1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn y học (hoàn chỉnh) nghiên cứu thực trạng nhiễm HIV trên đối tượng nghiện chích ma túy đến xét nghiệm tại phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện TTYT huyện quảng xương

53 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 724 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HIV có đặc điểm là gây suy giảm miễn dịch ở người, có men sao mã ngược,phát triển chậm, diễn biến kéo dài, gây tiêu hủy tế bào lympho T, đặc tính khángnguyên dễ thay đổi, dễ bị tiêu diệt

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 5

Chương I 7

TỔNG QUAN 7

1.1 Khái niệm cơ bản về HIV/AIDS 7

1.1.1 Khái niệm về HIV/AIDS 7

1.1.2 Căn nguyên 7

1.1.3 Khái quát cấu trúc phân tử của HIV 8

1.1.4 Sinh bệnh học 9

1.1.5 Ảnh hưởng của HIV/AIDS đến sự phát triển kinh tế-xã hội 11

1.2 Đặc điểm của dịch HIV/AIDS 12

1.2.1 Các phương thức lây truyền HIV: Có 3 phương thức lây truyền HIV 12

1.2.1.1 Lây truyền theo đường tình dục 12

1.2.1.2 Lây truyền qua đường máu 13

1.2.1.3 HIV lây truyền từ mẹ sang con 13

1.2.2 Tiến triển của quá trình nhiễm HIV 13

1.2.2.1 Giai đoạn nhiễm HIV cấp tính 13

1.2.2.2 Giai đoạn nhiễm HIV không triệu chứng 14

1.2.2.3 Giai đoạn có các triệu chứng lâm sàng (giai đoạn AIDS) 14

1.2.3 Các giai đoạn của dịch HIV/AIDS 14

1.2.3.1 Giai đoạn sơ khai 14

1.2.3.2 Giai đoạn tập trung 14

1.2.3.3 Giai đoạn lan rộng 15

1.3 Tình hình nhiễm HIV/AIDS 15

1.3.1 Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới 15

1.3.2 Tình hình HIV/AIDS tại Việt Nam 18

1.3.3 Tình hình HIV/AIDS tại tỉnh Thanh Hóa 20

1.4 Nghiện ma túy và lây nhiễm HIV 21

1.4.1 Nghiện ma tuý và nhiễm HIV/AIDS 21

1.4.1.1 Khái niệm ma tuý 21

1.4.2 Tình hình sử dụng ma túy trên thế giới và Việt Nam 24

Trang 2

1.4.3 Các nhóm nguy cơ cao nghiện ma tuý 25

1.5 Một số điều tra về tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS 25

1.6 Một số điều tra về kiến thức, thái độ và thực hành liên quan đến nhiễm HIV/AIDS 26

1.6.1 Thực trạng về kiến thức phòng chống HIV/AIDS 26

1.6.2 Thực trạng về thái độ liên quan đến nhiễm HIV/AIDS 27

1.6.3 Thực trạng về thực hành phòng chống HIV/AIDS 27

1.7 Tình hình hoạt động phòng TVXNTN Huyện Quảng Xương 28

Chương II 29

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 29

2.1.2 Thời gian nghiên cứu 29

2.2 Đối tượng nghiên cứu 29

2.3 Phương pháp nghiên cứu 29

2.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 29

2.5 Kỹ thuật và phương pháp thu thập thông tin 30

2.6 Kỹ thuật XN HIV 30

2.6.1 Sinh phẩm 1: SD bioline 1/2 3.0 31

2.6.2 Sinh phẩm 2: Determin HIV1/2 32

2.6.3 Sinh phẩm 3: Vikia HIV 33

2.7 Phương pháp thu thập số liệu 34

2.8 Phương pháp xử lý số liệu 34

2.9 Phương pháp hạn chế sai số 35

2.10 Đạo đức trong nghiên cứu 35

Chương III 36

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

3.1 Thực trạng nhiễm HIV của những đối tượng nghiện chích ma túy đã đến xét nghiệm tại Phòng TVXNTN trung tâm y tế Huyện Quảng Xương năm 2017 36

3.2 Tỷ lệ nhóm NCMT và tỷ lệ nhiễm theo nhóm tuổi 36

3.3 Tỷ lệ nhiễm HIV theo giới 37

3.4 Tỷ lệ nhiễm HIV theo trình độ học vấn 38

Trang 3

3.5 Tỷ lệ nhiễm HIV theo địa dư 38

3.6 Tỷ lệ xét nghiệm HIV theo hôn nhân 39

3.7 Tỷ lệ nhiễm HIV theo nghề nghiệp 39

3.8 Kiến thức và một số yếu tố liên quan đến nhiễm HIV của người nghiện chích ma tuý đến tư vấn xét nghiệm 40

3.9 Kiến thức đường lây 41

Bảng 3.9 Kiến thức đường lây 41

Bảng 3.10 Kiến thức về khả năng nhiễm HIV của bản thân đối tượng 41

3.11 Lý do đến dịch vụ tư vấn xét nghiệm tự nguyện 42

3.12 Đánh giá hành vi nguy cơ lây truyền HIV của bản thân ĐT NCMT 43

3.13 Liên quan giữa tình trạng nhiễm HIV với nguy cơ của bạn tình 43

3.14 Liên quan giữa tình trạng nhiễm HIV với việc có bạn tình của ĐT 44

3.15 Tình trạng chích chung trong 7 ngày qua của đối tượng NCMT 44

3.16 Đối tượng nghiện chích giới thiệu bạn chích chung đến xét nghiệm 44

3.17 Số lượng bạn tình trong 30 ngày qua 45

3.18 Đối tượng nghiện ma tuý giới thiệu bạn tình đến làm xét nghiệm 45

Chương IV 46

BÀN LUẬN 46

4.1 Đặc điểm chung 46

4.2 Về thực trạng nhiễm HIV của những đối tượng nghiện chích ma túy đã đến xét nghiệm tại phòng TVXNTN trung tâm Quảng Xương năm 2017 46

4.2.1 Tỷ lệ nhiễm của nhóm đối tượng NCMT 46

4.2.2 Tỷ lệ NCMT và tỷ lệ nhiễm HIV theo nhóm tuổi 46

4.3.3 Tỷ lệ NCMT theo giới 46

4.2.4 Nhiễm theo học vấn 47

4.2.5 Nhiễm theo dịa dư 48

4.3 Kiến thức và một số yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm HIV của đối tượng nghiện chích ma túy đã đến xét nghiệm tại Phòng tư vẫn xét nghiệm tự nguyện tại trung tâm y tế Huyện Quảng Xương 49

4.3.1 Kiến thức và cách phòng chống HIV/AIDS 49

4.3.2 Kiến thức đường lây 49

4.3.3 Liên quan đến tình trạng hôn nhân……… .52

Trang 4

4.3.4 Lý do đến dịch vụ tư vấn xét nghiệm tự nguyện của đối tượng 50 4.3.5 Đánh giá nguy cơ lây truyền HIV của bản thân đối tượng 50 4.3.6 Liên quan giữa tình trạng nhiễm HIV với việc có bạn tình của ĐT 50 4.3.7 Liên quan giữa tình trạng nhiễm HIV vối số lượng bạn tình của ĐT trong vòng 30 ngày qua 51 4.3.8 Liên quan giữa tình trạng nhiễm HIV với số lần TCMT có dùng chung dụng

cụ tiêm chích của ĐT trong vòng 7 ngày trước thời điểm nghiên cứu 51 4.3.9 Tỷ lệ đối tượng có làm xét nghiệm HIV 52 4.3.10 Đối tượng nghiện ma tuý giới thiệu bạn tình đến làm XN 52

Chương VI

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 535.1 Kết luân……… …………57

1 Thực trạng nhiễm HIV của những đối tượng nghiện chích ma túy đã đếnTVXN nghiệm tại phòng TVXNTN trung tâm y tế Huyện Quảng Xương năm2017 532- Kiến thức và một số yếu tố liên quan đến tình trạng của ĐTNCMT đãđến TVXN tại phòng TVXNTN trung tâm y tế Huyện Quảng Xương 535.2 Kiến nghị 54

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay đại dịch HIV/AIDS là một đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đốivới tính mạng, sức khỏe, con người và tương lai nòi giống của các quốc gia, các dântộc trên toàn cầu Nó tác động mạnh mẽ đến sự phát triển về kinh tế, văn hóa, anninh trật tự và an toàn xã hội đe dọa sự phát triển bền vững của tất cả các quốc giatrên thế giới Đáng lo ngại hơn là HIV/AIDS đang lan tràn mạnh mẽ ở khắp cácvùng miền từ thành thị đến nông thôn, từ miền núi đến hải đảo xa xôi của đất nướccũng như ở khắp nơi trên thế giới

