1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện tổ chức phân tích với việc tăng cường hiệu lực của kiểm toán nội bộ trong cách doanh nghiệp xây lắp (tt)

27 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 574,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ giữa tổ chức phân tích và hiệu lực kiểm toán nội bộ Những nghiên cứu khác nhau về hiệu lực KTNB đã được thực hiện thường tập trung và các quá trình KTNB, kết quả và mục tiêu của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN



NGUYỄN THỊ ĐÀO

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC PHÂN TÍCH

VỚI VIỆC TĂNG CƯỜNG HIỆU LỰC CỦA KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Phú Giang

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận án cấp Trường họp tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Vào hồi: 1h30 phút, ngày 25 tháng 12 năm 2014

Có thể tìm hiểu Luận án tại:

- Thư viện Quốc gia

- Thư viện Trường Đại học Kinh tế Quôc dân

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Nếu như kiểm toán nội bộ (KTNB) được hình thành và phát triển khá sớm trên Thế giới thì loại kiểm toán này lại xuất hiện khá muộn ở nước ta KTNB chỉ chính thức xuất hiện và được công nhận trên các văn bản pháp lý vào năm 1997 Trong quá trình phát triển, KTNB đã phần nào đóng góp vào sự phát triển của quản

lý nói chung nhưng đã bộc lộ những vấn đề ảnh hưởng tới hiệu lực kiểm toán Điều này thể hiện trong hoạt động KTNB ở nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau trong

đó có lĩnh vực xây lắp – Một trong những lĩnh vực có hoạt động KTNB phát triển

và cũng là hoạt động sản xuất phức tạp Tại các doanh nghiệp xây lắp (DNXL) nước

ta, KTNB xuất hiện ở những DNXL có qui mô lớn là các tổng công ty (TCT) hoặc các tập đoàn Mặc dù có những đóng góp quan trọng trong quản lý nhưng KTNB đã bộc lộ những vấn đề ảnh hưởng tới hiệu lực kiểm toán như thực hiện chức năng kiểm toán hạn chế, không đáp ứng được kỳ vọng của nhà quản lý,…điều này đặt ra vấn đề nhận diện vấn đề kiểm toán và giải quyết những vấn đề phát sinh trong kiểm toán Phân tích được nhắc tới như một công cụ giúp KTNB giải quyết các vấn đề

trên Bởi vậy, NCS đã lựa chọn Đề tài “Hoàn thiện tổ chức phân tích với việc

tăng cường hiệu lực của kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp xây lắp”

Trên thế giới và trong nước đã có một số nghiên cứu khác nhau liên quan tới thiết kế và vận dụng thủ tục phân tích (TTPT) trong kiểm toán nói chung, đặc biệt là gắn với loại hình kiểm toán tài chính chủ yếu do kiểm toán độc lập thực hiện Những công trình nghiên cứu cho thấy chưa có công trình nghiên cứu nào dưới góc

độ lý thuyết hoặc thực hành nghiên cứu về tổ chức phân tích gắn với việc tăng cường hiệu lực của KTNB, đặc biệt là trong những TCT xây dựng (TCTXD) Việt Nam Do đó, mục tiêu nghiên cứu của Luận án là tìm ra cách thức ảnh hưởng của tổ chức phân tích tới hiệu lực của KTNB trong các TCTXD Việt nam đồng thời đánh giá ảnh hưởng này trong điều kiện tại những đơn vị khảo sát Đặc biệt, Tác giả sẽ

xây dựng một mô hình phân tích nhằm tăng cường hiệu lực KTNB trong các TCTXD Việt Nam Với mục tiêu như vậy, đối tượng nghiên cứu của Luận án là tổ chức phân

tích trong kiểm toán do KTVNB thực hiện Luận án chỉ xem xét những vấn đề nảy

sinh khi tổ chức phân tích trong qui trình KTNB tại những DNXL có qui mô lớn là những TCTXD hoặc tập đoàn xây dựng của Việt Nam trong giai đoạn từ 2008-2012

Tác giả sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu của Luận án theo qui trình thực hiện một cuộc KTNB với đầy đủ 4 giai đoạn trong Sơ đồ 1.A dưới đây

Trang 4

Luận án sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh và đánh giá trên cơ sở một mô hình áp dụng TTPT trong quá trình kiểm toán đối với dữ liệu thu thập được

