhân viên có thâm niên làm việc dưới 5 năm, cho thấy ít có sự luân chuyển giữa các khoa trong thời gian này Hầu hết nhân viên, chiếm 97,5%, làm việc 40 giờ mỗi tuần và 92% trong số họ có tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân.
Xác định tỉ lệ đáp ứng tích cực của nhân viên về lãnh vực ATNB tại Khoa/Phòng
Bảng 3.3.Vai trò của lãnh đạo trong ATNB
LĐ nói một lời tốt đẹp/ khen khi thấy một việc được thực hiện theo đúng quy trình ATNB (B1) 297 69,8
LĐ nghiêm túc xem xét các đề nghị của NV để cải thiện
Bất cứ lúc nào khi có việc khẩn trương, LĐ muốn mọi người làm nhanh hơn mặc dù có thể làm tắc QTKT (B3r)
LĐ hay bỏ qua những vấn đề ATNB mặc dù nó đã xãy ra nhiều lần (B4r)
Trung bình tỉ lệ đáp ứng tích cực = (69,8 + 79,2 + 77 + 93,2)/4 = 80%
Kết quả bảng 3.2 cho thấy rằng trung bình tỉ lệ đáp ứng tích cực về vai trò lãnh đạo khoa đạt 80%, cho thấy đây là điểm mạnh trong VHATNB Cụ thể, 93% nhân viên không đồng ý rằng lãnh đạo của họ bỏ qua các vấn đề an toàn và bảo mật thông tin, mặc dù các sự cố đã xảy ra nhiều lần Hơn nữa, 79,2% lãnh đạo nghiêm túc xem xét các đề xuất của nhân viên nhằm cải thiện an toàn và bảo mật thông tin Tuy nhiên, 77% nhân viên không đồng ý với việc lãnh đạo yêu cầu mọi người làm việc nhanh hơn trong các tình huống khẩn trương, vì điều này có thể gây tắc nghẽn quy trình công tác Cuối cùng, tỉ lệ đáp ứng tích cực cho việc lãnh đạo khen ngợi khi công việc được thực hiện đúng quy trình an toàn và bảo mật thông tin chỉ đạt 70%.
Bảng 3.4 Sự cải thiện liên tục về ATNB tại khoa
Nhân viên đang nỗ lực cải thiện An toàn Năng lượng (ATNB) với mã số 356, đạt 89,0 điểm Những sai sót đã dẫn đến các thay đổi tích cực trong quy trình làm việc Sau khi thực hiện các biện pháp cải thiện ATNB, nhân viên đã tiến hành đánh giá hiệu quả của những thay đổi này.
Trung bình tỉ lệ đáp ứng tích cực = (89 + 58,2 + 77,2)/3 = 75%
Kết quả từ bảng 3.4 cho thấy tỉ lệ đáp ứng tích cực trong lĩnh vực cải thiện an toàn nội bộ (ATNB) đạt 75%, cho thấy đây là một điểm mạnh trong văn hóa ATNB Cụ thể, 89% nhân viên đồng ý rằng họ đang tích cực nỗ lực để cải thiện ATNB, và 77% nhận thấy rằng những thay đổi nhằm cải thiện ATNB đã mang lại hiệu quả Tuy nhiên, chỉ có 58,2% nhân viên đồng ý rằng các sai sót đã dẫn đến những thay đổi tích cực trong khoa.
Bảng 3.5 Hoạt động nhóm tại khoa
Mọi người giúp đở lẫn nhau (A1) 349 87,2
Mỗi khi có nhiều việc cần làm nhanh, làm việc như một đội cho xong việc (A 3)
Mọi người đối xử tôn trọng (A 4) 277 69,2
Khi một phòng bệnh nào bận rộn, được người khác giúp đở
242 60,5 trung bình tỉ lệ đáp ứng tích cực = (87,2 + 76,5 + 69,2 + 60,5)/4 = 75%
Kết quả từ bảng 3.5 cho thấy tỉ lệ đáp ứng tích cực của hoạt động nhóm tại khoa đạt 75%, cho thấy đây là một điểm mạnh trong văn hóa an toàn và chất lượng Cụ thể, 87% nhân viên đồng ý rằng mọi người trong khoa giúp đỡ lẫn nhau, và 77% cho rằng họ làm việc như một đội khi có nhiều việc cần hoàn thành Tuy nhiên, chỉ có 69% nhân viên cảm thấy mọi người đối xử tôn trọng lẫn nhau, và 61% cho biết có sự hỗ trợ từ người khác khi một phòng bệnh bận rộn.
