1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân trồng bông vải ở việt nam (tt)

15 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 322,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng trong đó, vấn đề hoàn thiện mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân trồng bông vải vẫn là khâu trọng yếu để giúp cho ngành sản xuất chế biến bông vải nước

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Ngành sản xuất bông vải Việt Nam, cũng như các ngành sản xuất chế biến sản phẩm nông nghiệp khác, rất cần thiết phải bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định, đủ số lượng và chất lượng phù hợp với nhu cầu sản xuất Nghị

quyết Đại hội đại biểu tòan quốc lần thứ IX đã chỉ rỏ “ Tăng cường đầu tư hiện đại hóa một số khâu sản xuất, tập trung đầu tư sản xuất sợi, dệt, thuộc da; chú trọng phát triển nguồn bông và khai thác nguồn da các lọai, tăng phần sản xuất trong nước”[10,282]

Về mặt thực tiển, trong thời kỳ đổi mới kinh tế từ năm 1986 đến nay, ngành sản xuất bông vải Việt Nam đã đạt được một số thành tựu bước đầu về

mở rộng diện tích, nâng cao năng suất và sản lượng, đưa ngành bông vải từ một ngành sản xuất mang tính chất thử nghiệm thành một ngành sản xuất hàng hoá mà có lúc đã bảo đảm cung cấp 10% nhu cầu bông xơ cho ngành công nghiệp dệt may nước ta Quyết định số 17/2002/QĐ-TTg ngày 21 tháng

10 năm 2002 của Thủ tướng chính phủ về việc định hướng và giải pháp phát

triển cây bông công nghiệp thời kỳ 2001-2010 đã xác định “Đến năm 2005 diện tích đạt khỏang 115.000 ha, sản lượng 80.000 tấn, bảo đảm 50% nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp dệt và đến năm 2010 đạt khỏang 230.000

ha, sản lượng khoảng 180.000 tấn, bảo đảm 70% nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp dệt” [22] Tuy nhiên cho đến nay nhìn chung thực trạng sản xuất kinh doanh của ngành vẫn còn nhiều khó khăn, trãi qua nhiều giai đoạn thăng trầm, không ổn định, qui mô nhỏ, thị phần ít, hiệu quả kinh tế thấp Đặc biệt cho đến thời điểm hiện nay, diện tích, sản lượng bông đang giảm sút, chỉ còn cung cấp được 3,5% cho nhu cầu quốc gia Để giải quyết mâu thuẩn giữa chủ trương với hiện thực nêu trên, cần đẩy mạnh sự phát triển của khoa học công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm đi đôi với việc hoàn thiện

Trang 2

cơ chế chính sách cho phù hợp với cơ chế thị trường là định hướng cơ bản Nhưng trong đó, vấn đề hoàn thiện mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân trồng bông vải vẫn là khâu trọng yếu để giúp cho ngành sản xuất chế biến bông vải nước ta nâng cao khả năng cạnh tranh

từ đó mới có thể đứng vững và phát triển trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

- Tổng quan bông vải Việt Nam của Viện qui hoạch nông nghiệp và

PTNT, Hà Nội, năm 1995 đã nghiên cứu toàn diện vấn đề qui hoạch phát triển ngành và các vấn đề kinh tế, kỷ thuật ngành

- Đề tài nghiên cứu “Thực trạng tổ chức sản xuất bông tại Việt Nam và kiến nghị một số giải pháp để xây dựng mô hình tổ chức trồng bông công nghiệp”của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, thuộc Bộ kế hoạch

đầu tư, Hà nội, tháng 11 năm 2004, đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận

về mô hình sản xuất bông công nghiệp trong cơ chế thị trường

Tuy nhiên trong các đề tài nầy, vấn đề liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân trồng bông chưa được xem xét một cách sâu sắc, toàn diện và có hệ thống.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn là qua nghiên cứu lý luận và thực tiển

để đề xuất phương hướng và giải pháp khả thi về hoàn thiện mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân trồng bông vải

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mô hình kiên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân trồng bông vải

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài về mặt không gian là trên lãnh thổ Việt Nam Phạm vi về mặt thời gian, phần đánh giá thực trạng tập trung từ sau đổi mới kinh tế năm 1986 đến nay Phần kiến nghị phương hướng giải pháp cho đến năm 2015

Trang 3

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

- Cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu đề tài bao gồm: Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và lô gích, phân tích tổng hợp, phương pháp trừu tượng hóa, mô hình hoá, phương pháp tiếp cận hệ thống

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể trong nghiên cứu đề tài bao gồm: Nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực tế, tổng kết thực tiển, phỏng vấn, điều tra xã hội học và phân tích thống kê

