V.I.Lênin trong Fơ-ri-đơ-rích Ăng-ghen đã viết: “...khi cho xuất bản quyển II và quyển III của bộ Tư bản, Ăng-ghen đã dựng cho người bạn thiên tài của ông một đài kỷ niệm trang nghiêm t
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Vũ Văn Gầu Kết quả nghiên cứu là trung thực, đảm bảo tính khoa học, khách quan và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Trần Nam Trung
Trang 4Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, CƠ SỞ CHO SỰ RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM “CHỐNG ĐUY-RINH” VÀ CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG ĐUY-RINH CỦA PH.ĂNG-GHEN 10
1.1.Điều kiện lịch sử, cơ sở cho sự ra đời của tác phẩm “Chống Đuy-rinh”10 1.2.Cuộc đấu tranh chống Đuy-rinh là điều kiện để Ph.Ăng-ghen trình bày hệ thống phương pháp biện chứng duy vật 34
1.3.Kết cấu tác phẩm “Chống Đuy-rinh” của Ph.Ăng-ghen 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 52
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG TÁC PHẨM “CHỐNG ĐUY-RINH” CỦA PH.ĂNG-GHEN 55
2.1.Phương pháp luận biện chứng được Ph.Ăng-ghen trình bày thông qua lý luận về giới tự nhiên, xã hội và tư duy 55
2.2.Ph.Ăng-ghen trình bày các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật 95
2.3.Ý nghĩa phương pháp luận biện chứng trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh” của Ph.Ăng-ghen đối với cách mạng Việt Nam 119
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 138
KẾT LUẬN CHUNG 141
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nói đến triết học Mác, không thể không nhắc đến Ph.Ăng-ghen Vai trò và công lao của Ph.Ăng-ghen đối với việc xây dựng, bảo vệ và phát triển
triết học Mác là vô cùng to lớn V.I.Lênin trong Fơ-ri-đơ-rích Ăng-ghen đã viết: “ khi cho xuất bản quyển II và quyển III của bộ Tư bản, Ăng-ghen đã
dựng cho người bạn thiên tài của ông một đài kỷ niệm trang nghiêm trên đó Ăng-ghen cũng không ngờ là đã khắc tên mình bên cạnh tên Mác, bằng những chữ không bao giờ phai mờ được.” [64,54]
Cho dù Ph.Ăng-ghen luôn khiêm nhường tự nhận mình chỉ là cây vĩ cầm thứ hai bên cạnh Mác, nhưng những cống hiến khoa học của ông cho phong trào cách mạng của giai cấp công nhân là vô cùng vĩ đại
Tư tưởng và quan điểm khoa học của Ph.Ăng-ghen đã tạo dấu ấn sâu sắc trong lịch sử triết học, là đỉnh cao trí tuệ của một giai đoạn lịch sử mà ông và C.Mác là những người đại diện Một trong những di sản tư tưởng mà Ph.Ăng-ghen để lại cho nhân loại nói chung, cho những người làm khoa học nói riêng chính phương pháp luận, được thể hiện trong hàng loạt tác phẩm do Ph.Ăng-ghen viết riêng hoặc viết chung với C.Mác
Chống Đuy-rinh là một trong những tác phẩm như vậy Trong đó, lần
đầu tiên, phương pháp luận biện chứng duy vật, thông qua ngòi bút đầy uy lực của Ph.Ăng-ghen, đã được trình bày một cách súc tích, có tính hệ thống, trở thành học thuyết khoa học về phương pháp nhận thức và cải tạo hiện
thực Phương pháp luận trong tác phẩm Chống Đuy-rinh có giá trị về mặt lý
luận và thực tiễn không chỉ trong thời đại của ông, mà còn giá trị to lớn trong
cả thời đại bây giờ Bởi thế, V.I.Lênin, trong Ba nguồn gốc và ba bộ phận
cấu thành chủ nghĩa Mác đã viết rằng: “Mác và Ăng-ghen kiên quyết bênh
Trang 6vực chủ nghĩa duy vật triết học và đã nhiều lần vạch rõ những điều hết sức sai lầm trong mọi khuynh hướng ly khai học thuyết cơ bản ấy Ý kiến của hai ông được trình bày rõ rệt nhất và tỉ mỉ nhất trong những tác phẩm của Ăng-ghen: Lút-vích Phơ-bách và Chống Đuy-rinh, những cuốn sách này cũng như Tuyên ngôn Đảng cộng sản, đều là những sách gối đầu giường của mọi người công nhân giác ngộ”[64,69]
Bên cạnh đó, thực tế đã chứng minh rằng, lịch sử chủ nghĩa Mác cũng là lịch sử đấu tranh về lý luận và tư tưởng Đó là cuộc đấu tranh khẳng định, hoàn thiện và phát triển những nguyên lý triết học Mác nói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung; là cuộc đấu tranh bảo vệ và phổ biến chủ nghĩa Mác không chỉ trước những kẻ thù tư tưởng từ phía giai cấp tư sản, mà còn từ ngay trong nội bộ phong trào công nhân, thường được che đậy dưới nhiều màu sắc, khi thì công khai trắng trợn, khi lại được ngấm ngầm che đậy Sự chống phá, tấn công chủ nghĩa Mác được biểu hiện dưới những hình thức của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại cùng vô vàn các trào lưu tư tưởng khác, với nhiều quan điểm đối lập của các học giả phương Tây từ khi chủ nghĩa Mác xuất hiện đến giờ
Cuộc đấu tranh để bảo vệ chủ nghĩa Mác, phát triển, bổ sung, điều chỉnh lý luận phù hợp với thực tiễn, đem lại sức sống mới cho triết học Mác
là nhiệm vụ quan trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến sự hưng vong của chế độ chính trị của Việt Nam hiện nay, ảnh hưởng đến tương lai của chính nhân dân và đất nước Việt Nam Do đó, tìm hiểu lại và nắm vững những luận điểm khoa học của triết học mác-xít từ những tác phẩm của các nhà sáng lập
là một nhu cầu nảy sinh từ thực tiễn của Việt Nam
Trước tiên cần nhìn nhận, khẳng định giá trị nhân văn cao cả của những tư tưởng do C.Mác và Ph.Ăng-ghen khởi xướng Đồng thời, cần tiếp tục nghiên cứu lại để hiểu đúng và vận dụng đúng phương pháp luận của
Trang 7Ph.Ăng-ghen với tinh thần khoa học Chỉ như thế, phương pháp luận đó mới trở thành sức mạnh trí tuệ thật sự trong hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn, góp phần thiết thực cho công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước Việt Nam thật sự giàu mạnh, một đất nước mà ở đó mỗi người dân đều thật sự được hưởng hạnh phúc Bởi vậy, tác giả cho rằng lựa chọn “Vấn đề phương pháp luận trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh” của Ph.Ăng-ghen” làm đề tài luận văn cũng là việc làm thiết thực, có ý nghĩa
2.Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước tới nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về cống hiến khoa học của Ph.Ăng-ghen cho chủ nghĩa Mác nói riêng và cho nhân loại nói chung Các công trình nghiên cứu đó có thể phân tích, đánh giá các công hiến của ông trong từng tác phẩm, cũng có khi là trong toàn bộ các tác phẩm
mà ông đã viết
Để thực hiện đề tài, tác giả luận văn tập trung chú ý vào các công trình nghiên cứu hoặc về phương pháp luận biện chứng mácxít, trong đó có đề cập đến những đóng góp của Ph.Ăng-ghen; hoặc về những cống hiến của riêng Ph.Ăng-ghen đối với khoa học, chú ý đến công hiến của ông trong vấn đề
phương pháp luận; hoặc về tác phẩm Chống Đuy-rinh của Ph.Ăng-ghen, nhất
là các công trình có đề cập kỹ đến vấn đề phương pháp luận trong tác phẩm
Hướng thứ nhất, các công trình nghiên cứu về phương pháp luận mácxít
Các tác phẩm đó chỉ rõ những đóng góp to lớn và quan trọng của Ph.Ăng-ghen đối với quá trình xây dựng và phát triển phương pháp luận mácxít
Đầu tiên cần phải kể đến Lịch sử phép biện chứng mác-xít từ khi xuất
hiện chủ nghĩa Mác đến giai đoạn Lê-nin, của các nhà triết học Liên Xô như
T.I Ôi-déc-man, M.M Rô-den-tan, N.N Tơ-rúp-ni-cốp, G.X.Ba-chi-sép…,
do Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va phát hành năm 1986 Tác phẩm này, ngoài các phần đầu trình bày về “Quá trình hình thành phép biện chứng duy
Trang 8vật”, “Sự xây dựng cơ sở và phát triển phép biện chứng duy vật trong bộ “Tư bản” của Mác” thì phần cuối tập trung vào “Sự phát triển phép biện chứng duy vật trong các tác phẩm của Ăng-ghen” Trong phần cuối này, các tác giả làm rõ nhiều nội dung quan trọng liên quan đến vấn đề phương pháp luận trong các tác phẩm của Ăng-ghen như: “Ý nghĩa các tác phẩm của Ph.Ăng-ghen đối với sự phát triển của phép biện chứng duy vật với tính cách là một khoa học”, “Phép biện chứng và vấn đề cơ bản của triết học”, “Phép biện chứng, phép siêu hình và nền triết học tự nhiên”,”Ăng-ghen và một số vấn đề phương pháp luận của khoa học tự nhiên” Có thể nói, đây là một trong số ít các công trình nghiên cứu có nội dung cô đọng, súc tích và có hàm lượng tri thức cao về phương pháp luận duy vật biện chứng trong các tác phẩm của Ph.Ăng-ghen Các tác giả đã luận giải một cách sâu sắc những nét cơ bản cũng như những nét nổi bật, đặc sắc của nội dung về phương pháp luận trong các tác phẩm của Ăng-ghen; đồng thời đánh giá một cách xác đáng về những công lao, đóng góp to lớn của ông trong việc xây dựng và phát triển phương pháp luận biện chứng duy vật Bản thân các tên chương, mục đã phần nào giúp chúng ta hình dung được nội dung và chất lượng mà công trình này đã bao quát
Tác phẩm được Nguyễn Văn Nghĩa dịch năm 1973, do Nhà xuất bản
Khoa học xã hội ấn hành, có tựa đề C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin: Về mối
liên hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên là công trình tập trung trình bày
những quan điểm cơ bản của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa triết học và khoa học tự nhiên, về biểu hiện của các quy luật của phép biện chứng trong khoa học tự nhiên Bên cạnh đó là công
