Xuất phát từ những yêu cầu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu lực một số loại thuốc điều trị bệnh cho gia súc, gia cầm do công ty cổ phần thuốc thú y Đức Hạnh Mar
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính Quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 – 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính Quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 – 2017 Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thu Trang
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá tình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học Được sự giúp đỡ, giảng dạy nhiệt tình của các Thầy cô giáo khoa Chăn nuôi - Thú y, Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
đã tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu thực hiện đề tài Nhân dịp hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới:
Ban Giám hiệu Nhà trường, các thầy, cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y cùng tất cả bạn bè đồng nghiệp và người thân đã động viên, tạo điều kiện tốt nhất giúp tôi thực hiện đề tài và hoàn thiện cuốn khóa luận này
Tôi xin cảm ơn tới Công ty cổ phần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet
đã tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của cô giáo
hướng dẫn ThS Nguyễn Thu Trang đã dành nhiều thời gian, công sức
hướng dẫn chỉ bảo tận tình, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành cuốn khóa luận này
Một lần nữa tôi xin gửi tới các Thầy giáo, cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp lời cảm ơn và lời chúc sức khỏe, cùng mọi điều tốt đẹp nhất
Xin trân trọng cảm ơn!
Sinh viên
TRẦN THỊ THÙY TRANG
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng của quá trình đào tạo tại trường Đây là giai đoạn sinh viên tiếp xúc với thực tiễn, củng cố lại những kiến thức đã học trên giảng đường Bên cạnh đó, giúp sinh viên vận dụng, học hỏi những kinh nghiệm trong sản xuất để nâng cao trình độ cũng như các phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu Tạo điều kiện cho bản thân có tác phong làm việc nghiêm túc, đúng đắn, có cơ hội vận dụng sáng tạo vào thực tế sản xuất, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước, làm cho đất nước ngày càng phát triển
Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sự đồng ý của cô giáo hướng dẫn và tiếp nhận
của cơ sở, em đã tiến hành đề tài: “Đánh giá hiệu lực một số loại thuốc điều trị bệnh cho gia súc, gia cầm do công ty cổ phần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet sản xuất”
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, thời gian và năng lực bản thân còn hạn chế nên trong bản khóa luận này không tránh khỏi những sai sót Vì vậy, em mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy giáo,
cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp để khóa luận hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung 9
Bảng 4.1 Kết quả tìm hiểu các sản phẩm của công ty 33
Bảng 4.2 Một số loại thuốc điều trị bệnh sản xuất tại công ty 34
Bảng 4.3 Kết quả công tác tiêm phòng 35
Bảng 4.4 Kết quả theo dõi và chẩn đoán bệnh cho lợn 35
Bảng 4.5 Kết quả điều trị bệnh ở lợn 36
Bảng 4.6 Kết quả theo dõi và điều trị bệnh ở chó 37
Bảng 4.7 Kết quả theo dõi và điều trị các bệnh ở gà 38
Trang 6: Kilogam : gam : centimet : Lit : Mililit : Nhiệt độ : Giờ : Nhà xuất bản
CP : Cổ phần STT
TT LMLM KST
: Số thứ tự : Thể trọng : Lở mồm long móng : Ký sinh trùng
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1.Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Giới thiệu về công ty 3
2.1.2 Điều kiện của địa phương thực tập 5
2.2 Cơ sở khoa học 5
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 5
2.2.2 Bệnh viêm tử cung 8
2.2.3 Bệnh viêm vú 12
