ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---0O0--- NGUYỄN THỊ THU HÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG ĐỂ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-0O0 -
NGUYỄN THỊ THU HÀ
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI VÀ
SỰ VẬN DỤNG ĐỂ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở ĐỒNG NAI HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triếthọc
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS LÊ TRỌNG ÂN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-0O0 -
NGUYỄN THỊ THU HÀ
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI VÀ
SỰ VẬN DỤNG ĐỂ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở ĐỒNG NAI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Trọng Ân Các số liệu, tài liệu được sử dụng và trích dẫn trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Tác giả
NGUYỄN THỊ THU HÀ
Trang 4MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI 13
1.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam và tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người 13
1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX 13
1.1.2 Tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX 19
1.2 Những tiền đề lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người 24
1.2.1 Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam – cội nguồn của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người 24
1.2.2.Tinh hoa văn hóa Đông, Tây – tiền đề quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người 28
1.2.3 Chủ nghĩa Mác-Lênin – tiền đề lý luận cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người 32
1.3 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người 37
1.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và bản chất con người 37
1.3.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và giải phóng con người 42
1.3.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam 47
1.3.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc xây dựng đạo đức mới cho con người Việt Nam 52
1.3.5 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện 56
1.3.6 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của con người đối với sự phát triển xã hội 60
Kết luận chương 1 65
Trang 5Chương 2 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI
ĐỂ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở ĐỒNG NAI 66 2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, lịch sử - truyền thống và tình hình phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai 66
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của Đồng Nai 67 2.1.2 Đặc điểm lịch sử - truyền thống của vùng đất và con người Đồng Nai 70 2.1.3 Đặc điểm tình hình phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của Đồng Nai 76
2.2 Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với việc vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh về con người để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai 81
2.2.1 Những thành tựu nổi bật của sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai và nguyên nhân đạt được 81 2.2.2 Những hạn chế cơ bản của sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai và nguyên nhân của nó 95
2.2.3 Một số vấn đề đặt ra đối với việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai 103
2.3 Mục tiêu, phương hướng và giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai đến năm 2020 107
2.3.1 Mục tiêu và phương hướng phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai đến năm 2020 107
Trang 62.3.2 Một số giải pháp cơ bản vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Đồng Nai hiện nay 111
Kết luận chương 2 123
PHẦN KẾT LUẬN 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 130
PHỤ LỤC 137
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm lý luận toàn diện
và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, mà cốt lõi của
nó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và xã hội Lý tưởng và lẽ sống của Hồ Chí Minh hết sức bình dị nhưng mang giá trị nhân văn sâu sắc của một lãnh tụ vĩ đại: tất cả vì con người, vì độc lập, tự
do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam, và vì nền hòa bình và phát triển trên toàn thế giới Với lý tưởng cách mạng và lẽ sống cao cả ấy, chủ tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới đã trở thành một trong số ít nhân vật lịch sử trở thành huyền thoại ngay khi còn sống
Tư tưởng của Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chi Minh về con người nói riêng không chỉ là tài sản tinh thần vô cùng quý báu của dân tộc Việt Nam mà còn góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển văn minh, tiến bộ của nhân loại Vì vậy, việc nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là những vấn đề liên quan đến con người và phát triển con người Việt Nam, luôn là một chủ trương lớn trong công tác lý luận của Đảng và Nhà nước ta
Mặt khác, để sự nghiệp đổi mới đất nước thắng lợi thì trước hết phải lấy việc phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước làm trọng tâm; mà chiến lược phát triển kinh tế - xã hội lại có mối quan
hệ hữu cơ không thể tách rời với “chiến lược con người” Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã nhấn mạnh “phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao…” là một trong ba
Trang 8khâu đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2020 [13, 106]