trình do Nguyễn Duy Thông chủ biên (1977) có tựa đề Vai trò phương pháp
luận triết học Mác – Lênin đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên cũng
của Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Các tác giả tập trung phân tích
Trang 9vai trò của phương pháp luận khoa học của triết học Mác – Lênin trong phát triển khoa học tự nhiên, nêu vấn đề đánh giá phương pháp khái quát của khoa học hiện đại, đồng thời chỉ ra mối liên hệ của chúng với phép biện chứng duy vật
Hướng thứ hai, các công trình nghiên cứu, đánh giá về những cống
hiến khoa học của riêng Ph.Ăng-ghen, gồm cả công lao to lớn của ông trong việc xây dựng, phát triển học thuyết về phương pháp nghiên cứu khoa học Đồng thời chỉ ra những điểm độc đáo trong tư tưởng của Ph.Ăng-ghen về phương pháp luận cũng như ý nghĩa của nó đối với hoạt động lý luận và thực
tiễn trong thời đại ngày nay Có thể kể đến Cống hiến khoa học của
Ph.Ăngghen cho phong trào cách mạng của giai cấp công nhân của GS.Bùi
Ngọc Chưởng do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2008 GS.Bùi Ngọc Chưởng tập trung làm rõ những vấn đề chính như: Hoàn cảnh lịch sử hình thành tư tưởng của Ph.Ăng-ghen về cách mạng cộng sản chủ nghĩa; Những cống hiến khoa học của Ph.Ăng-ghen trong việc xây dựng, phát triển, phổ biến và bảo vệ triết học Mác nói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung; Ý nghĩa về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn của những cống
hiến khoa học của Ph.Ăng-ghen Trong Chương 2, phần II, mục 2 (Những
công trình chủ yếu của Ph.Ăng-ghen trong thời kỳ này), từ trang 71 đến trang
97 là phần GS.Bùi Ngọc Chưởng dành riêng cho việc đánh giá những công
hiến khoa học của Ph.Ăng-ghen trong tác phẩm Chống Đuy-rinh Tác giả làm rõ lý do ra đời, nội dung chủ yếu của tác phẩm Chống Đuy-rinh, vị trí
đặc biệt của nó trong hệ thống tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác, cũng như giá trị về mặt lý luận và thực tiễn của tác phẩm này
Trong Tìm hiểu di sản lý luận của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác –
Lênin của Th.S Trần Thị Kim Cúc, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội xuất bản năm 2009 có bài Một số quan điểm của Ph.Ăngghen về vận
Trang 10dụng phép biện chứng duy vật trong nghiên cứu khoa học Tác giả bài viết
phân tích cống hiến của Ph.Ăng-ghen khi kế thừa, phát triển các tư tưởng biện chứng đã có trong lịch sử nhân loại, góp phần xây dựng phép biện chứng duy vật, một phương pháp tư duy cao nhất, tạo nên chìa khóa giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới
Ph.Ăng-ghen – Một “bó đuốc sáng ngời” trong những trí tuệ anh
minh, một “trái tim vĩ đại” trong những trái tim nhân loại của PGS.TS.Đặng
Hữu Toàn đăng trên tạp chí Triết học (2010), hay như Ph.Ăng-ghen với việc
làm cho triết học trở thành”chủ nghĩa duy vật hoàn bị”, thành “công cụ nhận thức vĩ đại” cũng của PGS.TS Đặng Hữu Toàn, đăng trên Tạp chí phát
triển nhân lực, số 1(22)-2011 đều là những bài viết rất cô đọng, súc tích về con người và sự nghiệp vĩ đại của Ph.Ăng-ghen, về cống hiến của ông trong việc hình thành và phổ biến, bảo vệ chủ nghĩa Mác, cũng như trong việc phát
triển tư tưởng của nhân loại nói chung Ngoài ra, bài viết Sự thống nhất giữa
cái tất yếu và cái có thể - nét đặc sắc trong phương pháp luận nghiên cứu của Ph.Ăngghen của TS.Ngô Đình Xây (đăng trên Báo điện tử của Đảng
Cộng sản Việt Nam ngày 24 tháng 11 năm 2005) Tác giả đã khẳng định vai trò sáng tạo của Ph.Ăng-ghen, cùng với C.Mác, đối với phép biện chứng duy vật, một phương pháp luận khoa học với hệ thống những nguyên lý, quy luật, phạm trù; đồng thời tác giả chỉ ra một điểm rất đặc sắc, riêng có tạo nên nét độc đáo của Ph.Ăng-ghen - đó chính là sự thống nhất giữa cái tất yếu và cái
có thể trong cách tiếp cận, trong phương pháp luận nghiên cứu, cho dù chưa một lần nào Ph.Ăng-ghen tuyên bố về vấn đề này Sự thống nhất đó được thể hiện không chỉ trong giới hạn một số trường hợp, một số lĩnh vực nghiên cứu
cụ thể Sự thống nhất đó là nhất quán, xuyên suốt và được tuân thủ triệt để trong toàn bộ quá trình nghiên cứu, ở tất cả các lĩnh vực nghiên cứu của Ph.Ăngghen
Trang 11Hướng thứ ba, các công trình nghiên cứu tác phẩm Chống Đuy-rinh
của Ph.Ăng-ghen theo trình tự về hoàn cảnh ra đời, kết cấu, nội dung và ý nghĩa của tác phẩm đó Các tác giả khi nghiên cứu có đề cập đến vấn đề phương pháp luận của Ph.Ăng-ghen trong tác phẩm cụ thể này
Khi nhắc đến các công trình nghiên cứu về tác phẩm Chống Đuy-rinh của Ph.Ăng-ghen không thể không kể đến những phân tích, đánh giá sâu sắc
của TS.Đinh Ngọc Thạch và TS.Vũ Văn Gầu trong Vấn đề triết học trong
tác phẩm của C.Mác, Ăng-ghen, V.I.Lê-nin do PGS.TS Doãn Chính và
TS.Đinh Ngọc Thạch đồng chủ biên (2003), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội – từ trang 243 đến trang 286 Điểm nổi bật nhất là ở đây các tác giả không chỉ phân tích, đánh giá về nội dung, ý nghĩa tác phẩm của Ph.Ăng-ghen, mà còn gợi ý, chỉ dẫn phương pháp tiếp cận, nghiên cứu các tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ăng-ghen, V.I.Lê-nin
Hay như Giới thiệu tác phẩm Chống Đuy-rinh của PGS.Nguyễn Bằng
Tường (2010), Nxb.Sự thật, Hà Nội cũng là một tài liệu tham khảo có giá trị
đối với những ai quan tâm đến Chống Đuy-rinh của Ph.Ăng-ghen bởi sự
phân tích, đánh giá một cách khá ngắn gọn, đầy đủ về nội dung, kết cấu của
tác phẩm Chống Đuy-rinh Có thể xem đây như một bản tóm tắt tác phẩm,
nhưng trong đó có lồng ghép những nhận định, đánh giá của bản thân tác giả
về từng phần nội dung tác phẩm của Ph.Ăng-ghen
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu theo ba hướng nêu trên đều đề
cập đến vấn đề phương pháp luận của Ph.Ăng-ghen trong tác phẩm Chống
Đuy-rinh, nhưng chưa tập trung hoàn toàn vào vấn đề này Do đó, tác giả cho
rằng, khi tập trung phân tích vấn đề phương pháp luận trong tác phẩm Chống
Đuy-rinh sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn nữa những nội dung về phương pháp
luận khoa học mà Ph.Ăng-ghen đã trình bày trong tác phẩm, đồng thời qua
Trang 12đó một lần nữa khẳng định những tư tưởng khoa học có giá trị to lớn mà Ph.Ăng-ghen đã cống hiến cho nhân loại
3.Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:
Mục đích: Luận văn tập trung làm rõ vấn đề phương pháp luận trong tác
phẩm Chống Đuy-rinh của Ph.Ăng-ghen và rút ra ý nghĩa phương pháp luận
đối với cách mạng Việt Nam
Nhiệm vụ: để hoàn thành mục đích trên, luận văn cần thực hiện các
nhiệm vụ sau:
Một là, làm rõ hoàn cảnh lịch sử ra đời của tác phẩm Chống Đuy-rinh,
cũng là điều kiện để Ph.Ăng-ghen trình bày những vấn đề phương pháp luận mác-xít mà ông cùng với C.Mác là những người đại diện
Hai là, trình bày nội dung cơ bản của phương pháp luận trong tác
phẩm Chống Đuy-rinh của Ph.Ăng-ghen Đồng thời qua đó cũng chỉ ra ý nghĩa của phương pháp luận trong tác phẩm Chống Đuy-rinh của Ph.Ăng-
ghen trong cuộc đấu tranh bảo vệ triết học Mác thời điểm Ph.Ăng-ghen viết tác phẩm, cũng như ý nghĩa của nó đối với cách mạng Việt Nam
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề phương pháp luận trong tác phẩm Chống Đuy-rinh của Ph.Ăng-ghen
Khách thể nghiên cứu: tác phẩm Chống Đuy-rinh của Ph.Ăng-ghen Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi của luận văn, tác giả tập trung
nghiên cứu vấn đề phương pháp luận của Ph.Ăng-ghen chủ yếu ở trong tác
phẩm Chống Đuy-rinh
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài:
Tác giả nghiên cứu đề tài dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó, tác giả sử
Trang 13dụng các phương pháp khác như diễn dịch, qui nạp, so sánh, hệ thống, lịch sử…để thực hiện đề tài
lôgic-6.Ý nghĩa khoa học của luận văn:
Luận văn khẳng định tính đúng đắn của thế giới quan, phương pháp luận khoa học do Ph.Ăng-ghen xây dựng cũng như ý nghĩa của nó đối với hoạt động lý luận và thực tiễn hiện nay ở Việt Nam
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong việc học tập nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học, đặc biệt là lịch sử triết học Mác – Lê-nin; cũng như trong việc nghiên cứu, học tập phương pháp luận biện chứng duy vật
7.Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương 6 tiết
Trang 14Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, CƠ SỞ CHO SỰ RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM “CHỐNGĐUY-RINH” VÀ CUỘC ĐẤU TRANH
CHỐNG ĐUY-RINH CỦA PH.ĂNG-GHEN
1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, CƠ SỞ CHO SỰ RA ĐỜI CỦA TÁC
PHẨM “CHỐNG ĐUY-RINH”