2.2.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn con 15
2.2.3 Một số bệnh ở gà 16
2.2.4 Một số bệnh thường gặp ở chó 25
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 31 3.1 Đối tượng nghiên cứu 31
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 31
3.3 Nôi dung 31
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 31
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 31
Trang 83.3.2 Phương pháp theo dõi 31
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 32
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Tìm hiểu các sản phẩm của công ty tại kho thành phẩm 33
4.2 Công tác phòng bệnh 34
4.3 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh ở lợn 35
4.3.1 Kết quả chẩn đoán bệnh ở lợn 35
4.3.2 Kết quả điều trị bệnh ở lợn 36
4.4 Công tác chuẩn đoán và điều trị bệnh ở chó: 37
4.5 Công tác chuẩn đoán và điều trị bệnh ở gà 38
4.6 Công tác khác 39
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
5.1 Kết luận 40
5.2 Đề nghị 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 9
Hiện nay, nhà nước đã chú trọng quan tâm hỗ trợ phát triển chăn nuôi trên nhiều phương diện như cơ chế chính sách, vốn, các nhà khoa học từng bước lai tạo, cải tiến giống phù hợp với điều kiện chăn nuôi nước ta cũng như thị hiếu người tiêu dùng và kinh tế thị trường cạnh tranh Tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong chăn nuôi cũng dần dần được người chăn nuôi áp dụng giúp tăng hiệu quả kinh tế
Trong chăn nuôi: “Giống là tiền đề, thức ăn là cơ sở”; song công tác thú y và thuốc thú y cũng đóng vai trò quan trọng đặc biệt và là nhân tố thứ ba góp phần quyết định đến hiệu quả kinh tế
Trong những năm gần đây, theo đà hội nhập quốc tế, thương mại, du lịch, xuất nhập khẩu phát triển kéo theo dịch bệnh cũng dễ du nhập, lây truyền
và bùng phát, điều này làm nhu cầu sử dụng thuốc thú y trong nước tăng theo Đây là lý do và điều kiện để ngành sản xuất, kinh doanh thuốc trong những
Trang 10năm qua phát triển rất sôi động Đối với người sử dụng, những sản phẩm thuốc không đạt tiêu chuẩn trên ngoài làm giảm kết quả phòng trị, gây thiệt hại về mặt kinh tế, chúng còn dễ gây lên tình trạng kháng thuốc do không xác định đúng liều lượng Đặt biệt vấn đề sử dụng tuỳ tiện các sản phẩm kháng sinh, hoá dược đã bị cấm trong chăn nuôi không những gây ảnh hưởng tới sức khoẻ người tiêu dùng mà còn gây thiệt hại lớn trong công tác xuất nhập khẩu nông sản
Xuất phát từ những yêu cầu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá hiệu lực một số loại thuốc điều trị bệnh cho gia súc, gia cầm do công ty cổ phần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet sản xuất”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Đánh giá được tỷ lệ mắc bệnh ở gia súc, gia cầm
- Đánh giá chất lượng một số sản phẩm thuốc thú y do công ty CP thuốc thú y Đức Hạnh Marphvet sản xuất
- Thông qua đó khuyến cáo được cho người chăn nuôi về biện pháp phòng và điều trị bệnh
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Giới thiệu về công ty
Công ty CP thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet được thành lập tháng 12 năm 2002, hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực: Sản xuất vacxin phòng bệnh, sản xuất kinh doanh thuốc thú y, dược phẩm, thực phẩm chức năng, chế phẩm sinh học, thức ăn chăn nuôi… cùng thời điểm đó Đảng và Nhà nước ta tăng cường giám sát, quản lý, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phải phát huy hết nội lực, sản xuất sản phẩm chất lượng cao, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, hướng đến xuất khẩu, theo đó những doanh nghiệp sản xuất thuốc thú
