TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HOÀNG THỊ CHIÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC “ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC MÔ HÌNH CHĂN NUÔI TRONG THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ PHƯỢNG TIẾN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THỊ CHIÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC MÔ HÌNH CHĂN NUÔI TRONG THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ PHƯỢNG TIẾN - HUYỆN ĐỊNH HÓA - TỈNH THÁI NGUYÊN”
Hệ đào tạo : Chính quy
Hướng đề tài : Hướng nghiên cứu
Chuyên ngành : Khuyến nông Khoa : Kinh tế & PTNT Khóa học : 2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THỊ CHIÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC MÔ HÌNH CHĂN NUÔI TRONG THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ PHƯỢNG TIẾN - HUYỆN ĐỊNH HÓA - TỈNH THÁI NGUYÊN”
Hệ đào tạo : Chính quy
Hướng đề tài : Hướng nghiên cứu
Chuyên ngành : Khuyến nông Lớp : K46 - KN
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2014 - 2018 GVHD : ThS Lành Ngọc Tú
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận khóa luận tốt nghiệp: “Đánh giá hiệu quả các mô
hình chăn nuôi trong thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã
Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên” đây là công trình nghiên cứu của
bản thân tôi, được thực hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức chuyên
ngành, tìm hiểu, khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của
ThS Lành Ngọc Tú
Các số liệu, bảng biểu và kết quả trình bày trong khóa luận hoàn toàn trung
thực, khách quan, các nhận xét, phương hướng đưa ra đều xuất phát từ thực tiễn và
kinh nghiệm hiện có
Một lần nữa tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018
Người viết cam đoan
Hoàng Thị Chiên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Kinh tế
và Phát triển Nông thôn trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên Sau khi hoàn thành khóa học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên với đề tài:
Đánh giá hiệu quả các mô hình chăn nuôi trong thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
Khóa luận được hoàn thành nhờ sự hướng dẫn, quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện của thầy cô, cá nhân, cơ quan và nhà trường
Tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Nông lâm nơi đào tạo giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo ThS Lành Ngọc Tú giảng
viên khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn, người trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo và giúp đỡ tận tình tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, bạn bè và gia đình đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận Trong quá trình thực hiện khóa luận, mặc dù tôi đã cố gắng rất nhiều nhưng cũng không tránh khỏi những sai xót mong thầy, cô chỉ bảo, góp ý để bài khóa luận của tôi được tốt hơn
Tôi cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ông LEE WEOUNGI và người dân trong xóm đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi thực tập để hoàn thành tốt đợt thực tập cuối cùng này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018
Sinh viên
Hoàng Thị Chiên
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2017 27
Bảng 4.2: Diện tích một số cây trồng chính của xã Phượng Tiến từ năm 2015-2017 30
Bảng 4.3: Bảng thống kê số lượng gia súc, gia cầm của xã tại thời điểm 1/10/2017 32
Bảng 4.4: Tình hình dân số, lao động và việc làm trên địa bàn xã Phượng Tiến 34
Bảng 4.5: Tình hình cơ sở hạ tầng của xã trong năm 2016 41
Bảng 4.6: Tình hình chăn nuôi trong 3 năm 2015-2017 của xã Phượng Tiến 43
Bảng 4.7: Tổng diện tích thực hiện các mô hình trên địa bàn xã 45
Bảng 4.8: Diện tích nuôi gà của xã Phượng Tiến giai đoạn năm 2015 - 201746 Bảng 4.9: So sánh thực trạng chăn nuôi gà thực hiện theo mô hình và không theo mô hình chăn nuôi gà thả vườn 47
Bảng 4.10: Hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi gà quy mô 1.200 con 49
Bảng 4.11: Tình hình chăn nuôi của xã Phượng Tiến giai đoạn 2015 - 2017 52 Bảng 4.12: Hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi dê quy mô 20 con năm 2017 54
Bảng 4.13: Quy mô chăn nuôi nuôi thỏ của xóm Tổ xã Phượng Tiến năm 2017 58
Bảng 4.14: Chi phí cho việc chăm sóc thỏ tính trong 1 tháng 59
Bảng 4.15: Hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi thỏ quy mô 2000 con năm 2017 60
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
PHẦN 1 LỜI MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết 1
1.2 Mục tiêu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Khái niệm đánh giá 4
2.1.2 Các loại đánh giá 4
2.1.3 Khái niệm về hiệu quả 4
2.1.4 Lý luận chung về mô hình 6
2.1.5 Lý luận về phát triển, phát triển kinh tế, phát triển chăn nuôi 7
2.1.6 Vai trò của nghề chăn nuôi 8
2.1.7 Các khái niệm về xây dựng nông thôn mới 9
2.2 Cơ sở thực tiễn 14
2.2.1 Tình hình chăn nuôi trên thế giới và Việt Nam 14
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
Trang 83.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 20
3.3 Nội dung nghiên cứu 20
3.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của xã Phượng Tiến 20
3.3.2 Nghiên cứu thực trạng các mô hình chăn nuôi trên địa bàn xã 20
3.3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm giúp các hộ nông dân nâng cao hiệu quả chăn nuôi góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người dân 20 3.3.4 Chỉ tiêu theo dõi cụ thể các mô hình 20
3.3.5 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của mô hình 21
3.3.6 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mô hình 21
3.4 Phương pháp nghiên cứu 21
3.4.1 Phương pháp chọn mẫu 21
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin 22
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 22
3.3.4 Phương pháp phân tích thông tin, số liệu 23
3.3.5 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả của mô hình chăn nuôi 23
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
4.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 24
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Phượng Tiến 24
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 29
4.2 Kết quả của một số mô hình chăn nuôi trên địa bàn xã Phượng Tiến 43
4.2.1 Thực trạng các mô hình chăn nuôi trên địa bàn xã giai đoạn 2015- 2017 43
4.2.2 Đánh giá hiệu quả mô hình chăn nuôi gà thả vườn 46
4.2.3 Đánh giá mô hình chăn nuôi dê 52
Trang 94.2.4 Đánh giá mô hình chăn nuôi thỏ 57
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
5.1 Kết luận 64
5.2 Kiến nghị 65
5.2.1 Đối với nhà nước 65
5.2.2 Đối với người dân 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67 PHỤ LỤC
Trang 10PHẦN 1 LỜI MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết
Nền nông nghiệp Việt Nam đã được hình thành từ lâu đời nay với hai ngành sản xuất chính là trồng trọt và chăn nuôi Cả hai ngành sản xuất chính này luôn gắn
bó mật thiết với nhau, cùng thúc đẩy và hỗ trợ nhau trong quá trình phát triển Trong đó, chăn nuôi đã và đang từng bước trở thành một ngành sản xuất hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp và cũng là ngành mũi nhọn trong xóa đói giảm nghèo ở nông thôn
Ngành chăn nuôi hiện nay là một trong những ngành đem lại hiệu quả cao Nó chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Chăn nuôi là một nghề của người nông dân Từ việc chăn nuôi nhỏ lẻ tại các hộ gia đình nhằm tận dụng được nguồn cỏ tự nhiên, hiện nay đã có nhiều phương thức chăn nuôi đa dạng góp phần nâng cao thu nhập của người dân Chăn nuôi nước ta đang được chú ý phát triển với nhiều phương thức khác nhau nhằm để tăng nhanh về số lượng và nâng cao về chất lượng