Nhìn lại giai đoạn nửa đầu thế kỷ XVIII, rõ ràng khoa học tự nhiên đã vươn tới một khối lượng kiến thức và phân loại các tài liệu ở một trình độ cao hơn nhiều so với thời Hy Lạp cổ đại Thế nhưng nghịch lý chính là ở chỗ trong giai đoạn này, nếu xét về khả năng nắm vững khối lượng kiến thức thu thập được về mặt lý luận, nâng chúng lên thành quan niệm mang tính tổng quát về giới tự nhiên thì lại kém xa thời Hy Lạp cổ đại Đây là thời kỳ mà người ta nhìn nhận giới tự nhiên gắn liền với tính tuyệt đối, vĩnh cửu Họ xem xét mọi sự vật trên thế giới dưới cái nhìn tách biệt, cô lập, bất biến Đấy
là thời của khoa học cổ điển với phương pháp tư duy siêu hình Và phương pháp đó trở thành đặc điểm nổi bật, là đặc trưng chủ yếu nhất của phong cách tư duy khoa học cổ điển
Trong khoảng thời gian sấp xỉ một trăm năm, từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên lại gắn liền với một đặc điểm nổi bật - khoa học tự nhiên là sự tổng kết những tài liệu thực nghiệm để đưa khoa học lên trình độ lý luận Rõ ràng sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã đưa đến cuộc cách mạng công nghiệp Đến lượt mình, cách mạng công nghiệp đã tác động trở lại một cách tích cực đối với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của khoa học tự nhiên Chính nó đã tạo ra những điều kiện thuận lợi chưa từng có cho khoa học tự nhiên bằng việc cung cấp những điều kiện, những công cụ quan sát, thực nghiệm khoa học tốt hơn gấp nhiều lần
Trang 15trước đó Đồng thời nó thúc đẩy mạnh mẽ quá trình trao đổi thông tin, góp phần quan trọng cho khoa học tự nhiên chuyển sang một giai đoạn phát triển mới cao hơn Khoa học tự nhiên dần dần phá bỏ những quan điểm mang tính siêu hình, vượt qua những giới hạn mà phương pháp đó đã dựng lên, dẹp bỏ những lực cản từng đè nén, giam cầm khoa học tự nhiên trong hằng bao thế
kỷ trước đó Qua đấy, khoa học tự nhiên tạo điều kiện cho việc phát triển tổng hợp lý luận trong lĩnh vực vĩ mô
Có thể nói, giả thuyết tinh vân của Cantơ về nguồn gốc vũ trụ là bước đột phá rất quan trọng Với giả thuyết về sự phát sinh tự nhiên của vũ trụ có căn cứ khoa học đầu tiên trong thời cận đại đó, Cantơ đã làm rạn vỡ, chọc thủng quan điểm cứng nhắc đã có từ trước về tự nhiên, mở đường cho những tiến bộ khoa học kế tiếp Cũng từ giả thuyết đó, người ta thấy rằng mọi thứ trên trái đất hẳn phải có lịch sử phát triển của nó Cụ thể là địa lý, địa chất, khí hậu, thực vật, động vật đều gắn liền với trái đất có lịch sử phát triển tự nhiên, thì hiển nhiên cũng đều có lịch sử phát triển của mình Lịch sử phát triển tự nhiên đã đến lúc chuyển thành lôgích nhận thức Kết quả là vào năm
1831, tác phẩm Nguyên lý địa chất học của Railơ, một nhà địa chất học
người Anh, được công bố Trước đó, năm 1803, nhà hóa học người Anh tên
là G.Đantơn đã đưa ra thuyết nguyên tử hóa học, một công trình quan trọng, tổng hợp lý luận về sự phát triển hóa học thời cận đại Vào năm 1824, sự tổng hợp ra chất urê của của nhà hóa học người Đức Ph.Vuêlơ đã làm cho ranh giới giữa chất vô cơ và hữu cơ lần đầu tiên bị vượt qua
Khoa học tự nhiên thời kỳ này đã đánh đấu bước phát triển vượt bậc; đặc biệt phải nhắc đến các thành tựu mang tính đột phá, vượt thời đại – đó chính là ba phát minh lớn: học thuyết về tế bào, định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết tiến hóa của sinh vật
Trang 16Thật ra, vào năm 1644 trong cuốn Nguyên lý triết học của R.Đêcáctơ
đã từng nêu lên những tư tưởng cơ bản nhất của định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng Song phải đến khoảng thời gian từ những năm cuối thế kỷ XVIII trải dài qua những năm gần giữa thế kỷ XIX, các nhà khoa học, khi nghiên cứu các hiện tượng nhiệt, điện, từ mới dần dần nhận ra sự chuyển hóa
lẫn nhau giữa các hình thức vận động Đến năm 1842, tác phẩm Bàn về lực
trong giới vô cơ của Mayơ, một bác sĩ người Đức, đã đạt tới trình độ nhận
thức quy luật thật sự khi luận bàn về định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng Và đến khi nhà bác học Anh G.Giulơ tính toán được một đơn vị nhiệt năng có thể cung cấp bao nhiêu đơn vị cơ năng, cũng như đưa ra nhiều phương pháp khác nhau để đo lường có hệ thống, xác định quan hệ về lượng trong quá trình chuyển hóa các hình thức vận động khác nhau thì có thể nói rằng định luật bào toàn và chuyển hóa năng lượng đã hoàn toàn có cơ sở khoa học Định luật này chỉ ra thật rõ ràng quá trình biện chứng của sự vận động, phát triển, chuyển hóa lẫn nhau một cách liên tục, không ngưng nghỉ của bản thân các hình thái vật chất trong giới tự nhiên
Ngay trong giai đoạn thế kỷ XVII-XVIII khi nghiên cứu về tổ chức cơ thể sinh vật dưới kính hiển vi, một số nhà khoa học đã phát hiện ra đơn bào
và đa bào Có điều là, bản thân các nhà khoa học lúc đó chưa đủ năng lực để hiểu rõ và trình bày về kết cấu tế bào, cũng như chưa đánh giá được tầm quan trọng của nó Cho đến năm 1838, tức là khi thế kỷ XIX đã đi được hơn một phần ba chặng đường, thì M.Slaiđen, giáo sư thực vật học người Đức mới đi đến một kết luận quan trọng: tế bào là đơn vị sống cơ bản nhất trong kết cấu của mọi thực vật Sau đó một năm, vào năm 1839, học thuyết tế bào được giáo sư giải phẫu học người Đức là T.Svannơ mở rộng từ giới thực vật sang giới động vật Điều đó có nghĩa là, tế bào không chỉ là đơn vị sống cơ bản trong kết cấu của động vật, mà là nguyên đơn kết cấu cho mọi cơ thể
Trang 17sinh vật Không những thế, người ta nhận ra rằng, tế bào của động vật và thực vật đều có kết cấu cơ bản là giống nhau, đều phát huy chức năng sinh lý như nhau Sự sản sinh và phát triển của cơ thể hữu cơ được đảm bảo bằng một cơ chế nội tại quan trọng nhất – đó chính là sự gia tăng và đổi mới không ngừng của cái nguyên đơn cơ bản đó, tức là của tế bào Như vậy, quá trình biện chứng của sự vận động, phát triển và chuyển hóa không ngừng của bản thân giới sinh vật đã được bảo đảm chắc chắn bằng luận cứ khoa học, nhờ phát hiện này
Nguồn gốc các loài của S.Đácuyn được ra mắt độc giả vào năm 1859
chính là nốt nhạc hoàn hảo góp phần tạo nên bản hợp xướng các phát minh khoa học vĩ đại trong thế kỷ XIX Bằng sự kế thừa các thành tựu của Lamác cùng với việc quan sát sự biến dị của giới động thực vật, Đácuyn đã luận chứng một cách hết sức thuyết phục, khoa học về quá trình đấu tranh sinh tồn của muôn loài, về sự hình thành các giống loài mới nhờ quá trình chọn lọc tự nhiên Lý luận về sự tiến hóa của sinh vật của S.Đácuyn, với hạt nhân
là lý luận về sự chọn lọc tự nhiên, đã mở toang cánh cửa che dấu bí mật về
sự tiến hóa của các loài trong tự nhiên Ở đây thể hiện rõ một điều là: quan điểm lịch sử được áp dụng một cách triệt để và thành công trong lĩnh vực sinh vật học Lý luận này của Đácuyn đã vạch rõ quá trình lịch sử của giới hữu cơ – chứng minh một cách hết sức khoa học rằng thực vật, động vật và ngay cả động vật bậc cao là con người đều là sản phẩm phát triển tất yếu của lịch sử Như thế, thực sự nó đã vạch ra toàn bộ quá trình phát triển biện chứng của toàn bộ giới hữu cơ
Toàn bộ các thành tựu khoa học tư nhiên nửa đầu thế kỷ XIX, đặc biệt
là ba phát minh nổi bật mang tính vạch thời đại như đã đề cập tới, cho thấy
sự thay đổi về chất trong nhận thức của nhân loại về toàn bộ giới tự nhiên
Sự nhận thức giới tự nhiên mất dần tính chất siêu hình – Giới tự nhiên đã
Trang 18hiển hiện ra như một bức tranh tổng thể hoàn chỉnh, trong một quá trình vận động, phát triển biện chứng khách quan Chính các phát minh quan trọng này đem lại khả năng khái quát mới về mặt lý luận Cũng từ đây, tức là từ sự phát triển trong nhận thức về giới tự nhiên, nhận thức của con người về xã hội cũng được tiếp sức và phát triển mạnh mẽ hơn, sâu sắc hơn rất nhiều
Nhìn lại những năm đầu của thế kỷ XIX, có thể nói, đó là giai đoạn mà lịch sử phát triển nhận thức của nhân loại có sự chuyển biến rất lớn Đây cũng là thời kỳ mà đời sống sinh hoạt tư tưởng của nhân loại, nhất là ở các nước công nghiệp phương Tây trở nên vô cùng sôi động Hệ tư tưởng tư sản, sau một thời kỳ đứng trên đỉnh cao, với tư cách là ngọn cờ tư tưởng cho nhân loại trong cuộc đấu tranh đạp đổ hệ tư tưởng phong kiến Hệ tư tưởng đã đưa nền kinh tế thế giới vượt vũ môn với sự gia tăng của cải xã hội như vũ bão, vượt trội và lớn gấp nhiều lần tổng số của cải của mọi thời đại trước nó gộp lại, giờ đây bắt đầu có dấu hiệu thoái trào Có nhiều phương án nhằm giải quyết mâu thuẫn xã hội liên tiếp được đưa ra, và cũng liên tiếp bị phá sản Các mâu thuẫn xã hội chẳng những không giảm bớt mà ngày càng trở nên nhức nhối, trầm trọng hơn Trong bối cảnh đó, tại các nước tư bản như Anh, Pháp, Đức, không ít người đã cố gắng đi tìm lời giải, tìm tòi những lý luận mới hòng giải quyết những vấn đề của thời đại trên mọi lĩnh vực Những luồng tư tưởng khác nhau, thậm chí trái chiều nhau đã tạo nên một bức tranh