Tuy nhiên, do những điều kiện khách quan và chủ quan khác nhau mà tốc độ phát triển kinh tế – xã hội, cũng như trình độ phát triển số lượng và chất lượng nguồn nhân lực ở những vùng, miền khác nhau ở nước ta còn có sự chênh lệch đáng kể Từ đó đòi hỏi chiến lược phát triển nguồn nhân lực ở mỗi vùng, miền phải linh hoạt, phù hợp với điều kiện và yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa của từng địa phương cụ thể
Đồng Nai là tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế cao so với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước Đảng bộ và nhân dân Đồng Nai
đã và đang nỗ lực phấn đấu để Đồng Nai trở thành một trong số ít tỉnh ở nước ta
đi đầu trong phát triển kinh tế – xã hội và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đồng Nai phải phát huy sức mạnh của tất cả mọi nguồn lực, trong đó phát triển nguồn nhân lực chính là “nguồn lực nội sinh” có ý nghĩa quan trọng hàng đầu
Phát triển nguồn nhân lực, nhất là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Đồng Nai hiện nay trước hết đòi hỏi phải có sự tiếp thu, kế thừa
và vận dụng sáng tạo những luận điểm khoa học và cách mạng của Hồ Chí Minh về con người Việc xem xét con người với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển theo tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ góp phần to lớn trong vấn đề giải quyết bài toán nguồn nhân lực – vấn đề then chốt, có ý nghĩa quyết định thắng lợi đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở Đồng Nai hiện nay
Do vậy, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người để phát triển nguồn nhân lực của Đồng Nai hiện nay là một yêu cầu khách quan, có ý nghĩa cấp thiết về mặt lý luận lẫn thực tiễn
Trang 9Từ những lý do và ý nghĩa nêu trên, tác giả chọn vấn đề “Tư tưởng Hồ
Chí Minh về con người và sự vận dụng để phát triển nguồn nhân lực phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai hiện nay” cho đề tài
luận văn Thạc sỹ Triết học của mình, với mong muốn được góp một phần nhỏ vào sự phát triển của tỉnh nhà
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có nhiều công trình, tác phẩm của các tác giả, tập thể các nhà khoa học, các nhà chính trị, tổ chức, quản lý nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh theo nhiều hướng, nhiều góc độ khác nhau Có thể khái quát một số hướng nghiên cứu chính, có nội dung liên quan đến đề tài của luận văn như sau:
Hướng thứ nhất, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
Trên thực tế, Hồ Chí Minh không có một tác phẩm lý luận thuần túy nào chuyên bàn về con người, song qua các bài nói, bài viết, tác phẩm của Người, các nhà nghiên cứu đã khám phá và phát hiện những nội dung cốt lõi về con người và những vấn đề liên quan đến con người trong tư tưởng
Hồ Chí Minh dưới nhiều góc độ khác nhau:
- Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người dưới góc độ lịch sử
Trước hết phải kể đến công trình Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử gồm
10 tập do GS Đặng Xuân Kỳ làm tổng chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản từ năm 1993 – 1996, gồm: tập 1, tập 2, tập 3 (1993); tập 4 (1994); tập 5, tập 6, tập 7 (1995); tập 8, tập 9, tập 10 (1996) Đây là công trình khá đồ sộ, với nhiều nguồn tư liệu chính thống được khai thác từ các cơ quan lưu trữ của Đảng, Nhà nước, báo chí đương đại và một số sách tham khảo đã được thẩm định Công trình đã trình bày có hệ thống toàn bộ những sự kiện chính yếu có ý nghĩa rất quan trọng, gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh Qua đó làm sáng tỏ lý tưởng và mục đích
Trang 10duy nhất của Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và xã hội; tất cả vì con người, vì độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân
Cùng hướng nghiên cứu này, còn có những tác phẩm tập trung đi sâu nghiên cứu các giai đoạn hoạt động cách mạng khác nhau của chủ tịch Hồ Chí Minh Qua đó, các tác giả đã phân tích và làm nổi bật ý nghĩa lịch sử và vai trò đặc biệt của Hồ Chí Minh trong từng giai đoạn của lịch sử cách mạng
Việt Nam Chẳng hạn: Trình Quy Phú (1998), Từ làng Sen đến Bến Nhà
Rồng, Nxb Văn học; Đỗ Bích Ngọc, Lê Ngọc Nhi (biên soạn), (2009), Từ Bến Nhà Rồng đến quãng trường Ba Đình, Nxb Lao Động; Lê Văn Tích,
(2009), Nguyễn Ái Quốc với quốc tế Cộng sản (1920 – 1943), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Bùi Đình Phong (2011), Ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại
của sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, Nxb Chính trị quốc gia – Sự
thật, Hà Nội
- Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người dưới góc độ văn hóa
Có thể kể đến những công trình và tác phẩm tiêu biểu của các tác giả như sau:
Bùi Đình Phong, Đinh Xuân Lâm (đồng chủ biên), (2007), Văn hóa
và triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội Đây là công trình có nhiều nội dung phong phú gồm 35 bài viết tập trung phân tích khá sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về các chủ đề: văn hóa văn nghệ; văn hóa lãnh đạo quản lý; văn hóa “dùng người”; xây dựng văn hóa Việt Nam
Hoàng Anh, Nguyễn Duy Bắc, Phạm Văn Thủy (đồng chủ biên),
(2010), Phát triển văn hóa và con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí
Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác phẩm này tập hợp 14 bài viết,
bài nghiên cứu về vấn đề phát triển văn hóa và con người Việt Nam Trong