Huyện Định Hóa là một huyện thuộc vùng núi, người dân ở khu vực này thường là những hộ thuần nông chỉ có một số ít hộ là kinh doanh Xã Phượng Tiến
có đường giao thông đi lại thuận lợi Đây là một xã được dự án SAEMAUL của Hàn Quốc lựa chọn đầu tư nhằm giúp cho người dân trong xã phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng đời sống
Bên cạnh những thành tựu đạt được, ngành chăn nuôi nước ta cũng gặp phải một số vấn đề phức tạp cả trong công tác chọn giống, thức ăn, thị trường đầu ra, nhất là dịch bệnh, đây là một trong những nguyên nhân gây thiệt hại kinh tế lớn cho ngành chăn nuôi Vật nuôi thường mắc các bệnh dễ lây lan, làm suy giảm năng suất sinh sản, phát triển chậm như là: thỏ mắc bệnh về nấm, bệnh đường hô hấp,…; gà mắc bệnh newcastle, gumboro,…; dê mắc bệnh lở mồm long móng, viêm phổi, kí sinh trùng,… Và còn rất nhiều các loại bệnh khác ở trên vật nuôi
Trang 11Xuất phát từ thực tiễn trên được sự đồng ý của Ban Giám hiệu trường Đại học Nông lâm và sự phân công của khoa Kinh tế & Phát triển Nông thôn cùng với sự
hướng dẫn của thầy giáo ThS Lành Ngọc Tú, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả các mô hình chăn nuôi trong thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả mô hình chăn nuôi ở địa phương và từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi góp phần thực hiện xây dựng nông thôn mới tại xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến kinh tế của xã Phượng Tiến
- Điều tra thực trạng sản xuất và đánh giá hiệu quả của mô hình chăn nuôi
- Phân tích thuận lợi và khó khăn đến phát triển các mô hình
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giúp các hộ nông dân nâng cao hiệu quả chăn nuôi góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người dân
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
- Giúp sinh viên củng cố lý thuyết và rèn luyện kỹ năng đã học về chuyên ngành khuyến nông và những môn học được học trong chương trình đào tạo của nhà trường
- Giúp sinh viên nắm được các phương pháp học, phương pháp làm về việc nghiên cứu trong thực tiễn sản xuất
- Trong quá trình thực hiện đề tài giúp sinh viên có điều kiện học hỏi, củng cố kiến thức, kỹ năng chuyên môn cho bản thân sau khi ra trường sẽ thực hiện tốt công việc đúng chuyên ngành của mình
Trang 12- Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các chiến lược phát triển kinh tế chăn nuôi trong nông hộ tại xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở cho các cấp chính quyền địa phương đưa ra những kết luận mới, hướng đi mới để xây dựng kế hoạch phát triển, mở rộng mô hình chăn nuôi trên địa bàn nghiên cứu cũng như khu vực nông thôn khác
- Góp phần tăng thu nhập cho các hộ gia đình có điều kiện kinh tế chưa cao và đóng góp vào thực hiện xây dựng nông thôn mới đáp ứng được các tiêu chí đề ra
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm đánh giá
- Đánh giá dự án là nhìn nhận và phân tích toàn bộ quá trình triển khai thực hiện dự án, các kết quả thực hiện cũng như hiệu quả kinh tế đạt được của dự án trong mối quan hệ với nhiều yếu tố, so sánh với mục tiêu ban đầu
- Đánh giá là so sánh những gì đã thực hiện bằng nguồn lực của thôn bản và những hỗ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đạt được [1]
2.1.2 Các loại đánh giá
Đánh giá tiền khả thi/khả thi
Đánh giá tiền khả thi là đánh giá tính khả thi của hoạt động hay dự án, để xem xét liệu dự án hay hoạt động có thể thực hiện được hay không trong từng điều kiện
cụ thể nhất định Loại đánh giá này thường do tổ chức tài trợ thực hiện, những tổ chức này sẽ phân tích các khả năng thực hiện của dự án hay hoạt động đề làm căn
cứ phê duyệt hay không phê duyệt để đưa vào thực hiện
Đánh giá định kỳ
Là đánh giá từng giai đoạn thực hiện, có thể là đánh giá toàn bộ các công việc trong một giai đoạn, nhưng cũng có thể đánh giá từng công việc ở từng giai đoạn nhất định Nhìn chung đánh giá định kỳ thường áp dụng cho những dự án có thời gian thực hiện lâu dài Tùy theo dự án mà người ta có thể định ra những khoảng thời gian để đánh giá định kỳ, có thể là 3 tháng, 6 tháng hay 1 năm một lần Mục đích của đánh giá định kỳ để tìm ra điểm mạnh, điểm yếu, khó khăn, thuận lợi trong một thời kỳ nhất định để có thể thay đổi hay điều chỉnh các hoạt động cho phù hợp với những gì đã đề ra và cho những giai đoạn kế tiếp
2.1.3 Khái niệm về hiệu quả
Hiệu quả là khái niệm chung để chỉ các kết quả hoạt động của các sự vật, hiện tượng bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường và hiệu quả xã hội
Trang 142.1.3.1 Hiệu quả về kinh tế
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nhưng nhìn chung chúng ta
có thể nói hiệu quả kinh tế là một phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hóa dịch vụ và tất cả các phạm trù, quy luật kinh tế khác Mặt khác, hiệu quả kinh tế cũng là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế, các nguồn lực trong quá trình sản xuất kinh doanh
Trong khi các nguồn lực rất có hạn, nhu cầu hàng hóa của xã hội ngày càng tăng và đa dạng, nâng cao hiệu quả kinh tế là một xu thế khách quan của sản xuất
Cụ thể đối với ngành nông nghiệp: hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh với lượng hiệu quả thu gom được và chi phí bỏ ra trong một thời gian nhất định của một phương án sản xuất nhất định, hay một cây trồng, một con gia súc nào
đó đạt được so sánh tối ưu giữa đầu vào và đầu ra trong điều kiện sản xuất khác nhau, như điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của ngành sản xuất nào đó Khi xác định hiệu quả kinh tế chúng ta cần xem xét và kết hợp chặt chẽ giữa lượng tuyệt đối với tương đối, qua đó biết được tốc độ và quy mô sản xuất nào đó Tuy nhiên, trong điều kiện thị trường hiện nay, mục tiêu hàng đầu của người sản xuất kinh doanh là thu nhập và lợi nhuận cao, do vậy hiệu quả kinh tế trong sản xuất thiên hướng về mặt kinh tế nhiều hơn so với mặt xã hội Có nhiều quan điểm về khái niệm hiệu quả kinh tế, hiệu quả kinh tế ở mỗi nơi, mỗi vùng khác nhau Nhưng hầu hết các quan điểm đều phản ánh 6 mối quan hệ giữa kết quả hoạt động sản xuất với chi phí bỏ ra
để đạt được kết quả đó
Các quan điểm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế được thể hiện là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được với chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra phần giá trị của các yếu tố nguồn lực đầu vào Mối tương quan này cần xét cả về tương đối và tuyệt đối, cũng như xét mối tương quan giữa hai đại lượng đó Một phương án đúng hay một giải pháp kinh tế
kỹ thuật, hiệu quả kinh tế cao là đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả thu được
và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Trang 15Hiệu quả kinh tế trước hết được xác định bởi sự so sánh tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Với cách biểu hiện này đã chỉ
rõ được mức độ hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực sản xuất khác nhau Từ đó
so sánh được hiệu quả kinh tế của các quy mô sản xuất khác nhau, nhưng nhược điểm của cách đánh giá này không thể hiện được quy mô của hiệu quả nói chung
2.1.3.2 Hiệu quả về xã hội
Là phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu của
xã hội như: giải quyết việc làm trong phạm vi toàn xã hội, làm giảm số người thất nghiệp tạo điều kiện để mọi người trong vùng đều có việc làm và tăng thu nhập, không ngừng nâng cao mức sống cả về vật chất và tinh thần trên cơ sở đó thực hiện công bằng dân chủ, công bằng xã hội
2.1.3.3 Hiệu quả về môi trường