vô cùng sinh động với những gam màu đa dạng: từ phái Hê-ghen trẻ ở Đức với tư tưởng cấp tiến mà vẫn chẳng làm vừa lòng giai cấp tư sản, đến các lãnh tụ của các phòng trào tự phát với lý luận của riêng mình như Vaitlinh ở Đức, hay Pruđông, Blăngki ở Pháp Do mâu thuẫn giai cấp sâu sắc, các lý luận, tư tưởng của những con người ở các giai cấp đối kháng nhau đương nhiên cũng đi theo các hướng khác nhau Ai cũng cố tìm cho mình lời giải trước những vấn đề nhức nhối của xã hội theo quan điểm và vì lợi ích của
Trang 19giai cấp mình Có người thuộc giai cấp công nhân lại dao động, từ bỏ con đường đã chọn lúc ban đầu, quay lại thỏa hiệp, ủng hộ tư tưởng của giai cấp
tư sản Lại có cả những người cũng kiên định, nhưng lại mày mò tìm mãi không ra con đường cần đi; phấn đấu suốt đời vẫn không tìm ra lý luận khoa học, không tạo được ảnh hưởng gì đáng kể đối với phong trào công nhân
Trong giai đoạn đó, cùng với C.Mác, Ph.Ăng-ghen đã trải nghiệm thực tiễn xã hội, tham gia trực tiếp vào tổ chức của giai cấp công nhân, đồng thời tích cực nghiên cứu lý luận để rồi đưa ra hệ thống lý luận khoa học trả lời cho những câu hỏi mà thời đại của mình đặt ra Bên cạnh C.Mác, Ph.Ăng-ghen trở thành một người mở đường vĩ đại trên lĩnh vực tư tưởng Ông và người bạn chiến đấu thân thiết của mình là những đại biểu kiệt xuất, tạo nên bước đột phá cách mạng trong nghiên cứu về khoa học xã hội Từ việc kế thừa, phê phán triết học duy tâm biện chứng của Hêghen và phái Hêghen trẻ cũng như triết học duy vật của Phoiơbắc, và cả chủ nghĩa xã hội không tưởng, rồi chủ nghĩa cải lương của Pruđông, hai ông đã có những phát hiện quan trọng, xây dựng nên hệ thống lý luận hoàn chỉnh gồm ba bộ phận cấu thành là triết học, kinh tế chính trị học, và chủ nghĩa xã hội khoa học Hệ thống đó trở thành vũ khí lý luận khoa học sắc bén của giai cấp công nhân, giúp nhận thức đúng đắn quy luật phát triển của xã hội loài người, quy luật vận động và phát triển, cũng như sự bị thay thế tất yếu của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa bởi một phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn Phát hiện quan trọng đầu tiên của C.Mác và Ph.Ăng-ghen là phát hiện trong lĩnh vực triết học – đó chính quan điểm duy vật về lịch sử, nó đã giúp cho chủ nghĩa duy vật trở nên duy vật triệt để nhất so với mọi hình thức của chủ nghĩa duy vật trước đó Phát hiện thứ hai cũng vô cùng quan trọng, đem lại tầm vóc
vĩ đại, khác biệt so với các nhà tư tưởng khác cùng thời, cũng như tạo tầm ảnh hưởng của lý luận về khoa học xã hội của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, là phát hiện
Trang 20trong lĩnh vực kinh tế chính trị - đó chính là học thuyết về giá trị thặng dư
Học thuyết này cùng với sự ra mắt Tập 1 của bộ Tư bản của Mác đánh dấu sự
hoàn thành cơ bản quá trình luận chứng toàn diện hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác Tất cả những lý luận của C.Mác và Ph.Ăng-ghen đều là sự phản ánh một cách trung thực, khoa học về hiện thực xã hội lúc bấy giờ
Đến những năm giữa thế kỷ XIX, các nước tư bản chủ nghĩa, mà chủ yếu là tại châu Âu, đã bước đến những nấc thang cuối cùng của giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, dần dần chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền Lúc này, cách mạng công nghiệp ở Anh đã hoàn thành, nhưng ở các nước Tây Âu khác như Đức lại đang ở giai đoạn phát triển
Công nghiệp nước Đức những năm 50-60 của thế kỷ XIX tăng trưởng rất nhanh, nhất là công nghiệp nặng Nước Đức bị cuốn vào “Cuộc chạy đua điên cuồng để làm giàu, sự khát vọng tiến lên phía trước, tìm kiếm những mỏ mới, xây dựng những nhà máy mới, xây dựng những con đường sắt mới và đặc biệt là góp tiền vào các công ty cổ phần và đầu cơ các cổ phiếu của chúng” [70,850] Và tượng tự như thế, cách mạng công nghiệp của Pháp cũng đang phát triển Đây là thời kỳ mà kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới vẫn
ở giai đoạn “cách mạng kinh tế” như cách gọi của Ph.Ăng-ghen, hay còn gọi
là “thời kỳ tiến bộ kinh tế” theo cách nhìn của C.Mác
Trong thời kỳ này nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhất là ở châu Âu, có
sự “phát triển chưa từng thấy” Trong đó, ngoại thương được “mở rộng một cách không ai ngờ tới” Song, những thành tựu kinh tế đó chỉ biểu hiện ở sự gia tăng tài sản của giai cấp có của – giai cấp tư sản, còn quần chúng lao động chỉ có một số rất ít có tiền công được tăng hơn chút ít, nhưng nói chung, “Ở khắp mọi nơi, quần chúng đông đảo trong giai cấp công nhân ngày càng tụt xuống thấp hơn, ít nhất là theo mức độ như mức độ các giai cấp trên họ tiến lên trên chiếc thang xã hội” [71,16-17] Như vậy, sự phân
Trang 21hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc – đó chính là sự phân hóa hai cực giữa tích lũy của cải của các ông chủ tư sản với tích lũy sự nghèo đói, bần cùng đến vô sản của những người công nhân Thế nhưng một số báo chí tại Anh vào năm
1850 vẫn hùng hồn tuyên bố rằng, nếu xuất nhập khẩu của nước Anh chỉ cần tăng 50% thì hiện tượng bần cùng sẽ bị xóa bỏ tại Anh Tuy nhiên, thực tế là trong giai đoạn 10 năm, từ năm 1850 đến 1860, xuất nhập khẩu có phạm vi tăng trưởng cao hơn 50% nhưng tình trạng khốn cùng của công nhân Anh chẳng những không thuyên giảm mà còn trở nên trầm trọng hơn trước Và
“sự thật không thể chối cãi” là “nạn nghèo đói của quần chúng công nhân không giảm bớt” [71,11]
Trong tình cảnh mà các nhà tư bản ra sức bóc lột một cách tối đa sức lao động, đội ngũ những người lao động làm thuê ngày càng tăng lên, sự đấu tranh, phản kháng của công nhân làm thuê tăng lên thì hiển nhiên những biện pháp chống phản kháng cũng được tăng cường Sự đối lập giữa các chủ xưởng và công nhân tại các nước tư bản mau chóng đi đến giới hạn đủ để bùng nổ một cuộc cách mạng xã hội thật sự Nếu trước đây, sự phát triển của nền công nghiệp Anh buộc giai cấp tư sản phải chống lại giai cấp quý tộc, thì giờ đây nó lại thúc đẩy giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản Nếu trước đây giai cấp tư sản đánh đổ giai cấp quý tộc, thì giờ đây chính giai cấp
tư sản đang đứng trước nguy cơ bị đánh đổ bởi chính giai cấp được sản sinh
ra từ nền kinh tế tư bản - giai cấp vô sản
Sự khốn cùng của giai cấp công nhân không chỉ diễn ra tại Anh, mà diễn ra khắp châu Âu Trong những năm 1850-1856, tiền công thực tế của công nhân tại Đức giảm 32%, còn ở Pháp giảm 20% Tất cả đều chứng minh một điều là: tăng trưởng kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa không đi kèm với sự giàu có, hạnh phúc chung cho toàn xã hội, mà chỉ làm hố sâu ngăn cách giàu nghèo trở nên rộng và sâu hơn Thực tế là lực lượng công nhân gia nhập
Trang 22vào đội ngũ những người bị bần cùng hóa ngày càng đông hơn, trở thành những người vô sản chỉ còn biết bán sức lao động để nuôi sống bản thân mình
mà thôi Hệ quả tất yếu của tình trạng đó là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản ngày càng trở nên trầm trọng và gay gắt, không điều hòa được
Nếu ở Anh, kinh tế phát triển mạnh mẽ vào thời đại cách mạng công nghiệp, thì ở các nước tư bản Tây Âu khác phát triển kinh tế lại luôn đi kèm với khủng hoảng kinh tế Đáng chú ý nhất chính là khủng hoảng kinh tế năm
1857, bắt đầu ở Mỹ rồi lan nhanh sang các nước tư bản châu Âu, đẩy hệ thống các nước này rơi vào tình trạng suy thoái kinh tế trên bình diện quốc tế
ở mức độ hết sức nặng nề Sự khủng hoảng này của kinh tế tư bản chủ nghĩa mang tính tất yếu và tính chu kỳ Một khi chủ nghĩa tự do cạnh tranh trong
xã hội tư bản đạt đến đỉnh điểm, nó sẽ trở nên vô cùng quyết liệt Khi hàng loạt các nhà tư bản cùng lao vào đầu tư trong ngành công nghiệp, sản xuất nhanh chóng vượt quá nhu cầu tiêu dùng, kết quả là hàng hóa không thể bán chạy được nữa, đương nhiên dẫn đến khủng hoảng thương mại Hệ lụy tất yếu là các nhà máy, xí nghiệp trở nên tiêu điều, phá sản Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng đột biến, khiến một số lượng lớn công nhân rơi vào cảnh sống lay lắt, bần cùng, bị ấn xuống tận đáy của đói nghèo và tủi nhục; làm tình trạng căng thẳng, xung đột giữa hai giai cấp tiêu biểu trong xã hội là tư sản và vô sản càng trở nên khốc liệt… Thế nhưng chẳng lâu sau đó hàng hóa dư thừa lại được bán ra, nền sản xuất lại dần dần hồi phục, phát triển mau chóng, rồi lại mau chóng rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế mới Thế nên Mác nhận xét, đây là thời kỳ “công nghiệp luôn luôn trải qua những sự biến động, lúc thì phồn vinh, lúc thì khủng hoảng, và hầu như cứ cách năm – bảy năm một, lại đều đặn xảy ra một cuộc khủng hoảng như vậy; hơn nữa, cứ mỗi lần bùng
nổ, là khủng hoảng lại gây ra những tai họa hết sức to lớn trong công nhân, lại thức tỉnh tinh thần cách mạng ở khắp nơi” [69,465]
Trang 23Mác cho rằng, chủ nghĩa tư bản châu Âu những năm 50 thật sự đã trải qua một “thời kỳ tiến bộ kinh tế”, song “không có một sự cải tiến máy móc nào, không có một sự áp dụng khoa học nào vào sản xuất, hoặc một sự cải tiến nào về những phương tiện giao thông, không có những thuộc địa mới nào hoặc sự di dân nào, không có việc mở rộng thị trường nào hoặc sự buôn bán tự do nào, hoặc tất cả những cái ấy cộng lại, lại có thể xóa bỏ được tình cảnh nghèo khổ của quần chúng lao động; trên cơ sở tồi tệ hiện nay, bất kỳ