Tác giả phát triển lý luận về một mô hình tổ chức phân tích được vận dụng trong qui

trình KTNB nhằm đạt được hiệu lực kiểm toán

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC PHÂN TÍCH VỚI HIỆU LỰC

CỦA KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

1.1 Khái quát về tổ chức phân tích

1.1.1 Bản chất của phân tích

Phân tích kinh tế là một công cụ của quản lý kinh tế nhằm “mổ xẻ”, tổng hợp

và đánh giá các hiện tượng kinh tế xã hội phát sinh nhằm hình thành các giải pháp có căn cứ và hiệu quả nhằm hoàn thiện hoạt động của các cấp quản lý khác nhau trong nền kinh tế quốc dân

1.1.2 Nội dung và phương pháp của phân tích trong doanh nghiệp

Nọ i dung chủ yếu của phân tích kinh tế là các hi n tu ợng, các quá trình kinh doanh đã hoặc sẽ xảy ra trong các đo n vị, bọ phạ n và doanh nghi p

du ới sự tác đọ ng của các nhân tố chủ quan và khách quan Các hi n tu ợng, các quá trình kinh doanh đu ợc thể hi n bằng một kết quả hoạt động kinh doanh cụ thể đu ợc biểu hi n bằng các chỉ tiêu

Phương pháp phân tích là tổng hợp các phương thức hay cách thức cần thiết

để nghiên cứu đối tượng phân tích, cho phép thực hiện mục tiêu phân tích xác định Phương pháp phân tích kinh tế là phương sách nghiên cứu một cách tổng hợp và toàn

diện các hoạt động kinh tế, diễn biến tình hình và kết quả của chúng nhằm đánh giá đúng đắn và khách quan kết quả hoạt động, vạch ra được các nguồn dự trữ hiện có

1.1.3 Tổ chức phân tích trong doanh nghiệp

Tổ chức phân tích là hướng tới việc tạo ra một mối liên hệ tối ưu trên cơ sở khoa học và nghệ thuật trong phân tích phù hợp với từng đối tượng phân tích cụ thể

Kết thúc kiểm toán và lập báo cáo

Kiểm tra việc thực hiện kiến nghị kiểm toán

KẾT LUẬN VỀ HIỆU LỰC KIỂM TOÁN TRONG QUAN HỆ VỚI

Trang 5

Tổ chức phân tích trong doanh nghiệp thường phụ thuộc vào đặc thù sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp, vào loại hình sản xuất kinh doanh, vào đặc điểm và điều kiện kinh doanh ở mỗi doanh nghiệp

1.2 Tổ chức công tác kiểm toán nội bộ và vai trò của phân tích

Trên thế giới, KTNB phát triển từ rất sớm, từ những năm 1900 [86] Quan điểm được sử dụng phổ biến cho rằng, “ KTNB là một hoạt động độc lập, đảm bảo các mục tiêu và các hoạt động tư vấn, được thiết kế để gia tăng giá trị và cải thiện các hoạt động của một tổ chức KTNB giúp cho tổ chức thực hiện các mục tiêu của mình bằng một cách tiếp cận hệ thống, nguyên tắc để đánh giá và cải thiện hiệu năng trong quản lý rủi ro, hoạt động kiểm soát và các quá trình quản lý” 89, tr.725 Trình tự tổ chức công tác KTNB trong doanh nghiệp theo Sơ đồ 1.1

Phân tích hay thủ tục phân tích (TTPT) hay qui trình phân tích là một trong những thủ tục kiểm toán cơ bản TTPT trong KTNB trợ giúp cho kiểm toán viên (KTV) trong lập kế hoạch, thực hiện kiểm toán hiệu lực

Tổ chức phân tích qua quy trình hoặc TTPT được sử dụng trong KTNB với nội dung, phương pháp, phạm vi thực hiện,… được khái quát trong Sơ đồ 1.2 sau đây

1.3 Tổ chức phân tích tác động tới hiệu lực kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp

1.3.1 Quan hệ giữa tổ chức phân tích và hiệu lực kiểm toán nội bộ

Những nghiên cứu khác nhau về hiệu lực KTNB đã được thực hiện thường tập trung và các quá trình KTNB, kết quả và mục tiêu của KTNB Quan hệ giữa hiệu lực KTNB và TTPT thể hiện trong Sơ đồ 1.3

