1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch tốt nghiệp (y học) phòng chống bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi

31 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phòng chống bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi
Trường học Trường Đại Học Y Dược Huế
Chuyên ngành Y học
Thể loại Bài thu hoạch tốt nghiệp
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. ĐẶT VẤN ĐỀ

    • Qua bài thu hoạch này em mong muốn đạt được những mục tiêu sau đây:

  • 2.1. Tình hình dịch tễ học.

  • 2.1.1. Tình hình bệnh tiêu chảy trên Thế giới:

  • 2.1.2. Tình hình bệnh tiêu chảy tại khu vực:

  • 2.1.4.Tình hình bệnh tiêu chảy tại Quảng Nam:

  • 2.2. Đặc điểm dịch tễ học

  • 2.2.1. Đường lây truyền

    • Trẻ chơi ở những nơi đất cát, bụi bẩn

  • 2.2.2. Các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy

  • 2.2.2.1. Yếu tố vật chủ làm tăng tính cảm thụ đối với bệnh tiêu chảy

  • 2.2.2.2. Tính chất mùa: có sự khác biệt theo mùa và địa dư

  • 2.2.2.3. Những tập quán làm tăng nguy cơ tiêu chảy

    • Hình ảnh cho trẻ bú bình

  • 2.3. Tác nhân gây bệnh

  • 2.3.1. Virus.

  • 2.3.2. Vi khuẩn.

    • Hình ảnh Rotavirus

  • 2.3.3. Kí sinh trùng:

  • 2.3.4. Nấm

  • 2.4. Định nghĩa và phân loại tiêu chảy

  • 2.4.1. Định nghĩa tiêu chảy :

    • Hình ảnh trẻ đi cầu phân lỏng

  • 2.4.2. Phân loại tiêu chảy

  • Hai cơ chế gây nên tiêu chảy cấp:

    • a. Xuất tiết:

    • b. Thẩm thấu:

  • (2) Tiêu chảy kéo dài:

  • (3) Hội chứng lỵ:

  • 2.5. Thăm khám trẻ bị tiêu chảy

  • 2.5.1. Phân loại tiêu chảy

  • 2.5.2. Đánh giá mất nước

  • 2.5.2.1. Theo trọng lượng:

  • 2.5.2.2. Theo dấu hiệu

    • Hình ảnh nếp véo da bụng ở trẻ tiêu chảy

  • 2.5.3. Đánh giá những vấn đề khác của bệnh nhi

  • 2.5.4. Cân bệnh nhi

  • 2.5.5. Xét nghiệm

  • 2.6. Biến chứng

  • 2.7 Phác đồ điều trị tiêu chảy

  • 2.7.1.1. Cho trẻ uống nhiều dịch hơn bình thường để đề phòng mất nước

    • Dung dịch ORS dạng gói

    • Cho trẻ uống nước cháo muối

    • Tư vấn bệnh tiêu chảy và điều trị bệnh này trong cộng đồng

  • 2.7.2. Phác đồ B

    • Lượng dung dịch ORS cần uống trong 4 giờ đầu

  • 2.7.3. Phác đồ C

  • Lượng dịch truyền theo phác đồ C

  • 2.8. Điều trị nhiễm khuẩn và vấn đề sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị tiêu chảy

  • 2.8.1. Kháng sinh chỉ được chỉ định trong các trường hợp sau:

  • 2.8.2. Một số bệnh và cách dùng kháng sinh cho trẻ

  • 2.8.2.2. Đơn bào: Giardia

  • 2.8.2.3. Tả nặng

  • 2.8.3. Không dùng các thuốc chống nôn, cầm ỉa:

  • 2.9. Phòng bệnh tiêu chảy

  • * Thực hiện 10 nguyên tắc vàng trong chế biến thực phẩm

  • 2.9.2. Phòng ngừa cấp 1

    • Hình ảnh cho trẻ bú mẹ đúng cách .