Bảng 3.6 Thông tin và phản hồi các sai sót
NV được thông tin phản hồi về những thay đổi dựa trên các báo cáo sai sót (C1)
NV được thông báo về các lỗi xảy ra trong khoa (C3) 277 69,2
NV luôn thảo luận cách để ngăn chặn các lỗi xảy ra lần nữa (C5) 273 68,2 Trung bình tỉ lệ đáp ứng tích cực = (33 + 69,2 + 68,2)/3 = 57%
Kết quả từ bảng 3.6 chỉ ra rằng tỷ lệ đáp ứng tích cực về thông tin và phản hồi các sai sót chỉ đạt 57%, cho thấy mức độ đáp ứng còn thấp Cụ thể, 33% nhân viên nhận được thông tin phản hồi về những thay đổi dựa trên các báo cáo sai sót, trong khi 69% nhân viên được thông báo về các lỗi xảy ra trong khoa và 68% nhân viên có thông tin về các vấn đề khác.
NV đồng ý trong khoa tổ chức thảo luận, bàn cải để đưa ra những giải pháp ngăn chặn các lỗi xảy ra lần nữa.
Bảng 3.7 Vai trò của nhân lực trong ATNB
Khoa/phòng có đủ nhân lực để hoàn thành công việc hiệu quả, với 87,2% ý kiến đồng tình Việc nhân viên làm thêm giờ nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cũng nhận được 34,2% sự ủng hộ Sử dụng thêm nhân viên hợp đồng được xem là giải pháp tối ưu cho khoa/phòng.
NV đang làm việc trong tình trạng khủng hoảng: quá tải, quá nhiều việc, quá nhanh chóng (A14r)
Trung bình tỉ lệ đáp ứng tích cực = (87,2 + 34,2 + 47,5 + 42,8)/4 = 53%
Kết quả từ bảng 3.7 cho thấy tỉ lệ đáp ứng tích cực về vai trò của Nhân lực trong An toàn, Ninh dưỡng và Bảo vệ (ATNB) chỉ đạt 53%, phản ánh sự thiếu hụt trong lĩnh vực này Trong khi đó, có 87,2% nhân viên tại khoa cho rằng họ có đủ nhân lực để hoàn thành công việc Tuy nhiên, ba chỉ số cho thấy sự đồng thuận thấp: 66% nhân viên cho rằng họ phải làm thêm giờ để cải thiện chất lượng dịch vụ, 53% đồng ý rằng việc sử dụng thêm nhân viên hợp đồng là giải pháp tốt nhất cho chất lượng dịch vụ, và 57% nhân viên cảm thấy họ đang làm việc trong tình trạng quá tải và khủng hoảng.
Bảng 3.8 Giao tiếp cởi mở trong ATNB
NV bàn cải tự do khi thấy sự việc ảnh hưởng xấu đến CSNB (C2) 124 31,0
NV tự do đặt câu hỏi về quyết định hoặc hành động của những người có quyền nhiều hơn (C4)
NV ngại đặt câu hỏi khi thấy cái gì đó có vẻ không đúng (C6r) 171 42,8 Trung bình tỉ lệ đáp ứng tích cực = (31 + 16,2 + 42,8)/3 = 30%
Kết quả từ bảng 3.8 cho thấy tỷ lệ đáp ứng tích cực về giao tiếp cởi mở trong ATNB chỉ đạt 30%, cho thấy lĩnh vực này còn nhiều hạn chế Cụ thể, 43% nhân viên cho biết họ ngại đặt câu hỏi khi nhận thấy điều gì đó không đúng, trong khi 31% nhân viên có phản hồi tích cực về việc thảo luận tự do khi sự việc ảnh hưởng xấu đến CSNB Chỉ có 16% nhân viên đồng ý rằng họ có thể tự do đặt câu hỏi về các quyết định hoặc hành động của những người có quyền lực hơn.