y vừa và nhỏ, máy móc trang thiết bị cũ và lạc hậu, sản xuất manh múm, tận dụng, cơ hội sẽ khó tồn tại được Dành chỗ cho những doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y chất lượng cao, uy tín, hợp vệ sinh thú y, trang thiết bị máy móc hiện đại phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, giá thành rẻ, hiệu quả kinh tế và điều trị cao
Nhận thức sâu sắc được điều đó tập thể ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên công ty Marphavet quyết tâm xây dựng một thương hiệu Marphavet với chiến lược sản phẩm có chiều sâu mang lại hệu quả kinh tế cao cho người sử dụng Tại đây có một tập thể các Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ có nhiều kinh nghiệm thực tế trong ngành Có đội ngũ bác sĩ thú y giỏi, đội ngũ công nhân tay nghề cao Cùng với sự phát triển của chăn nuôi cả nước, công ty Đức Hạnh Marphavet không ngừng tìm tòi, nghiên cứu, phát triển hệ tá dược mới kết hợp với thảo dược có nguồn gốc tự nhiên Sản phẩm của Đức Hạnh Marphavet khá đa dạng, phong phú về chủng loại
Trụ sở nhà máy đặt tại xã Trung Thành - Phổ Yên - Thái Nguyên Với
12 chi nhánh khác trên cả nước như: Chi nhánh Cần Thơ, Chi nhánh Quận 9 -
Trang 12TPHCM, Chi nhánh Đồng Nai, Chi nhánh Đắk Lắc, Chi nhánh Nha Trang, Chi nhánh Đà Nẵng, Chi nhánh Huế, Chi nhánh Hải Phòng và Chi nhánh Mỹ Đình - Hà Nội
* Điều kiện tự nhiên cơ sở vật chất
Sau hơn 12 năm hoạt động, Marphavet đã có những bước phát triển vượt bậc cả về quy mô sản xuất kinh doanh, thị trường và số lượng cán bộ chuyên nghiệp có chiều sâu, am hiểu sâu sắc tư duy quản trị Hiện tại, Marphavet có 4 công ty thành viên và 12 chi nhánh tại các thành phố lớn gồm: Công ty CP thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet, Công ty cổ phần Nanovet, Công ty cổ phần BMG, Công ty cổ phần Hoàng Đức Hiền Với tổng diện tích hơn 12,5 ha và 2 nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP/WHO trên cả 6 dây chuyền thuốc và vắc xin công nghệ cao
* Cơ cấu bộ máy và tổ chức của công ty
Marphavet có đội ngũ nhân sự chuyên môn trình độ cao với hơn 1.000 CBNV bao gồm 2 Giáo sư, 5 Phó Giáo sư, 8 Tiến sỹ, 29 Thạc sỹ, trên 500 Bác sĩ thú y và Kĩ sư chăn nuôi, 15 Dược sĩ nhân y, 12 Cử nhân Công nghệ sinh học có nhiều kinh nghiệm thực tế trong ngành, hơn 250 Cử nhân kinh tế,
Kế toán, Luật, Nhân văn, Quản trị kinh doanh, Marketing, Cơ khí chế tạo máy, Điện lạnh… có trình độ chuyên môn, thường xuyên được tập huấn ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài sang đào tạo, đội ngũ công nhân thâm niên lành nghề, môi trường làm việc thân thiện, chuyên nghiệp, nhiều cơ hội thăng tiến Ngoài ra Công ty đang hợp tác tốt với các Bộ, Cục, Vụ, Viện, Liên hiệp, Hội, Trung tâm và các trường đại học trong và ngoài nước
* Kết quả hoạt động kinh doanh
Sản phẩm của Marphavet phủ khắp 63 tỉnh thành trong cả nước là dòng sản phẩm được giới chuyên môn và các chuyên gia đánh giá cao về chất
Trang 13lượng với giá thành hợp lý Hệ thống nhà phân phối và đại lý với số lượng
hơn 8.000 đại lý trên khắp cả nước
Sản phẩm đã được xuất khẩu sang trên 10 nước trên Thế giới, nắm được vị trí khá cao trên thị trường quốc tế
2.1.2 Điều kiện của địa phương thực tập
Ba Vì là huyện tận cùng phía Tây Bắc của Hà Nội, trên địa bàn huyện
có một phần lớn của dãy núi Ba Vì chạy qua phía Nam huyện, phía Đông giáp thị xã Sơn Tây, phía Đông Nam giáp huyện Thạch Thất Phía Nam giáp các huyện Lương Sơn (về phía Đông Nam huyện) và Kỳ Sơn của Hòa Bình (về phía Tây Nam huyện) Phía Bắc giáp thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, với ranh giới là sông Hồng (sông Thao) nằm ở phía Bắc Phía Tây giáp các huyện Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thủy của Phú Thọ Phía Đông Bắc giáp huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, ranh giới là sông Hồng
Huyện Ba Vì là một huyện bán sơn địa, diện tích tự nhiên là 428,0 km², lớn nhất Thủ đô Hà Nội Huyện có hai hồ khá lớn là hồ Suối Hai, và hồ Đồng