Bước 1: Lập kế hoạch kiểm toán nội bộ Bước 2: Thực hiện kế hoạch kiểm toán nội bộ Bước 3: Lập báo cáo kiểm KTNB Bước 4: Kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm toán

Sơ đồ 1.1 Quy trình của một cuộc KTNB

Bước 1 Phát triển một mô hình phân tích

Bước 2 Xem xét tính độc lập và độ tin cậy của dữ liệu

Bước 3 Ước tính giá trị và so sánh với giá trị ghi nhận

Bước 4 Phân tích nguyên nhân chênh lệch

Bước 5 Xem xét những phát hiện

Sơ đồ 1.2 Tổ chức thủ tục/quy trình phân tích

Trang 6

1.3.2 Phát triển mô hình tổ chức phân tích hướng tới tăng cường hiệu lực kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp

Thứ nhất: Phân tích trong lập kế hoạch chiến lược hướng vào rủi ro, được

Khái quát trong Sơ đồ 1.4 dưới đây

Lập kế hoạch kiểm toán hướng vào rủi ro cần phát triển theo mô hình từ kế hoạch chiến lược đến kế hoạch tổng thể và đến chương trình kiểm toán - Sơ đồ 1.5

Chính sách kiểm toán

Các kế hoạch kinh doanh

Các mục tiêu của tổ chức

Đánh giá những ưu tiên đối với rủi ro Nguồn lực cho những khu vực ưu tiên

Kế hoạch kiểm toán chiến lược

Kế hoạch kiểm toán hàng năm

Dự toán kiểm

toán

Kế hoạch kiểm toán hàng quý Báo cáo các mục tiêu dự kiến Khảo sát ban đầu

Kiểm toán

Kế hoạch cụ thể

Sơ đồ 1.4 Mô hình chung lập kế hoạch KTNB dựa vào đánh giá rủi ro

Vận dụng thủ tục phân tích trong các giai đoạn như thế nào?

- Phân tích để nhận diện rủi ro của khách thể kiểm toán

- Phân tích để nhận diện rủi ro gắn với đối tượng cụ thể

- Kết hợp với thủ tục khác

- Phân tích tính hợp lý tổng thể trước khi đưa ra ý kiến

Lập kế hướng vào

rủi ro Thực hiện kiểm toán tổng thể

Lập báo cáo kiểm toán hướng tới người sử dụng

Sơ đồ 1.3 Ảnh hưởng của phân tích tới hiệu lực kiểm toán nội bộ

Trang 7

Mối quan hệ trong xác định mục tiêu được khái quát theo Sơ đồ 1.6

Áp dụng cách tiếp cận để phân tích theo mô hình phân tích từ trên xuống khái

quát trong Sơ đồ 1.7

Sơ đồ 1.5 Quy trình lập kế hoạch kiểm toán chiến lƣợc

Những thủ tục hiện có

Kế hoạch chiến lược được yêu cầu

Các mục tiêu của tổ chức Chiến lược của tổ chức Đánh giá rủi ro đơn vị

Những kết quả kiểm toán theo yêu cầu – Mục tiêu

Đánh giá

Phân tích theo mô hình PESTL và

SWOT Khoảng cách chiến lược

Thực hiện

Những nguồn lực

hiện có

Các mục tiêu của tổ chức Mục tiêu kiểm toán của mỗi bộ phận kiểm toán Mục tiêu kiểm toán mỗi dịch vụ kiểm toán Mục tiêu kiểm toán cho từng KTV

Sơ đồ 1.6 Những mức độ của mục tiêu kiểm toán

Phân tích rủi ro chiến lƣợc Rủi ro KD chiến lƣợc

Phân tích sự đe dọa từ bên ngoài

Phân tích rủi ro còn lại Rủi ro cần quan tâm và áp dụng

Sơ đồ 1.7 Mô hình phân tích chiến lƣợc xác định mục tiêu kiểm toán

Trang 8

(1) Đối với phân tích rủi ro chiến lƣợc của đơn vị: Phân tích hướng tới giúp KTV

xác định được vị trí của tổ chức trong quan hệ với các bộ phận/tổ chức bên ngoài, kể

cả các cổ đông của công ty đồng thời xác định những mối đe dọa hoặc rủi ro đối với

sự thành công của tổ chức xuất phát từ bên ngoài Để phân tích rủi ro chiến lược, KTV cần xuất phát từ các yếu tố của hệ thống kinh tế trong một tổ chức KTV sẽ sử dụng mô hình phân tích chiến lược 5 thế thực cạnh tranh (Five Forces) và mô hình PESTL để nhận diện và đánh giá rủi ro chiến lược - Sơ đồ 1.8