Bảng 3.9 Phản ứng của NV về các sai sót tại khoa
NV lo ngại rằng những sai sót của họ sẽ bị xử lý nghiêm khắc, với tỷ lệ 79% cho thấy sự lo lắng này Khi một sự kiện được báo cáo, thường có sự chỉ trích đối với cá nhân cụ thể thay vì thảo luận về vấn đề một cách tổng thể.
Trong khoa/phòng các NV lo sợ các sai lầm bị lưu vào hồ sơ cá nhân (A16r)
Trung bình tỉ lệ đáp ứng tích cực = (19,8 + 46,5 + 20)/3 = 28,7%
Kết quả từ bảng 3.9 chỉ ra rằng tỉ lệ đáp ứng tích cực của nhân viên về các sai sót tại khoa chỉ đạt 29%, cho thấy đây là một trong những lĩnh vực có mức độ phản hồi thấp nhất trong 7 lĩnh vực an toàn tại bệnh viện Đặc biệt, có 80% nhân viên lo ngại rằng những sai sót sẽ bị trừng phạt và ghi vào hồ sơ, trong khi 53,5% đồng ý rằng khi một sự kiện được báo cáo, nó thường liên quan đến một cá nhân cụ thể thay vì được xem như một vấn đề cần thảo luận.
Tổng hợp tỷ lệ trung bình đáp ứng tích cực ATNB tại khoa
Vai trò LĐ tại khoa 80
Cải thiện liên tục ATNB 75
Hoạt động nhóm tại khoa 75
Thông tin và phản hồi sai sót 57 vai trò nhân lực 53
Biểu đồ 3.1 Tổng hợp trung bình tỉ lệ đáp ứng tích cực của NV về lãnh vực ATNB trong phạm vi khoa/ phòng
Biểu đồ 3.1 trình bày tỷ lệ trung bình đáp ứng tích cực của 7 lĩnh vực trong văn hóa an toàn nơi làm việc tại khoa Lĩnh vực có tỷ lệ đáp ứng tích cực cao nhất là vai trò lãnh đạo trong an toàn nơi làm việc với 80%, theo sau là sự cải thiện liên tục tại khoa và hoạt động nhóm, đều đạt 75% Ngược lại, lĩnh vực có tỷ lệ đáp ứng tích cực thấp nhất là giao tiếp cởi mở trong an toàn nơi làm việc với chỉ 29%, tiếp theo là phản ứng của nhân viên với các sai sót tại khoa (30%), vai trò nhân lực trong an toàn nơi làm việc (53%) và thông tin phản hồi về sai sót (57%).
Đáp ứng tích cực của nhân viên về những lãnh vực ATNB phạm vi BV
Bảng 3.10 Hoạt động nhóm liên khoa
Có sự hợp tác giữa các khoa trong BV khi cần phải làm việc cùng nhau (F4)
Các khoa trong BV làm việc với nhau để phục vụ các yêu cầu
Các khoa trong bệnh viện không phối hợp tốt với nhau (F2r) 279 69,8 Thường là khó chịu để làm việc với NV từ các khoa khác trong BV (F6R)
Trung bình tỉ lệ đáp ứng tích cực = (76,5 + 85 + 69,8 + 80,8)/4 = 78%
Kết quả từ bảng 3.10 chỉ ra rằng tỉ lệ đáp ứng tích cực trung bình trong hoạt động nhóm liên khoa đạt 78%, thể hiện đây là một điểm mạnh trong văn hóa an toàn bệnh viện Cụ thể, 85% nhân viên cho rằng các khoa trong bệnh viện hợp tác hiệu quả để đáp ứng tốt nhất các yêu cầu chăm sóc sức khỏe, trong khi 77% nhân viên đồng ý về sự hợp tác giữa các khoa.