Đối với ngành chăn nuôi sẽ tận dụng được phân từ việc chăn nuôi vào việc sử dụng làm bioga, sau đó các chất thải dư thừa từ bioga có thể lại đem vào sử dụng để làm phân bón cho cây trồng giúp người dân tận dụng tối đa nguồn phân sẵn có Đồng thời, việc chăn nuôi nhiều sử dụng thức ăn công nghiệp làm ô nhiễm không khí, nguồn nước, sức khỏe con người cũng không bị ảnh hưởng
Hiệu quả môi trường còn thể hiện là mô hình không có tác động gây ô nhiễm môi trường hoặc không thải các chất thải từ chăn nuôi ra bên ngoài môi trường
2.1.4 Lý luận chung về mô hình
Khái niệm về mô hình
Thực tiễn hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội, rất phong phú, đa dạng và phức tạp Người ta có thể sử dụng nhiều công cụ và phương pháp nghiên cứu để tiếp cận Mỗi công cụ phương pháp có những ưu thế riêng, được sử dụng trong hoàn
cụ thể Mô hình là một trong những phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học
Theo cách tiếp cận về mặt vật lý học thì mô hình là vật cùng hình dạng nhưng thu nhỏ lại Khi mô hình hóa đối tượng thì mô hình sẽ được trình bày một cách đơn giản, về một vấn đề phức tạp, giúp chúng ta dễ dạng nhận biết đối tượng nghiên cứu
Trang 16Như vậy, các mô hình có thể có các quan niệm khác nhau sự khác nhau đó tùy thuộc vào góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu, nhưng khi sử dụng mô hình người
ta đều có chung một quan điểm là dùng để mô phỏng các đối tương nghiên cứu
Do đó, ở mỗi góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng, tùy thuộc vào quan niệm và ý tưởng của người nghiên cứu mà mô hình được sử dụng để mô phỏng và trình bày khác nhau Song khi sử dụng mô hình để mô phỏng đối tượng nghiên cứu, người ta thường có chung một quan điểm thống nhất đó là: mô hình là mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng nghiên cứu, nó phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu
2.1.5 Lý luận về phát triển, phát triển kinh tế, phát triển chăn nuôi
Phát triển
Hiện nay, đang tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về phát triển Tuy có rất nhiều khái niệm và quan điểm khác nhau về phát triển nhưng có thể hiểu theo nghĩa chung nhất về phát triển là việc làm ra nhiều sản phẩm hơn cái vốn có của
sự vật, hiện tượng, làm phong phú về chủng loại cũng như thay đổi chất lượng tùy người sử dụng
Phát triển kinh tế
Có thể hiểu phát triển kinh tế là một quá trình biến đổi nền kinh tế quốc dân bằng một sự gia tăng sản xuất và nâng cao mức sống của dân cư Đối với các nước đang phát triển thì phát triển kinh tế là quá trình mà nền kinh tế chậm phát triển thực hiện CNH - HĐH Đó là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự thay đổi cơ cấu kinh tế, nhưng không đồng nghĩa với phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế là tăng thu nhập và sản phẩm bình quân đầu người Phát triển kinh tế bao gồm cả sự tăng
về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội
Phát triển chăn nuôi
Khi nói đến phát triển chăn nuôi, người ta thường quan tâm đến các khía cạnh:
số lượng, chất lượng, hình thức tổ chức chăn nuôi và phương thức chăn nuôi Phát triển về mặt số lượng: số lượng hay quy mô vật nuôi phụ thuộc vào mục tiêu chăn nuôi hay nhu cầu tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi Với mục tiêu chăn nuôi để giải quyết
Trang 17vấn đề thực phẩm gia đình thì người chăn nuôi không nuôi số lượng lớn và không quan tâm đến hạch toán chi phí Với mục tiêu hàng hóa thì số lượng vật nuôi đưa vào chăn nuôi lớn hơn nhiều so với chăn nuôi để giải quyết thực phẩm gia đình Quy mô chăn nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố quan trọng nhất là: mặt bằng sản xuất, vốn đầu tư, trình độ chuyên môn kỹ thuật của người chăn nuôi Các hộ chăn nuôi có những điều kiện tốt về mặt bằng sản xuất, vốn đầu
tư, khả năng tiêu thụ sản phẩm, có chuyên môn kỹ thuật cao sẽ thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi với số lượng lớn và ngược lại Phát triển về mặt chất lượng: chất lượng phát triển chăn nuôi có thể được đánh giá nhiều khía cạnh khác nhau như: sự tăng trưởng, khả năng chiếm lĩnh thị trường và khả năng cạnh tranh trên thị trường, năng suất lao động đạt được khi phát triển chăn nuôi, lợi ích thu được của người chăn nuôi và của cộng đồng xã hội Chất lượng phát triển chăn nuôi phụ thuộc nhiều yếu tố: khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong chăn nuôi của người chăn nuôi là cao hay thấp, chất lượng sản phẩm chăn nuôi cung cấp
ra thị trường là tốt hay không tốt, thu nhập và lợi nhuận tính trên một đơn vị sản phẩm cao hay thấp, tổng thu nhập và lợi nhuận được của người chăn nuôi cao hay thấp Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã chia chăn nuôi ra 2 loại: chăn nuôi nhỏ lẻ
và chăn nuôi tập trung
Bên cạnh đó, việc phát triển chăn nuôi cũng có sự đầu tư của các dự án phát triển nông thôn nhằm đem lại hiểu quả kinh tế cao cho người dân địa phương Nhưng khi có được sự đầu tư thì người dân trở nên trông chờ, lười lao động Khi vốn đầu tư chăn nuôi là do chính người dân bỏ ra thì kết quả thu được lại có sự thay đổi, một số hộ muốn đầu tư chăn nuôi nhưng họ lại không có vốn, vay ngân hàng thì lãi suất cao Các cơ quan Nhà nước lại ít quan tâm đến vấn đề này
2.1.6 Vai trò của nghề chăn nuôi
Cung cấp thực phẩm
Từ lâu các sản phẩm của ngành chăn nuôi cung cấp ra thị trường rất được ưa chuộng Cung cấp các thực phẩm tươi sống phục vụ như cầu ăn uống của con người đồng thời cung cấp dinh dưỡng bổ sung các chất đạm, chất béo, protein có trong
Trang 18thực phẩm kết hợp với các sản phẩm là rau xanh để làm phong phú bữa ăn của gia đình và có thêm chất dinh dưỡng đảm bảo cho mọi người co sức khỏe tốt để tiếp tục duy trì công việc hàng ngày
Nguồn phân bón cho cây trồng và chất đốt biogas
Ngoài sản phẩm chính là cung cấp thịt thì trong chăn nuôi còn thu được một lượng phân khá lớn dùng phục vụ cho trồng trọt, ao cá Ngoài ra, lượng phân thu được cũng tận dụng để làm chất đốt bioga, vừa hạn chế được ô nhiễm không khí cũng như ô nhiễm nguồn nước
Mang lại thu nhập cho nông dân
Chăn nuôi được đánh giá là một ngành hay xảy ra rủi ro nhưng cũng là một ngành đem lại hiệu quả kinh tế cao, vừa làm tăng thu nhập cho nông dân, vừa giải quyết được vấn đề việc làm
2.1.7 Các khái niệm về xây dựng nông thôn mới
2.1.7.1 Khái niệm
- Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp, phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ);
có nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo, thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao
- Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân của cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp
- Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh [5]
2.1.7.2 Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới
Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới nhìn chung, bộ mặt nông thôn ở các xã vùng nông thôn của thành phố đã có nhiều khởi sắc rõ rệt Tuy nhiên, vấn đề xây dựng nông thôn mới ở các xã này vẫn còn không
Trang 19ít những khó khăn, đây vẫn là một bài toán khó đối với Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới thành phố và từng địa phương
Về thuận lợi
+ Một số xã đã thực hiện được mục tiêu của chương trình đề ra, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, nâng cao chất lượng sản phẩm, nghiên cứu quy hoạch và hoàn thành các vùng chuyên canh cây trồng có giá trị kinh tế cao, nhân rộng vùng sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGap
+ Tài nguyên, đất, nước, rừng: tài nguyên đất đai đã được cấp quyền sử dụng đất ổn định, các tài nguyên nước đáp ứng nhu cầu cho phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và phục vụ dân sinh