    • Cho trẻ ăn bổ sung đúng cách và ăn các thức ăn giàu dinh dưỡng

    • Vaccin Rotavirus

    • Cần đưa trẻ đến khám và điều trị đúng lúc

  • 2.9.4. Phòng ngừa cấp 3

  • 2.10. Tóm tắt bài viết:

    • 1. Cho trẻ uống nhiều dịch hơn bình thường để đề phòng mất nước

  • 4.TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

  • Xác nhận của Khoa - Bộ môn Xác nhận của giáo viên hướng dẫn

Nội dung

Tình hình dịch tễ học

hình bệnh tiêu chảy ở Việt Nam

lệ tử vong do tiêu chảy gây ra.

Hành vi sức khỏe có ảnh hưởng lớn đến tỉ lệ mắc và tử vong của bệnh tật Để điều trị bệnh hiệu quả, cá nhân cần nhận thức và thay đổi những thói quen sức khỏe có hại Đối với công tác phòng bệnh tiêu chảy ở trẻ em, việc tìm hiểu hành vi của các bà mẹ nuôi con dưới 5 tuổi là rất quan trọng, vì nó liên quan trực tiếp đến tỉ lệ mắc tiêu chảy trong cộng đồng.

Tình hình bệnh tiêu chảy tại Quảng Nam

Mặc dù chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy đã được triển khai trong nhiều năm, nhưng tình trạng mắc bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi vẫn phổ biến, đặc biệt tại các xã vùng cao Nguyên nhân chủ yếu là do hành vi và biện pháp phòng bệnh của các bà mẹ chưa thực hiện đầy đủ, cùng với tập quán, sự hiểu biết và môi trường sống Do đó, việc nâng cao hiểu biết của cộng đồng về biện pháp phòng chống bệnh tiêu chảy là rất quan trọng Tại Quảng Nam, tình hình tiêu chảy vẫn diễn biến phức tạp, với báo cáo từ đoàn công tác của UBND huyện Phước Sơn cho thấy dịch tiêu chảy đã bùng phát tại xã Phước Thành, khu vực có hoạt động đào đãi vàng lớn nhất huyện.

Hiện tại, có 18 trường hợp người dân mắc bệnh tiêu chảy đang được điều trị tại nhà và trạm y tế của xã Tuy nhiên, nguồn thuốc điều trị cho các loại bệnh này vẫn đang thiếu hụt.

Trong 18 trường hợp mắc bệnh tiêu chảy, ghi nhận ban đầu đã có 1 trường hợp tử vong là trẻ em, tên Hồ Văn Tân (5 tháng tuổi) được xác định nguyên nhân tử vong ban đầu là do tiêu chảy và viêm phổi cấp không được điều trị kịp thời.[2] Đứng trước thực tế đó, để tìm hiểu tình hình tiêu chảy và các yếu tố liên quan đến bệnh tiêu chảy là vấn đề luôn được tất cả chúng ta quan tâm hàng đầu Hơn ai hết chúng ta là những cán bộ y tế bằng mọi cách làm sao chuyển tải những kiến thức chính xác nhất và thật sự đầy đủ để cải thiện tình hình tiêu chảy ở trẻ em như hiện nay.

Đặc điểm dịch tễ học

Đường lây truyền

Bệnh lây qua đường tiêu hóa có thể xảy ra khi trẻ tiêu thụ thực phẩm hoặc nước uống bị ô nhiễm, cũng như khi sử dụng các vật dụng chế biến thức ăn không sạch sẽ Việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là rất quan trọng để ngăn ngừa sự lây lan của các bệnh này.

- Tiếp xúc trực tiếp với thức ăn đã bị nhiễm khuẩn hoặc tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây gây bệnh.

Một số thói quen có thể làm gia tăng nguy cơ lây lan các tác nhân gây bệnh, bao gồm việc không rửa tay sau khi đi vệ sinh, trước khi chế biến thực phẩm, cho trẻ bú bình, và để trẻ bò chơi ở những khu vực có đất bẩn dính phân người hoặc phân động vật.