Trong môi trường bệnh viện, việc hợp tác giữa các khoa là rất quan trọng Một khảo sát cho thấy 80% nhân viên không gặp khó khăn khi làm việc với đồng nghiệp từ các khoa khác Tuy nhiên, vẫn còn 70% nhân viên cho rằng cần cải thiện sự phối hợp giữa các khoa để đạt hiệu quả cao hơn trong công việc.
Bảng 3.11 Tần suất báo cáo các sai sót
Khi một sai lầm được thực hiện, bị phát hiện và sửa chữa trước khi ảnh hưởng đến NB được báo cáo thường xuyên? (D1)
Khi một sai lầm được thực hiện, nhưng không có tiềm năng gây tổn hại cho NB được báo cáo thường xuyên? (D2)
Khi một sai lầm được thực hiện có tiềm năng gây tổn hại cho
NB, nhưng hiện tại chưa gây tổn hại được báo cáo thường xuyên? (D4)
Trung bình tỉ lệ đáp ứng tích cực = (6,8 + 2,0 + 3,5)
Kết quả từ bảng 3.11 cho thấy tỉ lệ đáp ứng tích cực của nhân viên về tần suất báo cáo sai sót chỉ đạt 4,1%, cho thấy mức độ phản hồi rất thấp Cụ thể, chỉ có 6,8% nhân viên đồng ý rằng khi một sai lầm xảy ra và được phát hiện, sửa chữa kịp thời, nó sẽ được báo cáo thường xuyên Trong khi đó, 2% nhân viên đồng ý với việc báo cáo sai lầm không gây tổn hại cho ngân sách, và 3,5% cho rằng sai lầm có khả năng gây tổn hại nhưng hiện tại chưa gây ra thiệt hại nào.
Bảng 3.12 Chính sách của bệnh viện trong ATNB
Cách quản lý BV tạo nên môi trường làm việc thúc đẩy ATNB
Các hoạt động của QLBV cho thấy ATNB là một ưu tiên hàng đầu (F8)
QLBV chỉ quan tâm đến ATNB khi có sự kiện bất lợi xảy ra
Trung bình tỉ lệ đáp ứng tích cực = (69,8 + 88,8 + 76,5)/3 = 78%
Kết quả từ bảng 3.12 cho thấy rằng tỉ lệ đáp ứng tích cực của nhân viên đạt trung bình 78%, đây là một điểm mạnh của văn hóa an toàn trong tổ chức Đặc biệt, 89% nhân viên đồng ý rằng hoạt động quản lý bảo vệ an toàn là một ưu tiên hàng đầu, mặc dù chỉ có 70% nhân viên đồng ý về việc quản lý này.
BV tạo nên môi trường làm việc thúc đẩy ATNB.
Bảng 3.13 Giao ca và chuyển bệnh trong BV
NB không được theo dõi liên tục khi chuyển khoa (F3r) 296 74,0 Những thông tin quan trọng trong CSNB thường bị mất trong quá trình bàn giao phiên trực (F5r)
Vấn đề thường xãy ra trong việc trao đổi thông tin giữa các khoa trong bệnh viện (F7r)
Bàn giao ca trực là nguy cơ sai sót cho các người bệnh trong bệnh viện này (F11r)
Trung bình tỉ lệ đáp ứng tích cực = (74 + 80,5 + 38,2 + 80,2)/4 = 68%
Kết quả từ bảng 3.13 cho thấy tỉ lệ đáp ứng tích cực của nhân viên trong lĩnh vực giao ca và chuyển bệnh chỉ đạt 68%, cho thấy cần cải thiện hơn nữa Mặc dù vậy, có 4 tiểu mục thể hiện tỷ lệ đáp ứng ngược lại tương đối cao, với hơn 74% Đặc biệt, 80% nhân viên không đồng ý rằng việc bàn giao ca trực có nguy cơ gây ra sai sót cho bệnh nhân trong bệnh viện; 81% nhân viên cho rằng những thông tin quan trọng trong quá trình chăm sóc bệnh nhân thường bị mất trong quá trình bàn giao phiên trực; và 74% nhân viên không đồng ý với các vấn đề khác liên quan đến giao ca.
NB không được theo dõi liên tục khi chuyển khoa.