+ Lao động địa phương dồi dào, có đủ sức khỏe để tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế xã hội
+ Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã nhận được sự quan tâm đặc biệt, chỉ đạo sát xao của cấp ủy đảng, chính quyền và sự đồng thuận nhất trí cao của nhân dân địa phương
Về khó khăn
+ Việc xây dựng nông thôn mới cũng gặp không ít những khó khăn do kết cấu
hạ tầng nông thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi, còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ); nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn ít được quan tâm đầu tư, hệ thống thủy lợi cần được đầu tư nâng cấp, chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực sự an toàn, cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hóa còn rất hạn chế, mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng
bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp Mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn, dân cư phân bố rải rác, kinh tế hộ kém phát triển + Xã Phượng Tiến là xã có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, lâm nghiệp là chính, không có ngành nghề truyền thống, ít nghề phụ
+ Do thu nhập còn thấp, đời sống của nhân dân chưa cao nên việc huy động vốn đối ứng của nhân dân trong xây dựng nông thôn mới còn gặp nhiều khó khăn
Trang 20+ Nhận thức của một số bộ phận cán bộ, nhân dân về Chương trình xây dựng nông thôn mới còn hạn chế
+ Do sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chưa gắn chế biến với tiêu thụ sản phẩm, chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp, cơ giới hóa chưa đồng bộ
+ Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, cơ hộ có việc làm mới tại đại phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao
+ Do đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hóa truyền thống đang có nguy cơ mai một, nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát Hiện nay, kinh tế - xã hội khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch
+ Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, cần ba yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật Qua việc xây dựng nông thôn mới
sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa Mặt khác, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Vì vậy, một nước công nghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khổ [4]
2.1.7.3 Khái quát những mặt đạt được, chưa đạt được trong xây dựng NTM trên địa bàn xã so với yêu cầu Bộ tiêu chí NTM tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2017 - 2020; những tồn tại hạn chế, nguyên nhân
a Những mặt đã đạt được
- Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong những năm qua Đảng bộ và nhân dân xã Phượng Tiến đã đoàn kết, thống nhất, tập trung lãnh đạo thực hiện Nghị quyết của Đảng, đưa Nghị quyết vào cuộc sống Tập trung sức người, sức của phát triển kinh tế xã hội Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước được nâng lên, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện Hệ thống
Trang 21chính trị được củng cố, dân chủ ở cơ sở được phát huy, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới
- Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới theo Bộ tiêu chí Quốc gia
về nông thôn mới Sau khi tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của huyện Xã đã tổ chức các hội nghị: Ban chấp hành Đảng ủy; Hội nghị MTTQ và các đoàn thể; hội nghị Bí thư chi bộ -trưởng xóm; Hội nghị Đảng bộ, Hội nghị BCĐ xây dựng NTM mở rộng để quán triệt nội dung, tinh thần chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới
- Đánh giá 19 tiêu chí NTM, trong đó:
+ Số tiêu chí đã đạt là 16 tiêu chí
+ Số tiêu chí chưa đạt là 03 tiêu chí, gồm: thu nhập, hộ nghèo, nhà ở dân cư
b Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
Tồn tại, hạn chế
- Tỷ lệ lao động trong lĩnh vực sản xuất nông lâm, ngư nghiệp còn cao, tỷ lệ lao động qua đào tạo chính quy còn thấp, dẫn đến năng xuất lao động chưa cao, chưa có các mô hình sản xuất kinh doanh nổi bật và chưa được nhân rộng
- Mặt bằng kinh tế của nhân dân còn thấp, chưa đồng đều, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao nên việc đóng góp đối ứng còn nhiều khó khăn
- Quỹ đất để xây dựng cơ sở hạ tầng và đầu tư dự án hầu hết do dân quản lý nên công tác giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn
- Việc khảo sát thiết kế, thẩm định và đầu tư kinh phí dự án chưa kịp thời, chưa đáp ứng nhu cầu của địa phương
Nguyên nhân của các hạn chế trên
* Về khách quan
- Do xuất phát điểm của xã còn thấp và lại là công việc mới, khối lượng công việc về xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, xây dựng hệ thống chính trị rất lớn, đa dạng , trong thực hiện phải vừa làm vừa nghiên cứu rút kinh nghiệm, bổ sung Thời gian thực hiện chưa nhiều, một số chính sách mới được
Trang 22triển khai nên chưa phát huy được tác dụng, chưa đem lại kết quả thực tế Việc huy động nguồn lực cho Chương trình xây dựng nông thôn mới còn nhiều khó khăn, ngân sách đầu tư của nhà nước (kể cả vốn lồng ghép từ các chương trình mục tiêu quốc gia) còn quá thấp so với yêu cầu; vốn huy động trong nhân dân rất hạn chế do thu nhập của người nông dân còn thấp
- Điểm xuất phát về kinh tế - xã hội của xã còn thấp, cơ sở hạ tầng nông thôn quá yếu kém, sản xuất thuần nông, hàng hóa nông sản khó tiêu thụ, giá cả bấp bênh, nhà nước chưa có chiến lược giải quyết đầu ra cho nông dân một cách căn bản, đời sống của nông dân còn nhiều khó khăn Nhiều chủ trương chính sách của nhà nước tạo động lực thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn còn nhiều bất cập, khó triển khai, áp dụng trong thực tế; thiếu nguồn lực tài chính, thiếu nhân lực để triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn
* Về chủ quan:
- Một số bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa hiểu rõ về chủ trương, nên chưa nhận thức phát huy vai trò của mình trong xây dựng nông thôn mới; nhiều nơi vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào việc đầu tư của Nhà nước Chất lượng công tác quy hoạch chưa đáp ứng yêu cầu, nội dung đề án nặng về phát triển hạ tầng, chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, ý nghĩa, nội dung của chương trình MTQG xây dựng NTM, thiếu chủ động, sáng tạo trong quá trình tổ chức thực hiện; vẫn còn
tư tưởng trông chờ, ỷ lại cấp trên, nhất là trong bố trí nguồn lực cho chương trình
- Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành còn thiếu kịp thời, chặt chẽ Nguồn vốn đầu tư ngân sách cho chương trình còn thấp, trong khi khả năng đóng góp của nhân dân hạn chế
- Nhận thức về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã được nâng lên nhưng vẫn còn bất cập Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, sự quản lý, điều hành của chính quyền có lúc chưa đồng bộ, thiếu kiểm tra, đôn đốc; sự phối hợp trong công tác tuyên truyền, vận động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có lúc, có nơi chưa được phát huy cao [5]
Trang 232.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình chăn nuôi trên thế giới và Việt Nam
2.2.1.1 Chăn nuôi trên thế giới
Đối với lợn
Nghề chăn nuôi lợn ra đời rất sớm, cách đây một vạn năm chăn nuôi lợn đã xuất hiện và phát triển ở Châu Âu và Châu Á Sau đó, khoảng thế kỷ XVI, bắt đầu phát triển ở Châu Mỹ và thế kỷ XVIII phát triển ở Châu Úc Đến nay, nuôi lợn đã trở thành một nghề truyền thống của nhiều quốc gia Ở nhiều nước, chăn nuôi lợn có công nghệ cao và có tổng đàn lợn lớn như: Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Canada, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Đức, Ý, Úc, Trung Quốc, Singapore, Đài Loan… Nói chung ở các nước tiên tiến có chăn nuôi lợn phát triển lợn theo hình thức công nghiệp và đạt trình độ chuyên môn hóa cao