Trên toàn cầu, theo thống kê của Tổ chức y tế Thế giới (WHO) tới đầu năm

2016 đã có 35 triệu người nhiễm HIV, 1.5 triệu người chết do AIDS và 119 quốcgia báo cáo kết quả có khoảng 95 triệu người đã xét nghiệm HIV

Còn ở Việt Nam, theo báo cáo của Bộ Y tế (MOH) tính đến ngày 17/6/2016

số ca nhiễm HIV hiện còn sống là 228.178 người, số bệnh nhân AIDS hiện tại là85.825 người, số người nhiễm HIV tử vong là 87603 trường hợp

Nguyên nhân lây nhiễm HIV bằng ba con đường chính: Đường tình dục(quan hệ đồng giới, mại dâm…), Đường máu và các chế phẩm máu (qua tiêm chích,truyền dịch, qua các dịch vụ Y tế không tuân thủ vệ sinh…), và qua con đường mẹtruyền sang con trong thời kỳ mang thai và cho con bú

Tại Thanh Hóa là tỉnh có đa dạng địa hình như biển, đồng bằng, trung du vàmiền núi biên giới, là tỉnh nằm trong vùng ảnh hưởng của tác động kinh tế trọngđiểm Bắc bộ, Bắc Lào và Trung bộ, có đường biên giới dài hàng chục ki-lô-mét vớinước bạn Lào là tỉnh có điều kiện thuận lợi để giao lưu và phát triển kinh tế, xã hộiđồng thời cũng đối mặt với một loạt vấn đề về xã hội đặc biệt là đại dịch HIV/AIDS

Thanh Hóa có hơn 3,5 triệu người, trong đó 11 huyện miền núi chiếm haiphần ba diện tích tự nhiên, hơn một phần ba số dân toàn tỉnh với nhiều trọng điểm

về buôn bán, vận chuyển, sử dụng ma túy Toàn tỉnh ước có gần 14 nghìn ngườinghiện chích ma túy, trong đó 7.600 người có hồ sơ quản lý Tính từ khi phát hiệnngười nhiễm HIV đầu tiên ở huyện Đông Sơn vào năm 1995, lũy tích đến nay có7.398 người nhiễm HIV/AIDS, phân bố ở tất cả các huyện, thị xã, thành phố, 92%

Trang 6

số xã, phường Hiện nay bệnh đang có xu hướng tăng lên ở các huyện thị nhất làcác khu đô thị du lịch [22] và các huyện miền núi

Quảng Xương là một huyện đồng bằng ven biển có diện tích đất tự nhiên227,63 km2, nằm trên các trục quốc lộ 1A, quốc lộ 45, 47, tỉnh lộ số 4, phía bắc làthành phố Thanh Hoá với khu công nghiệp Lễ Môn, phía nam là Khu công nghiệpđộng lực Nghi Sơn - Tĩnh Gia,với chiều dài bờ biển gần 18km có tiềm năng pháttriển du lịch Ðây là lợi thế đặc biệt quan trọng để phát triển kinh tế, xã hội, du lịchđồng thời kéo theo đó các tệ nạn xã hội cũng phát triển mạnh theo như mại dâm, matúy 100% số xã phường đều có người nhiễm HIV theo số liệu của trung tâm y tếQuảng Xương tính đến hết năm 2016 số tích lũy là 317 người nhiễm HIV, số tíchlũy tử vong 122 người, số tích lũy hiện còn quản lý HIV 195 người Ngoài ra còn

có hàng trăm đối tượng trong địa bàn và ở các vùng lân cận đến kiếm sống màkhông được quản lý

Cho đến nay trên địa bàn Huyện Quảng Xương chưa có một nghiên cứu khoahọc nào về tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS Xuất phát từ những lý do trên tôi tiến hành đề

tài: “Nghiên cứu thực trạng nhiễm HIV trên đối tượng nghiện chích ma túy đến xét nghiệm tại phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện Trung tâm y tế Huyện Quảng Xương năm 2017”.

Với 2 mục tiêu sau:

1- Xác định tỷ lệ nhiễm HIV của người nghiện chích ma túy đến xét nghiệmtại phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện Trung tâm y tế Huyện Quảng Xương trongnăm 2017

2- Mô tả một số kiến thức và yếu tố liên quan đến nhiễm HIV của ngườichích ma túy đến xét nghiệm tại địa điểm trên

Từ đó đề xuất một số biện pháp can thiệp nhằm góp phần làm giảm tỷ lệnhiễm HIV/AIDS trên đối tượng nghiện chích ma túy của Huyện Quảng Xương

Trang 7

Chương I TỔNG QUAN 1.1 Khái niệm cơ bản về HIV/AIDS

Tháng 6/1981 Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ ở Alanta, phát hiện mộtnhóm 5 nam thanh niên bị viêm phổi do Pneumocytis Carinii, điều trị bằngPentamidin không khỏi; sau đó ở Newyork và Califonia bác sỹ Fredman Alvin cũngphát hiện 26 nam thanh niên đồng tính luyến ái bị suy giảm miễn dịch Trung tâmkiểm soát bệnh tật (CDC) Atlanta đã xác định những người này bị mắc hội chức suygiảm miễn dịch đầu tiên trên thế giới

Năm 1983, lần đầu tiên Virus HIV được phân lập tại viện Pasteur Pariscộng hòa Pháp, năm 1986 được WHO chính thức lấy tên Virus này là HIV

1.1.1 Khái niệm về HIV/AIDS

HIV (HIV- Human Immuno Deficiency Virus) là virus gây ra hội chứng suygiảm miễn dịch mắc phải ở người, thuộc họ Retro Virus, nhóm Lentivirus có giaiđoạn tiềm tàng không có triệu chứng kéo dài [ 54]

AIDS (AIDS- Acquired Immune Deficiency Syndrome) Là hội chứng suygiảm miễn dịch mắc phải là biểu hiện ở giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV[15]

1.1.2 Căn nguyên

Năm 1983 Barre Sinosi trong nhóm nghiên cứu của giáo sư Luc Mongtanier(Viện Paster Paris) phát hiện Virus có liên quan đến hạch nên đặt tên là LAV(Lymphoadeopathy Associated Virus)

Năm 1984 Gallo (Hoa Kỳ) phân lập được virus có ái tính với Lympho T củangười và đặt tên là HTLV týp III (Human Lymphotrophic virus tuýp III), cùng nămLevy phân lập được virus liên quan đến hội chứng suy giảm miễn dịch đặt tên làARV (AIDS related virus)

Năm 1986 Hội nghị danh pháp quốc tế của tổ chức y tế thế giới (WHO) đã thốngnhất 3 loại Virus trên đều thống nhất đặt tên là virus HIV1

Năm 1985 Barin phân lập được virus thứ hai ở Tây Phi đặt tên là HIV2 HIV2thường gặp ở châu Phi HIV1 có hai tuýp 1 và 2 có mặt trên toàn thế giới; HIV1 có

3 nhóm là M, O, N Nhóm O có 10 dưới nhóm thường thấy ở châu Phi Nhóm M có

Trang 8

10 dưới nhóm bao gồm từ A đến J, dưới nhóm A thường gặp ở châu Phi và ấn Độ.Còn nhóm dưới B, C, E thường thấy ở Đông Nam á, Nam á.