(2) Đối với phân tích rủi ro kinh doanh từ các quá trình nội bộ: Phân tích

để nhận diện và từ đó đánh giá những rủi ro kinh doanh trên cơ sở các quá trình nội

bộ - Sơ đồ 1.9

Bảng Số 1.1 dưới đây trình bày những chỉ số phân tích sử dụng để nhận diện,

đo lường và đánh giá rủi ro trong các quá trình nội bộ

Bảng Số 1.1 Phân tích sự đe dọa trong nội bộ Những rủi ro

phối hợp chiến

lược

- Tóm tắt nhiệm vụ, chiến lược

và kế hoạch kinh doanh

Sơ đồ 1.8 Phân tích sự đe dọa đối với hoạt động kinh doanh của tổ chức

Sơ đồ 1.9 Phân tích rủi ro các quá trình

Rủi ro hoạt động Rủi ro công nghệ

Rủi ro thông tin

Rủi ro lập KH tài chính

Rủi ro quá trình

Rủi ro nguồn nhân lực Rủi ro lãnh đạo Rủi ro về tính

liêm chính Rủi ro tuân thủ

Trang 9

- Quá trình phát triển sản phẩm - Thái độ của khách hàng Thất bại trong

việc ngăn ngừa

sự đe dọa

- Giám sát chủ động bởi hội đồng giám đốc

- Giám sát các đối thủ cạnh tranh

- Giám sát môi trường bên ngoài

- Sự thay đổi trong thị phần

- So sánh với các đối thủ cạnh tranh

- Thay đổi trong doanh thu và chi phí theo thời gian

Thiếu linh hoạt - Cấu trúc khuyến khích thích

hợp

- Đào tạo

- Thay đổi quản trị

- Chu kỳ thời gian đối với những thay đổi về sản phẩm hoặc quá trình

- Chi phí thay đổi

- Thái độ nhân viên Thiếu sự phối

- Phản ánh và đề xuất của nhân viên

- Thái độ nhân viên Giá trị cho cổ

đông không

thích hợp

- Cung cấp thông tin cho phân tích

- Kế hoạch mua lại cổ phiếu

- Giá trị trường của vốn chủ sở hữu

- Tỷ suất giá trên lợi nhuận mỗi cổ phiếu

- Phân tích tỷ lệ

Kế hoạch kiểm toán có thời gian xác định thường xác lập các cuộc kiểm toán

sẽ thực hiện trong một khoảng thời gian xác định như là một công việc cơ bản của chức năng KTNB - Sơ đồ 1.10

Phân tích được sử dụng trong kế hoạch kiểm toán cụ thể hay trong những hướng dẫn kiểm toán gắn với những phần hành cụ thể (trong bước lập kế hoạch) Nếu phân chia theo đối tượng/phần hành/hoạt động được kiểm toán cụ thể gắn với nhiệm

vụ và trong lập kế hoạch, TTPT được vận dụng cụ thể trên cơ sở phân tích xu hướng, phân tích tỷ suất và phân tích theo mô hình

Thứ hai: Phân tích trong thực hiện kiểm toán mang tính hệ thống Phân

tích cần cụ thể hóa theo hướng kiểm toán các hệ thống trên cơ sở rủi ro – Sơ đồ 1.11, là: (1) xem xét các hoạt động như các hệ thống, các yếu tố của một hệ thống, những

hệ thống thành phần, những hệ thống song song và những hệ thống mẹ; (2) Thực hiện