Mô (tại khu du lịch Đồng Mô) Các hồ này đều là hồ nhân tạo và nằm ở đầu nguồn sông Tích, chảy sang thị xã Sơn Tây và một số huyện phía Tây Hà Nội, rồi đổ nước vào sông Đáy
Trên địa bàn huyện có vườn quốc gia Ba Vì Ở ranh giới của huyện với tỉnh Phú Thọ có hai ngã ba sông là: ngã ba Trung Hà giữa sông Đà và sông Hồng (tại xã Phong Vân) và ngã ba Bạch Hạc giữa sông Hồng và sông Lô (tại
xã Tản Hồng, đối diện với thành phố Việt Trì)
Các điểm cực: Cực Bắc là xã Phú Cường, cực Tây là xã Thuần Mỹ, cực Nam là xã Khánh Thượng, cực Đông là xã Cam Thượng
2.2 Cơ sở khoa học
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
Đặc điểm sinh lý sinh dục của gia súc nói chung và loài lợn nói riêng
Trang 14đặc trưng cho loài, có tính ổn định với từng giống vật nuôi Nó được duy trì qua các thế hệ và luôn củng cố, hoàn thiện qua quá trình chọn lọc Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như: ngoại cảnh, điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc, sử dụng, Để đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái người
ta thường tập trung nghiên cứu, theo dõi các chỉ tiêu sau đây:
Sự thành thục về tính
Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: buồng trứng, tử cung, âm đạo, đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ
về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục
Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng
Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý
Dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Cùng một giống nhưng nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý tốt, gia súc phát triển tốt thì sẽ thành thục về tính sớm hơn và ngược lại
Trang 15+ Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ
+ Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
+ Lợn nái sau đẻ bị sát nhau thai xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
+ Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sẩy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao, gây viêm
+ Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau
đẻ elkhông sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện
để xâm nhập vào gây viêm
+ Ngoài các nguyên nhân kể trên viêm tử cung còn có thể là biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động dục (vì lúc đó cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường máu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung (Lê Văn Năm và cs., 1999) [15]
Theo Madec F., Neva C (1995), [25], bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra
Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một
cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối nhưng đã bị viêm tử cung
Một gia súc cái được đánh giá là có khả năng sinh sản tốt trước hết phải
kể đến sự nguyên vẹn và mọi hoạt động bình thường của cơ quan sinh dục Khi bất kỳ một bộ phận của cơ quan sinh dục bị bệnh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc Các quá trình bệnh xảy ra ở cơ quan sinh
Trang 16dục là các nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng rối loạn sinh sản và giảm năng suất của gia súc cái Bệnh viêm tử cung được chia làm 3 thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung
Đường xâm nhập: Mầm bệnh có mặt trong ruột, truyền qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính của sự xâm nhập này là sự kém nhu động của ruột và nhất là táo bón Xâm nhập có thể hướng từ ngoài vào
do vi khuẩn hiện diện trong phân và nước tiểu Bệnh nhiễm trùng mãn tính của thận, bàng quang và đường niệu cũng là nguyên nhân gây nhiễm Hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự hiện diện của vi sinh vật thường xuyên có mặt trong chuồng nuôi Lợi dụng lúc sinh sản tử cung, âm đạo tổn thương chứa nhiều sản dịch, vi trùng xâm nhập đường sinh dục gây viêm tử cung