Virus HIV (gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người) có mã sốphân loại quốc tế ICD-10 là B20B24.Về gen thì HIV là một ARN virus họ RETROVIRIDAE, dưới nhóm Lentivirus HIV là một nhóm gồm HIV1 và HIV2 phân biệttrên đặc tính huyết thanh và trình tự phân tử của Clone genome của virus [1]

HIV có đặc điểm là gây suy giảm miễn dịch ở người, có men sao mã ngược,phát triển chậm, diễn biến kéo dài, gây tiêu hủy tế bào lympho T, đặc tính khángnguyên dễ thay đổi, dễ bị tiêu diệt hoặc bị bất hoạt bằng các tác nhân lý, hóa thôngthường như đun sôi, sấy khô, các dung dịch khử khuẩn, đặc biệt HIV có màng lipidbảo vệ cho virus không bị mất nước vì thế máu và các dịch cơ thể khi đã khô vẫn cóthể chứa virus gây lây nhiễm

Khi xâm nhập vào cơ thể qua da, niêm mạc, đường máu, virus di chuyển đếncác hạch bạch huyết vào máu ngoại vi, ở đây virus tấn công vào các tế bào lympho

T, các đại thực bào, bạch cầu đơn nhân lớn 5 ngày sau khi phơi nhiễm, virus nhânbản lên rất nhanh Các tế bào bị nhiễm HIV mà sinh sản ra Virion HIV mới thì cóthời gian bán hủy là 2-3 ngày, trong khi các tế bào không sinh ra Virion HIV thì cóthời gian bán hủy là 180 ngày

HIV sinh sản rất nhanh khi hoạt động, nhiều tỷ Virion HIV được sinh ra hàngngày, nhưng men sao chép ngược có nhiều lỗi khi tạo ra Copie ADN từ HIV-ARN

vì vậy có nhiều chủng HIV trong người nhiễm HIV và một trong những chủng thayđổi đó có thể tránh bị TCD4 hay kháng thể trung hòa tiêu diệt, nhiều chủng HIV độtbiến ít nhiều do tái tổ hợp để tạo ra khá nhiều thay đổi của các chủng HIV [15]

1.1.3 Khái quát cấu trúc phân tử của HIV

Trên kính hiển vi điện tử HIV có dạng hình cầu đường kính khoảng 100nm.HIV có cấu trúc tương đối đơn giản.Từ ngoài vào trong gồm 3 lớp

- Lớp ngoài: là lớp màng lipit kép Trên màng này là các phân tử Glycoprotein(gp) có chứa nhiều các núm (gai nhú) trên bề mặt (72 núm) Các núm này được baophủ bởi 2 Protein (p) màng là gp120 và gp 41 Xuyên màng lipit kép là các phân tửGlycoprotein ký hiệu là gp41 cho HIV1 và gp36 cho HIV2 [14]

- Lớp vỏ: Vỏ của HIV hình cầu cấu tạo gồm các protein p18 bao quanh đối vớiHIV1, p17 đối với HIV2 [14]

Trang 9

- Lõi: Lõi của HIV hình trụ hơi lệch tâm được bọc bởi một vỏ Protein p24 Trong

lõi chứa bộ gen của vi rút có 2 sợi RNA gắn với men sao chép ngược (RT), một phân

tử vận chuyển ARN và các Protein khác như P7, P9

- Cấu trúc gen: Mỗi sợi ARN có khoảng 9200 cặp bazơ với 3 gen cấu trúc

chính là gag (kháng nguyên đặc hiệu nhóm) mã hoá cho các protein bên trong virút,

gen pol mã hóa cho các men sao chép ngược, và gen env mã hoá cho các protein bao

phủ ngoài Men sao chép ngược đảm nhiệm sao chép ARN của vi rút thành ADN [15]

2 bản sao của b gen đơn chuỗi chu của HIV-1 RNA v men

men sao chép ngược RT RT

Cá chồi ở vỏ (gp120/gp41)

Lớp lipid kép (nguồn gốc từ màng tế bào vật chủ, chứa các protein của vật chủ)

Proteins Gag của Capsid

(p24, p17, p7, p6) (p24, p17, p7, p6)

Hình 1 1 Hình dạng cấu trúc phân tử của Virus HIV 1.1.4 Sinh bệnh học

Bình thường cơ thể có một hệ thống bảo vệ chống lại các tác nhân gây bệnh, đó

là hệ thống miễn dịch Hệ thống miễn dịch bảo vệ cơ thể bằng cách nhận ra các kháng

Trang 10

nguyên trên các vi khuẩn hoặc virus xâm nhập vào cơ thể và phản ứng lại (đáp ứng

miễn dịch) Cơ thể loại trừ các kháng nguyên lạ bằng đáp ứng miễn dịch đặc hiệu và

đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu Trong đáp ứng miễn dịch đặc hiệu, tế bào lympho

T có 2 chức năng chính là điều hòa hệ thống miễn dịch và tiêu diệt các tế bào mang

kháng nguyên đích chuyên biệt Mỗi tế bào lympho T có một điểm nhận diện bề mặt

để phân biệt với nhau (CD4, CD8, CD3) Trong các tế bào miễn dịch, tế bào CD4 có

vai trò quan trọng nhất Nó đóng vai trò chỉ huy, kiểm soát trung hệ thống miễn dịch

Khi HIV xâm nhập cơ thể sẽ sử dụng ADN của CD4 để tái tạo bản thân

virus Trong quá trình đó, virus phá hủy tế bào CD4 làm suy yếu hệ miễn

dịch Cơ thể bị nhiễm trùng cơ hội tấn công hoặc ung thư phát triển dẫn tới

tử vong

Virus HIV phá hủy tế bào CD4, làm rối loạn chức năng tế bào CD8, gây suygiảm miễn dịch Các bệnh nhiễm trùng cơ hội như viêm phổi do PneumocystisJiroveci, bệnh Cytomegalovirus (CMV) là họ Herpes có 2 vòng ADN gây nhiều tổnthương ở nhiều bộ phận trong cơ thể, bệnh Lao, bệnh do Micobacterium Avium(MAC), nhiễm nấm Penicinium Marnerfei, nhiễm nấm Candida, các nhiễm khuẩnnhư phế cầu, tụ cầu

Trang 11

Hình thành& Giải phóng

Sơ đồ 1.2 Chu kỳ phát triển của virus HIV

Khi vào cơ thể HIV tấn công có chọn lọc vào tế bào CD4, là tế bào có vai tròquan trọng trong hệ thống miễn dịch của cơ thể, tế bào này chỉ huy, điều hòa hệthống miễn dịch của cơ thể, nó có vai trò nhận diện, báo động, huy động và điềuhòa hệ thống miễn dịch tấn công tiêu diệt sinh vật lạ khi chúng xâm nhập cơthể.Khi HIV gắn vào tế bào CD4, nó bỏ phần vỏ lipit bên ngoài và bơm ARN vàotrong tế bào, nhờ có men phiên mã ngược, ARN 1 sợi sẽ được sao chép thành ADN

2 sợi và gắn vào ADN của tế bào Vì HIV trở thành một vật liệu di truyền của tếbào người nên nhiễm virus vào tế bào là bền vững Virus sẽ sống và tồn tại trongsuốt cuộc đời của người bị nhiễm HIV và có thể lây truyền sang người khác Virus

có thể ở trạng thái ngủ trong nhiều năm, song khi cơ thể bị sinh vật lạ tấn công, tếbào bị nhiễm virus sẽ bị hệ miễn dịch của cơ thể hoạt hóa để chống lại tác nhân gâybệnh, HIV bắt đầu tự nhân lên và tiếp tục gây nhiễm cho tế bào khác ADN viruschỉ thị cho tế bào của cơ thể sản suất các thành phần của virus như protein và ARN

là 2 thành phần chính của virus Các thành phần này di chuyển đến màng tế bào,tiếp theo là quá trình nảy trồi, nhiều virus mới được hình thành và được giải phóng

ra ngoài tiếp tục gắn vào tế bào CD4 và một số loại tế bào miễn dịch khác, gây pháhủy tế bào làm hệ thống miễn dịch bị suy giảm, cơ thể không được bảo vệ, dễ mắccác bệnh nhiễm trùng cơ hội và dẫn đến tử vong [20]

1.1.5 Ảnh hưởng của HIV/AIDS đến sự phát triển kinh tế-xã hội

Trang 12

Kể từ khi phát hiện ra ca mắc HIV đầu tiên trên thế giới năm 1981, HIV đã

nhanh tróng lan ra toàn cầu Đến nay HIV/AIDS đã trở thành đại dịch Đại dịch

HIV/AIDS tác động mạnh đến chính trị, kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trên thếgiới, nó có thể làm tiêu tan những thành quả công cuộc phát triển kinh tế, xóa đóigiảm nghèo Dịch HIV/AIDS đã và đang là thách thức lớn cho việc thực hiện mụctiêu Thiên niên kỷ đầu tiên về xóa đói giảm nghèo của các nước đang phát triển,trong đó có Việt Nam Hầu hết Chính phủ các nước đều ý thức được đầy đủ về táchại của đại dịch HIV/AIDS đến sự phát triển kinh tế - xã hội Đại hội đồng Liênhiệp quốc đã có phiên họp đặc biệt, đề ra chiến lược phòng chống HIV/AIDS trênphạm vi toàn cầu, kêu gọi Chính phủ các quốc gia cùng nhau cam kết và hợp tác đểchống lại đại dịch HIV/AIDS [20]