cách tiếp cận mang tính hệ thống vào thực hiện những nội dung kiểm toán cụ thể

Chiến lược kiểm toán Nguồn lực

Các kế hoạch kiểm toán theo thời

gian xác định

Sơ đồ 1.10 Quan hệ giữa chiến lược và các kế hoạch kiểm

toán theo thời gian xác định

Phương pháp

Kế hoạch KD

Trang 10

Thứ ba: Phân tích trong giai đoạn lập báo cáo kiểm toán và kiểm tra thực

hiện kiến nghị kiểm toán hướng tới người sử dụng TTPT sử dụng ở giai đoạn này

nhằm trợ giúp cho KTV trong việc đánh giá tính hợp lý của những thủ tục đã thực

hiện, bằng chứng kiểm toán đã thu thập được có đầy đủ và thích hợp cho việc ra

quyết định hay không đồng thời đánh giá tính hợp pháp của các kết luận được KTV

đề xuất kể cả ý kiến kiểm toán về những vấn đề cụ thể trong một cuộc KTNB

1.3.3 Đặc điểm của doanh nghiệp xây lắp ảnh hưởng tới tổ chức phân tích trong

kiểm toán nội bộ

Tại mỗi quốc gia, việc phân chia ngành có những điểm khác biệt ảnh hưởng tới

cách thức phân tích và xem xét hoạt động của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực

đó Đặc điểm của DNXD sẽ ảnh hưởng tới tổ chức phân tích trong KTNB, từ đó ảnh

hưởng tới hiệu lực của kiểm toán

Thứ nhất: Những đặc điểm chung của Ngành ảnh hưởng tới KTNB

Thứ hai: Sự phức tạp trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp xây lắp

1.4 Kinh nghiệm tổ chức phân tích nhằm tang cường hiệu lực của kiểm toán nội

bộ của một số nước trên thế giới

Những bài học kinh nghiệm cho KTNB: Thứ nhất: Phân tích được thực hiện

trong mọi giai đoạn của cuộc kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp; Thứ hai: Nội

dung phân tích theo nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ; Thứ ba: Phân tích được qui

định trong chuẩn mực và các qui định có liên quan; Thứ tư: Vận dụng phương

pháp phân tích thay đổi theo phương pháp tiếp cận các mục tiêu

Kế hoạch kiểm toán cụ thể

Tìm hiểu hệ thống và những rủi ro Đánh giá hoạt động kiểm soát

Phân tích các phát hiện đơi với rủi ro còn lại

Trang 11

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC PHÂN TÍCH VỚI HIỆU LỰC KIỂM TOÁN NỘI

BỘ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP DỰNG VIỆT NAM

2.1 Đặc điểm chung của các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam ảnh hưởng tới tổ chức phân tích trong kiểm toán nội bộ

2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển của các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam với

sự hình thành và phát triển của kiểm toán nội bộ

Qua chặng đường hơn 50 năm liên tục phát triển, Ngành Xây dựng đã góp phần

to lớn vào việc hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước, từng bước đổi mới, phát triển và hội nhập với khu vực và quốc tế Đáp ứng nhu cầu lớn trong lĩnh vực XL của nền kinh tế, qui mô các DNXL Việt Nam đang tăng lên một cách nhanh chóng về số lượng và qui mô doanh nghiệp Theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2005[41], loại hình TCT do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập bằng việc gom đầu mối mà chưa dựa vào sự liên kết kinh tế tự nguyện của các đơn vị thành viên và TCT nhà nước lại được phân thành hai loại: các TCT được thành lập theo Quyết định 90/TTg ngày 7/3/1994 (gọi tắt là TCT 90)[10] và TCT được thành lập theo Quyết định 91/TTg ngày 7/3/1994 (gọi tắt là TCT 91) [11] của Chính phủ Đến tháng 6 năm

2012 số TCT (được thành lập theo Quyết định 90/TTg và Quyết định 91/TTg ngày 07/03/1994, đã được chuyển đổi mô hình) có 87 TCT 90 và 21 TCT 91 Trong số các TCT này có 34 TCT đang hoạt động trong lĩnh vực XL chủ yếu do Bộ Xây dựng và

Bộ Giao thông Vận tải quản lý Sau này một số TCT đã được chuyển đổi theo mô hình Công ty TNHH Một thành viên hoặc mô hình công ty m -con

Ở giai đoạn trước năm 1996, ở Việt Nam chưa có bất cứ một văn bản pháp lý chính thức nào về tổ chức hệ thống KSNB cũng như hệ thống KTNB Cuối năm