6 Dự kiến những đóng góp của luận văn

- Khái quát hoá và làm rỏ một số vấn đề lý luận về mô hình liên kết kinh

tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân ở Việt Nam

- Phân tích làm rỏ thực trạng về mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân trồng bông vải ở Việt Nam

- Đưa ra được một số kiến nghị về phương hướng và giải pháp cơ bản về hoàn thiện mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân trồng bông vải ở Việt Nam

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận,danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiển về mô hình liên kết kinh tế

giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế

biến với nông dân trồng bông vải ở Việt Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện mô hình liên kết kinh

tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân trồng bông vải ở Việt Nam

Trang 4

CHƢÔNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ MÔ HÌNH LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN

VỚI NÔNG DÂN Ở VIỆT NAM

1.1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN VỚI NÔNG DÂN Ở VIỆT NAM

1.1.1 Khái niệm và bản chất của liên kết kinh tế và mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân

1.1.1.1.Khái niệm

- Khái niệm liên kết kinh tế: Liên kết kinh tế là sự chủ động nhận thức

và thực hiện mối liên hệ kinh tế khách quan giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế-xã hội nhằm thực hiện mối quan hệ phân công và hợp tác lao động để đạt tới lợi ích kinh tế-xã hội chung

- Khái niệm mô hình liên kết kinh tế: Mô hình liên kết kinh tế là một

hoặc một tập hợp những hình thức, những phương thức, những kiểu của liên kết kinh tế giữa các chủ thể kinh tế

- Khái niệm mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân:Mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân

là mô hình liên kết kinh tế giữa một bên là doanh nghiệp công nghiệp chế

biến nông sản với nông dân là những người sản xuất và cung ứng nông sản nguyên liệu để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu xã hội

1.1.1.2 Bản chất của liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân

Về mặt kinh tế, đó là mối quan hệ liên kết giữa công nghiệp với nông nghiệp; là hai khâu nối tiếp nhau trong quá trình sản xuất và chế biến nông sản phẩm Về mặt chính trị, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân lại là cơ sở vật chất của mối quan hệ liên minh công nhân với nông dân.Về mặt xã hội đó là một trong những cơ sở nền tảng của mối quan hệ giữa nông thôn với thành thị

Trang 5

1.1.2 Những nhân tố tác động và xu hướng vận động của việc hình thành mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân

1.1.2.1 Những nhân tố tác động

+ Nhân tố chế độ kinh tế-xã hội

+ Nhân tố trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

+ Nhân tố đặc điểm ngành nghề, sản phẩm nguyên liệu cụ thể

+ Nhân tố chính trị-xã hội

1.1.2.2 Các xu hướng vận động

Có thể nêu lên ba xu hướng, trong đó có hai xu hướng đối lập nhau, đó

là xu hướng chuyên môn hóa gắn với thương mại hoá, thị trường hoá; xu hướng hợp tác hoá, tập trung hóa gắn với kế hoạch hoá và xu hướng thứ ba mang tính trung gian là sự cùng tồn tại đồng thời của cả hai xu hướng trên

1.1.3 Các loại mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân

Với phương pháp tiếp cận một cách tổng hợp, phù hợp yêu cầu thực tiển

và yêu cầu nghiên cứu mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân, có thể khái quát thành ba mô hình chủ yếu thể hiện liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân đó là:

- Mô hình mua bán thỏa thuận sau thu hoạch;

- Mô hình hợp đồng ràng buộc đầu vụ;

- Mô hình liên kết thông qua chế độ tham dự cổ phần giữa doanh nghiệp chế biến và nông dân

1.2 NỘI DUNG CỦA MÔ HÌNH LIÊN KẾT KINH TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN MÔ HÌNH LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN VỚI NÔNG DÂN Ở VIỆT NAM

1.2.1 Nội dung của mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân

1.2.1.1 Nội dung liên kết kinh tế trong mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân

- Liên kết hợp tác trong tiêu thụ nông sản phẩm

Trang 6

- Chuyển giao tiến bộ kĩ thuật cho nông dân thông qua công tác khuyến nông

- Đầu tư ứng trước vật tư kĩ thuật cho nông dân

1.2.1.2 Hình thức pháp lý cụ thể để thực hiện mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân

Với mô hình mua bán thỏa thuận sau thu hoạch có thể có hai hình thức: hợp đồng mua bán miệng và hợp đồng mua bán bằng văn bản

Với mô hình liên kết hợp đồng ràng buộc đầu vụ hợp đồng kinh tế bằng văn bản được ký kết với nhau từ đầu vụ sản xuất, trước khi nông dân xuống giống Với mô hình liên kết thông qua chế độ tham dự cổ phần giữa doanh nghiệp chế biến và nông dân thì hình thức pháp lý để thực hiện quan hệ liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân bao gồm hai phần:

+ Tư cách cổ đông khi họ mua cổ phiếu của doanh nghiệp hoặc tư cách thành viên HTX khi doanh nghiệp tham gia góp vốn vào HTX sản xuất hoặc dịch vụ nông nghiệp của nông dân và điều lệ của công ty cổ phần hoặc HTX + Hợp đồng kinh tế giao dịch đầu tư, mua bán sản phẩm giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân

1.2.1.3 Cấu trúc tổ chức: các chủ thể và tác nhân của mô hình liên kết

tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân

Tham gia vào việc tổ chức và vận hành các mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân ở nước ta có hai chủ thể chủ yếu là nông dân và doanh nghiệp chế biến, có các chủ thể trung gian là thương nhân, tiểu thương, doanh nghiệp thương mại kinh doanh nông sản và hợp tác xã nông nghiệp của nông dân Ngoài ra còn có sự tham gia của một số tác nhân: Doanh nghiệp thương mại, chính quyền địa phương, đoàn thể quấn chúng, nhà khoa học…

1.2.1.4 Cơ chế vận hành các quan hệ kinh tế trong mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân

Đối với mô hình mua bán thỏa thuận sau thu hoạch, thì cơ chế chi phối quan hệ giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân là cơ chế thị trường

Trang 7

Đối với mô hình liên kết hợp đồng ràng buộc đầu vụ có đặc điểm

về cơ chế đó là: kế hoạch ràng buộc gắn với quan hệ thị trường

Đối với mô hình liên kết thông qua chế độ tham dự cổ phần giữa doanh nghiệp chế biến và nông dân không những cơ chế kế hoạch và thị trường có cơ chế hành chính điều tiết mối quan hệ tổ chức với thành viên

Ngoài các cơ chế chính nêu trên, để vận hành các mối quan hệ khác như giữa doanh nghiệp với các nhà khoa học, với đoàn thể quần chúng còn có cơ chế cơ chế phối hợp đồng thuận trong các mô hình liên kết giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân Nhìn chung xét về mặt kinh tế-kỷ thuật thì doanh nghiệp là trung tâm của các quan hệ liên kết giữa các chủ thể và các tác nhân tham gia vào quá trình liên kết Nhưng xét về mặt tổ chức quản lý thì chính quyền địa phương mới là nhân vật trung tâm của cơ chế liên kết trong các mô hình liên kết giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân

1.2.2 Sự cần thiết phải hoàn thiện mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân ở việt nam hiện nay

+ Hoàn thiện mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân để đáp ứng yêu cầu đi lên sản xuất lớn, tích tụ và tập trung sản xuất trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn + Hoàn thiện mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân để nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

+ Hoàn thiện mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân để thực hiện và bảo vệ tốt hơn lợi ích kinh tế của các bên tham gia liên kết

+ Hoàn thiện mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân để thực hiện đa dạng hóa các mô hình liên kết kinh tế

+ Hoàn thiện mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân để nhà nước có điều kiện can thiệp, định hướng phát triển sản xuất bông thông qua giải quyết các mối quan hệ giữa nhà nước với nông dân và doanh nghiệp, giữa công nghiệp với nông nghiệp

Trang 8

1.3 KINH NGHIỆM THỰC TIỂN CỦA CÁC NGÀNH TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI TRONG VIỆC HÌNH THÀNH MÔ HÌNH LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN VỚI NÔNG DÂN

1.3.1 Các kinh nghiệm cụ thể

Ngành mía đường Việt Nam là ngành tích cực thực hiện mô hình ký kết

hợp đồng đầu tư ứng trước vật tư, hướng dẩn kỷ thuật trồng và chăm sóc mía cho nông dân sản xuất và mua lại sản phẩm

Ngành điều : cơ chế thị trường chi phối hầu như hòan tòan sự phát triển

của nó Các doanh nghiệp mua nguyên liệu của nông dân thông qua đội ngũ tiểu thương, chủ vựa mua gom sản phẩm của nông dân và mô hình mua bán thoả thuận sau thu hoạch trở thành phổ biến trong ngành điều

Với ngành thuốc lá, phương thức hợp đồng ràng buộc với nông dân

trồng thuốc lá sợi vàng, thị trường mua bán nguyên liệu thuốc lá mang nhiều tính độc quyền

Trung quốc đã thực hiện tự do hóa thị trường bông nội địa nhưng Nhà

nước lại thực hiện bảo hộ sản xuất bông trong nước bằng chính sách hạn ngạch thuế quan, trong bối cảnh đó ở Trung quốc cả hai mô hình hợp đồng và mua bán thoả thuận đều phát triển trong ngành bông

1.3.2 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiển

+ Lợi ích, lòng tin là những yếu tố cần được đáp ứng để xây dựng thành công mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân

+ Thị trường và pháp luật là hai nhân tố môi trường nền tảng để xây dựng thành công mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân

+ Sự đa dạng trong mô hình liên kết kinh tế là cần thiết cho quá trình phát triển quan hệ liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân

Trang 9

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG MÔ HÌNH LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN VỚI NÔNG DÂN TRỒNG BÔNG VẢI

Ở VIỆT NAM

2.1 ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CỦA NGÀNH BÔNG VẢI CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH QUAN HỆ LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN VỚI NÔNG DÂN TRỒNG BÔNG

2.1.1.Đặc điểm của sản phẩm và tình hình sản xuất bông vải ở Việt Nam

Cây bông vải là một loại cây công nghiệp ngắn ngày, sản phẩm có tính chuyên dụng cao, gắn liền với công nghiệp chế biến Ngành sản xuất bông vải

ở Việt Nam là một ngành sản xuất vừa có tính truyền thống lại vừa là ngành sản xuất mới Gắn liền với đặc điểm là ngành sản xuất mới, cộng với sự không thuận lợi về điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, nên ngành bông vải ở nước

ta đang ở trong tình trạng quy mô nhỏ và phân tán Sản xuất bông rủi ro lớn hơn nhiều cây trồng khác

2.1.2.Đặc điểm của nông dân trồng bông vải ở Việt Nam

Về qui mô và điều kiện sản xuất bông vải của nông dân ở nước ta hiện nay có số lượng rất nhỏ, đại bộ phận là nông dân nghèo và thường thiếu vốn

và kĩ thuật sản xuất Về quan hệ giữa nông dân với doanh nghiệp, nông dân trồng bông với tư cách là người sản xuất họ luôn mong muốn và đòi hỏi sự đảm bảo chắc chắn và ổn định cao của doanh nghiệp về đầu tư các yếu tố đầu vào cho sản xuất của họ, nhưng khi thu hoạch sản phẩm, với tư cách là người tiêu thụ hàng hóa họ lại mong muốn được bán sản phẩm theo cơ chế thị trường tự do.Trình độ văn hóa thấp và chưa quen với các hình thức quan hệ kinh tế thông qua hợp đồng bằng văn bản nên họ dễ phản ứng tiêu cực với với các thủ tục hành chính Nông dân rất ghét sự thiếu công bằng trong quan hệ ứng xử của doanh nghiệp Tâm lý cộng đồng là một yếu tố cần được tính đến trong mối quan hệ với nông dân

Trang 10

2.1.3 Đặc điểm của doanh nghiệp chế biến bông vải ở Việt Nam

Về kinh tế- kỷ thuật, công nghiệp chế biến từ bông hạt ra bông xơ mang tính tập trung, công nghệ không quá phức tạp nhưng lại đòi hỏi vốn đầu tư khá lớn, phân bố rất phân tán ,công suất chế biến phần lớn của các nhà máy chỉ mới đạt 20-25% Vì vậy cơ sở chế biến bông cũng cần phải có mối quan

hệ liên kết kinh tế chặt chẽ, ổn định với nông dân trồng bông để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho sản xuất

2.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH MÔ HÌNH LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN VỚI NÔNG DÂN TRỒNG BÔNG VẢI Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

Quá trình phát triển của ngành bông vải ở nước ta từ xưa đến nay có thể khái quát thành 3 kiểu tổ chức sản xuất:

- Sản xuất bông vải theo kiểu tự cung tự cấp thời kỳ phong kiến và một

số vùng dân tộc thiểu số hiện nay

- Sản xuất bông tập trung ở nông trường quốc doanh trong thời kỳ kinh

tế kế hoạch hóa, trước năm 1990

- Sản xuất bông của hộ nông dân còn gọi là “Mô hình trồng bông nhân dân” sau khi có khóan 10 và đổi mới kinh tế từ 1990 đến nay mới thật sự hình thành

những mô hình liên kết giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân trồng bông

2.3 HIỆN TRẠNG MÔ HÌNH LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN VỚI NÔNG DÂN TRỒNG BÔNG VẢI Ở VIỆT NAM

Hiện nay, việc sản xuất, chế biến và tiêu thụ bông vải nội địa ở nước ta

có hai loại mô hình chủ yếu mô hình hợp đồng ràng buộc đầu vụ và mô hình mua bán thỏa thuận sau thu hoạch Riêng mô hình tham dự cổ phần chưa có ở ngành bông vải Việt Nam

2.3.1 Về nội dung cơ bản của liên kết

- Liên kết hợp tác trong tiêu thụ sản phẩm bông hạt

- Chuyển giao tiến bộ kĩ thuật trồng bông cho nông dân thông qua công tác khuyến nông

- Đầu tư ứng trước vật tư kĩ thuật cho nông dân trồng bông

Ngày đăng: 04/05/2021, 07:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w