Đại dịch HIV làm giảm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân (GDP),điển hình là các nước nghèo ở châu Phi; như GDP/đầu người năm 1999 của Zambiagiảm 20% so với năm 1980 (370 USD so với 505 USD) [20] Đại dịch HIV/AIDSlàm giảm thu nhập của người dân dẫn tới bần cùng hóa một bộ phận dân cư, làm giatăng sự phân hóa dàu nghèo trong xã hội; Tăng gánh nặng cho ngân sách nhà nướctrong việc đầu tư cho các vấn đề xã hội Đại dịch HIV/AIDS có thể làm gia tăngtình trạng thất nghiệp, gia tăng các loại tội phạm hình sự như: Cướp bóc, trộm cắp

và các loại tội phạm hình sự khác; Gây rối loạn trật tự trị an xã hội

Đại dịch HIV/AIDS phát triển gắn liền với các tệ nạn xã hội như: Ma túy, mạidâm thông qua tiêm chích ma túy và các hoạt động tình dục không an toàn; đó lànhững tệ nạn xã hội có từ lâu và đang làm nhức nhối xã hội, cùng với các tệ nạn đóHIV/AIDS đang làm băng hoại đạo đức xã hội, làm suy mòn các giá trị truyềnthống của mỗi dân tộc, làm suy mòn các giá trị văn hóa, văn minh, tinh thần và cácgiá trị nhân đạo của cộng đồng và gia đình HIV/AIDS còn gây nên tâm lý hoangmang, lo sợ, nghi kỵ trong cộng đồng Đại dịch HIV/AIDS có thể tác động đếnchính trị, làm thay đổi các kế hoạch phát triển của quốc gia; thông qua việc phảităng đầu tư cho các vấn đề xã hội làm thay đổi các chính sách xã hội, tăng gánhnặng cho ngân sách nhà nước thông qua việc tăng đầu tư cho lĩnh vực y tế, giáodục, bảo trợ xã hội

Đại dịch HIV/AIDS đã và đang làm gia tăng số trẻ em mồ côi, trẻ em không nơi

Trang 13

nương tựa, làm gia tăng số trẻ em thất học, lang thang Nhà nước phải tăng đầu tưcho các lĩnh vực phòng bệnh và chăm sóc điều trị bệnh nhân, xây dựng mới các cơ

sở Bảo trợ xã hội để tiếp đón trẻ em lang thang cơ nhỡ, trẻ em mồ côi do hậu quảcủa đại dịch HIV/AIDS sản sinh ra Gia đình có người nhiễm HIV/AIDS cũng phảităng các chi phí cho việc khám chữa bệnh, chăm sóc người bệnh từ đó càng làm chokinh tế gia đình càng thêm khó khăn

Đại dịch HIV/AIDS còn kéo theo sự phát triển của một số bệnh dịch khác nhưtạo điều kiện để bệnh Lao phát triển, làm tăng nguy cơ vi khuẩn Lao kháng thuốc,làm gia tăng các bệnh lây truyền qua đường tình dục [20]

Đại dịch HIV/AIDS làm giảm dân số, suy thoái nòi giống Hầu hết bệnh nhânmắc HIV đều ở lứa tuổi trẻ, đây là độ tuổi lao động, đóng góp chủ yếu cho sản xuất

xã hội do đó làm giảm thu nhập quốc dân ở một số quốc gia đại dịch HIV/AIDSlàm suy giảm giống nòi như ở một số nước châu Phi (Botswana, SwaziLand, NamPhi, Zambia, Zimbabwe), tuổi thọ trung bình của người dân đã đạt từ 50 đến 65 vàonăm 1980 - 1985, nhưng do HIV/AIDS tuổi thọ trung bình của các nước này chỉcòn khoảng 30 - 40 tuổi vào năm 2010 Tại Zimbabwe tỷ lệ người nhiễmHIV/AIDS trong dân cư là 25% đến năm 2000 đã mất đi 5 - 10 % lực lượng laođộng xã hội [20]

1.2 Đặc điểm của dịch HIV/AIDS

1.2.1 Các phương thức lây truyền HIV: Có 3 phương thức lây truyền HIV.

1.2.1.1 Lây truyền theo đường tình dục

Đây là phương thức quan trọng và phổ biến Tần xuất lây nhiễm HIV qua mộtlần giao hợp với một người nhiễm HIV là 0,1%- 1% Trong khi giao hợp sẽ tạo rarất nhiều vết sước nhỏ, HIV có nhiều trong tinh dịch và dịch âm đạo sẽ thông quacác vết sước này xâm nhập vào cơ thể Những người mắc các bệnh lây truyền quađường tình dục có viêm loét như giang mai, lậu, hạ cam có nguy cơ cao gấp hàngchục lần so với người khác Nguy cơ lây nhiễm HIV có mối quan hệ chặt chẽ vớibệnh lây truyền qua đường tình dục, những bệnh lây truyền qua đường tình dục làmtăng nguy cơ lây nhiễm HIV

1.2.1.2 Lây truyền qua đường máu

HIV lây truyền qua đường máu do truyền máu không sàng lọc HIV, sử dụng

Trang 14

dụng cụ xuyên chích qua da không được khử khuẩn như dùng chung bơm kim tiêm,kim săm và các vật sắc nhọn khác; người tiêm chích ma túy sử dụng chung bơmkim tiêm không được tiệt trùng cẩn thận; lây truyền HIV qua việc cấy ghép các phủtạng đã bị nhiễm HIV, nhận tinh dịch bị nhiễm HIV Lây truyền HIV còn có thể sảy

ra trong các cơ sở y tế (do tiệt trùng dụng cụ không đảm bảo, tiếp xúc trực tiếp vớimáu, dịch sinh học của người nhiễm HIV, hoặc bị kim tiêm đâm qua da, dao kéocứa phải tay ) do tai nạn rủi do nghề nghiệp vv

1.2.1.3 HIV lây truyền từ mẹ sang con

HIV lây truyền từ mẹ sang con trong thời kỳ mang thai, trong quá trình sinhcon và cho con bú, khả năng người phụ nữ bị nhiễm HIV có thể truyền HIV chocon là 20% - 30%

Sự kém hiểu biết về HIV/AIDS, tác hại của ma tuý, an toàn tình dục; yếu tố vềkinh tế như nghèo đói, không đủ nguồn lực để đương đầu với AIDS, mặt tiêu cực củakinh tế thị trường; yếu tố về chính trị như thái độ của xã hội, luật pháp với các nhómnguy cơ cao (NCMT, bán dâm ); thái độ đối với giáo dục tình dục, với tình trạngcủa người phụ nữ trong xã hội, sự chấp nhận của xã hội với phương pháp xét nghiệmHIV dấu tên và việc cho phép cung cấp BCS, BKT, điều trị nghiện ma túy bằng các

ma tuý thay thế là những yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV Trong trại giam, tuyđược quản lý chặt chẽ nhưng việc sử dụng ma tuý và tình dục không an toàn vẫn cóthể xảy ra [13]

1.2.2 Tiến triển của quá trình nhiễm HIV

Quá trình nhiễm HIV thường tiến triển qua 3 giai đoạn:

1.2.2.1 Giai đoạn nhiễm HIV cấp tính

Khoảng 30% những người nhiễm HIV có thể có một số biểu hiện như sốt,mệt mỏi, sưng hạch, nổi mẩn đỏ ở da những biểu hiện này thường xuất hiện trongthời gian từ 1 đến 2 tuần đầu và rồi tự khỏi Thời kỳ cấp tính kéo dài trong khoảngthời gian từ 1 - 3 tháng, thời kỳ này tìm kháng thể HIV trong máu không thấy đượctrừ khi trực tiếp tìm virus bằng kỹ thuật HIV- 1ARN PCR, hay tìm kháng nguyênP24 Kháng nguyên HIV P24 cũng xuất hiện sớm kể từ ngày thứ 14 sau khi nhiễmHIV Kháng thể túyp IgM xuất hiện sớm từ ngày 15 đến 40 ngày rồi giảm, còn týpIgG xuất hiện muộn hơn từ 20- 50 ngày và tồn tại khá lâu, nói chung kháng thểhình thành trong máu 3- 8 tuần sau khi HIV xâm nhập vào cơ thể, nhưng trong một

Trang 15

số trường hợp, thời kỳ không có đáp ứng kháng thể này có thể dài hơn, có thể đến 6tháng Người ta gọi đó là thời kỳ cửa sổ, là thời kỳ các xét nghiệm phát hiện khángthể HIV không phát hiện được.