Tuy vậy, đàn lợn trên thế giới phân bố không đồng đều ở các châu lục Có tới 70% số đầu lợn được nuôi ở Châu Á Và Châu Âu, khoảng 30% ở các châu lục khác Trong đó, tỷ lệ đàn lợn được nuôi nhiều ở các nước có chăn nuôi lợn tiên tiến Nơi nào có nhu cầu thịt lợn cao, nơi đó nuôi nhiều lợn Tính đến nay chăn nuôi lợn ở các nước Châu Âu chiếm khoảng 52%; Châu Á 30,4%; Châu Úc 5,8%; Châu Phi 3,2 %; Châu Mỹ 8,6%
Nhìn chung, sản phẩm của ngành chăn nuôi lợn được sử dụng rộng rãi khắp nơi trên thế giới (trừ ở các các nước theo tín ngưỡng Hồi giáo) Giá trị dinh dưỡng cao của thịt lợn là nguồn thực phẩm tốt cho con người, không những thế nghề chăn nuôi lợn đã đem lại lợi nhuận không nhỏ cho nền kinh tế của các nước này [10]
Đối với dê
Việc chăn nuôi dê cũng được chú trọng đặc biệt hiện nay trên thế giới có rất nhiều loại dê với đặc tính hiền lành, dễ nuôi, cho sản lượng sữa cao điển hình như một số loại sau: dê Vùng Messinese, dê Valais Blackneck, dê Tonggenburg là giống
dê nhà có nguồn gốc từ Thụy Sĩ, chúng là một giống dê chuyên cho sữa Mỗi ngày, một con dê Togenbua có thể cho từ 2,4 – 2,5 lít sữa Giống dê Tonggenburg có tính hiền lành, thân thiện nên được phổ biến để sản xuất sữa, ngoài ra còn có dê Tây Ban Nha, dê sữa Laoshan là giống dê này hiện nay rất hiếm Thường được nuôi trong gia
Trang 24đình phục vụ việc cung cấp sữa cho gia đình Dê Stiefelgeiss, dê Saanen là giống dê chuyên dụng để lấy sữa có nguồn gốc từ Thụy Sĩ, nó được nuôi ở Pháp và nhiều nước Châu Âu dê Saanen cho sản lượng sữa cao, đặc tính cho sữa tốt, hiền lành, trầm lặng, dễ dạy nên được nuôi phổ biến dể sản xuất sữa dê Girgentan, dê Pygora,
dê Murcia – Granada, dê Jumnapari, dê Kiko, dê Mancha,… [9]
Đối với thỏ
Vào thế kỉ XVI ở một số nước Tây Âu như Pháp, Ý, Flanders và Anh cùng với việc săn bắt thỏ hoang dã, thì thỏ đã được chăn nuôi bán hoang dã và nuôi nhốt trong chuồng để lấy thịt Tuy nhiên, do chế độ lãnh chúa đặc quyền lúc bấy giờ nên việc phát triển chăn nuôi thỏ không được phát triển rộng rãi Đầu thế kỉ XIX việc chăn nuôi thỏ được phát triển rộng khắp các vùng nông thôn và ven đô thị các nước Tây Âu, người Châu Âu đã giới thiệu chăn nuôi thỏ tới các nước khác như: Autralia, New Zealand và sau đó chăn nuôi thỏ được lan tỏa khắp thế giới Chăn nuôi thỏ hiện nay đang được chú trọng và phát triển ở nhiều nước trên thế giới Theo Lebas và Colin năm 1992 thế giới sản xuất khoảng 1,2 triệu tấn thịt thỏ đến năm 1994 con số này ước tính khoảng 1,5 triệu tấn, bình quân đầu người tiêu thụ 280 gram thịt thỏ/năm Có rất nhiều nước nuôi và sản xuất thịt thỏ như: Bồ Đào Nha, Italia, Nga, Pháp, Thái Lan, Ukraina, Trung Quốc, Việt Nam, Mỹ, Tây Ban Nha, Phillipin,…[6]
Đối với gia cầm
Mặc dù, dịch cúm gia cầm đã gây tổn thất không nhỏ cho ngành nuôi gà lấy trứng ở nhiều nước, nhất là ở Hoa Kỳ và ở Trung Quốc Năm 2015, tổng sản lượng trứng gia cầm toàn cầu vẫn tiếp tục tăng và đạt mức kỷ lục là 70,8 triệu tấn với 1.338 tỷ quả trứng, tăng 1,6% so với năm 2014 (tăng 1,11 triệu tấn) FAO dự kiến, sản lượng trứng toàn cầu sẽ đạt tới 100 triệu tấn năm 2035 So với năm 2000, sản lượng trứng toàn cầu 2015 đã tăng 38,7%, bình quân tăng 2,2%/năm Khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương sản xuất 60% sản lượng trứng gia cầm toàn cầu, luôn đứng đầu các khu vực về sản xuất trứng gia cầm Năm 2015 có 10 nước đạt sản lượng trứng trên 1 triệu tấn là Trung Quốc: 29.990 triệu tấn; Hoa Kỳ: 5.786 triệu tấn; Ấn Độ: 4.356triệu tấn; Mexico: 2.638 triệu tấn; Nhật Bản: 2.521 triệu tấn; Nga: 2.500
Trang 25triệu tấn; Brazil: 2.371triệu tấn; Indonesia: 1.387 triệu tấn; Thổ Nhĩ Kỳ: 1.045 triệu tấn; Ucraina: 1.007 triệu tấn [8]
2.2.1.2 Chăn nuôi ở Việt Nam
Theo tổng cục thống kê trong tháng 2/2018 tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm trên cả nước tương đối ổn định Cụ thể như sau:
Về chăn nuôi lợn: theo đánh giá của Tổ chức Nông Lương Thế giới
(FAO): Châu Á sẽ trở thành khu vực sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi lớn nhất Chăn nuôi Việt Nam, giống như các nước trong khu vực phải duy trì mức tăng trưởng cao nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và từng bước hướng tới xuất khẩu Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi lợn của nước ta có biến động cả
về tốc độ phát triển, phân bố tại địa bàn và phương thức sản xuất, đồng thời xuất hiện nhiều nhân tố bất ổn gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, vệ sinh an toàn thực phẩm và nhiều dịch bệnh mới
Giá bán thịt lợn hơi tăng nhẹ nhưng chưa có chuyển biến tích cực, người chăn nuôi vẫn trong tình trạng hòa vốn, chi phí chăn nuôi còn cao khiến người chăn nuôi lợn e ngại tái đàn Ước tính tổng số lợn của cả nước tháng 2/2018 giảm khoảng 5,7% so với cùng kỳ năm 2017 [10]
Về chăn nuôi dê: năm 1993, Trung tâm nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây
được giao nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê trong cả nước Từ đó đến nay nhiều công trình nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi dê về giống, thức ăn, chăm sóc nuôi, dưỡng, thú y, chế biến sản phẩm đã được tiến hành và đã thu được những kết quả bước đầu khả quan và tạo điều kiện cho chăn nuôi dê từng bước phát triển trong cả nước Năm 2003, sau 10 năm phát triển, theo số liệu của Cục thống kê tổng đàn dê của cả nước là 525.000 con, trong đó chủ yếu là giống dê
Cỏ, được phân bố tập trung ở các tỉnh vùng núi và trung du phía Bắc Riêng đàn dê của miền Bắc chiếm 72,5% tổng đàn, miền Nam 27,5% (trong đó Tây Nguyên chiếm 12,3%; duyên hải miền Trung chiếm 8,9%; Đông Nam Bộ 2,1% và Tây Nam
Bộ 3,8%) Đàn dê của các tỉnh vùng núi phía Bắc chiếm 67% tổng đàn dê của miền Bắc và 48% tổng đàn dê cả nước
Trang 26Hiện nay, tổng đàn dê vẫn không ngừng phát triển và tính tới thời điểm tháng
10 năm 2017 so với thời kì đầu phát triển, đàn dê đã tăng từ 320.000 con lên 2.586.000 con, gấp 8 lần và đã ngày càng được quan tâm đầu tư phát triển cả về mặt
10 tháng năm 2017, con số đã đạt được là khoảng 1 triệu con [9]
Về chăn nuôi thỏ: phát triển tương đối thuận lợi, giá cả ổn định, người
nuôi có lãi nên nhiều hộ, trang trại nuôi tiếp tục phát triển đàn Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tháng 2/2018 tăng khoảng 6,9% so với cùng kỳ năm 2017
Ngoài ra, việc chăn nuôi thỏ ở Việt Nam diễn ra khá phổ biến ở một số nơi như: Đại Từ, Định Hóa, Tp.Thái Nguyên, …
Thỏ trên thị trường Việt Nam ngày càng được ưa chuộng nhiều hơn Nó cung cấp ra thị trường một lượng thịt đáng kể ngoài cung cấp thịt, lông cho tiêu dùng, thỏ còn được dùng nhiều trong thú y và trong y học, là con vật được nhiều nước trên thế giới dùng để kiểm nghiệm thuốc, chế một vài loại vắc xin cho người và gia súc [6]
Về chăn nuôi gia cầm: ở Việt Nam trước đây, chăn nuôi gia cầm mang
tính tự cấp tự túc, chưa có ý nghĩa như là một ngành sản xuất hàng hoá Ngành chăn nuôi gà công nghiệp có thể lấy mốc từ năm 1974, khi mà hai trung tâm giống Quốc gia được xây dựng đó là trung tâm giống gà hướng trứng Ba Vì (Sơn Tây) và trung tâm giống gà thịt Tam Đảo (Vĩnh Phúc) Đàn gà giống hướng thịt và hướng trứng được nhập vào nước ta từ Cuba cũng từ năm 1974 với 2 vạn trứng giống của các dòng thuần