sự phát triển hơn nữa nào của sức sản xuất của lao động đều nhất định làm cho những sự tương phản trong xã hội sâu sắc hơn, đều nhất định khoét sâu thêm những đối kháng trong xã hội” [71,17] Tình trạng u ám đó là hậu quả
do sự biến đổi, phát triển sức sản xuất, nhất là việc áp dụng khoa học vào lực lượng sản xuất đều gắn chặt với “cở sở tồi tệ” của chủ nghĩa tư bản Lực lượng sản xuất bị tha hóa, trở thành lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản, lực lượng khoa học trở thành lực lượng của tư bản Bởi vậy “bất cứ người nào không có thiên kiến cũng đều thấy rõ chân lý sau đây mà chỉ những người nào muốn ru ngủ những người khác bằng những hy vọng giả dối thì mới phủ nhận” điều đó mà thôi.[71,17]
Có thể nói, “chính cuộc cách mạng công nghiệp đó lại là cuộc cách mạng đầu tiên làm cho các quan hệ giai cấp khắp nơi được sáng tỏ, đã xóa bỏ được rất nhiều hình thức quá độ bắt nguồn từ thời kỳ công trường thủ công, và
ở Đông Âu thì đã xóa bỏ được ngay cả những hình thức quá độ thoát thai từ những phường hội thủ công và đã sản sinh ra một giai cấp tư sản thực sự và một giai cấp vô sản đại công nghiệp thực sự, rồi đẩy cả hai giai cấp đó lên hàng đầu của sự phát triển xã hội Nếu cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp lớn năm 1848, mà ngoài nước Anh ra chỉ mới xảy ra ở Pari và nhiều nhất là ở vài trung tâm công nghiệp lớn, giờ đây đã mở rộng ra toàn châu Âu và đạt tới một mức độ mạnh mẽ không thể tưởng tượng được vào năm 1848” [74,761-762]
Trang 24Cũng chính thời kỳ này đánh dấu bước trưởng thành mới của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Các cuộc đấu tranh đã chuyển từ đấu tranh kinh
tế, vì mục đích như đòi ngày làm việc bình thường hay bảo vệ quyền lợi vật chất thông thường sang đấu tranh chính trị Các cuộc đấu tranh đã chuyển sang tấn công vào toàn bộ giai cấp tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa Phong trào công nhân giờ đây trở nên gắn bó chặt chẽ với chủ nghĩa xã hội
Thực tiễn cách mạng lúc đó dẫn đến một yêu cầu mạnh mẽ: cần phải thành lập tổ chức chính trị độc lập của những người vô sản Năm 1860, tại Anh, “Hội viên chức Luân Đôn” được thành lập Đây là tổ chức của công nhân các ngành nghề khác nhau Tại các thành phố công nghiệp chủ yếu cũng ra đời hàng loạt hội đồng thành thị của các Hội liên hiệp công hội Rồi lần lượt ra đời các hội liên hiệp chuyên ngành như Hội liên hiệp thợ mộc, Liên đoàn thợ mỏ toàn nước Anh Các tổ chức này hiển nhiên trở thành đầu tàu, đóng vai trò lãnh đạo phong trào công nhân Anh thời kỳ đó Trong khi
đó, tại các thành phố ở Pháp như Pari, Mácxây, vào năm 1863 cũng ra đời các tổ chức như Hội liên hiệp công nhân đúc thép, Công hội thợ mộc, và lập tức cũng trở thành các tổ chức lãnh đạo phong trào công nhân Pháp Bên kia đại dương, tại nước Mỹ, năm 1857 Câu lạc bộ của những người cộng sản được thành lập ở Niu Oóc Đến năm 1863 Hội liên hiệp công nhân toàn quốc cũng được thành lập Theo xu thế phát triển của phong trào công nhân lúc
đó, hàng loạt các tổ chức của công nhân tại các nước như Italia, Bỉ, Tây Ban Nha, Thụy sĩ lần lượt ra đời dưới nhiều hình thức khác nhau
Bên cạnh đó, sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở các nước Âu-Mỹ vào những năm giữa thế kỷ XIX đã có tác động, thúc đẩy phong trào cách mạng chống phong kiến, chống áp bức dân tộc tại nhiều quốc gia, dân tộc Cụ thể như ở Mỹ từ năm 1861 đến năm 1865 đã xảy ra cuộc Chiến tranh Nam Bắc nhằm lật đổ chế độ nô lệ Vào năm 1863 ở Ba
Trang 25Lan đã diễn ra cuộc khởi nghĩa vũ trang chống lại sự thống trị của Sa hoàng đang áp đặt lên nhân dân Ba Lan, với mục tiêu là giành độc lập dân tộc Hay như tại Airơlen vào năm 1867 cũng diễn ra cuộc khởi nghĩa vũ trang giải phóng dân tộc với quy mô rất lớn
Mâu thuẫn trên toàn thế giới trở nên gay gắt cũng là yếu tố thúc đẩy cao trào cách mạng vô sản ở châu Âu Khi bão táp ở phương Tây tạm lắng xuống thì cũng xuất hiện những trận cuồng phong ở phương Đông; đi kèm theo đó là sự xuất hiện nhiều vấn đề cần phải giải quyết Tình thế lúc đó còn tạo ra những xung đột gay gắt, chủ yếu là xung đột kinh tế, dẫn đến chiến tranh giữa các nước tư bản chủ nghĩa Bởi khi phát triển kinh tế, các nước này đều tham vọng bành trướng, tranh giành thuộc địa và đều muốn
mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình ra bên ngoài biên giới quốc gia của mình, ra khắp các châu lục trên hoàn cầu Khi mà ở ngày trong bản thân mỗi nước tư bản phương Tây các xung đột, mâu thuẫn giữa những kẻ thống trị và quần chúng bị thống trị, giữa các giai cấp đối kháng về lợi ích, giữa nhà nước và xã hội không hề có dấu hiệu giảm bớt, nếu không muốn nói là đang ngày càng gay gắt, thì mâu thuẫn giữa các nước tư bản phương Tây với nhau cũng diễn ra vô cùng ác liệt Và các cuộc chiến tranh, như chiến tranh Crưm, chiến tranh Italia là tất yếu khi các nước tư bản buộc phải giải quyết mâu thuẫn bằng vũ lực, sử dụng công cụ chiến tranh tàn khốc, đẫm máu để tranh giành lợi ích
Tại châu Á, trong những năm đó cũng xảy ra nhiều cuộc khởi nghĩa gây tiếng vang, làm lung lay chế độ phong kiến cùng với ách thống trị của chủ nghĩa thực dân nước ngoài Tiêu biểu như cách mạng Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Quốc trong khoảng thời gian từ năm 1851 đến năm 1864, khởi nghĩa của nhân dân Ấn Độ chống thực dân Anh năm 1857 Vấn đề thật rõ ràng là, các cuộc cách mạng ở Ấn Độ và Trung Quốc chống lại nước Anh đã
Trang 26có ảnh hưởng rất lớn tới nước Anh, qua đó cũng tạo ảnh hưởng một cách hết sức đáng kể, quan trọng tới toàn bộ châu Âu
Sự thật là phong trào cách mạng đã nổ ra trên khắp các châu lục, từ châu Âu, châu Mỹ đến châu Á Phong trào này đã ảnh hưởng tích cực, thúc đẩy phong trào công nhân ở châu Âu lớn mạnh, tạo nên một cao trào đấu tranh cách mạng cuồn cuộn, làm rung chuyển hệ thống các nước tư bản chủ nghĩa Âu-Mỹ
Cao trào đấu tranh đó tạo ra bước chuyển mới về mức độ, quy mô và hình thức của các cuộc đấu tranh: từ chỗ chỉ mang tính chất nhỏ lẻ, trong phạm vi hẹp của một ngành, một lĩnh vực, trên một phạm vi địa lý của một vùng lãnh thổ đã biến thành những cuộc đấu tranh có quy mô rộng lớn với sự tham gia, liên kết của công nhân thuộc nhiều lĩnh vực, trên phạm vi quốc tế, với hình thức tổ chức chặt chẽ, quy mô hơn Để ủng hộ cuộc khởi nghĩa dân tộc của nhân dân Ba Lan chống lại ách thống trị của Nga Sa hoàng đầu năm
1861, Liên đoàn công nhân Anh đã tổ chức mít tinh vào ngày 28 tháng 4 năm đó Chưa đầy 3 tháng sau, vào ngày 22 tháng 7 năm 1861 lại diễn ra cuộc mít tinh thứ hai cũng do Liên đoàn công nhân Anh tổ chức để ủng hộ cuộc đấu tranh vì chính nghĩa của nhân dân Ba Lan Nhưng lần này có thêm
sự tham gia của đoàn đại biểu công nhân từ Pháp tới Không những thế, còn
có cả sự tham gia của đại biểu công nhân của các nước khác đang sống lưu vong tại Anh Tại mít tinh, lãnh đạo Liên đoàn công nhân Anh bày tỏ mong muốn rằng, nhân dân lao động Anh và Pháp hãy liên hiệp lại ủng hộ mạnh
mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân Ba Lan Trên tinh thần đó, các đại biểu công nhân Pháp cũng hưởng ứng, kêu gọi toàn châu Âu nhất trí giúp đỡ Ba Lan ngăn chặn sự xâm lược của nước Nga Sa hoàng Sau cuộc mít tinh đó đã diễn
ra các cuộc tiếp xúc giữa đại biểu công nhân của Anh với đại biểu công nhân của Pháp, Đức, Ba Lan Tất cả đi đến thống nhất về việc thành lập tổ chức
Trang 27liên hiệp công nhân quốc tế, hướng tới mở rộng mục tiêu đấu tranh, chứ không chỉ còn đơn thuần là ủng hộ cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc của nhân dân Ba Lan Kết quả là ngày 10 tháng 11 năm 1863, tại Hội nghị công nhân Anh bức thư của “Công nhân Anh gửi công nhân Pháp” chính thức được thông qua, với nội dung kêu gọi xây dựng tình đoàn kết giữa nhân dân các nước trong cuộc đấu tranh đòi quyền lợi cho công nhân như cắt giảm ngày làm việc, tăng tiền công và cải thiện điều kiện v.v…Đến tháng năm
1864 công nhân Pháp đã hưởng ứng bằng bức thư trả lời, trong đó nêu lên rằng công nhân toàn thế giới cần phải đoàn kết thành một mặt trận vững chắc, đạp bằng mọi trở ngại, hướng tới mục tiêu làm thay đổi cái chế độ xã hội bất hợp lý – cái xã hội ở đó tư bản thì độc quyền về khoa học, còn công nhân không còn được coi như con người đúng nghĩa, mà chỉ đơn thuần là những cỗ máy công cụ; thay đổi cái xã hội mà từ đó đã thoát thai ra một hình thái mới của chế độ nô lệ - chế độ nô lệ công nghiệp
Đấy cũng chính là điều kiện cho sự ra đời của “Hội liên hiệp công nhân quốc tế” vào ngày 28 tháng 9 năm 1864 tại hội trường Xanh Máctin ở Luân Đôn, sau này được gọi là Quốc tế I Nói cách khác, sự ra đời của Quốc