Trang 11đó có các bài viết nổi bật như: “con người – vấn đề cốt lõi trong triết lý phát triển Hồ Chí Minh”; “giáo dục với việc xây dựng con người mới, con người
xã hội chủ nghĩa theo tư tưởng Hồ Chí Minh” Thông qua đó, tác phẩm đưa ra những định hướng quan trọng cho công tác giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay và mai sau
- Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người dưới góc độ triết học
Đây là hướng nghiên cứu mới nhưng đã có những công trình và những tác phẩm tiêu biểu như:
Lê Hữu Nghĩa (chủ biên), (2000), Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh,
Nxb Lao động, Hà Nội Trong công trình này, những luận điểm cơ bản của
tư tưởng triết học Hồ Chí Minh được trình bày và phân tích qua năm phần chủ yếu sau:
I Nguồn gốc và đặc điểm thế giới quan triết học Hồ Chí Minh
II Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
III Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc
IV Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng
V Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
Xuyên suốt các phần nêu trên, các tác giả đã phân tích và làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về con người với tư cách chủ thể và động lực phát triển của cách mạng Việt Nam
Nguyễn Đức Đạt (2007), Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác phẩm này đã phân tích khá sâu sắc quan điểm thực tiễn, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử – cụ thể, quan điểm phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người còn có nhiều bài viết, bài tham luận khoa học đã được đăng trên các báo và tạp chí uy tín ở
Trang 12trong nước, như: Nguyễn Văn Tài, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và
phát huy nhân tố con người”, tạp chí triết học số 2/2004; Lê Thị Hương,
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của
sự phát triển xã hội”, tạp chí Triết học số 9/2006; Nguyễn Thị Kim Bình,
“Triết lý nhân sinh Hồ Chí Minh - những tư tưởng sáng tạo về giải phóng
con người”, tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng số 4/2010
Hướng thứ hai, nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Có thể nói hướng nghiên cứu này đã và đang thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học; trong đó có những tác phẩm, công trình của các tác giả tiêu biểu sau:
Phạm Minh Hạc (chủ biên), (1996), Vấn đề con người trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Đây là tác phẩm chuyển tải nội dung của chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước “con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội”, mã số KX.07 Tác phẩm đã lý giải tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực – vấn đề mang tính chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Vương Liêm (2006), Về chiến lược con người ở Việt Nam, Nxb Lao
động, Hà Nội Trong tác phẩm này, tác giả tập trung phân tích thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam và vai trò của nguồn nhân lực Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Đồng thời tác giả nhấn mạnh giáo dục – đào tạo là giải pháp quan trọng và cấp thiết nhất để phát triển nguồn nhân lực
Nguyễn Thế Nghĩa (2007), Những chuyên đề triết học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Trong đó, ở chuyên đề “Học thuyết về con người và
phát triển nguồn nhân lực”, tác giả đã phân tích một cách hệ thống các học
Trang 13thuyết về con người nói chung, và đề ra một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam nói riêng
Nguyễn An Ninh (2008), Phát huy tiềm năng trí thức khoa học xã hội
Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác phẩm này tập trung phân tích
vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội, và khẳng định việc phát huy tiềm năng và vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội ở nước ta hiện nay có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Bài viết của Vũ Thị Mai Oanh, Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam và vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạp chí Phát triển nhân
lực, số 2/2012 Trong khi nêu lên những bất cập của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trước đây, tác giả đi đến kết luận: công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta hiện nay phải gắn với kinh tế tri thức dựa trên nguồn nhân lực chất lượng cao
Hướng thứ ba, nghiên cứu về con người và vùng đất Đồng Nai, về phát triển nguồn nhân lực và công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai
- Nghiên cứu về con người và vùng đất Đồng Nai với cái nhìn khái quát
nhất phải kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
Lâm Trung Hiếu (chủ biên), (1998), Biên Hòa – Đồng Nai, 300 năm
hình thành và phát triển, Nxb Đồng Nai Nội dung công trình này được kết
cấu gồm 9 chương, tập trung phân tích về con người và vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai trên các lĩnh vực: địa lý, khảo cổ, lịch sử truyền thống, kinh tế, văn hóa, xã hội; về những di tích thắng cảnh và các nhân vật tiêu biểu cho con người và vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai trong 300 năm xây dựng và phát triển (1968 – 1998)
Huỳnh Văn Tới, Phan Đình Dũng, Phan Xuân Biên (biên soạn), (2005),
Văn hóa Đồng Nai (Sơ thảo), Nxb Đồng Nai Công trình gồm 26 bài viết đã
Trang 14phác họa khá sinh động diện mạo văn hóa Đồng Nai bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể
Chu Văn Thành (chủ biên), (2006), Đô thị Việt Nam hiện nay, Nxb