2.2.2 Bệnh viêm tử cung
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2015) [24]: bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của lợn nái mà còn có thể làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con
Theo Madec F., Neva C (1995), [25], xuất phát từ quan điểm lâm sàng
thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng
mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mãn tính thường gặp trong thời kỳ cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung
Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra
Trang 17Nguyễn Văn Thanh (2010) [19] cho biết, khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì có thể bị nhầm lẫn
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niêu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác
Theo Lê Văn Năm và cs (1999) [15], khi lấy protid muxin trong dịch nhầy chảy ra từ âm đạo lợn nái rồi cho vào l ml dung dịch acid axetic 1% (hay dấm chua) nếu phản ứng dương tính khi muxin kết tủa điều đó chứng tỏ lợn không bị viêm tử cung, nếu ngược lại muxin không kết tủa (phản ứng âm tính) kết luận lợn bị viêm tử cung
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ
đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất
Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân Có thể dựa vào các chỉ tiêu ở bảng sau:
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung Các chỉ tiêu
phân biệt Viêm tử cung thể nhẹ Viêm tử cung thể vừa Viêm tử cung thể nặng
Dịch
viêm
Màu Trắng xám, trắng sữa Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt
Bỏ ăn Bỏ ăn một phần hoặc hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn
(Nguồn: Phòng kỹ thuật công ty CP Việt Nam)
Trang 18Biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung
- Phòng bệnh
Quy trình phòng bệnh viêm tử cung
Bước 1: Phối giống:
Đảm bảo phối giống đúng kỹ thuật, vô trùng que phối, vệ sinh phần mông và bộ phận sinh dục sạch sẽ, tránh làm xây xát niêm mạc tử cung, nhiễm trùng đường sinh dục gây viêm
Bước 2: Bổ sung đầy đủ dinh dưỡng trong khẩu phần ăn cho lợn nái khi mang thai:
Chăm sóc, nuôi dưỡng thai, điều chỉnh khẩu phần ăn đối với lợn quá béo hoặc quá gầy Tránh để lợn đẻ có thể trạng quá béo hoặc quá gầy
Bước 3: Vệ sinh
Chuồng đẻ phải được vệ sinh sạch sẽ mới chuyển lợn lên
Trước khi chuyển lợn ở chuồng bầu lên phải được vệ sinh sạch sẽ, nhất
Với bệnh này chúng ta điều trị bằng thuốc Cefquinome 150 hoặc phác
đồ điều trị gồm Cefanew - LA + Martosal + B - Complex
Trang 19- Điều trị
Nguyên tắc chung trong việc điều trị bệnh: Bệnh do vi khuẩn gây ra nên việc đầu tiên trong quá trình điều trị bệnh là phải tiêu diệt sớm và kịp thời tránh sự lây lan của vi khuẩn Để có hiệu quả cao, điều quan trọng nhất là phải xác định được vai trò của vi khuẩn gây bệnh, sự mẫn cảm của chúng với kháng sinh và hóa dược trong điều trị
Hạn chế quá trình viêm lan rộng, kích thích tử cung co bóp thải hết dịch viêm mủ ra ngoài và để phòng hiện tượng nhiễm trùng cho cơ thể
Để thải hết dịch viêm, mủ, niêm dịch và các chất bẩn trong tử cung ra ngoài, thụt rửa tử cung bằng các loại thuốc sát trùng: Dung dịch rivanol 0,1%, acid boric 3%, thuốc tím 0,1%,
Trường hợp bệnh nặng, đồng thời với điều trị cục bộ người ta có thể điều trị toàn thân như: thụt rửa, tiêm các loại kháng sinh cho con vật kết hợp với việc chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh tốt
* Giới thiệu về thuốc Cefanew - LA có:
Thành phần
+ Ceftiofur 10.000mg
+ Tá dược đặc biệt vừa đủ 100ml
Công dụng
Đặc trị viêm màng phổi, phổi dính sườn, hen suyễn, viêm vú, viêm tử
cung MMA, viêm dạ con, tụ huyết trùng, phó thương hàn, E.coli sưng phù