1.2.2.2 Giai đoạn nhiễm HIV không triệu chứng

Giai đoạn này người nhiễm HIV hoàn toàn khỏe mạnh không có bất kỳ một triệuchứng nào có liên quan tới HIV, thời kỳ này kháng thể xuất hiện và gọi chung HIV(+), chỉ có xét nghiệm HIV mới phát hiện được Thời kỳ này kéo dài trung bình từ

5 -10 năm Những người nhiễm HIV không triệu chứng cao gấp hàng trăm lần sovới bệnh nhân AIDS mà ta không thể kiểm soát được Những người này đóng vaitrò rất quan trọng về mặt dịch tễ học, có thể lây truyền HIV sang cho người khác

1.2.2.3 Giai đoạn có các triệu chứng lâm sàng (giai đoạn AIDS)

Giai đoạn AIDS thường bắt đầu xuất hiện các nhiễm trùng cơ hội hàng loạtnhư gầy mòn, ỉa chảy kéo dài, sốt kéo dài, viêm não do HIV, hạch to, viêm phổi,viêm da, viêm loét miệng, đau đầu chứng tỏ hệ miễm dịch đã suy giảm hẳn Xétnghiệm thấy tế bào CD4< 200, tử vong sau 1-3 năm Thời gian từ lúc nhiễm HIVđến khi phát bệnh nhanh, chậm tùy thuộc loại HIV, tuổi cao hay thấp, thể chất, cóhay không các bệnh nhiễm trùng khác kèm theo [23]

1.2.3 Các giai đoạn của dịch HIV/AIDS

Có thể phân thành 3 giai đoạn của dịch HIV/AIDS dựa trên 2 tiêu chí chính:

Thứ nhất: mức độ nhiễm HIV trong nhóm người bị có hành vi nguy cơ cao

Thứ hai: sự lây nhiễm có lan tràn sang những nhóm người được coi là có nguy

cơ thấp hơn hay không

1.2.3.1 Giai đoạn sơ khai

Tỷ lệ nhiễm HIV dưới 5% trong tất cả các nhóm dân cư bị coi là có nguy cơcao mà thông tin được thu thập đầy đủ

1.2.3.2 Giai đoạn tập trung

Tỷ lệ hiện nhiễm vượt 5% trong một hoặc nhiều nhóm dân cư bị coi là cónguy cơ cao, nhưng tỷ lệ hiện nhiễm trong số phụ nữ đến khám ở các nhà hộ sinhkhu vực đô thị vẫn ở mức dưới 5%

1.2.3.3 Giai đoạn lan rộng

HIV đã lan truyền vượt ra ngoài nhóm dân cư bị coi là có nguy cơ cao hiện đã

Trang 16

bị nhiễm bệnh nặng nề Tỷ lệ hiện nhiễm trong số phụ nữ đến khám tại các nhà hộsinh khu vực đô thị từ 5% trở lên

1.3 Tình hình nhiễm HIV/AIDS

1.3.1 Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới

Theo báo cáo của Chương trình phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS(UNAIDS), từ khi bắt đầu dịch bệnh hơn 78 triệu người đã bị nhiễm virus HIV và

35 triệu người chết vì HIV.Trên toàn cầu 36,7 triệu người đang sống với HIV vàocuối năm 2015, mặc dù gánh nặng bệnh dịch tiếp tục thay đổi đáng kể giữa cácquốc gia và khu vực

Vùng cận Saharan Châu Phi vẫn bị ảnh hưởng nặng nề nhất với gần 1/25(4,4%) người trưởng thành sống chung với HIV chiếm gần 70% số người sốngchung với HIV toàn thế giới

Có khoảng 36,7 triệu [34,0 - 39.800.000] người trên toàn thế giới đang sống

chung với HIV/AIDS vào cuối năm 2015, tăng 33,3 triệu từ năm 2010 là hậu quảcủa việc tiếp tục lây nhiễm mới, những người sống lâu hơn với HIV và tăng trưởngdân số nói chung

Khoảng 78 triệu [69.500.000 - 87.600.000] người bị nhiễm HIV từ khi bắtđầu của dịch bệnh vào cuối năm 2015;

Khoảng 35 triệu [29.600.000 - 40.800.000] người đã chết vì các bệnh liênquan đến AIDS từ khi bắt đầu của dịch bệnh vào cuối năm 2015

Khoảng 1,1 triệu [940.000 - 1.300.000] người chết vì các bệnh liên quan đếnAIDS trên toàn thế giới trong năm 2015 so với 2 triệu [1.700.000 - 2.300.000] giảm45% kể từ mức đỉnh của nó vào năm 2005

Tử vong giảm một phần là nhờ tăng cường điều trị kháng virus (ART), tuynhiên HIV/AIDS vẫn là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trênthế giới và là nguyên nhân số một gây tử vong ở châu Phi

Khoảng 1,8 triệutrẻ em (<15 tuổi) trong số 36 triệu người sống chung vớiHIV trên vào cuối năm 2015;

Khoảng 110.000 trường hợp tử vong liên quan đến AIDS và 150.000 ca nhiễmmới ở trẻ em vào năm 2015,số nhiễm mới HIV ở trẻ em đã giảm hơn 70% từ năm2001

Trang 17

Khoảng 150.000 trẻ em (<15 tuổi) trong số 2,1 triệu người nhiễm mới HIVtrong năm 2015, hầu hết trẻ em sống ở tiểu vùng Sahara châu Phi và bị nhiễmbởi những người mẹ của chúng bị nhiễm HIV trong khi mang thai, sinh con hoặccho con bú.

Khoảng 2,1 triệu [1.800.000 - 2.400.000] ca nhiễm mới HIV vào cuối năm

2015 tương ứng với khoảng 5.700 ca nhiễm mới mỗi ngày, trong khi đã có sự giảmđáng kể số ca nhiễm mới từ giữa những năm 1990, việc làm giảm số ca nhiễm mới

ở người trưởng thành đã thất bại trong 5 năm qua và ngược lại tỷ lệ này đang giatăng ở một số vùng

Nhiễm HIV mới ở trẻ em đã giảm 50% kể từ năm 2010:

Có khoảng 150.000 [110.000 - 190 000] trẻ em trở lên mới nhiễm HIV trongnăm 2015, giảm từ 290.000 [250 000-350 000] trong năm 2010

Từ năm 2010 không giảm trong nhiễm HIV mới ở người trưởng thành, mỗinăm khoảng 1,9 triệu [1.900.000 - 2.200.000] người lớn bị nhiễm mới HIV

Khoảng 18,2 triệu [16,1 - 19,0 triệu] người đang sống chung với HIV đượctiếp cận điều trị kháng virus (ARV) vào tháng 6/2016; tăng từ 15,8 triệu trong tháng

6 năm 2015; 7,5 triệu vào năm 2010 và ít hơn một triệu năm 2000

Khoảng 46% [43 - 50%] của tất cả những người sống chung với HIV đượctiếp cận với điều trị ARV trong năm 2015

Có khoảng 77% [69 - 86%] phụ nữ mang thai nhiễm HIV được tiếp cận vớithuốc ARV để dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con trong năm 2015

Chỉ 60% những người bị nhiễm HIV biết tình trạng của họ, 40% còn lại (hơn

14 triệu người) vẫn cần phải tiếp cận với các dịch vụ xét nghiệm HIV

Khu vực cận Saharan, châu Phi: Khu vực bị ảnh hưởng nặng nhất, trong khi

chỉ chiếm 13% dân số thế giới nhưng tới gần 70% số người sống chung với HIVtoàn cầu [20] [21];các tiểu vùng Đông và Nam Phi có hơn một nửa (52%) tổng sốngười sống chung với HIV cũng như hơn một nửa (56%) số trẻ em sống với HIV.Hầu như tất cả các quốc gia tiểu vùng của khu vực đã tổng quát hóa tỷ lệ nhiễmHIV tại quốc gia của họ lớn hơn 1%;trong 8 quốc gia, ≥ 10% người trưởng thànhchỉ được ước tính là HIV dương tính.Nam Phi có số lượng cao nhất của người sốngvới HIV trên thế giới (7,0 triệu),Swaziland có tỷ lệ nhiễm cao nhất thế giới (28,8%)

Trang 18

Khu vực châu Mỹ Latinh và Caribê: Ước tính khoảng 2 triệu người đang sống

với HIV ở khu vực châu Mỹ Latinh và Caribê, trong đó 100.000 người mới nhiễmtrong năm 2015 Nhiễm mới HIV hàng năm ở người lớn tăng 2% ở Mỹ Latinh và9% ở Caribbean giữa 2010 và 2015; có 9 nước ở khu vực này bùng nổ đạidịch.Theo số liệu các nước, Bahamas có tỷ lệ cao nhất khu vực (3,2%) và Brazil sốngười sống chung với HIV lớn nhất (830.000)