Thống kê, 2006 Trên cơ sở điều tra thực trạng tổ chức và hoạt động chính quyền đô thị ở Đồng Nai, tập thể các tác giả đã rút ra những nhận xét đánh giá hữu ích đối với tình hình và tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội trên cả 8 khu vực cụ thể gồm 1 thành phố và 7 thị trấn của tỉnh Đồng Nai
Nguyễn Hồng Hải (2009), Khu công nghiệp Biên Hòa trong 20 năm
đổi mới (1986 – 2006), Nxb Lao động, TP Hồ Chí Minh Trong tác phẩm
này, tác giả tập trung phân tích vị trí và vai trò quan trọng của Khu công nghiệp Biên Hòa đối với sự phát triển Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung; đồng thời đưa ra những kiến nghị mang tính khả thi nhằm đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Đồng Nai
- Nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai được phản ánh tập trung trong một số
tác phẩm và bài viết sau:
Nguyễn Công Bình (2008), Đời sống xã hội ở vùng Nam Bộ (2008),
Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Trong công trình, tác giả đã
đề cập đến “đặc điểm giai cấp công nhân ở Đồng Nai và chất lượng đội ngũ
công nhân vùng này”, qua đó, khẳng định triển vọng to lớn về phát triển đội
ngũ công nhân công nghiệp Đồng Nai vì cho rằng “nó gắn với công cuộc công nghiệp hóa đất nước Vì nó nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam” [4, 254]
Luận văn Thạc sĩ triết học của Trần Thị Mai (2011), Phát triển nguồn
nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai, mã số:
60.22.80 Thông qua một số kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở các
nước lớn trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc, và kinh nghiệm phát triển nguồn
Trang 15nhân lực ở các tỉnh như Bình Dương, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng để phát triển nguồn nhân lực Đồng Nai
Bên cạnh đó còn có các bài viết: Phát triển nguồn nhân lực cho các
khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai, tạp chí Hội nhập và phát triển, số 4/ 2012 và Nâng cao đời sống của người lao động trong các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai, tạp chí Kinh tế và dự báo, số 4 (2/2014) của tác giả Cảnh Chí Hoàng
Theo tác giả, việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố quan trọng nhất để phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của Đồng Nai trên thị trường trong nước và quốc tế Đồng thời, trên cơ sở đánh giá thực trạng tiền lương, điều kiện nhà ở và làm việc của người lao động, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao mức sống của người lao động trong các khu công nghiệp Đồng Nai
Ngoài ra, sẽ là thiếu sót nếu không kể đến công trình: Lối sống và tư
duy của cộng đồng ngươi Việt vùng Đông Nam Bộ trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012 do PGS.TS Trịnh
Doãn Chính chủ biên Đây là công trình khá đồ sộ có giá trị khoa học và thực tiễn cao, do tập thể các nhà khoa học Khoa Triết học, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh biên soạn Tuy tác phẩm này không nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; song những đặc điểm về vùng đất và con người, lịch sử và truyền thống, lối sống và tư duy… của cộng đồng người Việt ở vùng Đông Nam Bộ nói chung, ở tỉnh Đồng Nai nói riêng đã được các tác giả phân tích khá toàn diện và sâu sắc Tuy ở mức
độ khác nhau nhưng tất cả những nội dung nêu trên đều trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển nguồn nhân lực, nhằm đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa,
Trang 16hiện đại hóa ở Đồng Nai và vùng Đông Nam Bộ - khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam năng động hàng đầu cả nước
Tóm lại, việc khảo cứu các công trình, tác phẩm, bài viết nêu trên đã cung cấp nguồn tài liệu tham khảo hết sức phong phú, giúp ích rất nhiều cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn của mình
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về Đồng Nai dưới góc độ triết học, nhất là nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người để phát triển nguồn nhân lực ở Đồng Nai – một trong những tỉnh đang phấn đấu để trở thành tỉnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đi đầu cả nước Do vậy, tác giả lựa chọn vấn đề: “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về con người và sự vận dụng để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai hiện nay”
cho đề tài luận văn thạc sỹ Triết học của mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn:
Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là những nội dung cơ bản của
tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, gắn với việc phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai hiện nay
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tên đề tài và nội dung của luận văn, chủ yếu được giới hạn từ năm 1986 đến nay
4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn:
Phân tích và khẳng định giá trị khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người; và sự vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh về con người để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai hiện nay
Trang 17Nhiệm vụ của luận văn:
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ chính sau đây:
- Thứ nhất, phân tích cơ sở hình thành và nội dung cơ bản của tư tưởng
Hồ Chí Minh về con người
- Thứ hai, phân tích và làm rõ thực trạng của sự vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh về con người để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai
- Thứ ba, xác định mục tiêu, phương hướng và giải pháp vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về con người để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận văn
Để thực hiện mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nêu trên, luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người và phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài luận văn, tác giả kết hợp
sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích và tổng hợp, diễn dịch và qui nạp, lịch sử và logic, theo nguyên tắc toàn diện, phát triển,
lý luận gắn liền với thực tiễn
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học của luận văn:
Góp phần khẳng định giá trị khoa học và cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người; quan điểm đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam
và của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Đồng Nai trong việc vận dụng sáng tạo tư
Trang 18tưởng của Hồ Chí Minh về con người để phát triển nguồn nhân lực phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai hiện nay
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn:
Kết quả của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, hoặc làm tài liệu tham khảo phục vụ các cấp lãnh đạo, các ban, ngành của tỉnh Đồng Nai trong việc xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chủ yếu của luận văn được kết cấu gồm 2 chương, 6 tiết
Trang 191.1.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX
Vào nửa nửa đầu thế kỷ XIX, trong khi các nước tư bản phương Tây phát triển mạnh mẽ thì Việt Nam và hầu hết các nước phương Đông khác còn “ngủ quên” trong ý thức hệ phong kiến đã lỗi thời Sự duy trì bộ máy nhà nước quan liêu chuyên chế, đặc quyền đặc lợi, với chính sách kinh tế sai lầm “ức thương”,
“bế quan tỏa cảng” đã ngăn trở sự phát triển của các nước phương Đông Chế độ phong kiến Việt Nam với sự thống trị của nhà Nguyễn dần rơi vào tình trạng khủng hoảng và suy tàn Trong bối cảnh ấy, năm 1858, thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam Triều đình nhà Nguyễn bạc nhược đầu hàng thực dân Pháp, chủ trương nghị hòa, biến nước ta từ một nước phong kiến độc lập có chủ quyền thành một nước thuộc địa nửa phong kiến dưới sự đô hộ của Pháp
Tuy triều đình nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp nhưng nhân dân Việt Nam quyết không chịu khuất phục Vì vậy, hàng loạt các cuộc đấu tranh của nhân dân chống cả Tây lẫn Triều liên tiếp nổ ra, tiêu biểu trong số đó là phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế
Phong trào Cần Vương là phong trào được đặt dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu yêu nước đã kéo dài suốt 12 năm (1885 -1896) Phong trào này có phạm vi hoạt động rộng lớn trên cả nước, nhưng tập trung chủ yếu là ở Bắc và Trung Kỳ; trong đó có các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu diễn ra ở Ba Đình, Hương
Trang 20Khê Cuộc khởi nghĩa Yên Thế do nông dân, đồng bào miền núi Yên Thế (Bắc Giang) do Hoàng Hoa Thám đứng đầu kéo dài đến 30 năm (1884 - 1913) Cuộc khởi nghĩa này đã tạo ra sức lan tỏa và ảnh hưởng sâu rộng đến các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở nhiều địa phương khắp cả nước Tuy các phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa chống Tây và Triều do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan đã không thành công, nhưng các phong trào này
đã thể hiện tinh thần yêu nước, căm thù giặc sâu sắc của nhân dân ta và gây ra không ít tổn thất cho thực dân Pháp
Đến đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp chính thức thực hiện công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất ở nước ta; từ đây xã hội Việt Nam có sự chuyển biến
và phân hóa mạnh mẽ
Về kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột hết sức dã man,
đưa ra hàng trăm thứ thuế khác nhau: thuế thân, thuế chợ, thuế đò, thuế vỉa hè, thuế môn bài, thuế xe, thuế lưu trú, thuế nộp cho ngân sách Đông Dương, cho ngân sách xứ làm cho nhân dân ta điêu đứng Không dừng lại ở đó, thực dân Pháp còn tiến hành cướp đất để lập đồn điền; ra sức khai thác tài nguyên khoáng sản; xây dựng các cơ sở công nghiệp, đường giao thông để phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa Chúng độc quyền xuất nhập khẩu, độc quyền muối, rượu, thuốc phiện, thiết lập hệ thống ngân hàng độc quyền phát hành giấy bạc và cho vay nặng lãi
Bên cạnh chính sách khai thác thuộc địa hết sức thâm độc theo phương thức bóc lột tư bản phương Tây, thực dân Pháp còn duy trì phương thức bóc lột phong kiến phương Đông, và kết hợp cả hai phương thức bóc lột này, nhằm mục đích thu được nhiều lợi nhuận nhanh nhất và triệt để nhất Bởi vậy, nông dân, lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam vốn đã cực khổ thì nay lại càng khốn đốn do phải chịu hai tầng áp bức bóc lột của thực dân và phong kiến Họ bị lâm vào tình trạng bần cùng hóa, bị tước đoạt ruộng đất nhà cửa, buộc phải đi
Trang 21làm phu mỏ, đồn điền để kiếm sống Trong khi đó, “bao nhiêu nguồn lợi lớn trong xứ, bao nhiêu cơ quan vận tải giao thông, bao nhiêu mỏ, nhà băng, các công xưởng, lò máy lớn, bao nhiêu cơ quan buôn bán nhập cảng, nhất là xuất cảng đều hầu hết về tay Pháp đế quốc chủ nghĩa" [42, 2] Dưới sự cai trị của thực dân Pháp, đất nước ta phát triển một cách què quặt, cuộc sống của nhân dân hết sức khó khăn chật vật, nạn đói khổ tràn lan, khiến lòng dân vô cùng phẫn nộ