đầu, viêm ruột tiêu chảy, phân trắng lợn con, viêm da, viêm đa khớp, nhiễm trùng huyết, kế phát do LMLM, kế phát của hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (tai xanh, sốt đỏ)
Cách dùng và liều lượng:
Tiêm bắp thịt hoặc dưới da
Lợn 1ml/20 - 25 kg TT/ngày
Trang 20Trâu, bò, dê, 1ml/45 - 60 kg TT/ngày
Lợn con, chó, mèo 1ml/12 - 18 kg TT/ ngày
2.2.3 Bệnh viêm vú
- Nguyên nhân:
Theo Nguyễn Như Pho (2002) [16], khi lợn nái đẻ nếu nuôi không
đúng cách, chuồng bẩn thì Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột
xâm nhập gây ra viêm vú
Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn
xâm nhập gây viêm như: E coli, Staphylococus, Klebsiella spp
Theo Trương Lăng (2000) [8]: Lợn con mới đẻ có răng nanh mà không bấm khi bú làm xây sát vú mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các
ổ viêm nhiễm trên bầu vú Lợn nái ăn thức ăn nhiều đạm sinh nhiều sữa, lợn con bú không hết sữa ứ đọng tạo thành môi trường cho vi trùng sinh sản nhiều
+ Lợn chỉ cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa quá nên viêm + Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá, thức ăn khó tiêu hoặc cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng
Triệu chứng:
Nguyễn Như Pho (2002) [16]: Viêm vú ở lợn nái thường xảy ra vào những ngày đầu tiên sau khi đẻ, cũng có thể xảy ra trong thời kỳ mang thai và sau khi tách con Bệnh có thể xảy ra ở dạng cấp tính, mãn tính và cận mãn tính Bầu vú bị viêm sưng, sung huyết, khi sờ thấy nóng và đau Sữa của bầu
vú viêm loãng, đôi khi có màu hồng hoặc có cục casein như bã đậu Nái ăn ít, yếu, nhiệt độ cơ thể tăng cao
Trang 21Bệnh tích:
+ Viêm tiết dịch đặc trưng, quá trình viêm ở mô liên kết của tuyến vú, sữa thay đổi Khi bị viêm tiết dịch cata hoặc viêm cata, quá trình viêm lan đến niêm mạc khoang vú, đường tiết và dẫn sữa Trong trường hợp này sữa loãng chứa nhiều cục casein Viêm mủ đặc trưng chảy mủ khi vắt sữa, gốc vú viêm cứng hoặc có nhiều hạch di động khi sờ (hạch vú bị cứng)
+ Khi bị viêm dạng cấp tính vú bị viêm một bầu hoặc vài bầu vú viêm
sờ thấy cứng, đau, sưng, thành phần sữa thay đổi Tình trạng này kéo dài khoảng 4 ngày Lợn con chết khoảng 30 - 100% do thiếu sữa và bú sữa nhiễm trùng gây tiêu chảy
+ Theo Lê Văn Năm và cs (1999) [15]: Dạng viêm vú mãn tính kéo dài
từ 7 - 21 ngày sau khi đẻ, triệu chứng giống như viêm cấp tính nhưng ở mức
độ nhẹ hơn Khi bị viêm mãn tính trong vú sẽ phát triển tăng sinh các mô liên kết, thông thường những chỗ này về sau sẽ hình thành các ổ áp xe
Bình thường bệnh viêm vú thường xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ đến 7 -
10 ngày có con cho đến một tháng
Theo Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006) [20], viêm vú thường xuất hiện
ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú, vú có màu hồng, sưng đỏ,
sờ vào thấy nóng, hơi cứng, ấn vào lợn nái có phản ứng đau
Lợn nái giảm ăn, nếu bị nặng lợn bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 420C kéo dài trong suốt thời gian viêm Sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú
Lợn con thiếu sữa kêu la, chạy vòng quanh mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy,
xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% (Lê Hồng Mận, 2007) [13]
Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện các cục casein màu vàng, xanh lợn con có mủ đôi khi có máu
Trang 22Bệnh lúc đầu ở một vú bị viêm sau đó lan nhanh sang các vú khác Bệnh có thể kéo dài 4 - 6 ngày Nếu bệnh chuyển sang thể mãn tính có thể kéo dài 7 - 9 ngày, biểu hiện bệnh nhẹ hơn
Chẩn đoán:
Dựa vào triệu chứng lâm sàng: bằng mắt thường quan sát thấy bầu vú sưng đỏ, khi xoa bầu vú ta thấy cảm giác nóng và hơi cứng, khi vắt sữa thấy không có sữa, lợn nái có cảm giác đau và chỉ thấy nhiều dịch trong hay sữa đặc như bã đậu Một số trường hợp bầu vú chuyển sang thâm đen rất nguy, hiểm cho con vật, đó là viêm thối rữa rất khó điều trị Lợn nái thường nằm úp