1996, trên cơ sở Luật Ngân sách, Chính phủ đã ban hành Nghị định 199/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 “Ban hành qui chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác”[13] tạo hành lang pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của KTNB Trên cơ sở Nghị định 59/1996/NĐ-CP[14], Bộ Tài chính ra Quyết định Số 832/TC/QĐ/CĐKT (ngày 28/10/1997) ban hành “Quy chế KTNB” [6], mô hình tổ chức bộ phận KTNB [4], [5] Sau năm 1997, KTNB được tổ chức trong hiều doanh nghiệp có qui mô lớn, trong đó có các TCTXD Việt Nam Trong các DNXL Việt Nam, KTNB được tổ chức chủ yếu trong các TCT 90 Kết quả khảo sát ban đầu trước nghiên cứu chuyên sâu cho thấy có 8 TCTXD tổ chức KTNB Sự thay đổi của môi trường kinh doanh đặt ra yêu cầu quản lý thay đổi và KTNB xuất hiện Với sự thay đổi không ngừng của DNXL đòi hỏi KTNB có những thay đổi đáp ứng những yêu cầu mới

2.1.2 Đặc điểm ngành nghề xây lắp ảnh hưởng tới tổ chức phân tích trong kiểm

toán nội bộ tại các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam

Đặc điểm hoạt động của DNXL Việt Nam ảnh hưởng tới tổ chức KTNB theo hai

Trang 12

nhóm đặc điểm: (I) Đặc điểm Ngành Xây dựng, cần quan tới các đặc điểm cụ thể như:

Một là, Về mô hình tổ chức đa dạng; Hai là, Sự cạnh tranh giữa các DNXL không ngừng tăng lên khi số lượng những dự án, công trình có xu hướng giảm vì sự tác động

từ những chính sách của các chỉnh phủ và của nền kinh tế vĩ mô chưa thoát khỏi khủng hoảng kinh tế toàn cầu; Ba là, Ngành Xây dựng nói chung rất nhậy cảm với sự thay đổi trong điều kiện kinh tế; Bốn là, Phản ứng của DNXL đối với những tình huống xấu; Năm là, Những qui định và chính sách của chính phủ; Sáu là, Ảnh hưởng của thị trường tài chính và bất động sản; Bẩy là, Vấn đề mở rộng phạm vi hoạt động ra nước ngoài; Tám là, Xu hướng hợp nhất, sáp nhập; Chín là, Vấn đề giảm chi phí và cải thiện hoạt động; (II) Đặc điểm DNXL Việt Nam, cần quan tâm tới đặc điểm cụ thể như: Một là, Hoạt động sản xuất phân tán; Hai là, Sản phẩm của các DNXL thường là những loại sản phẩm đặc biệt; Ba là, Hoạt động XL phải tuân thủ nghiêm ngặt hệ thống các tiêu chuẩn, qui trình; Bốn là, Hoạt động XL nói chung cần có sự đầu tư lớn về vốn; Năm là, Vấn đề sử dụng nguồn lực lãng phí, ô nhiễm môi trường,…Phân tích những đặc điểm

của hoạt động và của sản phẩm XL, nhà quản lý cần phải quan tâm tới các yếu tố khác nhau của tổ chức KTNB nhằm hướng tới một hoạt động kiểm toán hiệu lực tại các DNXL Việt Nam gồm: (1) KTNB là phương sách quản lý cần thiết để giúp nhà quản lý xác định những vấn đề có thể ảnh hưởng tới mục tiêu của doanh nghiệp; (2) Sự phức tạp,

đa dạng và biến động trong các hoạt động trong DNXL nước ta đặt ra cho KTNB những yêu cầu mới; KTNB phải đối mặt với nhiều loại vấn đề hơn

2.1.3 Đặc điểm tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh ảnh hưởng tới tổ chức phân tích trong kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam

Với hoạt động quản lý sản xuất trong các DNXL Việt Nam có thể khái quát những đặc điểm cơ bản sau đây ảnh hưởng tới yêu cầu đối với KTNB và khả năng

đáp ứng của bộ phận này cũng như những vấn đề đang đặt ra: Một là, Vấn đề mô hình

tổ chức của DNXL; Hai là, DNXL trực thuộc nhiều bộ ngành quản lý khác nhau;Ba

là, Phương thức quản lý phổ biến trong các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam là giao khoán theo công trình, khối lượng công việc Nhận diện những rủi ro trong qui trình

nội bộ nói chung và trong qui trình khoán công việc tại các DNXL nói riêng là ưu tiên của nhà quản trị Không chỉ có vậy, KTNB có thể giúp nhà quản trị cấp cao cải thiện qui trình hiện tại nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quá trình kinh doanh Đây cũng là kỳ vọng của nhà quản trị doanh nghiệp với KTNB