tế I là tất yếu lịch sử, thể hiện sự thay đổi về chất của phong trào công nhân quốc tế, là kết quả phát triển của phong trào vô sản châu Âu vào những năm
50 đến những năm 60 của thế kỷ XIX Cuộc đấu tranh chống lại sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản không còn là việc của công nhân một nước riêng rẽ như Anh, Pháp, Đức, Italia hay Ba Lan nữa Giờ đây, đó đã là cuộc đấu tranh chung của giai cấp vô sản toàn thế giới C.Mác đã dự đại hội thành lập “Hội liên hiệp công nhân quốc tế” vào ngày 28 tháng 9 năm 1864 với tư cách là đại biểu của công nhân Đức Ông cũng được bầu vào đoàn chủ tịch đại hội, trở thành một trong số 21 thành viên của Tổng hội đồng, chính là bộ
máy lãnh đạo của Quốc tế I C.Mác đã hoàn thành Tuyên ngôn thành lập Hội
Trang 28liên hiệp công nhân quốc tế và Điều lệ tạm thời của Hội liên hiệp công nhân quốc tế Qua các văn kiện này Mác đã kiên định giữ vững tính chất giai cấp
vô sản, xác định đường lối chính trị, tổ chức và sách lược cho Quốc tế I Tuyên ngôn của Quốc tế I trở thành văn kiện có tính cương lĩnh chỉ đạo phong trào công nhân quốc tế Trong tuyên ngôn, xuyên suốt là những nguyên lý chủ nghĩa xã hội khoa học, được kết hợp chặt chẽ với các nguyên
tắc cơ bản trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, với thực tế xã hội tư bản
chủ nghĩa và phong trào công nhân đầu những năm 60 của thế kỷ XIX
Sau khi Tuyên ngôn của Đảng cộng sản ra đời, chủ nghĩa Mác đã
được kiểm nghiệm trong các cuộc bão táp cách mạng năm 1848 và năm
1871 Nó được truyền bá rộng rãi trong phong trào công nhân quốc tế và trở thành ngọn cờ tư tưởng, và là vũ khí lý luận sắc bén của giai cấp vô sản trên khắp các nước
Tại nước Đức, dưới sự quan tâm, hướng dẫn trực tiếp của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, vào năm 1869, lần đầu tiên chính đảng của giai cấp vô sản, Đảng dân chủ - xã hội Đức đã được thành lập Ngay từ đầu, chủ nghĩa Mác khi được truyền bá rộng rãi trong phong trào công nhân đã có một ảnh hưởng
vô cùng tích cực Nó tác động và làm gia tăng sự tham gia của đông đảo lực lượng quần chúng tiến bộ vào tổ chức đảng của giai cấp vô sản Song, bên cạnh đó, một hiện tượng không thể tránh khỏi là, những phần tử tiểu tư sản nhờ đó cũng dễ dàng có cơ hội xâm nhập vào hàng ngũ của giai cấp vô sản Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa cơ hội ra đời
Vào những năm 70 của thế kỷ XIX, trong bộ phận lực lượng công nhân lấy chủ nghĩa Mác làm nền tảng đã diễn ra quá trình nhận thức lại về nội dung của chủ nghĩa Mác Nổi bật lên là những vấn đề về thế giới quan, phương pháp luận, nhất là phương pháp luận đấu tranh cách mạng Sau Công
xã Pari có nhiều giải thích mới mang tính chất xuyên tạc, xa rời chủ nghĩa
Trang 29Mác Đó cũng là biểu hiện của các học thuyết mang màu sắc của chủ nghĩa xét lại, hay chủ nghĩa cơ hội Thực tiễn của phong trào công nhân như thế đòi hỏi chủ nghĩa Mác cần được luận giải một cách cụ thể, hệ thống, để trở thành một hệ thống tư tưởng hoàn chỉnh Năm 1875, phong trào công nhân Đức được hợp nhất từ hai phái, nhưng do có sự nhập nhằng, không phân định ranh giới rõ ràng với chủ nghĩa Latxan, hay nói cách khác là do chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa này mà dẫn đến tình trạng sa sút về trình độ lý luận, nhận thức trong đảng Vì thế, mọi thứ lý thuyết duy tâm, siêu hình, mọi loại chủ nghĩa xã hội giả hiệu đã có đất phô diễn, làm mưa làm gió, gây tác động tiêu cực đến tổ chức vừa được hợp nhất và còn non trẻ của phong trào công nhân Đức - Đảng dân chủ - xã hội Đức Đúng trong bối cảnh này, ông Đuy-rinh xuất hiện trên sân khấu tư tưởng nước Đức Chủ nghĩa Đuy-rinh cũng bắt đầu được phổ biến, lan truyền từ đó Và cuộc luận chiến chống chủ nghĩa Đuy-rinh đã được Ph.Ăng ghen thực hiện nhằm bảo vệ chủ nghĩa Mác
Bằng tác phẩm Chống Đuy-rinh, cùng với việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
giảng trả vào sự tấn công ngông cuồng của Đuy-rinh đối với chủ nghĩa Mác, Ăng-ghen đã cực kỳ thành công khi tổng kết và luận chứng một cách hệ thống ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác là: triết học, kinh tế chính trị học mác-xít và chủ nghĩa xã hội khoa học
Ông Oighen Cáclơ Đuy-rinh (1833-1921) tốt nghiệp khoa luật Trường Đại học Tổng hợp Béclinh năm 1856 Đến năm 1861 ông nhận học vị tiến sị
cũng tại Trường Đại học Tổng hợp Béclinh với luận án Bàn về thời gian,
không gian, tính nhân quả kiêm bàn về lôgích vi phân Cuối năm 1863,
Đuy-rinh đến giảng dạy triết học, kinh tế học tại Trường Đại học Tổng hợp Béclinh, nhưng ông chưa phải là giảng viên chính thức do chính phủ bổ nhiệm Song đến năm 1877 Đuy-rinh bị buộc rời khỏi cương vị này do đã công kích chế độ giáo dục lúc đó
Trang 30Ông Đuy-rinh đã viết rất nhiều, đã cho xuất bản hàng loạt các tác phẩm và tiến hành diễn thuyết nhiều lần chỉ trong một khoảng thời gian rất
ngắn Chỉ tính trong năm 1865, Đuy-rinh đã cho ra mắt độc giả Biện chứng
của tự nhiên, Kêri đảo lộn trong học thuyết kinh tế quốc dân và khoa học
xã hội, Giá trị của cuộc đời, Tư bản và lao động, Điều trần về hợp tác kinh
tế và tổ chức đoàn thể xã hội Đến năm 1866 lại xuất bản Cơ sở phê phán học thuyết kinh tế quốc dân, năm 1869 là Lịch sử phê phán triết học Đến
năm 1871 Đuy-rinh công bố khoa kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội, năm 1873 là cuốn Giáo trình kinh tế quốc dân và kinh tế xã hội Đến năm
1875 là Bài giảng về triết học – Thế giới quan và nhân sinh quan khoa học
nghiêm túc
Với khối lượng tác phẩm, có thể nói là đồ sộ, ông Đuy-rinh kiêu ngạo, ngông cuồng tấn công vào tất cả các triết gia, các nhà kinh tế học đi trước, và đặc biệt là tấn công vào Mác và chủ nghĩa Mác Có một điều là, ông Đuy-rinh ảo tưởng về bản thân, tự cho mình là một thiên tài lý luận, một chuyên gia siêu hạng về chủ nghĩa xã hội Ông ta tự nhận thấy mình là một nhà cải cách, đã vươn tới trình độ tri thức tuyệt đích của nhân loại bằng việc sáng lập
ra “một khoa học bao gồm hết thảy”; và chỉ có Đuy-rinh mới xứng đáng là
“nhà triết học chân chính duy nhất” Mặc dù chủ nghĩa Đuy-rinh là một hình thức của lý luận xã hội chủ nghĩa không tưởng của giai cấp tiểu tư sản, dựa trên cơ sở triết học chiết trung chủ nghĩa và kinh tế học tầm thường, song nó vẫn đủ sức làm mê hoặc không ít đảng viên có trình độ nhận thức còn non yếu, và vẫn đủ sức lôi kéo một số lượng không nhỏ các sinh viên có khuynh hướng tiến bộ nhưng chưa đủ trình độ và bản lĩnh chính trị Sự xuất hiện của chủ nghĩa Đuy-rinh đã tác động tiêu cực đến phong trào công nhân Đức, gây
ra tình trạng hoang mang, mất phương hướng, hỗn loạn về lý luận Đặc biệt, chủ nghĩa Đuy-rinh đã phá hoại mạnh mẽ sự thống nhất về chính trị, tư
Trang 31tưởng và tổ chức của Đảng dân chủ - xã hội Đức, một sự thống nhất được xây dựng trên cơ sở nền tảng là chủ nghĩa Mác
Có một nghịch lý đã được Cicero đưa ra trong quyến I, II của Tusculanae disputationes [103, 49-50], đó là: triết học chỉ vừa lòng với một
số rất ít những người phán xử mà thôi Triết học né tránh đám đông, bởi vì với đám đông thì triết học vừa khả nghi vừa đáng ghét Kẻ nào đả phá triết học, kẻ đó nhận được sự ủng hộ của đám đông Thái độ kỳ thị, nghi ngờ, đả phá, thậm chí là chửi bới đối với những tư tưởng tiến bộ lại thường hay được đám đông vỗ tay tán dương nhiệt thành Nghịch lý là ở chỗ trong quá trình lịch sử nhân loại, triết học chân chính, thật sự khoa học vẫn thường phải chịu cảnh ngộ đó Hình thức tư tưởng kiểu như chủ nghĩa Đuy-rinh cũng làm được cái việc đả phá, miệt thị nhiệt tình các nhà khoa học chân chính cùng với tư tưởng của họ! Và quả thực, chủ nghĩa Đuy-rinh đã phần nào bắt nhịp
và thỏa mãn được tâm lý đám đông trong bối cảnh đời sống chính trị tư tưởng ở Đức lúc bấy giờ Đây cũng là minh chứng cho tính chất xu thời của những tư tưởng lệch lạc, phản khoa học khi đối đầu với những tư tưởng tiến
bộ trong xã hội ở mọi thời đại Chủ nghĩa Đuy-rinh không phải là phát minh
vĩ đại như chính tác giả của nó ảo tưởng Thật ra đấy chẳng qua chỉ là sự sao chép, “chế biến” một cách tùy tiện những tư tưởng của các bậc tiền bối, trong khi vẫn lớn tiếng phê phán, thậm chí kiêu ngạo đả phá họ với một thái
độ kém văn hóa! Nói khác đi, “phát minh vĩ đại” của ông Đuy-rinh chỉ là hình thức chiết trung triết học, là sự pha trộn hổ lốn tư tưởng của nhiều loại chủ nghĩa khác nhau như: chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật siêu hình tầm thường, chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa vô chính phủ trong chính trị v.v…Tất cả được ông Đuy-rinh trộn thành món thập cẩm chứa đựng đầy mâu thuẫn, song được che đậy, đánh bóng bằng những câu văn bóng bẩy, đầy hoa mỹ