và cho con bú ít, lợn con bú ít, kêu la, gầy yếu, ỉa chảy…
Kiểm tra qua kính hiển vi tìm vi khuẩn: nếu trong sữa có nhiều liên cầu,
tụ cầu trùng và các vi trùng khác có thể xác định là bệnh viêm vú cata có mủ, chuỗi vi trùng dài hay ngắn phụ thuộc vào thời kỳ bệnh: bệnh cấp tính thì chuỗi vi trùng ngắn, bệnh mãn tính chuỗi vi trùng dài
* Giới thiệu về thuốc Cefquinom 150
Thành phần :
+ Cefquinom sulfate ……… 1.500mg
+ Tá dược vừa đủ……100ml
Trang 23- Công dụng: đặc trị viêm vú bò sữa, lợn nái, viêm tử cung, viêm phổi,
hen xuyễn, phó thương hàn, lepto, thối móng, nhiễm trùng trên da, E.coli
sưng phù đầu Không gây ảnh hưởng đến lượng sữa, hiệu quả khi dùng cho bò sữa và gia súc đang nuôi con
- Cách dùng và liều lượng:
Tiêm sâu bắp thịt hoặc dưới da
Lợn, bê, nghé: 1ml/10 - 15 kg TT/ ngày
Trâu, bò, ngựa: 1ml/20 - 25kg TT/ ngày
Chó, mèo, lợn con: 1ml/6 - 8kg TT/ ngày
2.2.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn con
Tiêu chảy do E coli
+ Lứa tuổi bị bệnh: chủ yếu xảy ra trên lợn con theo mẹ, lợn con sau cai sữa + Nguyên nhân: do lợn con bú vào bầu vú lợn mẹ có dính phân, uống nước có chứa mầm bệnh, vệ sinh sàn chuồng không được sạch sẽ, ẩm ướt Lợn bị stress do trộn chung lợn cai sữa trong quá trình vận chuyển, thay đổi thức ăn
+ Triệu chứng, bệnh tích: trên lợn con theo mẹ bị bệnh, lợn thường nằm tụm lại, run rẩy hoặc nằm một góc, da xung quanh đuôi và hậu môn có dính phân, phân lỏng đến sệt, có màu kem và có thể thấy lợn nôn mửa Lợn mất nước do tiêu chảy, mắt lõm vào, da trở nên khô Trước khi chết thấy lợn bơi chèo và sùi bọt mép Trên lợn cai sữa, biểu hiện đầu tiên thấy sụt cân, đi phân nước và mất nước Một vài trường hợp phân có máu hoặc sệt với nhiều màu như xám, trắng, vàng và xanh lá cây Do đó màu sắc phân không có ý nghĩa nhiều trong chẩn đoán lâm sàng Có thể lợn chết với mắt lõm vào, thỉnh thoảng thấy lợn nôn mửa và cũng có thể thấy chết mà không có triệu chứng
+ Chẩn đoán: dựa vào triệu chứng lâm sàng và tiền sử của bệnh trong
những năm về trước của địa phương và những triệu chứng của bệnh Trong
Trang 24trường hợp nhiễm độc tố đường ruột của vi khuẩn, xác lợn chết bị mất nước
Mổ khám thấy ruột sung huyết, xuất huyết
+ Phòng và cách điều trị
MARFLO - 45% 1ml/27 - 35kg TT Tiêm sâu bắp hoặc dưới
da NAMIN - MAR 1ml/6 - 9kg TT/lần Tiêm ngày 1 lần
39 - VITA - AMIN 1g/2 - 3 lit nước Hòa nước hoặc trộn thức
có thể lên tới 80 - 100%) Ở gà đẻ bệnh cầu trùng là nguyên nhân giảm năng suất trứng từ 10 - 30% và gây tiêu chảy hàng loạt
Tính chuyên biệt của cầu trùng Eimeria thể hiện rất nghiêm ngặt,
chúng chỉ có thể gây bệnh cho ký chủ mà chúng thích nghi trong quá trình tiến hóa và biểu hiện không chỉ đối với ký chủ của chúng mà mỗi loại cầu trùng chỉ khu trú tại một vùng, một cơ quan nào đó nhất định trong cơ thể ký chủ Cũng là gia cầm nhưng mỗi loài lại có một số loài cầu trùng ký sinh
Trang 25riêng Cầu trùng gà không ký sinh trên ngan, ngỗng… Trên cùng cơ thể nhưng mỗi loài cầu trùng lại ký sinh trên một vị trí nhất định: cầu trùng ký sinh ở manh tràng không ký sinh ở ruột non và ngược lại
Gà ở mọi lứa tuổi đều bị nhiễm cầu trùng, nhưng ở mỗi lứa tuổi mức
độ nhiễm khác nhau Song bệnh thường thấy nhất ở gà con từ 10 - 60 ngày tuổi, nặng ở gần 15 - 45 ngày tuổi Trong chăn nuôi gia cầm hiện tượng cầu trùng rất đa dạng, nó luôn gắn liền với vệ sinh: chuồng trại ẩm thấp, kém thông thoáng, vệ sinh chăn nuôi không đảm bảo, mật độ đông, khí hậu nhiệt đới có tác dụng thúc đẩy bệnh dễ bùng phát và nặng nề hơn (Lê Hồng Mận, 2006) [11]