Chính sách QLBV và ATNB 78
Hoạt động nhóm liên khoa 78
Giao ca và chuyển bệnh 68
Tần suất báo cáo sai sót 4
Biểu đồ 3.2 Tổng hợp trung bình tỉ lệ đáp ứng tích cực trong ATNB Phạm vi bệnh viện
Kết quả tổng hợp đáp ứng tích cực trong ATNB Phạm vi bệnhh viện biểu đồ
Kết quả cho thấy lĩnh vực có mức độ đáp ứng tích cực cao nhất là chính sách QLBV và hoạt động nhóm liên khoa với tỷ lệ 78% Trong khi đó, lĩnh vực giao ca và chuyển bệnh đạt mức 68% Tuy nhiên, cần chú ý đến việc đáp ứng tích cực của nhân viên còn quá thấp, chỉ đạt 4% cho tần suất báo cáo.
Xác định mức độ nhận thức chung của nhân viên về VHATNB
Bảng 3.14 Nhận thức của nhân viên trong ATNB
Dù phải làm nhiều việc nhưng không bao giờ bỏ qua ATNB
Khoa có đầy đủ các quy định và quy trình để ngăn chặn các sai sót xảy ra (A18)
Nhờ may mắn nên các sai sót trầm trọng đã không xãy ra ở khoa/phòng (A10r)
Trong khoa/phòng có nhiều vấn đề về ATNB (A17r) 234 58,5 Trung bình tỉ lệ đáp ứng tích cực = (92,2 + 90,8 + 75 + 58,5)/4 = 79%
Kết quả từ bảng 3.14 cho thấy rằng trung bình tỉ lệ đáp ứng tích cực về nhận thức của nhân viên trong lĩnh vực An toàn Nguồn nhân lực (ATNB) đạt 79%, điều này cho thấy đây là một điểm mạnh trong ATNB Cụ thể, 92% nhân viên đồng ý rằng dù có nhiều công việc, họ không bao giờ bỏ qua ATNB; 91% nhân viên cho rằng khoa có đầy đủ quy định và quy trình để ngăn chặn sai sót; tuy nhiên, 75% nhân viên không tin rằng may mắn là nguyên nhân ngăn chặn các sai sót nghiêm trọng Đáng lưu ý, có một tiểu mục có tỉ lệ đáp ứng tích cực thấp, chỉ 59% nhân viên không đồng ý rằng khoa/phòng có nhiều vấn đề về ATNB.
Bảng 3.15 Nhân viên xếp loại cho ATNB của BV
Nội dung Tần số/ Tỷ lệ %
Tuyệt vời Rất tốt Chấp nhận được
Biểu đồ 3.3 Nhân viên xếp loại cho ATNB của BV
Kết quả bảng 3.15, biểu đồ 3 cho thấy 85% nhân viên xếp loại ATNB của bệnh viện ở mức độ chấp nhận; 10,2% rất tốt; 0,8% tuyệt vời; 0,5% không an toàn.
Hệ số Cronbach’s alpha = 0,77 được xem là thang đo có độ tin cậy.
Bảng 3.16 Số sự kiện báo cáo trong 12 tháng qua
Nội dung Số lượng Tỷ lệ %
Không 1- 2 sai sót 3-5 sai sót > 5 sai sót
Biểu đồ 3.4 Số sự kiện báo cáo trong 12 tháng qua
Theo kết quả bảng 3.16 và biểu đồ 4, có tới 57,5% nhân viên không báo cáo sai sót trong vòng 12 tháng qua, trong khi 42,5% nhân viên đã thực hiện việc báo cáo Trong số những nhân viên đã báo cáo, 35% chỉ ghi nhận từ 1-2 sai sót, tiếp theo là 6% báo cáo từ 3-5 sai sót, và chỉ 1,5% nhân viên báo cáo trên 5 sai sót.
BÀN LUẬN
Độ tin cậy của thang đo đánh giá văn hóa an toàn NB tại bệnh viện
Chúng tôi đã đánh giá độ tin cậy của các yếu tố khảo sát VHAT bằng hệ số Cronbach's alpha, và kết quả cho thấy hệ số này đạt yêu cầu cơ bản Do đó, các yếu tố khảo sát VHAT có thể được coi là đáng tin cậy.