2.2 Tình hình tổ chức phân tích trong kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam

2.2.1 Khái quát chung về tổ chức công tác kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam

Bước 1, Lập kế hoạch kiểm toán: Lập kế hoạch kiểm toán trong thực hiện

KTNB ở các TCTXD đều được qui định trong qui chế KTNB ngay cả đối với những TCT có bộ phận KTNB nhưng chưa có qui chế KTNB Tuy nhiên trên thực tế việc lập kế hoạch sẽ dừng lại ở các bước công việc mang tính tổng quát Chương trình

Trang 13

kiểm toán đối với báo cáo tài chính thường được KTVNB thực hiện trên cơ sở kinh nghiệm kiểm tra đối với các khoản mục Tuy nhiên, việc lập kế hoạch và thiết kế chương trình kiểm toán còn hạn chế

Bước 2, Thực hiện kế hoạch kiểm toán: Bước này KTV thực hiện kiểm toán

theo kế hoạch và chương trình kiểm toán đã lập, các bộ phận hoặc tổ KTNB không thực hiện lập chương trình kiểm toán, kiểm toán dựa trên kinh nghiệm kết hợp với những thông tin từ hồ sơ kiểm toán năm trước và thông tin thu thập được ban đầu Quá trình thực hiện cũng có nhiều điểm chung: Một là, thực hiện kiểm toán theo phần hành gắn với những nội dung kiểm toán tài chính như TSCĐ, doanh thu, chi phí,…; Hai là, mang tính kinh nghiệm; Ba là, chủ yếu chỉ xem xét lại những hồ sơ kiểm toán, những tài liệu hạch toán mà không vận dụng những phương pháp kiểm toán thiếu đa dạng, chưa thích hợp với đối tượng kiểm toán; Bốn là, thực hiện kiểm toán lặp đi lặp lại, không có những thay đổi

Bước 3, Kết luận và Lập báo cáo kiểm toán: Các báo cáo KTNB do KTVNB

của TCTXD lập trình bày theo hướng mô tả chi tiết phát hiện, kết luận của KTV theo trình tự với trình bày các khoản mục trên báo cáo tài chính

Bước 4, Theo dõi việc thực hiện kết luận kiểm toán: Kết quả khảo sát rất thấp

cho thấy công việc này dường như không được thực hiện hoặc không được thực hiện một cách hệ thống

2.2.2 Thực trạng tổ chức phân tích trong kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp

xây lắp Việt Nam

Phân tích được nghiên cứu theo giai đoạn:

Thứ nhất: Phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán Trong các loại

kế hoạch kiểm toán đã lập tại TCTXD, phân tích đã xuất hiện Tuy nhiên, đặc điểm

được nhận diện ở trong bước công việc này là: Một là, Phân tích gần như không tham

gia vào việc xác định mục tiêu của các loại kế hoạch kiểm toán khác nhau, từ kế hoạch chiến lược, kế hoạch kiểm toán tổng quát tới kế hoạch kiểm toán chi tiết; Hai

là, Phân tích không tham gia vào việc xác định và phân bổ các nguồn lực cho một cuộc kiểm toán liên quan tới thời gian và phân công nhân viên kiểm toán; Ba là, Sự xuất hiện của phân tích trong kế hoạch kiểm toán chi tiết đơn giản, phương pháp sử dụng và phạm vi sử dụng hạn chế gắn với một số chỉ tiêu trên báo cáo tài chính phổ biến như TSCĐ, doanh thu, chi phí nhân công, giá vốn công trình/hạng mục công trình; Bốn là, Không xác định được những vấn đề ưu tiên trong KTNB Phân tích trên

đây cũng cho thấy, KTNB lập kế hoạch không hướng vào những gì nhà quản lý cần

Điều này ảnh hưởng tới việc đạt được mục tiêu của KTNB cũng như thỏa mãn kỳ

vọng của nhà quản lý đối với KTNB; Thứ hai: Phân tích trong giai đoạn thực hiện

kế hoạch kiểm toán KTNB thực hiện gắn với 2 lĩnh vực chính là kiểm tra độ tin cậy

thông tin tài chính, kiểm toán tuân thủ bao gồm cả xem xét hoạt động kiểm soát Một

là, Đối với kiểm toán tài chính: KTVNB thực hiện kiểm tra theo các khoản mục trên

Ngày đăng: 04/05/2021, 07:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w