Cầu trùng là động vật đơn bào có hình cầu, hình trứng, hình bầu dục, hình trụ hay hình elip (phụ thuộc vào từng loại cầu trùng) Cầu trùng ký sinh chủ yếu ở tế bào biểu bì ruột của nhiều loài gia súc, gia cầm và cả ở người
Bệnh cầu trùng do một nhóm nguyên sinh động vật đơn bào ngành Protozoa, lớp: Sporozoa, lớp phụ: Coccidiasina, bộ: Eucoccidiorida, phân bộ:
Những nghiên cứu lúc này chỉ mang tính chất khởi đầu, chưa xác định
rõ các loài cầu trùng gây bệnh cho động vật Khi cầu trùng mới theo phân ra ngoài được gọi là noãn nang cầu trùng (Oocyst) Có 3 lớp vỏ: ngoài cùng là lớp màng rất mỏng bên trong có nguyên sinh chất lổn nhổn thành các hạt, giữa đám nguyên sinh chất có một nhân tương đối lớn Khi gặp điều kiện môi trường thuận lợi thì nhân và nguyên sinh chất bắt đầu phân chia
Nếu là cầu trùng thuộc giống Eimeria thì nhân và nguyên sinh chất sẽ
hình thành 4 bào tử, mỗi bào tử lại phân chia thành 2 bào tử con, bào tử con
có hình lê, chính bào tử con này sẽ xâm nhập vào niêm mạc ruột, tổ chức gan gây ra những tổn thương bệnh lý Giống này hay gây bệnhở gia cầm
Trang 26* Sự nhiễm bệnh cầu trùng ở gia cầm
Con đường mà gia cầm mắc bệnh cầu trùng là do gà nuốt phải noãn nang cầu trùng có sức gây bệnh Noãn nang cầu trùng có trong thức ăn, nước uống, đất, chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi… Các loài chim, gia súc, ruồi muỗi… đều có thể là nguồn reo rắc mầm bệnh Người ta đã chứng minh rằng: Khi ruồi muỗi nuốt phải noãn nang cầu trùng, tới ruột thì noãn nang có khả
năng duy trì sức gây nhiễm trong vòng 24h
* Đặc điểm chung của bệnh cầu trùng
Bệnh cầu trùng trên gà là một trong những bệnh thường gặp và gây tỉ lệ chết cao Nếu không phòng trị bệnh kịp thời sẽ gây chết và thiệt hại lớn đến
kinh tế và sản xuất
Triệu trứng của bệnh cầu trùng trên gà:
Gà có biểu hiện ủ rũ, bỏ ăn hoặc kém ăn, thường uống nhiều nước Bị
ỉa chảy, phân lầy nhầy vì niêm mạc ruột bị tróc ra, bệnh ngày càng nặng lên
Gà sẽ ỉa nhiều lần, phân có máu tươi hoặc có màu nâu như màu sô-cô-la
Bệnh cầu trùng có 2 dạng: Cầu trùng manh tràng và cầu trùng ruột non,
có khi cả hai dạng này cùng kết hợp 1 lúc Các dạng của bệnh cầu trùng:
Cầu trùng manh tràng: Thường xảy ra lúc được 3 đến 7 tuần tuổi (phổ biến ở độ tuổi này) Nếu bị cầu trùng manh tràng gà thường có biểu hiện là kêu nhiều, giảm ăn, uống nước nhiều, gà còn bị xệ cánh, lông xù, phân có màu đỏ nâu, có máu tươi
Cầu trùng ở ruột non (tá tràng): Phổ biến ở gà từ giò với các biểu hiện:
Gà bị viêm ruột, tiêu chảy rất thất thường, phân có lẫn máu màu nâu sậm có
khi kèm máu tươi
Bệnh tích của bệnh cầu trùng sẽ rõ ở từng loại cầu trùng:
+ Cầu trùng manh tràng: Bệnh tích rất rõ ràng đó là 2 manh tràng sưng to
Trang 27+ Cầu trùng ruột non: Tá tràng sưng to, thành ruột có những chấm trắng
và bị dày cộm lên Ruột phình to từng đoạn Nếu bị cả hai dạng kết hợp thì manh tràng và tá tràng sẽ sưng to và có màu đỏ sẫm
Nguyên nhân của bệnh cầu trùng trên gà:
Nguyên nhân gây bệnh cầu trùng ở gà có 2 loài: Eimeria tenella thường gây bệnh cho gà con từ 1 - 7 tuần tuổi và Eimeria Maxima gây bệnh cho gà từ
8 - 12 tuần tuổi Các loại cầu trùng này sẽ ký sinh ở ruột và manh tràng và gây
ra các loại cầu trùng ở manh tràng và ở ruột Gây tổn thương niêm mạc ruột
và viêm ruột nhiễm khuẩn do các tạp khuẩn có sẵn ở ruột gà như vi khuẩn
Con đường lây bệnh
Bệnh lây qua đường tiêu hóa xâm nhập vào các lớp tế bào ruột, phá vỡ các mạch máu ở thành ruột gây ra tình trạng xuất huyết nặng dẫn đến phân gà
có máu
Gà bị cầu trùng hoặc gà đã khỏi nhưng vẫn có cầu trùng Những con gà này sẽ bài thải cầu trùng theo đường phân ra nền chuồng, đó là nguồn gốc lây lan bệnh trong trang trại
Trứng của cầu trùng có trên nền chuồng nhiễm vào thức ăn, nước uống, trứng cầu trùng sẽ đi vào ruột gà qua đường ăn, uống và gây bệnh cho gà