Trẻ chơi ở những nơi đất cát, bụi bẩn

Các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy

2.2.2.1 Yếu tố vật chủ làm tăng tính cảm thụ đối với bệnh tiêu chảy

Bệnh tiêu chảy thường xảy ra trong 2 năm đầu đời của trẻ, đặc biệt phổ biến ở nhóm trẻ từ 4-18 tháng tuổi, khi trẻ bắt đầu tập ăn sam hoặc ăn dặm quá sớm, dẫn đến giảm kháng thể thụ động.

- Thể trạng suy dinh dưỡng, ức chế hoặc suy giảm miễn dịch: sau bị sởi, HIV/AIDS hoặc mắc các bệnh nhiễm trùng khác.

2.2.2.2 Tính chất mùa: có sự khác biệt theo mùa và địa dư

- Vùng ôn đới: Tiêu chảy do vi khuẩn chiếm tỉ lệ cao vào mùa nóng và tiêu chảy do virus Rotavirus chiếm tỉ lệ cao vào mùa đông.

Tiêu chảy do vi khuẩn thường gia tăng trong mùa mưa và nóng ở vùng nhiệt đới, trong khi tiêu chảy do virus Rotavirus lại chiếm tỷ lệ cao hơn vào mùa khô lạnh.

2.2.2.3 Những tập quán làm tăng nguy cơ tiêu chảy

Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là rất quan trọng, vì nghiên cứu cho thấy trẻ được bú sữa mẹ sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy hơn gấp 5 lần so với trẻ không được bú sữa mẹ.

- Cai sữa mẹ trước 1 tuổi

- Không rửa tay sạch sẽ sau khi đi vệ sinh và trước khi ăn

- Do cha mẹ chưa có chế độ ăn khoa học cho bé

- Do sử dụng một số loại thuốc có thể gây tiêu chảy cho trẻ ( thường là thuốc kháng sinh ) khi trẻ bị một số bệnh nhiễm trùng khác

- Không quản lý và xử lý phân hợp lý

Hình ảnh cho trẻ bú bình

Tác nhân gây bệnh

Virus

- Rotavirus là tác nhân chính gây tiêu chảy nặng và đe dọa đến tính mạng trẻ em dưới 2 tuổi.[1]

- Norwalk virus gây viêm các nhung mao ruột và làm giảm các men ở ruột

Vi khu ẩn

Có 5 loại E coli gây tiêu chảy thường gặp dựa vào một số yếu tố độc lực của chúng

+ E.Coli sinh ra độc tố ruột : (ETEC) Enterotoxigenic Escherichia Coli

+ E.Coli bám dính đường ruột : (EAEC) Enteroaggregative Escherichia Coli

+ E.Coli gây bệnh lý đường ruột: (EPEC) Enteropathogenic Escherichia Coli

+ E.Coli xâm lấn niêm mạc ruột : (EIEC) Enteroinvasive Escherichia Coli

+ E.Coli gây chảy máu đường ruột : (EHEC) Enterohemorhagia Eschenchia Coli

* ETEC là tác nhân quan trọng trong 5 loại E.coli trên gây Tiêu chảy cấp phân tóe nước.

- Trực trùng Shigella là tác nhân gây lỵ trong 60% các đợt lỵ

Salmonella murimun là một chủng Salmonella không gây thương hàn, thường là nguyên nhân chính gây tiêu chảy ở những quốc gia tiêu thụ nhiều thực phẩm chế biến sẵn.

- Phẩy khuẩn tả: Vibrio choleraae 01

- Ngoài ra còn do một số vi khuẩn gây ngộ độc thức ăn như tụ cầu, Clostridium perfringen

Kí sinh trùng

- Cryptosporidium thường gây tiêu chảy nặng và kéo dài ở bệnh nhi suy giảm miễn dịch(AIDS).[1] Ngoài ra còn gây bệnh cho nhiều loại gia súc.

- Giardia lamblia là đơn bào bám dính lên liên bào ruột non gây teo nhung mao ruột làm giảm hấp thu, gây tiêu chảy.