Khu vực Đông Âu và Trung Á: Ước tính khoảng 1,5 triệu người đang sống

chung với HIV, trong đó 190.000 người nhiễm mới trong năm 2015, nhiễm mớiHIV trong khu vực tăng hơn 50% từ 2010 đến 2015 Dịch bệnh chủ yếu là do tiêmchích ma túy chiếm hơn nửa số ca nhiễm HIV mới trong năm 2015, mặc dù lâytruyền dị tính (heterosexual transmission) cũng đóng vai trò quan trọng

Khu vực châu Á-Thái Bình Dương: Ước tính khoảng 5,1 triệu người đang

sống với HIV ở châu Á và Thái Bình Dương,số ca nhiễm mới HIV hàng năm đãgiảm 3% kể từ năm 2010 Khu vực này cũng là nơi có 2 quốc gia đông dân nhấttrên thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ, thậm chí tỷ lệ lan truyền thấp có thể chuyểnthành số lượng lớn người dân

Bảng tỷ lệ nhiễm HIV theo vùng năm 2015

chung với HIV

Nhiễm mới HIV

Tỷ lệ người lớn (%)

Từ "những con số biết nói" trên,có thể nhận định dịch bệnh HIV/AIDS vẫn

là một trong những thách thức y tế nghiêm trọng nhất toàn cầu khi có khoảng 36,7triệu người đang sống chung với HIV và hàng chục triệu người tử vong liên quanđến AIDS từ khi bắt đầu đại dịch; trong khi các ca mắc mới đã được báo cáo ở tất

cả các khu vực của thế giới, khoảng 2/3 ở châu Phi cận Sahara với 46% số ca mắcmới ở Đông và Nam Phi Nhiều người sống chung với HIV hoặc có nguy cơ nhiễmHIV không có quyền tiếp cận đến dự phòng, chăm sóc, điều trị và vẫn chưa có

Trang 19

thuốc chữa HIV chủ yếu ảnh hưởng đến những người trong những năm họ có năngsuất lao động cao nhất, khoảng 1/3 số ca nhiễm mới là những người trẻ tuổi (15-24) HIV không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của cá nhân, hộ gia đình mà còn tácđộng cộng đồng, sự phát triển và tăng trưởng kinh tế quốc dân;các nước bị HIV ảnhhưởng nặng nhất cũng bị các bệnh lây nhiễm khác, mất an toàn thực phẩm và cácvấn đề nghiêm trọng khác Mặc dù có những thách thức, nỗ lực toàn cầu mới đượcgắn kết để giải quyết dịch bệnh và thu được tiến bộ đáng kể; số người nhiễm mớiHIV nhất là trẻ em và số ca tử vong liên quan đến AIDS đã giảm trong những nămqua, số người nhiễm HIV được điều trị tăng lên đến hơn 18 triệu USD trong năm

2016 [21].Tuy nhiên, số liệu gần đây cho thấy tỷ lệ giảm số ca mắc mới ở ngườitrưởng thành quan sát trước đó trong đại dịch đã bị chững lại thay vì tỷ lệ đang giatăng hiện nay ở một số khu vực trên thế giới

1.3.2 Tình hình HIV/AIDS tại Việt Nam

Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam được phát hiện vào tháng 12năm 1990 Đến năm 1998, HIV/AIDS đã lan tràn trên phạm vi toàn quốc Đến nayHIV đã có mặt ở 63/63 tỉnh, thành phố, 98% số huyện, 78% số xã của Việt Nam[3]

Đến ngày 17/6/2016, số trường hợp nhiễm HIV còn sống là 228.178 trườnghợp; số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 85.826 người; có 87.603 trường hợp tửvong do AIDS HIV còn sống đang tập trung tại 10 tỉnh, thành phố sắp xếp theo thứ

tự như sau: thành phố Hồ Chí Minh là 54.705 người, thành phố Hà Nội là 21.316người, tỉnh Thái Nguyên là 7.502 người, tỉnh Sơn La là 7.326 người, thành phố HảiPhòng là 7.282 người, tỉnh Nghệ An là 6.521 người, tỉnh Đồng Nai là 6.156 người,tỉnh Thanh Hóa là 5.493 người, tỉnh An Giang là 5.240 người và tỉnh Quảng Ninh

là 5.230 người

Tỷ lệ nhiễm HIV toàn quốc theo số báo cáo là 253 người trên 100.000 dân,tỉnh Điện Biên vẫn là địa phương có tỷ lệ nhiễm HIV trên 100.000 dân cao nhất cảnước (883 người), tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh (712 người), thứ 3 là tỉnhThái Nguyên (652 người), tiếp đến là tỉnh Sơn La (646 người), tỉnh Lai Châu (535người), tỉnh Yên Bái (470 người), tỉnh Bắc Kạn 641 (người), tỉnh Bà Rịa – VũngTàu (459 người), tỉnh Quảng Ninh (444 người), thành phố Cần Thơ (419 người),…

Trang 20

Hình thái dịch HIV/AIDS có thay đổi, mặc dù dịch HIV đã giảm tốc độ giatăng, nhưng vẫn còn ở mức cao, (12.000 người nhiễm HIV mới, 2.000-3.000 ngườinhiễm HIV tử vong mỗi năm), có trên 226.000 người nhiễm HIV cần được chămsóc thường xuyên, liên tục và suốt đời Yếu tố nguy cơ diễn biến phức tạp, khó canthiệp (tỷ lệ nữ tăng cao hơn các năm trước Tỷ lệ nhiễm HIV phát hiện mới đa sốthuộc độ tuổi từ 20-40).

Trong 6 tháng đầu năm 2016 ở Việt Nam, số trường hợp phát hiện nhiễm HIVmới là 3684 trường hợp, Số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS là 2366 bệnhnhân và số bệnh nhân tử vong do AIDS là 1668 người

So sánh số trường hợp được xét nghiệm phát hiện và báo cáo nhiễm HIV 6tháng đầu năm 2016 so với cùng kỳ năm 2015, số người có HIV được phát hiệngiảm 89 trường hợp, số trường hợp bệnh nhân AIDS báo cáo tăng 822 trườnghợp ,số tử vong báo cáo tăng 267 trường hợp

Phân bố người nhiễm HIV theo giới tính: Người nhiễm HIV tập trung nhiềunhất vẫn là ở nam giới chiếm 68,6% và nữ giới là 31,4%

Phân bố người nhiễm theo độ tuổi: Phần lớn trường hợp nhiễm HIV ở Việt Namnằm trong độ tuổi trẻ từ 20-39 tuổi chiếm 81,8%, trong đó số người nhiễm HIV từ 20-

29 tuổi chiếm 38,5%; từ 30-39 chiếm 43,3% Tỷ lệ nhiễm ở độ tuổi từ 40-49 tuổichiếm 11,1% và trên 50 tuổi chiếm 3,0% Nhiễm HIV ở lứa tuổi vị thành niên từ 14-19tuổi chiếm 3,9%, các trường hợp nhiễm ở trẻ em dưới 13 tuổi chiếm 2,5%

Phân bố người nhiễm HIV/AIDS theo đường lây truyền: trong số người nhiễmHIV được báo cáo trong 6 tháng đầu năm 2016 cho thấy: lây truyền qua đường tìnhdục chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm 45,5%), tỷ lệ này tăng hơn 3% so với cùng kỳ năm

2015, tiếp đến là tỷ lệ người nhiễm HIV lây truyền qua đường máu chiếm 41,6%giảm 4,5% so với cùng kỳ năm 2015, tỷ lệ người nhiễm HIV lây truyền từ mẹ sangcon chiếm 2,4%, có 10,6% tỷ lệ người nhiễm HIV không rõ đường lây truyền