Trang 32Hình ảnh của ông Đuy-rinh cũng chẳng phải là hiện tượng cá biệt trong lịch sử Dường như thời đại nào cũng xuất hiện nhan nhản những nhân vật cao ngạo, khua môi múa mép như thế Chẳng thế mà vào thời đại của mình Hê-ghen cũng đã từng phải thốt lên trước thực tế đó:
“Có thể nói, trong các tôn giáo, các huyền thoại hay trong các triết lý nhận thức và thần bí xưa nay có đủ và thậm chí có quá thừa những hình ảnh
ít nhiều thuần khiết hoặc lu mờ về chân lý Chúng ta có thể tìm thấy sự hài lòng trong việc khám phá ý niệm ở trong những hình ảnh ấy và sự hài lòng với sự đinh ninh rút ra từ những khám phá kiểu như vậy rằng chân lý triết học không phải là một cái gì đó hoàn toàn biệt lập, trái lại, tác động của nó trong những hình ảnh này đã thể hiện, ít nhất cũng như là sự gây men Thế nhưng, khi bộ óc chưa trưởng thành và quá tự tin bắt đầu hâm nóng những sản phẩm gây men ấy – như trường hợp một trong số những kẻ bắt chước Franz von Baader đã làm, thì người đó, do sự lười biếng và không có năng lực của mình đối với tư duy khoa học rất dễ biến sự nhận thức thần bí như vậy thành phương thức nhận thức duy nhất Bởi lẽ đắm mình vào sự xem xét các hình ảnh như vậy, rồi xuất phát từ chúng để xây dựng các tín điều triết học tùy tiện là việc quá dễ dàng so với việc nhận lãnh cho mình trách nhiệm phát triển khái niệm và buộc tư duy lẫn cảm xúc của mình phải phục tùng sự tất yếu lôgích của khái niệm Những bộ óc quá tự tin, ngoài điều này ra, còn
dễ dàng rơi vào sự cám dỗ gán cho mình sự phát minh mà họ lấy được từ người khác, và họ càng dễ dàng tin vào các phát minh này khi họ phản đối hoặc cố gắng hạ thấp những người đã làm ra các phát minh ấy; nói đúng hơn, [những] bộ óc quá tự tin này bị chọc tức để chống lại những người có những
tư tưởng mà họ vay mượn.” [103, 45-46]
Khi đọc những nhận xét tinh tế trên của Hê-ghen chúng ta không khỏi giật mình, và tưởng chừng như Hê-ghen cũng đã thấy trước là sẽ xuất hiện
Trang 33một ông Đuy-rinh có “bộ óc quá tự tin” như thế! Với tính cách kiêu căng, tham vọng, cùng ảo tưởng về tài năng của bản thân, ông Đuy-rinh không dấu diếm ý định tiến hành cuộc “cải cách” khoa học một cách triệt để Vào cùng thời của mình, ông Đuy-rinh cho rằng, trong số các nhà tư tưởng thì chỉ có C.Mác mới ngang hàng với ông Có lẽ vì vậy, ông ta lập tức công kích tư
tưởng về kinh tế chính trị của Mác ngay khi tập I bộ Tư bản ra đời Sự thật là
ông ta, dù tự nhận mình là “nhà cải cách trong kinh tế học”, nhưng rõ ràng
qua các bài bình luận về bộ Tư bản đăng trên báo chí Đức lúc đó, Đuyrinh
thể hiện ra là không hiểu gì Mác Ông ta chẳng qua „„chỉ là đồ đệ của nhà kinh tế học tư sản Kêri” “Nực cười nhất là ông ta so sánh” Mác “với Stainơ”, trong khi Mác “nghiên cứu phép biện chứng, còn Stainơ thì xếp cả một mớ vô lý những cái thô bỉ nhất vào thuyết tam đoạn luận khô khan, diễn đạt bằng một vài phạm trù gì đó của Hêghen” [78] Ông ta gán ghép, xuyên tạc tư tưởng của Mác về kinh tế chính trị, ông ta nhầm lẫn cả phép biện chứng của Mác với phép biện chứng của Hêghen Và đến những năm 70 của thế kỷ XIX thì Đuy-rinh, bằng những tác phẩm của mình, đã tiến hành tấn công vào toàn bộ tư tưởng của Mác không chỉ trong kinh tế học, mà trong cả triết học và chủ nghĩa xã hội khoa học Đuy-rinh chỉ trích Mác đã lập lại “Phi lôgích học của Hêghen”, đã bắt chước và lợi dụng phép biện chứng của Hêghen nhằm “tạo ra những phép màu biện chứng cho các tín đồ của mình” Hay khái niệm về tư bản của Mác “chỉ là những sản phẩm lai căng của câu chuyện hoang đường về lịch sử và về lôgích”, và “chỉ tạo ra một sự rối rắm trong khoa học chặt chẽ về kinh tế quốc dân” mà thôi [92,287] Ông ta chỉ trích Mác dựa vào “đôi nạng” phép biện chứng để sáng tác ra cái chủ nghĩa
xã hội tương lai, rằng lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học của Mác mang
“tính chất phản động dấu mặt”
Trang 34Mục đích của Đuy-rinh khi công kích Mác là nhằm lấy “chân lý cuối cùng, tuyệt đỉnh” của mình thế chân chủ nghĩa Mác trong vai trò dẫn đường, chỉ đạo trong Đảng công nhân Đức, trong phong trào xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ Bởi vậy, hiển nhiên là trong các bài giảng, các tác phẩm, ông ta luôn
tỏ ra một nhà xã hội chủ nghĩa tích cực, tiến bộ Ông ta vẽ vời những phương
án cho một xã hội tương lai đủ sức mê hoặc, thỏa mãn giới trẻ còn non kém, chưa đủ bản lĩnh chính trị, thiếu kiên định trong đảng công nhân, trong phong trào xã hội chủ nghĩa Nói cách khác, ẩn dấu sau cái bóng của “chân
lý cuối cùng, tuyệt đỉnh” chính là chủ nghĩa Đuy-rinh, một hệ thống lý luận lộn xộn, phản khoa học của một con người ảo tưởng về bản thân đến độ kiêu căng và ngông cuồng
Trong Lịch sử phê phán khoa kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội,
Giáo trình kinh tế quốc dân và kinh tế xã hội, Bài giảng về triết học, là
những tác phẩm được Đuy-rinh cho ra mắt bạn đọc vào những năm 70 của thế kỷ XIX, tác giả là ông Đuy-rinh đã tỏ ra thoải mái “mượn không thèm hỏi”, và cũng chẳng tỏ ra xấu hổ khi “hồn nhiên” sử dụng nhiều kết quả nghiên cứu của những nhà tư tưởng tiền bối, và của ngay cả các nhà tư tưởng cùng thời Thế nhưng, ông ta lại mạnh miệng, lớn lối chỉ trích, kết án hầu hết những người mà ông ta ăn cắp tư tưởng của họ; rồi huênh hoang, tâng bốc chính mình Theo đó, chỉ có Đuy-rinh mới là người vĩ đại - người sở hữu hệ thống lý luận có “chân lý cuối cùng, tuyệt đỉnh” Ông ta tự tin thái quá khi cho rằng, những khái niệm và nguyên tắc khởi điểm cho hệ thống lý luận của ông ta có ý nghĩa cao nhất, là chân lý vô điều kiện Chính vì thế, cái hệ thống
ấy, hệ thống mà ông ta sáng chế ra gắn liền với khởi điểm đấy, tất nhiên cũng phải là “chân lý cuối cùng, tuyệt đỉnh”
Một điều nữa đáng nói là, đời sống sinh hoạt tư tưởng ở Đức lúc đó khá sôi động với đủ loại tư tưởng “mọc như nấm sau một trận mưa” Và tất
Trang 35nhiên trong số đó có khá nhiều loại nấm độc! Ph.Ăng-ghen đã trào phúng, mỉa mai thói “trưởng giả học làm sang” của những tri thức rởm - những
“người sáng tạo ra hệ thống”, đã liều mạng “xuất xưởng” những tư tưởng mà
họ chẳng hề nghiên cứu, kiểu như ông Đuy-rinh:
“ ông Dühring chính là một trong những loại hình tiêu biểu nhất cho cái khoa học giả hiệu trắng trợn mà ngày nay, trong khắp nước Đức, ta đều thấy ngoi lên hàng đầu và lấn át tất cả bằng những lời rỗng tuếch khoa trương ầm ĩ của nó […] những lời rỗng tuếch khoa trương ở khắp mọi nơi […] có tham vọng là đạt tới sự hơn hẳn và sâu sắc về tư tưởng, […] với tư cách là sản phẩm đặc trưng nhất và mang tính chất hàng loạt nhất của nền công nghiệp tri thức của Đức, rẻ nhưng tồi…” “Mặt khác, ông Dühring,
“người sáng tạo ra hệ thống”, không phải là một hiện tượng đơn nhất trong hiện thực nước Đức ngày nay Ít lâu nay, ở Đức, những hệ thống nghiên cứu nguồn gốc của vũ trụ, hệ thống triết học tự nhiên nói chung, hệ thống chính trị học, hệ thống kinh tế chính trị học, v.v , mọc ra như nấm sau một trận mưa Một vị tiến sĩ triết học xoàng nhất, thậm chí cả một sinh viên, cũng bắt tay vào việc sáng tạo ra một “hệ thống” hoàn chỉnh chứ không kém hơn Giống như trong một quốc gia hiện đại, người ta giả thiết rằng mỗi công dân đều có đủ trình độ phán xét tất cả các vấn đề đưa ra cho mình biểu quyết; giống như trong khoa kinh tế chính trị, người ta giả thiết rằng mỗi người tiêu thụ đều là một người hiểu biết cặn kẽ các hàng hóa mà mình phải mua để dùng cho cuộc sống của mình – thì ngày nay trong lĩnh vực khoa học cũng phải đi theo một giả thiết như thế Tự do về mặt khoa học có nghĩa là người
ta có quyền viết về tất cả những gì mà mình không nghiên cứu, và coi đó là phương pháp khoa học duy nhất chặt chẽ.” [92,15-16]
Trong cái bối cảnh mà ““ chủ nghĩa xã hội Đức, ít lâu nay, nhất là sau khi có tấm gương tốt của ông Dühring, cũng rất nhiệt tình sản xuất ra những
Trang 36lời rỗng tuếch khoa trương và tiến cử những kẻ lên mặt huênh hoang về một
“khoa học” mà họ “quả thực cũng chẳng học được cái gì cả””[92,16], cũng chẳng có gì khó hiểu khi mà thông qua một số phần tử non kém về lý luận và thiếu kiên định trong tư tưởng, chủ nghĩa Đuy-rinh đã gây được sự ảnh hưởng nhất định, có tác động rất xấu đến phong trào công nhân Đức Chủ nghĩa Đuy-rinh đã được truyền bá khá nhanh chóng, làm xáo trộn, hỗn loạn
về tư tưởng trong Đảng dân chủ - xã hội Đức Trong số các tín đồ cuồng nhiệt của nó có thể kể đến Becstanh, A.Enxơ, Gi.Môxtơ Với cách nhìn của
Becstanh, trong Lịch sử phê phán khoa kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội,
và Giáo trình kinh tế quốc dân và kinh tế xã hội, Đuy-rinh đã sử dụng ngôn
ngữ và hình thức dễ hiểu hơn so với các tác phẩm nói về chủ nghĩa xã hội của Mác Thậm chí Becstanh ca ngợi Đuy-rinh đã bổ sung và kế tục Mác bằng chủ nghĩa khoa học cấp tiến của ông ta Becstanh nhiệt thành nghe Đuy-rinh giảng tại trường Đại học Tổng hợp Béclin, đồng thời gửi giáo trình của Đuy-rinh cho Bêben, Môxtơ với sự ca ngợi hết lời Trong khi đó, Môxtơ,