Trang 27Trong những năm 1985-1995 nhất là gà công nghiệp phát triển với tốc độ nhanh Tổng đàn gà công nghiệp năm 1985 là 9,2 triệu con Sản lượng trứng trung bình trong khu vực quốc doanh là 167 quả/gà mái/năm; ở khu vực gia đình sản lượng trứng còn thấp hơn Đàn gà công nghiệp năm 1991 chiếm 5-7% tổng đàn gia cầm thì năm 1994 đã tăng lên 25% Năm 1994 đã đạt 5 vạn tấn thịt gà Sản xuất trứng cũng tăng lên đáng kể Năm 1991, toàn ngành sản xuất được 8,5 triệu trứng giống, tiêu thụ chỉ được 40-45% (đưa vào ấp sản xuất gà con giống) Năm 1994 đã đạt 18,5 triệu, trong đó 95% được ấp cho ra gà con giống Tính lãi dòng trong sản xuất giống là 20-40%, trong sản xuất thương phẩm là 12-13%
Các cơ sở sản xuất giống gà đều có hướng phát triển tốt Trung tâm Ba Vì năm
1993 sản xuất 1,6 triệu trứng giống, tăng 510% so với năm 1992 Năm 1994 đã sản xuất 2,2 triệu trứng, trong đó 53 nghìn trứng giống gà thịt (70% cung cấp cho các tỉnh phía Nam)
Trung tâm Tam Đảo 9 tháng thu 650.000 trứng, cả năm sản xuất được 850.000 trứng Trại Lương Mỹ sản xuất 2 triệu trứng giống, 406.000 gà giống 1 ngày tuổi; 46,8 tấn thịt gà
Từ năm 1996, cùng với sự đổi mới kinh tế đất nước, ngành chăn nuôi gia cầm
có những bước tiến nhảy vọt Nhiều giống gia cầm có lông màu, năng suất trứng và thịt khá được nhập vào nước ta, thích hợp với chăn nuôi (thả vườn) trong gia đình như gà Tam Hoàng, Kabir, Lương Phượng, gà Ai Cập; các giống vịt siêu thịt (Super meat), siêu trứng Không chỉ gà mà nhiều đối tượng gia cầm khác cũng được nhập nội và khuyến khích phát triển như bồ câu Pháp (Titan, Mimas), ngan Pháp (dòng R31, R51, R71 ), chim cút, đà điểu… Tuy vậy, dịch cúm gia cầm trong các năm 2003-2005 và ngay cả hiện tại đã và đang gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi nói riêng và nền kinh tế nói chung
Ngành chăn nuôi gia cầm nước ta đang phát triển, tuy vậy sản phẩm chăn nuôi gia cầm bình quân/đầu người/năm còn thấp Năm 1995 có 17,75 kg tổng số thịt hơi các loại chiếm 100%, trong đó có thịt gia cầm hơi 2,64 kg chiếm 14,8%; trứng đạt 37,9 quả Năm 1997 có 19,59 kg tổng số thịt hơi các loại chiếm 100%; trong đó, có thịt gia cầm hơi 2,95 kg chiếm 15,1%; trứng đạt 37,9 quả Năm 2003, sản lượng
Trang 28trứng gia cầm bình quân/đầu người/năm là 45 quả, còn thịt gia cầm 3,36 kg chiếm 15% trong tổng số thịt hơi các loại là 22,40 kg
Ngành chăn nuôi gia cầm đã tiếp cận một số công nghệ tiên tiến của thế giới
về giống, thức ăn, thuốc thú y và quy trình chăm sóc nuôi dưỡng Ở nước ta cũng đã hình thành nhiều cơ sở chăn nuôi gia cầm quy mô lớn Theo ước tính, đến nay cả nước có trên 100.000 hộ chăn nuôi theo hình thức trang trại tại 8 vùng sinh thái khác nhau, thay thế dần kiểu chăn nuôi tự cấp, tự túc, tận dụng sản phẩm phụ của trồng trọt như trước đây bằng kiểu chăn nuôi hàng hóa quy mô vừa và một số ít trang trại có quy mô chăn nuôi hàng hóa lớn đã xuất hiện
Cơ cấu giống gia cầm 80% là các giống địa phương, chỉ có 20% là các giống cao sản nhập nội và những giống gia cầm cao sản này được nuôi chủ yếu theo phương thức chăn nuôi công nghiệp tập trung
Phân bố đàn gia cầm: đàn gà chủ yếu tập trung tại các tỉnh phía Bắc từ 75%, còn 25% tập trung ở phía Nam Đàn vịt chủ yếu tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long (55%), còn lại phân bố ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung
Ngành chăn nuôi gia cầm trong những năm gần đây đạt được những thành tựu
to lớn, tuy vậy còn gặp không ít khó khăn Ngành chăn nuôi gia cầm nước ta chủ yếu là quy mô nhỏ, phân tán, chăn nuôi hộ gia đình, tận dụng phụ phế phẩm nông nghiệp Các trang trại chăn nuôi gia cầm với quy mô vừa và lớn mặc dù đã hình thành tại một số vùng sinh thái, song chiếm tỷ lệ chưa cao, thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi gia cầm còn khó khăn, cơ sở hạ tầng và dịch vụ chăn nuôi nhìn chung còn thấp kém, hầu hết chưa đảm bảo quy trình kỹ thuật Nguy cơ dịch bệnh đối với đàn gia cầm và an toàn thực phẩm cho người ngày càng nghiêm trọng Năm
2004 là một năm thật sự khó khăn, người chăn nuôi phải đối phó với dịch cúm gia cầm, nhưng ngành chăn nuôi vẫn đạt mức tăng trưởng 8%/năm với tổng sản lượng thịt hơi 2,63 triệu tấn tăng 10,85% đưa mức bình quân thịt hơi/người/năm đạt 31,5
kg Định hướng sản xuất của đàn gà công nghiệp nước ta là: nhà nước quản lý và sản xuất con giống, nông dân nuôi thương phẩm và sản xuất ra thịt, trứng, nhà nước mua lại và bao tiêu sản phẩm [8]
Trang 29
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung vào các hộ gia đình chăn nuôi và các đối tượng có liên quan
đến chăn nuôi trên địa bàn xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: nghiên cứu về tình hình chăn nuôi trong phạm vi xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
- Về thời gian: thu thập số liệu, phân tích, đánh giá tình hình chăn nuôi trong 3 năm 2015- 2017
- Phạm vi nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu kết quả của một số mô hình chăn nuôi có sự đầu tư của dự án SAEMAUL do chính phủ Hàn Quốc đầu tư tại xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Và những xóm điển hình của xã
để so sánh sự thay đổi về chăn nuôi của các xóm
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian: từ ngày 15/01/2018 đến ngày 30/05/2018
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của xã Phượng Tiến
- Nghiên cứu thực trạng các mô hình chăn nuôi trên địa bàn xã Thực trạng các mô hình chăn nuôi được thực hiện; mô hình chăn nuôi gà thả vườn; mô hình chăn nuôi dê; mô hình chăn nuôi thỏ
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giúp các hộ nông dân nâng cao hiệu quả chăn nuôi góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người dân
- Chỉ tiêu theo dõi cụ thể các mô hình
Hiệu quả kinh tế:
+ Diện tích
+ Giá bán
Trang 30+ Mua giống
+ Doanh thu
+ Lợi nhuận
+ Các khoản chi phí khác
Hiệu quả môi trường:
+ Đánh giá tình hình sử dụng phân chuồng vào trong trồng trọt như thế nào Hiệu quả xã hội:
+ Tính bền vững của các mô hình
+ Khả năng nhân rộng của mô hình
+ Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của các mô hình chăn nuôi tại địa phương
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của mô hình
- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mô hình
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu: phụ thuộc vào số hộ tham gia thực hiện mô hình Tôi tiến hành điều tra bảng hỏi trên phạm vi là 3 xóm: xóm Mấu, xóm Tổ và xóm Phỉnh Đây là
ba xóm thuộc 3 vùng khác nhau, có địa hình khác nhau và là 3 xóm điển hình của
xã nên tôi tập trung điều tra
Vì xóm Tổ là xóm nhận được sự đầu tư của dự án SAEMAUL nên tôi đã lựa chọn 2 xóm thuộc 2 vùng khác nhau và điển hình của xã để có sự so sánh về các mặt đời sống, hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường, xã hội, tinh thần đoàn kết,… giữa xóm nhận được sự đầu tư của SAEMAUL và xóm không nhận được sự đầu tư
có sự khác nhau như thế nào
Tiến hành điều tra ngẫu nhiên tại các hộ gia đình của 3 xóm, lấy thông tin của bất kì hộ gia đình nào chứ không phụ thuộc vào điều kiện là hộ giàu, hộ nghèo và trung bình để điều tra Điều tra theo bảng hỏi thông qua điều tra 60 hộ chia đều ra 3 xóm, mỗi 1 xóm là 20 phiếu, là các hộ điển hình thực hiện vào mô hình chăn nuôi quy mô gia đình, quy mô trang trại và không chăn nuôi để điều tra Trong đó, có hộ
Trang 31chăn nuôi thỏ, hộ chăn nuôi dê, hộ chăn nuôi gà, vịt, lợn, trâu, bò,… Sau khi tiến hành điều tra xong sẽ tổng hợp lại tất cả các thông tin
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập thông tin thứ cấp
Là những nguôn thông tin lấy từ chính quyền các ban ngành hay đoàn thể địa phương Những thông tin mà họ đã thu thập và xử lý, thông tin thứ cấp còn lấy từ các sách báo, tạp chí, internet, các trang website… Đó là những thông tin cho thấy được những nét khái quát nhất về địa phương để từ đó có những nhận định sơ bộ về địa phương và cũng là cơ sở để làm đề tài