Về chính trị, thực dân Pháp tước bỏ mọi quyền lực của chính quyền
phong kiến nhà Nguyễn, thay vào đó bằng chính sách “chia để trị” Thực dân Pháp chia Việt Nam làm ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, và thực hiện mỗi kỳ một chế độ cai trị, nhằm phá hoại sự đoàn kết của nhân dân ta, chia rẽ dân tộc, áp bức chính trị, biến xã hội Việt Nam từ một xã hội phong kiến độc lập có chủ quyền thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến để chúng dễ bề cai trị
và bóc lột
Giai cấp địa chủ phong kiến được Pháp “nâng đỡ” về kinh tế và chính trị làm điểm tựa cho Pháp ngày càng lớn mạnh, càng có lợi hơn cho chính sách cai trị của Pháp Trong khi đó, nông dân chiếm đại bộ phận dân số bị bóc lột nặng
nề, ngày càng nghèo khổ Giai cấp tư sản Việt Nam chưa hình thành, mới chỉ xuất hiện tầng lớp tiểu tư sản, nhưng giai cấp công nhân lại phát triển nhanh chóng do có sự xâm nhập, tiến hành khai thác của tư bản Bên cạnh tầng lớp sĩ phu yêu nước thì thợ thủ công, tiểu thương, công chức và trí thức mới cũng ngày một gia tăng Xã hội Việt Nam dưới chế độ thực dân nửa phong kiến đã diễn ra
sự phân hóa giai cấp mạnh mẽ Đồng thời với sự phân hóa này, là sự xuất hiện những mâu thuẫn giữa các giai tầng khác nhau trong xã hội Trong khi mâu thuẫn giữa nhân dân lao động mà đại đa số là nông dân với địa chủ phong kiến không hề suy giảm, thì mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với bọn thực dân đế quốc Pháp ngày càng sâu sắc và trở thành mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam lúc này
Trang 22Một trong những thủ đoạn chính trị thâm độc khác của thực dân Pháp là chiêu bài “hợp tác” lừa bịp, cấu kết với phong kiến tay sai, dựa vào sức mạnh quân sự của Pháp để đàn áp dã man các phong trào yêu nước đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân ta Cùng với chính sách “chia để trị”, thực dân Pháp còn thi hành chính sách “chuyên chế về chính trị” Chúng thẳng tay đàn áp không cho nhân dân Việt Nam một chút quyền tự do, dân chủ nào Nếu như người Âu được hưởng mọi tự do và ngự trị như người chủ tuyệt đối thì người bản xứ “bị bịt mõm và bị buộc dây dắt đi, chỉ có quyền phải phục tùng” [39, 7]
Trước bạo lực cường quyền của thực dân phong kiến, phong trào yêu nước của nhân dân ta chuyển sang xu hướng dân chủ tư sản dưới ảnh hưởng của những luồng tư tưởng mới từ Nhật Bản, Trung Quốc tràn sang như “Tân thư”,
“Tân văn” Hàng loạt phong trào xuất hiện như: Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam quang phục hội…, trong đó nổi lên vai trò lãnh đạo của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh
Về văn hóa, thực dân Pháp thi hành chính sách “ngu dân” để dễ bề cai trị
dân ta Một mặt, chúng dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu, tuyên truyền tâm lý
tự ti, vong bản, hủy hoại các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; mặt khác, chúng ra sức ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ tiến bộ
du nhập vào Việt Nam
Trong khi nền giáo dục bị kiềm hãm không thể phát triển thì những tệ nạn
xã hội lại ngày càng phổ biến Đối với nhân dân Đông Dương thì “mỗi năm vào
kỳ khai giảng, nhiều phụ huynh phải đi gõ cửa, chạy chọt mọi nơi thần thế, có khi chịu trả gấp đôi tiền nội trú nhưng vẫn không tìm được chỗ cho con học” [40,98] Trường học thiếu một cách nghiêm trọng, còn nạn thuốc phiện, rượu cồn, cờ bạc, lại được khuyến khích buôn bán một cách công khai, nhằm đầu độc người dân, đặc biệt là giới trẻ Nói tóm lại, nền văn minh mà Pháp truyền bá
Trang 23cho người bản xứ rõ ràng là: “văn minh chẳng thấy đâu mà càng thêm man rợ”,
vì nhà tù nhiều hơn trường học
Thời điểm Hồ Chí Minh ra đời là lúc thực dân Pháp đã hoàn thành quá trình xâm lược Việt Nam và tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất
Hồ Chí Minh (19/5/1980 - 2/9/1969) có tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, sinh ra tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Đây là vùng đất địa linh, nhân kiệt, giàu truyền thống cách mạng, là nơi đã sản sinh ra không ít những anh hùng trong lịch sử chống ngoại xâm như: Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu, Đặng Tất, Đặng Dung , cho đến các lãnh tụ yêu nước giai đoạn cuối thế
kỷ XIX – đầu thế kỷ XX như: Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu
Thân phụ của Bác là cụ Nguyễn Sinh Sắc, một nhà Nho yêu nước, đỗ Phó bảng năm 1901 và ra làm quan; nhưng do không đủ sức chống lại bọn quan lại ươn hèn và thực dân cướp nước, nên cụ đã từ quan, vào Nam làm nghề thầy thuốc Chị của Bác là bà Nguyễn Thị Thanh và anh của Bác là ông Nguyễn Sinh Khiêm cũng đều là những người yêu nước, tham gia vào các phong trào kháng Pháp và bị tù đày, giam cầm Có thể nói chính quê hương và gia đình giàu truyền thống cách mạng là nơi đã nuôi dưỡng tâm hồn yêu nước và là cội nguồn của lý tưởng, ý chí quyết tâm cứu dân, cứu nước của Hồ Chí Minh
Sống trong một đất nước bị nô dịch, từ nhỏ Bác đã nếm trải và chứng kiến sự tàn ác của thực dân Pháp đối với đồng bào mình trên mảnh đất quê hương Khi mới 10 tuổi Bác đã phải đau xót nhìn người mẹ thân yêu của mình, bà Hoàng Thị Loan ra đi trong khốn khó, và đứa em nhỏ khát sữa cũng qua đời ít lâu sau đó Bác nhận thấy rằng, tuy là người bản xứ nhưng dân tộc Việt Nam không có quyền sống, quyền tự do Đối với người Việt Nam yêu nước, họ phải chịu đựng sự xâm phạm về thân thể, chịu nhục hình, bị đối xử