Các lãnh vực Văn hóa ATNB tại bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp
4.2.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, tổng số phiếu phát ra là 400 và tất cả đều được thu về đầy đủ với tính hợp lệ cao Các đối tượng tham gia nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên từ 37 khoa phòng khác nhau trong bệnh viện.
Kết quả nghiên cứu cho thấy đối tượng ĐD-HS-KTV chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 78,5%, phù hợp với thực tế khi lực lượng này tại bệnh viện chiếm hơn 50% tổng số nhân viên Đáng chú ý, hầu hết nhân viên làm việc theo đúng quy định lao động, không vượt quá 40 giờ mỗi tuần, và 92% nhân viên có tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân.
4.2.2.Đáp ứng tích cực của nhân viên về 7 lãnh vực ATNB tại Khoa/Phòng
Qua kết quả khảo sát 23 tiểu mục, nhóm lại thành 7 lãnh vực ATNB tại Khoa/Phòng, quan sát biểu đồ 2.1 cho thấy:
Lĩnh vực có tỷ lệ đáp ứng tích cực của nhân viên cao trong văn hóa an toàn, chất lượng tại bệnh viện cho thấy sự mạnh mẽ, với 80% nhân viên đánh giá tích cực về vai trò của lãnh đạo trong an toàn, chất lượng; đồng thời, 75% nhân viên đồng thuận rằng có sự cải thiện liên tục trong an toàn, chất lượng và hoạt động nhóm tại khoa.
So với dữ liệu khảo sát bệnh viện VHATNB năm 2012 của AHQR, ba lĩnh vực mạnh về VHATNB của các bệnh viện tại Mỹ vẫn giữ vững Tuy nhiên, trong 23 tiểu mục có tỷ lệ đáp ứng tích cực cao, có bốn tiểu mục cần cải thiện do tỷ lệ đáp ứng tích cực thấp: việc khen ngợi khi thực hiện đúng quy trình ATNB (70%), thay đổi tích cực từ sai sót (58%), sự tôn trọng lẫn nhau (69%), và hỗ trợ nhau khi phòng bệnh bận rộn (61%) Điều này cho thấy vẫn còn 30% nhân viên không tin rằng sai sót dẫn đến thay đổi tích cực và khoảng 40% nhân viên không đồng ý rằng họ chưa giúp đỡ lẫn nhau khi có phòng bệnh thật sự bận rộn.
Tại bệnh viện, sự phân biệt đối xử giữa các ngành nghề như bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên và nhân viên khác là điều rõ ràng Điều dưỡng thường cảm thấy tự ti về nghề nghiệp của mình, trong khi bác sĩ xem họ chỉ là người thực hiện y lệnh Thiếu sự tôn trọng lẫn nhau cũng thể hiện qua kỹ năng giao tiếp, khi nhân viên đôi lúc to tiếng với nhau vì sai sót chuyên môn hoặc áp lực từ cấp trên, dẫn đến bầu không khí thiếu tôn trọng trong khoa.
Khen ngợi nhân viên khi họ tuân thủ quy trình an toàn và nội bộ (ATNB) là rất quan trọng để tạo động lực và sự phấn khởi trong công việc Tuy nhiên, tại một số bệnh viện, lãnh đạo khoa thường không ghi nhận những nỗ lực này, điều này có thể hạn chế sự phát triển và năng suất của nhân viên Việc thường xuyên khen ngợi sẽ không chỉ khuyến khích nhân viên mà còn nâng cao hiệu quả công việc chung.
Bốn lĩnh vực có tỷ lệ đáp ứng tích cực của nhân viên thấp bao gồm: thông tin và phản hồi sai sót (57%), vai trò nhân lực (53%), phản ứng của nhân viên về sai sót (30%), và giao tiếp cởi mở trong an toàn và bảo mật thông tin (29%).