Entamoeba histolytica xâm nhập vào niêm mạc hồi tràng và đại tràng, tạo ra các ổ áp xe nhỏ và gây loét Quá trình này dẫn đến việc tăng tiết chất nhầy có lẫn máu, gây ra bệnh lỵ amip Cuối cùng, nếu không được điều trị kịp thời, có thể dẫn đến áp xe gan do amip.

Nấm

Candida Albican: Sau khi bệnh nhi dùng kháng sinh kéo dài hoặc suy giảm miễn dịch(HIV/AIDS).[1]

Định nghĩa và phân loại tiêu chảy

Định nghĩa tiêu chảy

Là tiêu phân lỏng hay tóe nước và có thể kèm theo có đàm máu trong phân trên 2 lần trong vòng 24 giờ [1]

Hình ảnh trẻ đi cầu phân lỏng

Phân loại tiêu chảy

Tiêu chảy cấp là tình trạng tiêu chảy khởi phát đột ngột, kéo dài không quá 14 ngày, thường dao động từ 5 đến 7 ngày, và chiếm tỷ lệ lớn trong các loại tiêu chảy khác.

Hai cơ chế gây nên tiêu chảy cấp: a Xuất tiết:

Tiêu chảy do độc tố vi trùng như tả hoặc E.coli ETEC, hoặc do sự bám dính của Rotavirus vào đỉnh liên bào nhung mao, làm cản trở quá trình hấp thu dinh dưỡng Trong khi đó, việc bài tiết ở vùng hẻm liên bào nhung mao vẫn diễn ra bình thường hoặc gia tăng, dẫn đến lượng nước trong ruột và phân tăng cao Do đó, để điều trị tiêu chảy xuất tiết, không thể chỉ dùng thuốc mà cần tập trung vào dinh dưỡng để tái tạo tế bào ruột và duy trì sự sống của trẻ, đồng thời ngăn ngừa mất nước và điện giải.

Tiêu chảy cấp thường xuất hiện do việc tiêu thụ thực phẩm hoặc đồ uống có tính hấp thụ kém hoặc độ thẩm thấu cao Nếu không được điều trị kịp thời, tình trạng này có thể chuyển thành tiêu chảy kéo dài, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và dinh dưỡng của trẻ trong tương lai.

Nhiễm vi sinh vật gây bệnh qua cơ chế xâm nhập, cùng với chế độ điều trị và dinh dưỡng không hợp lý, là những yếu tố nguy cơ chính dẫn đến sự chuyển biến từ tiêu chảy cấp sang tiêu chảy kéo dài.

Tiêu chảy kéo dài được xác định khi tình trạng này kéo dài từ 14 ngày trở lên Thời gian tiêu chảy được tính liên tục, và nếu trong khoảng thời gian đó có 2 ngày tiêu phân bình thường, thì lần tiêu chảy tiếp theo sẽ được coi là một đợt tiêu chảy cấp mới.

Tiêu chảy kéo dài gây ra bởi sự tổn thương niêm mạc ruột, dẫn đến khả năng hấp thụ dinh dưỡng giảm sút Nghiên cứu gần đây cho thấy tình trạng teo nhung mao ruột, với niêm mạc mỏng và phẳng, được gọi là hội chứng nhung mao cùn, dẹt.

(3) Hội chứng lỵ: Đi cầu nhiều lần trong phân có nhầy máu Nguyên nhân chính là do vi khuẩn Shigella.

Hội chứng lỵ xảy ra khi vi trùng xâm nhập vào thành ruột, gây ra vết lở loét Nếu tổn thương nặng, bệnh nhân có thể thấy phân lỏng, có đàm máu và nhiều nước ở ruột non Ngược lại, nếu tổn thương nhẹ, triệu chứng tại đại tràng thường kèm theo đàm máu, phân ít nước và cảm giác mót rặn.

Thăm khám trẻ bị tiêu chảy

Phân loại tiêu chảy

Bằng những câu hỏi đơn giản, dễ hiểu để phân loại tiêu chảy.