dã man, bị hạ thấp nhân phẩm, có thể bị bắt bớ, cầm tù và cả kết án tử hình
Trang 24vắng mặt bất cứ lúc nào Mất nước, mất quyền tự do là một nỗi nhục to lớn,
từ đó mà người Việt Nam bị tước đoạt mọi chủ quyền và bị chi phối bởi nền văn hóa nô dịch thuộc địa của thực dân Pháp Tuy mang danh là đi “khai sáng” cho các dân tộc bản xứ, nhưng dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp, con người lại bị giam hãm trong vòng nô dịch, không thể có sự phát triển tự do cá nhân, mà ngược lại, ngày càng trở nên què quặt, méo mó về thể xác và tâm hồn
Đau đớn nhận thấu nỗi đau của con người bị vùi dập, Hồ Chí Minh khát khao đấu tranh cho độc lập dân tộc, cho quyền sống, quyền tự do của con người Hồ Chí Minh nhận thấy chính chế độ thực dân dã man đã làm cho con người đánh mất nhân tính của mình Vì vậy, muốn giải phóng con người, trả lại nhân tính cho con người thì điều kiện tiên quyết là phải thủ tiêu chế độ thực dân đế quốc
Ngay từ khi còn rất trẻ, Hồ Chí Minh đã hết sức quan tâm nghiên cứu các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân, qua đó Người đúc kết được cho mình nhiều kinh nghiệm quý giá Tuy rất khâm phục những nhà lãnh đạo phong trào yêu nước chống thực dân Pháp như Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh , nhưng Hồ Chí Minh không hoàn toàn tán thành đường lối đấu tranh của một người nào cả Phong trào nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám đứng đầu, tuy là phong trào đấu tranh vũ trang có quy mô lớn và kéo dài nhất nhưng còn mang tính tự phát, chưa có đường lối kháng chiến rõ ràng Phan Chu Trinh thì yêu cầu người Pháp thực hiện cải cách chẳng khác nào "xin giặc rủ lòng thương" Phan Bội Châu với hy vọng đế quốc Nhật Bản giúp đỡ chống Pháp, thì chẳng khác nào "đuổi hổ cửa trước, rước báo cửa sau" Chính vì vậy mà các phong trào dù với chủ trương bạo động hay ôn hòa, cầu viện hay tự lực cũng cũng lần lượt bị dập tắt Các phong trào yêu nước lần lượt rơi vào con đường tăm tối: căn cứ Yên Thế bị bao vây đánh
Trang 25phá; trường Đông Kinh nghĩa Thục bị đóng cửa; phong trào Đông du tan rã; các nhà lãnh đạo người bị lên máy chém, người bị đày ra Côn Đảo
Sự thất bại của các phong trào cách mạng đặt ra một vấn đề cấp bách cần phải giải quyết - vấn đề khủng hoảng về đường lối đấu tranh cách mạng giải phóng con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam Thực tiễn đau thương của đất nước đã thôi thúc Hồ Chí Minh rời quê hương, quyết chí đi tìm con đường cứu nước vào năm 1911 Mục đích của Người lúc này không gì khác là tìm ra con đường giải phóng nhân dân thoát khỏi vòng nô dịch của thực dân Pháp
Như vậy, có thể thấy, thực tiễn của lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đã có tác động to lớn đối với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người nói riêng Ngay từ đầu Người đã “lấy thực tiễn Việt Nam làm điểm xuất phát; lấy cải tạo, biến đổi hiện thực Việt Nam làm mục tiêu cho hoạt động cách mạng” của mình [16, 32]
1.1.2 Tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX
Từ nửa sau thế kỷ XIX các nước tư bản phương Tây đã nhanh chóng chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền, tức chủ nghĩa
đế quốc Trong khi đó, ngoài Nhật Bản sau 30 năm duy tân thời Minh Trị đã nhanh chóng chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, phần lớn các nước phương Đông vẫn đang chịu sự kìm kẹp của quan hệ sản xuất phong kiến chuyên chế, bảo thủ
Trước nhu cầu mở rộng thị trường để tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, mua bán nguyên vật liệu, khai thác sức lao động, xuất khẩu tư bản, các nước đế quốc đã thực hiện chính sách xâm lược thực dân Đến cuối thế kỷ XIX, hầu hết nước nhược tiểu ở Châu Á, Châu Phi và khu vực Mỹ Latinh đã trở thành các nước thuộc địa và phụ thuộc của chủ nghĩa thực dân đế quốc Dưới sự cai trị của chủ nghĩa đế quốc, đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân lao động các nước thuộc địa và phụ thuộc bị áp bức hết sức nặng nề
Trang 26Khi chủ nghĩa đế quốc hoàn thành việc phân chia thuộc địa trên phạm
vi thế giới, đã làm gia tăng mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc với các nước thuộc địa, và tiếp tục làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các nước đế quốc lớn và các nước đế quốc non trẻ Sự phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản và
sự tranh giành thị trường đòi chia lại thuộc địa là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) Cuộc chiến này không làm suy giảm sự bóc lột của chủ nghĩa đế quốc đối với các nước thuộc địa,
mà trái lại nó đã gây ra biết bao đau thương mất mát cho nhân dân khắp nơi trên thế giới
Do đó, khi chủ nghĩa đế quốc xác lập được sự thống trị trên phạm vi thế giới, thì cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở những thập kỷ đầu của thế kỷ
XX không còn là cuộc đấu tranh của những dân tộc riêng rẽ, mà là nhu cầu chung của tất cả các dân tộc thuộc địa chống lại chủ nghĩa đế quốc
Nếu từ giữa thế kỷ XIX trở về trước, giai cấp tư sản là giai cấp đi đầu trong cuộc đấu tranh chống lại ách thống trị của chế độ phong kiến, thì ngay
từ những năm 40 thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác đã phát hiện ra lực lượng sản xuất tiên tiến nhất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đó là giai cấp công nhân, ra đời cùng với nền sản xuất công nghiệp hiện đại Trong xã hội