trong bài viết trên báo Tin tức tự do Béclin dưới tựa đề “Một nhà triết học”
đã tung hô Đuy-rinh như một chiến sĩ tiên phong, một con người không mệt mỏi đấu tranh cho khoa học, và là đại biểu dũng cảm dám giáng những đòn mạnh mẽ vào những tư tưởng lỗi thời, lạc hậu Cùng với họ, Enxơ lôi kéo nhiều người khác tích cực ủng hộ Đuy-rinh, hình thành nên bè phái theo chủ nghĩa Đuy-rinh ở trong nội bộ Đảng dân chủ - xã hội Đức Những đảng viên theo chủ nghĩa Đuy-rinh luôn cố tìm cách gây ảnh hưởng, tìm cách áp đặt chủ nghĩa Đuy-rinh vào tư tưởng của đảng, làm cho Đảng dân chủ – xã hội Đức rơi vào con đường sai lầm, rời xa chủ nghĩa Mác và có nguy cơ biến chất thành đảng của những kẻ cơ hội chủ nghĩa
Sự nguy hiểm, độc hại mà chủ nghĩa Đuy-rinh gây ra trong Đảng dân chủ - xã hội Đức không chỉ ở những đảng viên bình thường Ngay cả một số
Trang 37nhân vật trong đội ngũ lãnh đạo, những người có vai trò dẫn dắt tư tưởng trong đảng cũng từng bị mê hoặc bởi chủ nghĩa Đuy-rinh Điển hình là trường hợp của Bêben Ông đã có lúc cũng không nhận ra bản chất thật sự độc hại của tư tưởng về chủ nghĩa xã hội không tưởng đó Không những thế, lúc đầu Bêben đã xem Đuy-rinh như một người cộng sản mới, người có chủ
nghĩa xã hội cấp tiến Bêben nhầm lẫn đến nỗi ca tụng cuốn Giáo trình kinh
tế quốc dân và kinh tế xã hội của Đuy-rinh, cho rằng Đuy-rinh có cùng chí
hướng, đứng cùng chiến tuyến với những người xã hội chủ nghĩa cánh tả Tệ hại hơn nữa, Bêben còn cho rằng Đuy-rinh có quan điểm nhất trí với chủ nghĩa xã hội khoa học, và tác phẩm này của Đuy-rinh là một kiệt tác sau bộ
Tư bản của Mác Thế rồi Vinhem, người phụ trách tờ báo Nhà nước nhân dân - cơ quan ngôn luận của Đảng dân chủ - xã hội Đức lúc đó, đã lập tức
cho đăng bài viết của Bêben về tác phẩm trên của Đuy-rinh Như vậy, cùng với sự đầu độc tư tưởng trong Đảng dân chủ - xã hội Đức, chủ nghĩa Đuy-rinh còn trực tiếp phá hoại sự đoàn kết trong nội bộ của tổ chức đảng còn non trẻ đó Sự cấu kết, bè phái của “tập đoàn” Đuy-rinh với những Becstanh, Enxơ, Môxtơ đã gây ra sự hỗn loạn, làm lung lay tổ chức đảng vừa được hợp nhất trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác
Đánh giá về vấn đề này Ph.Ăng-ghen đã từng nói:
“Đảng xã hội chủ nghĩa ở Đức đã mau chóng trở thành một lực lượng Nhưng muốn trở thành một lực lượng thì trước hết phải giữ cho sự thống nhất vừa mới đạt được không bị đe dọa Thế mà tiến sĩ Đuyrinh lại công khai
có ý định tập hợp xung quanh mình một nhóm phái, hạt nhân của một đảng riêng rẽ sau này” [74,420-421]
Đấy cũng là lý do khiến cho C.Mác và Ph.Ăng-ghen trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 7 năm 1874 phải nhiều lần viết thư cảnh tỉnh Vinhem về tính chất nguy hiểm, độc hại mà chủ nghĩa Đuy-rinh gây ra đối
Trang 38với phong trào công nhân Đức, trực tiếp là đối với Đảng dân chủ - xã hội Đức Nhờ đấy, Vinhem dần nhận ra bản chất phản động của chủ nghĩa Đuy-rinh Và chính ông viết thư đề xuất Ăng-ghen phải nhanh chóng thẳng tay thanh toán, đập tan chủ nghĩa Đuy-rinh; ngăn chặn ảnh hưởng nguy hại của
nó đối với đảng và phong trào công nhân Đức
1.2 CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG ĐUY-RINH LÀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ PH.ĂNG-GHEN TRÌNH BÀY HỆ THỐNG PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Nhận được yêu cầu viết bài chống Đuy-rinh của Vinhem, được Mác ủng hộ, tháng 9 năm 1876 Ph.Ăng-ghen đi đến quyết định tập trung thu thập tài liệu về Đuy-rinh - con người mà Ăng-ghen cho rằng quả thật là đáng
“ngán ngẩm” Tư tưởng của ông ta giống như một quả táo chua, đã chua mà lại còn to nữa! Nhưng đã quyết định cắn rồi thì đành phải ăn cho hết!
Quá trình làm việc miệt mài, nghiêm túc của Ăng-ghen đã có kết quả
cụ thể là, đến tháng 1 năm 1877 ông đã hoàn thành loạt bài phê phán Bài
giảng về triết học của Đuy-rinh Và loạt bài này có tiêu đề Ông Oighen Đuyrinh đảo lộn khoa học, được đăng trên báo Tiến lên từ ngày 3 tháng 1
năm 1877 đến ngày 13 tháng 5 năm 1877 Sau đó, tất cả đã được tập hợp, in
thành sách vào tháng 7 năm 1877 với nhan đề Oighen Đuyrinh đảo lộn khoa
học Phần thứ nhất: Triết học Cũng chính loạt bài này sau đã trở thành phần
dẫn luận và phần thứ nhất trong tác phẩm Chống Đuy-rinh của Ph.Ăng-ghen
Loạt bài này của Ăng-ghen làm chấn động đời sống sinh hoạt tư tưởng trong phong trào công nhân Đức lúc bấy giờ Ảnh hưởng của nó là rất mạnh
mẽ trong nội bộ Đảng dân chủ - xã hội Đức, và gây tiếng vang lớn ngay cả bên ngoài tổ chức đảng Vinhem cho rằng Ăng-ghen thật sự xuất sắc trong
loại bài chống Đuy-rinh được đăng trên báo Tiến lên Giá trị của những bài
viết này không chỉ đối với phong trào công nhân Đức, mà còn có ý nghĩa với
Trang 39phong trào công nhân quốc tế Cũng bởi vì thế mà Lenxơ cho rằng cần phải dịch ngay chúng qua tiếng Anh và tiếng Pháp
Bên cạnh đó, các bài viết của Ăng-ghen cũng đồng thời làm rúng động thật sự tới những kẻ theo chủ nghĩa Đuy-rinh “Tập đoàn” Đuy-rinh tỏ rõ thái
độ bực tức, cay cú công kích mạnh mẽ Ăng-ghen và các bài viết của ông Họ hằn học phê phán Ăng-ghen là đã “mưu sát” một “lý trí lành mạnh của con người” Họ còn cho rằng đây chính là biểu hiện của sự phá sản của chủ nghĩa
xã hội mác-xít về mặt khoa học Tất cả những luận điệu đó không phải dựa trên những cơ sở, luận cứ khoa học Mọi hoạt động của nhóm Đuy-rinh chỉ
là sự phản ứng điên cuồng trước nguy cơ bị vạch mặt, bị loại trừ khỏi đời sống tư tưởng của đảng, của phong trào công nhân Đức mà thôi Và để làm được điều đó, Enxơ viết bài công kích cay nghiệt Ăng-ghen, song không có báo nào chịu đăng bài của ông ta Do vậy mà sau đó, các bài viết này được Enxơ in thành một tập sách mỏng rồi phân phát khắp nơi Cùng với những
người khác, các phần tử như Becstanh, Enxơ, Môxtơ gây sức ép lên tờ Tiến
lên của Vinhem, buộc báo này không được tiếp tục đăng các bài viết chống
Đuy-rinh của Ph.Ăng-ghen nữa Không những thế, phái Đuy-rinh còn đưa vấn đề này ra trong đại hội đại biểu Đảng dân chủ - xã hội Đức lần thứ ba, công khai thách thức, yêu cầu ngưng đăng các viết bài chống Đuy-rinh của
Ăng-ghen trên báo Tiến lên Tuy các đảng viên chịu ảnh hưởng của Đuy-rinh
trong đảng lúc đó không phải ít, song trước sự kiên quyết của những người mác-xít như Bêben, Lípnếch, các bài viết của Ăng-ghen sẽ vẫn được đăng
trên ấn phẩm của Đảng dân chủ - xã hội Đức là tờ Bình luận, hoặc trên Phụ
trương học thuật, hoặc xuất bản riêng Tuy nhiên, sự thỏa hiệp trong Đảng
dân chủ - xã hội Đức trước vấn đề này cũng bộc lộ sự sa sút về mặt tư tưởng,
về khả năng lý luận của đảng, cũng như cho thấy một tình thế hiểm nguy của đảng trước sự đầu độc của chủ nghĩa Đuy-rinh Nguy cơ chia rẽ của đảng
Trang 40mới được hợp nhất này là một thực tế đáng báo động
Trong quá trình hoàn thiện và phát triển hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác, sự ra đời của tác phẩm Chống Đuy-rinh cũng là một tất yếu của
lịch sử Chống Đuy-rinh của Ph.Ăng-ghen, trước nhất là một tác phẩm luận
chiến, thực hiện nhiệm vụ chính trị - đấu tranh vạch trần bản chất phản khoa học, phản cách mạng của chủ nghĩa Đuy-rinh, tái khẳng định sự đúng đắn khoa học của hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác Đồng thời, khẳng định một lần nữa vai trò chủ đạo của nó về mặt tư tưởng trong phong trào công nhân và phong trào xã hội chủ nghĩa, góp phần bảo vệ tổ chức đảng của giai cấp công
nhân Đức vào thời điểm đó Không những thế, Chống Đuy-rinh là minh
chứng về tài năng kiệt xuất của Ph.Ăng-ghen Ông đã làm cho lý luận của chủ nghĩa Mác lần đầu tiên được trình bày một cách hệ thống, khoa học và súc tích Tác phẩm thật sự xứng đáng là “bách khoa thư” về chủ nghĩa Mác, như V.I.Lênin từng đánh giá Tác phẩm của Ph.Ăng-ghen cũng làm rõ vai trò lịch
sử toàn thế giới của giai cấp vô sản Ông làm rõ ba vấn đề lớn cơ bản, đó là: Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội là gì? Và từ góc độ triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học chỉ rõ xu hướng phát triển của xã hội tất yếu đi đến việc xã hội tư bản sẽ phải bị thay thế bởi xã hội xã hội chủ nghĩa? Thứ hai, Chỉ ra giai cấp vô sản, giai cấp công nhân công nghiệp là lực lượng có khả năng xây dựng chủ nghĩa xã hội Thứ ba, phân tích sứ mạng lịch sử của giai cấp vô sản cũng như chỉ ra cách thức tổ chức để thực hiện sứ mạng đó
Bằng những luận cứ khoa học và lý luận sắc bén, Ăng-ghen đã bóc trần bản chất thật sự của cái gọi là “khoa học tuyệt đỉnh” của ông Đuy-rinh Thông qua phê phán hệ thống lý luận của Đuy-rinh, Ph.Ăng-ghen đã chuyển
sự phê phán tiêu cực thành sự trình bày một cách tích cực, khoa học và mang tính hệ thống cao về lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác Đấy chính là hệ thống những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác bao gồm triết học, kinh tế