Trẻ có bị tiêu chảy không? Trẻ đả tiêu chảy thời gian bao lâu? Trẻ tiêu chảy có máu trong phân không? Trẻ có sốt không?

Đánh giá mất nước

. Đối với tình trạng mất nước của trẻ có thể chia làm 3 loại dựa theo trọng lượng của trẻ:[1]

- Không mất nước khi lượng nước mất dưới 5% trọng lượng của trẻ khỏe mạnh trước đó

Khi trẻ khỏe mạnh mất từ 5 - 10% trọng lượng cơ thể, tình trạng mất nước sẽ xảy ra Mất nước có thể được nhận diện qua các dấu hiệu lâm sàng đặc trưng.

- Mất nước nặng khi lượng nước mất khoảng > 10% trọng lượng trẻ khỏe mạnh trước đó Tình trạng mất nước biểu hiện rõ trên lâm sàng.

Bảng phân loại mất nước (theo Tổ chức Y tế thế giới) [5]

Dấu hiệu Không mất nước

Có mất nước (Mất nước mức độ B)

Mất nước nặng (Mất nước mức độ C) Toàn trạng * Tốt, tỉnh táo Vật vã, kích thích * Li bì, hôn mê, mệt lã *

Mắt * Bình thường Trũng Rất trũng và khô

Nước mắt Có Không có nước Không

Miệng lưỡi Ướt Khô Rất khô

Khát * Không khát: uống bình thường *

Uống rất kém hoặc không uống được *

Nếp véo da * Nếp véo da mất nhanh *

Nếp véo da mất chậm < 2 giây

Nếp véo da mất rất chậm > 2 giây Đánh giá

Bệnh nhi không có dấu hiệu mất nước

Nếu có 2 dấu hiệu trở lên, trong đó có ít nhất 1 dấu hiệu * là mất nước nhẹ hoặc trung bình

Nếu có 2 dấu hiệu trở lên, trong đó có ít nhất 1 dấu hiệu * là mất nước nặng

Xử trí và phác đồ điều trị là rất quan trọng trong việc chăm sóc bệnh nhân Phác đồ A tập trung vào các biện pháp điều trị cụ thể nhằm tối ưu hóa hiệu quả và giảm thiểu biến chứng Trong khi đó, phác đồ B và phác đồ C cũng cung cấp những phương pháp chăm sóc khác nhau, đảm bảo đáp ứng nhu cầu đa dạng của bệnh nhân Việc áp dụng đúng phác đồ sẽ góp phần nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc sức khỏe.

Dấu * là những dấu hiệu quan trọng

Hình ảnh nếp véo da bụng ở trẻ tiêu chảy

- Bình thường hố mắt ở 1 số trẻ có thể hơi trũng (cần hỏi người mẹ để biết)

Khi khát nước, trẻ cần được cho uống nước bằng cốc hoặc thìa, và cha mẹ nên quan sát phản ứng của trẻ Nếu trẻ nuốt nước từng thìa, điều đó cho thấy trẻ đang khát Nếu trẻ khóc và đòi uống khi cốc hoặc thìa nước để trước mặt, điều này cũng cho thấy trẻ rất khát và háo hức uống Ngược lại, khi trẻ không thể nuốt nước, có thể là trẻ không uống được.

Nếp véo da bụng là một phương pháp kiểm tra sức khỏe đơn giản Để thực hiện, trẻ cần nằm ngửa với chân duỗi thẳng Người thầy thuốc sẽ dùng ngón tay cái và tay trỏ để véo da ở vị trí giữa rốn và thành bụng theo chiều dọc cơ thể Sau khi nhấc lớp da và tổ chức dưới da lên trong 1 - 2 giây, cần quan sát sự trở lại của nếp véo da Nếu nếp véo da mất nhanh chóng, nghĩa là không còn thấy sau khi buông tay, thì tình trạng sức khỏe tốt Ngược lại, nếu nếp véo da mất chậm (vẫn còn sau

Ngày đăng: 04/05/2021, 08:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w