Thu thập thông tin sơ cấp
- Phương pháp quan sát: là phương pháp mà người nghiên cứu quan sát nhìn nhận trực tiếp vấn đề thông qua quan sát thực địa nhìn nhận bằng ánh mắt sự suy nghĩ và tìm hiểu tại địa phương
- Điều tra bằng bảng hỏi: người nghiên cứu sẽ xây dựng lên bảng hỏi như những thông tin, ý kiến để dựa vào đó để tìm hiểu cộng đồng lắng nghe ý kiến tâm tư và nguyện vọng của họ để có được thông tin về địa phương Thu thập số liệu đưa vào các bảng biểu từ đó đưa ra các nhận định về các mô hình chăn nuôi tại địa phương
- Phỏng vấn bán cấu trúc: người phỏng vấn chuẩn bị bảng kiểm trước khi tiến hành điều tra thực địa nhằm thu thập thông tin đồng nhất từ các cuộc phỏng vấn khác nhau Những người được phỏng vấn là những người nông dân trên địa bàn xóm
Trang 32- Xử lý các thông tin định lượng thu thập được từ các tài liệu thống kê, báo cáo, quan sát phỏng vấn
- Xử lý các thông tin trên word và excel
3.4.4 Phương pháp phân tích thông tin, số liệu
Phương pháp so sánh
Sau khi các số liệu được tổng hợp và phân tích chúng ta có thể sử dụng phương pháp này để so sánh:
- Kết quả thực hiện các mục tiêu, sự thay đổi và xu hướng biến đổi của vấn
- Tốc độ, nhịp điệu phát triển về các mặt của các mô hình chăn nuôi qua các năm
- Mức độ tiên tiến hay lạc hậu của từng mô hình trong quá trình sản xuất
3.4.5 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả của mô hình chăn nuôi
Từ kết quả thu được ta xác định chi phí và thu thập từng năm, từ đó tính được tổng chi phí và tổng thu nhập đến thời điểm điều tra Lợi nhuận được tính theo công thức:
LN = DT – CP
Trong đó: - LN: lợi nhuận
-DT: doanh thu
-CP: chi phí
Một số công thức liên quan:
Doanh thu = đơn giá * số lượng
Trang 33Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Phượng Tiến
4.1.1.1 Vị trí địa lý
- Vị trí địa lý: Phượng Tiến là xã miền núi của huyện Định Hóa, cách trung tâm huyện 4 km phía Đông Nam, phía Đông Giáp với xã Tân Dương, phía Tây giáp với xã Bảo Cường, phía Nam giáp với xã Yên Trạch huyện Phú Lương, phía Bắc giáp thị trấn Chợ Chu
Tọa độ địa lý: từ 24005’ đến 24040’ độ vĩ Bắc; từ 185005’ đến 185080’ độ kinh Đông Phạm vi ranh giới: phía Đông giáp xã Tân Dương, phía Tây giáp xã Bảo Cường, phía Nam giáp xã Yên Trạch (huyện Phú Lương), phía Bắc giáp thị trấn Chợ Chu Phượng Tiến có một đoạn chạy qua ở khu vực ranh giới phía Bắc của xã Ngoài ra,
có một khe suối chảy từ khu vực phía Nam Phượng Tiến cũng hợp lưu vào dòng chính sông Chợ Chu trên địa bàn Đây là một vị trí tương đối thuận lợi cho việc giao lưu văn hóa, chính trị, xã hội cũng như trong việc giao thương hàng hóa giữa các xã trong huyện Tuy nhiên, giao thông, thủy lợi, điện, đường, trường, trạm,…còn nhiều khó khăn nên cũng ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát triển kinh tế, xã hội của xã Diện tích tự nhiên: tổng diện tích đất tự nhiên là 4.958,07 ha, có 1063 hộ và
4139 khẩu, dân tộc Tày chiếm 70%, dân tộc Kinh 20%, dân tộc khác 10%, dân cư sống thưa thớt, thu nhập bình quân còn thấp, đời sống của nhân dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp
4.1.1.2 Địa hình, khí hậu
* Địa hình
Đặc điểm địa hình vùng này là đồi bát úp tương đối thoải, độ dốc không lớn Vùng này có nhiều suối, khe lạch nước phân bố khá đều, nguồn nước tương đối dồi dào Đây là vùng sinh thái nông nghiệp, tiềm năng phát triển cây công nghiệp và cây ăn quả Sông, suối có nhiều nhưng nhỏ, không có giá trị giao thông đường thủy,
Trang 34song được phân bố đều nên đã đóng vai trò quan trọng trong việc tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp
* Khí hậu
Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa
và mùa khô Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Số ngày mưa trung bình hàng năm là 137 ngày, lượng mưa trung bình 1.700mm/năm, chủ yếu tập trung trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng
9 Tất cả sông suối ở xã đều có chế độ lũ vào mùa hè, trong đó lũ tập trung vào tháng 7, tháng 8 Lưu lượng dòng chảy cao nhất đạt được vào khoảng tháng 7, tháng
4.1.1.3 Thủy văn
Tất cả sông suối đều có chế độ lũ vào mùa hè từ tháng 6 đến tháng 9, trong đó
lũ tập trung vào tháng 7 - 8, lưu lượng dòng chảy cao nhất đat được vào tháng 7- 8, nhỏ nhất vào tháng 3 Tại các vùng núi thấp, modul dòng chảy là 20-30 lit/s
Xã Phượng Tiến (Định Hóa) nằm trong vùng có chế độ gió mùa, mùa hè có gió Đông Nam và mùa đông có gió Bắc Tốc độ gió trung bình khoảng 1,8 m/s Trong các tháng mùa mưa thường có gió mạnh, gió giật
4.1.1.4 Các nguồn tài nguyên
Tài nguyên đất
Dựa trên cơ sở tài nguyên và bản đồ thổ nhưỡng, đất đai của huyện Định Hóa được phân ra 9 loại chính như sau:
Trang 35+ Đất phù sa không được bồi: phân bổ dọc theo các triền suốt, tập trung ở các xóm: Pải, Hợp Thành, Nạ Liền, Nạ Què, Pa Trò, Pa Goải Đây là loại đất tốt, thích hợp cho trồng lúa và cây màu ngắn ngày
+ Đất phù sa ngòi suối: phân bố dọc theo triền suối, là loại đất tốt, có thành phần cơ giới nhẹ, có phản ứng chua đến ít chua, hàm lượng mùn từ trung bình đến nghèo, rất thích hợp cho việc trồng các giống lúa mới và rau màu, phân bố tập trung
ở các xóm: xóm Đình, xóm Phỉnh, xóm Pa Goải, xóm Nạ Liền, xóm Pải
+ Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: chủ yếu dọc theo các khe suối và các thung lũng đá vôi, có độ phì tương đối khá, có phản ứng chua Hiện nay, phần lớn diện tích này đã được sử dụng trồng cây công nghiệp, phân bổ ở xóm Cấm, xóm Phỉnh, xóm Héo
+ Đất nâu đỏ trên đá Macma trung tính và Bazơ: là loại đất khá tốt, giàu dinh dưỡng, kết cấu xốp, thành phần cơ giới nặng, ít chua, chủ yếu hiện nay đã được trồng rừng Đất rất thích hợp cho với việc trồng cây đặc sản (trám, hồi, quế) Loại đất này phân bổ tập trung chủ yếu ở các xóm: Nà Lang, Nạ Á, Nạ Pooc, Xóm Mấu + Đất đỏ vàng trên đá phiến thạch: kém tơi xốp, tính chua, có thành phần cơ giới từ trung bình đến thịt nặng Hiện nay, đất này chủ yếu là trồng rừng, phân bố ở hầu hết các xóm
+ Đất vàng đỏ trên đó Macma axit: có cấu trúc tơi xốp, tính chua, có thành phần cơ giới thịt nặng đến sét, thích hợp với nhiều loại cây khác nhau như chè, ngô, lúa, sắn, vầu… Hiện trạng chủ yếu là rừng, phân bổ ở hầu hết các xóm
+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ: thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình,
có phản ứng chua, nghèo dinh dưỡng, thích hợp trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày, cây đâu, đỗ, loại đất này phân bố rải rác ở các xóm
+ Đất mùn vàng đỏ trên đá Macma axit: có cấu trúng tơi xốp, tính chua, hàm lượng dinh dưỡng khá, phân bố tập trung ở xóm Nạ Pooc, Nạ Liền, Pa Goải
+ Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa: có hàm lượng dinh dưỡng khá, hiện đang sử dụng trồng lúa, phân bố ở các xóm
Trang 362.2.2 Đất sông suối và mặt nước
chuyên dùng
(Nguồn: UBND xã Phượng Tiến )
Qua bảng 4.1 về hiện trạng sử dụng đất ta rút ra được rằng tổng diện tích đất
tự nhiên của toàn xã là 3.201,21 ha Trong đó, đất nông nghiệp 2.797,03 chiếm
93,05% đất tự nhiên; đất phi nông nghiệp với diện tích 146,17 ha chiếm 4,57% đất
tự nhiên; đất chưa sử dụng diện tích là 258,01 ha chiếm 8,05% diện tích đất tự nhiên Trong đất nông nghiệp thì lại chia ra 3 nhóm đất đó là đất trồng lúa, đất trồng cây lâu năm và đất lâm nghiệp; diện tích đất trồng lúa với diện tích là 226,35 ha đất trồng lúa vẫn là đất quan trong chiếm 8,09% đất nông nghiệp; đất trồng cây công nghiệp với diện tích 51,67 ha chiếm 1,85% diện tích đất nông nghiệp Đất trồng cây