So sánh với dữ liệu khảo sát bệnh viện VHATNB năm 2012 của AHQR thì
Bốn lãnh vực này có tỷ lệ đáp ứng tích cực thấp của nhân viên về văn hóa an toàn và chất lượng tại các bệnh viện ở Mỹ Tuy nhiên, nghiên cứu của AHQR cho thấy tỷ lệ đáp ứng tích cực trung bình cao hơn, dao động từ 44% đến 64%.
Trong 4 lãnh vực có đáp ứng tích cực cần cải thiện đó có 2 lãnh vực tỷ lệ thấp nhất là phản ứng của NV về sai sót (30%) và giao tiếp cởi mở trong ATNB (29%) Kết quả cho thấy có khoảng 70% NV cho rằng chưa có sự bàn cải tự do khi thấy sự việc ảnh hưởng xấu đến CSNB, 80% NV cảm thấy chưa tự do đặt câu hỏi về quyết định hoặc hành động của những người có quyền nhiều hơn, 60% NV ngại đặt câu hỏi khi thấy cái gì đó có vẻ không đúng 80% NV lo sợ những sai sót của họ sẽ bị trừng phạt, 50% NV đồng ý khi một sự kiện được báo cáo giống như một người bị nêu tên lên chứ không phải là một VĐ cần mang ra thảo luận, và 80% NV lo sợ các sai lầm bị lưu vào hồ sơ cá nhân.
Tại bệnh viện, nhân viên điều dưỡng thường ít phát biểu ý kiến do lo ngại về việc bị phạt nếu mắc sai sót, điều này khiến họ cảm thấy không thoải mái Khi xảy ra sai sót, lãnh đạo thường hỏi "ai" đã thực hiện trước, tạo ra áp lực và sự sợ hãi cho nhân viên Nhiều lãnh đạo thể hiện uy quyền, khiến điều dưỡng ngại tiếp xúc và ngại hỏi về bất kỳ vấn đề nào.
Mặc dù số lượng nhân lực đủ để đáp ứng công việc với 87% sự hài lòng, nhưng 50% nhân viên cảm thấy họ đang làm việc trong tình trạng khủng hoảng và quá tải Những biến động nhân sự do nghỉ học, thai sản, phép và ốm đau khiến nhân viên phải thay thế nhau, nhưng bệnh viện chưa có giải pháp dự phòng cho tình huống này Kết quả là, dù đủ số lượng nhân viên, nhưng họ vẫn phải làm việc quá sức Một số cơ sở y tế đã áp dụng việc luân chuyển nhân viên và thuê nhân viên hợp đồng từ bên ngoài để giải quyết nhu cầu nhân sự, với nhân viên luân chuyển có thể làm việc theo hình thức tình nguyện hoặc không tình nguyện.
4.2.3.Đáp ứng tích cực của nhân viên về 4 lãnh vực ATNB phạm vi BV
Qua khảo sát 4 lãnh vực ATNB phạm vi BV bao gồm 14 tiểu mục, biểu đồ 2 cho thấy:
Lĩnh vực có tỷ lệ đáp ứng tích cực của nhân viên cao, thể hiện sự mạnh mẽ trong văn hóa an toàn nơi làm việc, với 78% nhân viên hài lòng về chính sách an toàn bệnh viện và 78% đồng thuận với hoạt động nhóm liên khoa.
Khảo sát về chính sách an toàn người bệnh (ATNB) tại bệnh viện cho thấy, mặc dù 89% nhân viên (NV) coi ATNB là ưu tiên hàng đầu, khoảng 30% NV vẫn cho rằng cách quản lý chưa tạo ra môi trường làm việc thúc đẩy ATNB Văn hóa tổ chức cần có sự lãnh đạo (LĐ) cởi mở, không định kiến, tạo không gian thoải mái cho NV Nếu LĐ duy trì tinh thần "không thấy cái xấu, không nghe cái xấu, không nói cái xấu", NV sẽ ngại ngần khi bày tỏ bức xúc hay khó khăn LĐ cần khuyến khích NV hợp tác và đưa ra quyết định, đồng thời thúc đẩy trao đổi thông tin giữa các bộ phận để cải thiện an toàn cho người bệnh (NB) Mặc dù tỉ lệ tích cực về hoạt động nhóm liên khoa cao, vẫn có 30% NV cho rằng các khoa không phối hợp tốt, dẫn đến sự chậm trễ trong việc mời hội chẩn, thực hiện chỉ định cận lâm sàng, và cung ứng thuốc, vật tư Sự phối hợp kém này làm NB chờ đợi lâu, không được theo dõi liên tục, có thể khiến tình trạng bệnh trở nên nặng hơn.