Phân tích người nhiễm HIV theo nhóm đối tượng: Người nhiễm HIV ở ViệtNam chủ yếu là người nghiện chích ma tuý chiếm 37,3% giảm xuống 3,3% so vớicùng kỳ với năm 2015 Tình dục khác giới chiếm 24,4% tăng 1,9% so với cả năm2011; bệnh nhân Lao là 4,3%; bệnh nhân nghi AIDS là 0,9%; gái mại dâm là 0,6%

và bệnh nhân mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục là 0,3%

Trang 21

Dịch HIV/AIDS 6 tháng đầu năm 2016 ghi nhận số trường hợp báo cáo mớiphát hiện giảm so với cùng kỳ năm 2016 Hình thái dịch HIV lây truyền qua đườngtình dục lần đầu tiên ghi nhận cao hơn lây truyền qua đường máu Bên cạnh đó tỷ lệngười nhiễm HIV mới phát hiện trong nhóm tuổi 30-39 ngày càng chiếm tỷ trọngcao Cảnh báo nguy cơ làm lây truyền HIV do lây truyền qua đường tình dục sẽ lànguyên nhân chính làm lây truyền HIV ở Việt Nam trong những năm tiếp theo vàkhả năng khống chế lây nhiễm HIV qua đường tình dục sẽ khó khăn hơn nhiều lần

so với khống chế lây truyền qua đường tiêm chích qua nhóm nghiện chích ma túy[11]

Dịch HIV/AIDS ở mức cao khó kiểm soát ở phần lớn các tỉnh miền núi phíaBắc như Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai và các huyện miền núi củatỉnh Nghệ An, Thanh Hóa Riêng hai thành phố lớn Hà Nội và Hồ Chí Minh diễnbiến dịch phức tạp, khó kiểm soát [3]

1.3.3 Tình hình HIV/AIDS tại tỉnh Thanh Hóa

Tính đến hết tháng 12/2016, luỹ tích các trường hợp nhiễm HIV là 7488người; số bệnh nhân AIDS là 3.483, số người tử vong do AIDS là 1971 người.Trong 7 tháng đầu năm 2017 phát hiện thêm 251 trường hợp nhiễm HIV mới, hiệncòn sống quản lý được là 3.825 người, số mất dấu là 509 người Hiện nay 27/27 sốquận/huyện trong tỉnh có người nhiễm HIV/AIDS Tỷ lệ người nhiễm HIV cònsống trên dân số là: 0,75%

Lây qua đường máu chiếm 34%; đường tình dục 56%; Mẹ truyền sang con2%, số còn lại không rõ nguyên nhân Qua số liệu trên tỷ lệ lây qua đường máugiảm và xu hướng lây nhiễm HIV qua đường tình dục đang có xu hướng cao dần

Lây nhiễm HIV theo nhóm tuổi: 0-15 tuổi chiếm 2.67%; từ 16-20 tuổi 4,58%;

từ 21-39 tuổi 80.53%; từ 40- 49 tuổi 10,21%; từ 50 tuổi trở lên 2,01% Nhiễm HIVngày càng trẻ hóa độ tuổi từ 21-39 tuổi chiếm cao nhất 80,53%

Nhiễm HIV theo giới tính: Nam chiếm 84.54%; Nữ chiếm 15.46%.

1.4 Nghiện ma túy và lây nhiễm HIV

1.4.1 Nghiện ma tuý và nhiễm HIV/AIDS

1.4.1.1 Khái niệm ma tuý

Ngày nay nghiện ma tuý đã trở thành hiểm họa toàn cầu Cuộc đấu tranhphòng chống và kiểm soát ma tuý để bảo vệ sự hưng thịnh của chế độ xã hội, sự

Trang 22

phát triển sức khoẻ, trí tuệ, tinh thần và văn hoá của các thế hệ tương lai đang là vấn

đề bức xúc của nhiều nước trên thế giới

Ma tuý là chất gây nghiện, gây trạng thái say, hư ảo, mê mẩn, lâng lâng maquái Theo các chuyên gia nghiên cứu ma tuý của Liên hiệp quốc thì: "Ma tuý là cácchất hoá học có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo, khi xâm nhập cơ thể người sẽ có tácdụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, buộc con người lệ thuộc vào chúnggây tổn thương cho cá nhân và cộng đồng" [14]

1.4.1.2 Khái niệm nghiện ma tuý

Lệ thuộc vào các chất dạng thuốc phiện và amphetamine là hai dạng lệ thuộc

ma tuý bất hợp pháp phổ biến nhất trên thế giới Ước tính trên thế giới có 15,4 triệungười lệ thuộc vào các chất dạng thuốc phiện và 17,2 triệu người lệ thuộc vàoamphetamines (theo Louisa Degenhardt, Harvey Whiteford & Wayne D Hall,2014) Nhóm nghiện chích ma túy với 12,7 triệu người trên thế giới có nguy cơ caolây nhiễm các bệnh qua đường máu như HIV (chiếm 13% số người tiêm chích matuý) và viêm gan C (50%) (theo Cơ quan phòng chống Ma Tuý và Tội Phạm củaLiên hợp quốc – UNODC, 2014)

Những nghiên cứu đang tiến hành (trong các lĩnh vực y tế, tâm lý và xã hội)

đã nâng cao sự hiểu biết của chúng ta về mặt sinh lý bệnh học của tình trạng lệthuộc

ma tuý trong hơn 50 năm qua Ngày nay chúng ta đã nhận thức được rằng việc hìnhthành hành vi sử dụng ma túy ở người nghiện là kết quả của những thay đổi lâu dàitrong não bộ do ma túy gây ra (đặc biệt là những chất dạng thuốc phiện nhưheroin), chứ không đơn thuần chỉ là sự lựa chọn của người nghiện ma túy Theo Tổ

chức Y tế Thế giới, nghiện ma túy được định nghĩa là “tình trạng bệnh mạn tính, tái diễn của não bộ, biểu hiện bằng việc người bệnh bắt buộc phải tìm kiếm và sử dụng ma tuý, bất chấp hậu quả về sức khỏe và xã hội liên quan đến việc sử dụng” (theo Tổ chức Y tế Thế giới, 2005) Về mặt sinh học, não của người nghiện

có sự khác biệt so với não của người không nghiện

Sử dụng ma túy trong thời gian dài có thể gây tác động lên não bộ theo 3 cách:Một số loại ma túy (bao gồm heroin) có cấu trúc tương tự như chất dẫn truyềnhoá học, được gọi là chất dẫn truyền thần kinh do não bộ sản xuất ra một cách tựnhiện Sự đồng dạng này trong cấu trúc “lừa” được các thụ cảm thể của não bộ vàcho phép ma túy kích hoạt các tế bào thần kinh gửi những thông điệp bất thường

Trang 23

“Đường dẫn truyền khoái cảm” trên não bộ gây ra những cảm xúc tích cực từnhững khoái cảm tự nhiên như thức ăn, rượu, tình dục và luyện tập thể dục Đườngdẫn truyền khoái cảm đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình tiến triển thànhnghiện Ma tuý gây kích thích quá mức đường dẫn truyền khoái cảm (và giải phóngnhững chất hoá học như endorphin và dopamine) mang đến cho người dùng nhữngcảm xúc tích cực và khuyến khích họ lặp lại hành vi sử dụng ma túy Sau một thờigian, não bộ thích ứng với việc sản xuất ra ít dopamine hơn, nghĩa là người nghiệnnhận được ít sự khoái cảm hơn từ các hoạt động mà họ đã từng thực hiện trước đây.

Do vậy, người nghiện cần dùng ma tuý để duy trì mức độ dopamine bình thường,não của họ bị đánh lừa để tin rằng ma tuý là cần thiết cho cuộc sống

Độ dung nạp cũng tăng dần theo thời gian, nghĩa là người nghiện cần nhiều

ma tuý hơn mới có cảm giác phê sướng Điều này xảy ra thông qua sự kích hoạtđường dẫn truyền AMP dạng vòng trong não, nơi kiểm soát nhiều chức năng trong

cơ thể bao gồm nhịp tim, bài tiết cortisol và phân huỷ chất béo Một khi hệ thốngnày đã bị kích hoạt do việc sử dụng ma tuý lâu dài, những tác động của ma tuý bịgiảm dần và người nghiện cảm thấy ngày càng phải dùng nhiều hơn (theo Lane-Ladd và cộng sự, 1997; Noble & Cox, 1996; Unterwald và cộng sự, 1993)

Sự tác động lên não do sử dụng ma tuý phụ thuộc vào:

bộ não có xu hướng ưa thích hoặc cần đến các chất dạng thuốc phiện ở mức độ caohơn so với những người khác Một giả thuyết chưa được chứng minh cho rằngnghiện chất dạng thuốc phiện có thể do tình trạng thiếu hụt tương đối (do bẩm sinhhoặc do dùng chất dạng thuốc phiện kéo dài gây nên) trong hệ thống sản xuất chấtdạng thuốc phiện nội sinh trong não bộ – hệ thống endorphin nội sinh Nếu giảthuyết này đúng, nó sẽ giúp giải thích tại sao nhiều người nghiện lại cần dùng chấtdạng thuốc phiện bổ sung suốt đời