Trang 37lâu năm khác diện tích 139,53 ha chiếm 4,99% diện tích đất nông nghiệp; trong đất trồng cây lâu năm khác lại chia ra đất trồng cây ngắn ngày với diện tích 52,98 ha gần bằng 1,89%, đất nuôi trồng thủy sản diện tích là 113,92 ha chiếm 4,07% Về đất lâm nghiệp diện tích là 1.106,29 ha chiếm 39,55% diện tích đất nông nghiệp trong
đó, có đất rừng đặc dụng diện tích 9,08 ha chiếm 0,32% đây là diện tích đất ít nhất trên địa bàn xã, đất rừng sản xuất lại có diện tích lớn hơn gấp nhiều lần diện tích lên đến 1.097,21 ha chiếm 39,23% trong tổng số diện tích lâm nghiệp Trong nhóm đất thứ 2 đó là đất phi nông nghiệp thì diện tích đất ở là 64,13 ha chiếm 43,87%, đất chuyên dụng diện tích 65,93 ha chiếm 45,11% đất phi nông nghiệp Trong đất chuyên dụng thì lại có diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa là 4,16 ha chiếm 2,85%; đất sông suối và mặt nước chuyên dùng diện tích 11,95 ha chiếm 8,18% trong tổng
số đất chuyên dụng
Tóm lại: tài nguyên đất đai của xã Phượng Tiến tương đối phong phú và đa dạng về loại hình thổ nhưỡng Do đó, cho phép phát triển đa dạng về chủng loại cây trồng Hạn chế chính về đất đai của xã là độ dốc cao chiếm khoảng 50%, diện tích đất bị rửa trôi, xói mòn, tầng đất mỏng, đất chua, nghèo về lân, kali… khá lớn, chiếm khoảng 68% tổng diện tích đất
Với đặc điểm trên, trong quá trình khai thác sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp cần phải tận dụng triệt để các diện tích đất thích hợp, tăng cường các biện pháp nâng cao độ phì nhiêu của đất bằng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp, tăng cường các giải pháp kỹ thuật để khoanh nuôi, phục hồi tái sinh rừng Tài nguyên đất đai đã được cấp quyền sử dụng đất ổn định
Bên cạnh nguồn tài nguyên đất dồi dào thì ở xóm Tổ còn có nguồn nước sạch
để dùng trong sinh hoạt hàng ngày, ngoài ra còn có 1 hồ dự trữ nước để cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp tới những nơi mà không có hệ thống kênh mương để dẫn nước về các cánh đồng đồng thời còn cung cấp nước cho tưới tiêu cho cây ăn quả
Trang 38 Tài nguyên nước
- Diện tích mặt nước ao hồ có khả năng nuôi trồng thuỷ sản là 125,87 ha
- Diện tích mặt nước đang sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản là 61 ha
Tài nguyên nước cơ bản đáp ứng nhu cầu cho phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và phục vụ dân sinh
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Điều kiện kinh tế
Phượng Tiến là một xã nội địa của huyện Định Hóa, tiếp tục nhận được sự quan tâm đầu tư trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội của các cấp các ngành Do đó, có nhiều thuận lợi và cơ hội lớn về phát triển kinh tế thương mại dịch vụ Trong sản xuất nông nghiệp, xã có tiềm năng lợi thế về đất đai, thuận lợi cho việc trồng cỏ và chăn nuôi đại gia súc và trồng các loại rau, hoa quả mang tính hàng hoá Hệ thống chính trị thường xuyên được củng cố, quốc phòng - an ninh được giữ vững Nhận thức của cán
bộ, Đảng viên và nhân dân các dân tộc được nâng lên Nhân dân các dân tộc xã Phượng Tiến có truyền thống đoàn kết, có tính cần cù sáng tạo, luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của chính quyền các cấp
Đảng bộ đã làm tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chủ động xây dựng các phương
án, kế hoạch phát triển nông, lâm nghiệp và tiếp nhận các chương trình, dự án đầu tư,
áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất như: dự án nếp cái hoa vàng, lúa lai chất lượng, nuôi cá ruộng, trồng rừng, chăn nuôi lợn, gà thịt, trồng chè… Vì vậy, nền kinh tế địa phương có mức tăng trưởng khá ổn định Thu nhập bình quân đầu người hết năm 2017 ước đạt 25,6 triệu đồng/người/năm
a Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp
- Trồng trọt: cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp của xã là lúa Mặc dù, chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai sâu bệnh nhưng trong những năm gần đây do làm tốt công tác khuyến nông, chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật đưa nhiều giống lúa mới có năng suất, chất lượng cao và gieo cây tập trung, khai thác có hiệu quả hệ thống thủy nông nên trồng trọt đạt được những thành tựu đáng kể
Trang 39Diện tích gieo cấy hàng năm đều đạt 100% so với kế hoạch đặt ra Tổng sản lượng lương thực có hạt trên toàn xã 10 tháng đầu năm 2017 đạt 2387,9 tấn
Ngoài ra, cây công nghiệp cũng là cây trồng có thế mạnh, góp phần cho sự phát triển của vùng Cây công nghiệp được trồng chủ yếu là cây chè
Dưới đây là bảng thể tình hình sản xuất nông nghiệp của xã:
Bảng 4.2: Diện tích một số cây trồng chính của xã Phượng Tiến
(Nguồn: UBND xã Phượng Tiến)
Qua bảng 4.2 ta thấy: nhìn chung toàn xã có 7 loại cây trồng chính có diện tích tương đối lớn như lúa Vốn là một xã nằm trong vùng có truyền thống sản xuất gạo bao thai nổi tiếng nên lúa vẫn là cây trồng chiếm ưu thế nhất Ngoài lúa người dân địa phương còn trồng thêm một số loại cây trồng khác Tuy nhiên, xét một cách tổng thể ta có thể thấy được tổng diện tích của một số cây trồng chính của xã Phượng Tiến có xu hướng giảm dần qua các năm Năm 2015 tổng diện tích các cây trồng chính là 608,03 ha nhưng đến năm 2016 tổng diện tích là 586,00 ha Tức là giảm 22,03 ha so với năm 2015 Cho đến năm 2017 tổng diện tích các cây trồng chính vẫn tiếp tuc giảm xuống còn 551,75 ha tức là giảm 34,25 ha Trong đó, lúa có diện tích lớn nhất là 429,00 ha năm 2015 và sau đó giảm xuống đến năm 2017 chỉ
Trang 40còn 416,70 ha Có thể thấy diện tích lúa đã giảm đi nhiều qua 3 năm thực hiện Ngô
là cây trồng đứng thứ 2 sau cây lúa với diện tích 211 ha, diện tích trồng ngô qua 3 năm giảm đi nhiều chỉ còn chiếm 84,5% so sánh giữa năm 2017/2016 Khoai lang là cây trồng đứng thứ 3 với diện tích là 60,92 ha, người dân đã tân dụng được đất đai
bỏ trống khi thu hoạch lúa để trồng thêm một vụ màu để tăng thu nhập, có nguồn rau củ phục vụ cho chăn nuôi Tuy nhiên, diện tích trồng qua 3 năm giảm xuống nhanh đến năm 2017 còn 15,00 ha Sau khoai lang thì lạc cũng là cây trồng được mọi người quan tâm, lạc là cây dễ trồng và có thể trồng xen với nhiều loại cây trồng khác thời gian thu hoạch nhanh diện tích trồng lạc là 19,96 ha chiếm 1,14% trong tổng diện tích các loại cây trồng qua 3 năm Các loại đậu cũng là sản phẩm của ngành nông nghiệp tuy nhiên, diện tích trồng đã giảm đi nhiều so sánh giữa năm 2017/2016 thì chỉ còn 75%
Khi nói đến bữa ăn hàng ngày thì không thể thiếu đi rau xanh chính vì vậy mà diện tích trồng rau qua 3 năm đã tăng lên năm 2015 diện tích là 34 ha đến năm 2017 tăng lên 42 ha Ngoài các loại rau, củ, quả phục vụ cho con con người thì sắn lại là cây cung cấp cho không chỉ là con người mà còn cả về vật nuôi với tổng diện tích trồng sắn qua 3 năm là 56,2 ha nhưng do hiện nay người dân đang dần chuyển qua làm phi nông nghiệp nên diện tích đã giảm so sánh giữa năm 2015/2016 đạt 91,25%; năm 2017/2016 chỉ còn 45,86% giảm đi 45,93% Qua đây, có thể thấy được rằng diện tích của tất cả các cây trồng qua 3 năm đều giảm
Nguyên nhân của vấn đề này là do người dân hiện nay không còn lao động bằng sản xuất nông nghiệp mà đã chuyển sang các loại hình dịch vụ khác, lao động trong khu vực nông thôn ra thành thị tìm việc làm điều này làm cho diện tích đất nông nghiệp trong nông thôn bỏ không rất nhiều Vì vậy, cần phải tìm ra giải pháp để giảm việc đất nông nghiệp bị bỏ phí mà không sử dụng đến
- Chăn nuôi: trong những năm gần đây, nhờ có đường lối đổi mới, các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm chỉ đạo của các cấp Đảng ủy trên địa bàn xã, kinh tế đã có những bước chuyển biến tích cực sản xuất trong chăn nuôi tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng nhìn chung đạt được