Quản lý bệnh nhân bao gồm nhiều yếu tố như quản lý chất lượng, quản lý rủi ro, chăm sóc bệnh nhân, cung cấp thuốc và kiểm soát nhiễm khuẩn, tuy nhiên, sự phối hợp giữa các bộ phận này không phải lúc nào cũng hiệu quả Các bộ phận còn phải đối mặt với nhiều ưu tiên khác nhau, dẫn đến việc không thể tập trung đầy đủ vào sự an toàn cho bệnh nhân.
Để đảm bảo mọi hoạt động diễn ra một cách hoàn hảo, cần thành lập một nhóm chuyên trách kiểm tra tình hình Hội đồng An toàn Nhi khoa (ATNB) cần hoạt động hiệu quả để tập hợp các hoạt động ưu tiên liên quan đến sự an toàn từ nhiều bộ phận, đồng thời cung cấp báo cáo toàn diện cho lãnh đạo bệnh viện.
Một số tồn tại trong phương pháp nghiên cứu
- Đây là đề tài mới tại Việt Nam, chưa có bệnh viện nào thực hiện nên chưa có số liệu để so sánh.
- Bộ câu hỏi trong quá trình dịch thuật có những câu khó hiểu nên phải mất nhiều thời gian giải thích
Nhân viên thường ngại cung cấp thông tin trong khảo sát do e ngại lãnh đạo, dẫn đến việc phiếu khảo sát thiếu thông tin về khoa công tác và chỉ ghi nhận chuyên ngành, gây khó khăn trong việc phân tích các yếu tố liên quan.
KHUYẾN NGHỊ VÀ PHỔ BIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Khuyến nghị
Lãnh đạo tại khoa cần xây dựng một môi trường khuyến khích nhân viên đóng góp ý kiến về các vấn đề cần cải thiện trong an toàn, nâng cao việc khen thưởng cho những ai tuân thủ quy trình kỹ thuật Đồng thời, lãnh đạo bệnh viện cần xác định rõ tiêu chí để tạo ra một môi trường làm việc thúc đẩy an toàn và nâng cao hiệu quả công việc.
Lãnh đạo khoa và đội ngũ ĐDTK cần cung cấp thông tin về các báo cáo sai sót cho nhân viên qua nhiều hình thức khác nhau Những báo cáo này nên được xem là thông tin chia sẻ nhằm phòng ngừa, và là vấn đề cần được thảo luận Điều quan trọng không phải là xác định ai là người phạm lỗi, mà là cách thức cải thiện và học hỏi từ những sai sót đó.
LĐBV cần thiết lập chính sách khuyến khích nhân viên tự nguyện báo cáo sai sót, đồng thời xây dựng hệ thống báo cáo bắt buộc để nhân viên có thể tự do thông báo mà không lo bị trừng phạt hay sai sót bị ghi vào hồ sơ.
- LĐBV nên xem xét nhân sự tăng thêm một số khoa thường xuyên quá tải, vượt quá giường kế hoạch.
- Bệnh viện cần xây dựng quy định về về giao ca và chuyển bệnh để đảm bảo ATNB trong BV.
- Cần xây dựng những hướng dẫn phân loại sai sót y khoa rõ ràng cụ thể để dễ dàng cho công tác báo cáo.
Phổ biến kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày trước Giám đốc bệnh viện và các khoa/phòng liên quan, đồng thời sẽ được báo cáo tại Hội nghị khoa học kỹ thuật năm 2013, nhằm giới thiệu và chia sẻ các chuyên đề nghiên cứu mới với các đồng nghiệp trong ngành y tế tại tỉnh Đồng Tháp.