Trang 24

Một phát hiện khoa học khác là việc cắt cơn cùng với thời gian kiêng nhịn matúy kéo dài không giúp cho não bộ của người nghiện phục hồi lại tình trạng bìnhthường như trước khi nghiện Có những sự biến đổi trong hệ thống cảm thụ của não

là hậu quả của việc sử dụng ma tuý gây nên những biến đổi vĩnh viễn Điều đángtiếc là không phải tất cả những sự thay đổi trong não bộ đều có thể trở lại bình thường

Về mặt lâm sàng, nhiều người nghiện heroin mô tả những trải nghiệm của họtrong lần đầu tiên sử dụng chất dạng thuốc phiện như là một sự “thức tỉnh” Mặc dùcảm thấy buồn nôn do chất dạng thuốc phiện gây nên, nhưng nhiều người cho biết

họ có một cảm giác mới mẻ, giống như tìm được một điều gì đó rất cần cho cuộcsống của họ Họ thấy lần đầu tiên trong đời có cảm giác “bình thường” Không phải

họ đang mô tả về cảm giác “phê”, mà chỉ là cảm giác dễ chịu Liều cao hơn sẽ dẫnđến khoái cảm và tình trạng ngộ độc (say thuốc), nhưng cảm giác trở nên “bìnhthường, khỏe mạnh” trong lần sử dụng đầu tiên thì không thể nào quên được

Ngày nay, chúng ta biết rằng bản thân não bộ cũng sản xuất ra chất dạng thuốcphiện nội sinh (endorphin) với các thụ cảm thể của chất dạng thuốc phiện là mu,kappa, and delta Trong nhiều thập kỷ, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứutrên hệ thống mu bởi đây là trung tâm sản xuất chất gây nghiện để giảm đau Hệthống chất gây nghiện nội sinh này rất phức tạp và có liên quan đến sự quyết địnhtâm trạng, ngon miệng, niềm vui, ham muốn tình dục và đau đớn

Khi não và cơ thể trở nên lệ thuộc vào việc sử dụng ma tuý để có thể hoạtđộng bình thường, cơ thể của người lệ thuộc ma túy sẽ trải qua những triệu chứngcai nếu dừng hoặc giảm sử dụng ma tuý Những triệu chứng này bao gồm:

Trang 25

- Nhịp tim nhanh hoặc tăng huyết áp

- Ngáp

- Ngủ không yên

1.4.2 Tình hình sử dụng ma túy trên thế giới và Việt Nam

Theo báo cáo Tình hình ma túy Toàn cầu năm 2015 của Cơ quan phòng chống

Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC), tỉ lệ người sử dụng ma túy trêntoàn thế giới vẫn không có nhiều xáo trộn.Ước tính có khoảng 246 triệu người,tương đương với khoảng hơn 5% dân số toàn thế giới trong độ tuổi từ 15 đến 64 đãtừng sử dụng ma túy trái phép trong năm 2013 Số người có vấn đề về sử dụng matúy chiếm khoảng 27 triệu người, gần một nửa trong số họ là người tiêm chích matúy (PWID) Có khoảng 1,65 triệu người tiêm chích ma túy đang phải sống chungvới HIV trong năm 2013 Nam giới sử dụng cần sa, cocain và anphetamin nhiềugấp ba lần nữ giới, trong khi nữ giới có xu hướng lạm dụng thuốc giảm đau có chứaopiods và thuốc an thần

Hiện vẫn tiếp tục có một số lượng người sử dụng ma túy trên toàn cầu, dùkhông thay đổi đáng kể, nhưng vẫn ở mức cao không thể chấp nhận được tử vongkhi tuổi đời còn quá trẻ, số lượng các trường hợp tử vong liên quan đến ma túytrong năm 2013 là khoảng 187.100 người Báo cáo Tình hình Ma túy Thế giới cungcấp tỷ lệ nhiễm HIV trong số những người tiêm chích ma túy trên cơ sở các dữ liệuthu thập được trên cơ sở phối hợp với UNAIDS, WHO và Ngân hàng Thế giới Một

số nước cho thấy phụ nữ tiêm chích ma túy dễ có nguy cơ nhiễm HIV hơn nam giới

và tỷ lệ nhiễm HIV ở phụ nữ tiêm chích cao hơn so với nam giới tiêm chích ma túy

Số trường hợp nhiễm HIV mới trong nhóm người tiêm chích ma túy giảm khoảng10% từ khoảng 110.000 người năm 2010 xuống còn 98.000 người trong năm 2013.Tuy nhiên, Báo cáo Tình hình Ma túy Thế giới cũng chỉ ra nhiều yếu tố nguy cơ,bao gồm sự lây truyền các bệnh truyền nhiễm như HIV và viêm gan C và sốc thuốc,

có thể dẫn đến mức độ tử vong trong nhóm người tiêm chích ma túy cao gấp gần 15lần so với mức bình thường trong các nhóm dân cư nói chung [20]

Đối với Việt Nam, heroin vẫn là loại ma túy được sử dụng rộng rãi nhất Tuynhiên, việc sử dụng Methamphetamine cũng đang tăng lên nhanh chóng Theo BộCông an, tính đến cuối năm 2014, cả nước có 204.377 người sử dụng ma túy có hồ

sơ quản lý, trong đó số người sử dụng heroin chiếm tới 72%, sau đó là ma túy tổng

Trang 26

hợp 14,5% Đáng chú ý, báo cáo cũng chỉ rõ tỷ lệ người tiêm chích ma túy nhiễmHIV có xu hướng giảm trong mấy năm qua nhưng vẫn lan rộng trên cả nước [20]

1.4.3 Các nhóm nguy cơ cao nghiện ma tuý

Là những nhóm trong một quần thể dân số nghiên cứu có tính mẫn cảm(vulnerability) cao đối với nghiện ma tuý cùng các hậu quả của nó [18] Các cuộcđiều tra tại Việt Nam đã xác định được rằng: tuổi trẻ (nhất là thanh thiếu niên cácvùng đô thị) có nguy cơ cao nghiện ma tuý, trong đó phân ra 2 nhóm lớn là nhómđược quản lý và nhóm chưa được quản lý (captive and noncaptive group) [18]

- Nhóm được quản lý: học sinh, sinh viên các trường phổ thông, đại học, dạynghề; công nhân một số ngành nghề (lái xe đường dài, taxi )

- Nhóm chưa được quản lý: tuổi trẻ thất nghiệp hoặc bán thất nghiệp; trẻ emđường phố; gái bán dâm; học sinh, sinh viên bị đuổi học hoặc bỏ học; những ngườilao động tự do trong các đô thị, trên các khu đào vàng, đá quý, khai thác rừng bấthợp pháp ; một số nhóm dân cư các vùng trồng cây thuốc phiện [18]

1.5 Một số điều tra về tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS.

Điều tra trên nhóm NCMT tại Khánh Hòa cho thấy: Tỷ lệ nhiễm HIV là12,8%, chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi 20 - 29 chiếm 67,9%, trình độ văn hóa thấp

từ cấp II trở xuống chiếm 61,1% 50% người nhiễm HIV còn độc thân chưa có giađình [3]

Theo kết quả điều tra trên đối tượng NCMT tỉnh Ninh Bình năm 2014: Tỷ lệnhiễm HIV là 28,4%, 592% tập trung ở nhóm tuổi 26 -35, nam giới 23 chiếm98,6%; 54% người nhiễm HIV có trình độ THCS; 77,2% làm nghề tự do [3]

Với đề tài nghiên cứu “Dịch tễ học HIV/AIDS tỉnh Thừa Thiên Huế năm1993- 2004” cho thấy tỷ lệ nam nhiễm HIV là 84,03%, nữ là 15,96% [24]

Theo kết quả “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ về HIV/AIDS tại huyệnKiến Xương thành phố Thái Bình” cho thấy tỷ lệ nam nhiễm HIV là 93,5%, nữ là 6,5% [4]

Theo kết quả nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan trênđối tượng TVXNTN tại bệnh viện Bạch Mai từ tháng 9/2005 đến 6/2006 cho thấy:

Tỷ lệ nhiễm HIV chung của đối tượng đến TVXNTN tại bệnh viện Bạch Mai là31,5% Tỷ lệ nhiễm HIV ở nam giới là 32,3%, nữ giới là 29,7% Tỷ lệ nhiễm HIVcao nhất ở nhóm tuổi 30- 39 chiếm 35,8%, thứ 2 là nhóm tuổi 20 - 29 chiếm 3,2%

Ngày đăng: 04/05/2021, 09:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w