tư bản chủ nghĩa, giai cấp vô sản – giai cấp công nhân hiện đại, là giai cấp bị bóc lột nặng nề nhất nhưng cũng là giai cấp cách mạng triệt để nhất Chủ nghĩa Mác đã phát hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là lãnh đạo cuộc cách mạng vô sản, thủ tiêu ách áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản và xây dựng chế độ xã hội mới – chế độ chủ nghĩa cộng sản Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác đã trở thành vũ khí lý luận và là kim chỉ nam soi đường cho cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản nhằm giải phóng giai cấp mình, đồng thời giải phóng nhân dân lao động và toàn nhân loại
Trang 27Đến những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, phong trào cách mạng thế giới đã có bước phát triển mạnh mẽ; trong đó phong trào Công xã Pari 1871; phong trào cách mạng Nga 1905 – 1907; và các phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Á, Châu Phi đã tạo nên những cao trào trong đấu tranh cách mạng
Đỉnh cao của cách mạng thế giới chính là cuộc đại cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 do V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích lãnh đạo Cuộc cách mạng Tháng Mười thắng lợi đã lật đổ nhà nước tư sản, thiết lập chính quyền
Xô Viết, một bộ máy chính quyền mới của nhân dân lao động Thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Mười đã làm cho chủ nghĩa cộng sản từ trong lý luận của chủ nghĩa Mác trở thành hiện thực sinh động, làm nảy sinh một mâu thuẫn mới mang tính thời đại: mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản
Sau tiếng vang của cách mạng tháng Mười Nga và trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, V.I Lênin đã quyết định thành lập một tổ chức quốc tế mới của giai cấp vô sản Đến tháng 3/1919, Quốc tế cộng sản – Quốc tế III được thành lập nhằm thúc đẩy cách mạng vô sản thế giới và cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc phát triển ở các nước thuộc địa
Cũng trong năm 1919, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đại diện cho những người Việt Nam yêu nước gửi đến Hội nghị hòa bình ở Vécxây – Pháp bản yêu sách đòi quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng cho dân tộc Việt Nam Bản yêu sách gồm 8 điểm như sau:
1 Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;
2 Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xoá bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và
áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;
Trang 283 Tự do báo chí và tự do ngôn luận;
4 Tự do lập hội và hội họp;
5 Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương;
6 Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất
cả các tỉnh cho người bản xứ;
7 Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;
8 Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu
ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ
Với “Bản yêu sách 8 điểm”, lần đầu tiên dư luận ở Pháp và ở Việt Nam biết đến cái tên Nguyễn Ái Quốc, một thanh niên trẻ tuổi đấu tranh cho độc lập, tự do, dân chủ của nhân dân Việt Nam Tuy nhiên, những yêu sách chính đáng của Nguyễn Ái Quốc không được Chính phủ Pháp và đại diện của chính phủ các nước tư bản tham gia Hội nghị Vécxây đáp ứng Từ đó, Người rút ra kết luận quan trọng rằng, muốn giải phóng dân tộc không thể trông cậy vào các nước khác, mà phải dựa vào sức mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình
Tại Đại hội lần II của Quốc tế Cộng sản (1920), V.I Lênin đã công bố
“Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” Trong bản luận cương, V.I Lênin phê phán quan điểm sai lầm của ban lãnh đạo quốc tế II về vấn đề dân tộc và thuộc địa, lên án tư tưởng sôvanh nước lớn cũng như tư tưởng dân tộc hẹp hòi V.I Lênin nhấn mạnh nhiệm vụ của Đảng Cộng sản là phải thực sự giúp đỡ phong trào cách mạng của các nước thuộc địa và phụ thuộc; kêu gọi sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước tư bản với quần chúng nhân dân của các dân tộc thuộc địa để cùng chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc
Trang 29Những luận điểm mà V.I Lênin nêu lên có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng thế giới nói chung và phong trào cách mạng của các nước thuộc địa nói riêng Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở đó con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam Vì vậy, khi đọc được tác phẩm này của Lênin in trên tờ báo L’Humanite’, Hồ Chí Minh vui sướng thốt lên rằng: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!” [48,127]
Trong bối cảnh lịch sử của đất nước Việt Nam và xu hướng phát triển mới của thời đại, Hồ Chí Minh lựa chọn đi theo con đường mà cách mạng Tháng Mười Nga đã vạch ra, con đường cách mạng vô sản, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội Người khẳng định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ, rồi lại ra sức cho công, nông các nước
và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới” [40, 280]
Nắm bắt được xu thế thời đại, Hồ Chí Minh hiểu rằng, vấn đề dân tộc không thể xét một cách riêng biệt, mà nó phải được đặt trong mối quan hệ với cuộc cách mạng chống chủ nghĩa đế quốc, cách mạng Việt Nam cũng là “một
bộ phận khắng khít” của cách mạng vô sản thế giới Do đó, muốn giải phóng con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa thực dân đế quốc thì cách mạng Việt Nam phải gắn liền với cách mạng thế giới
Trang 301.2 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI
1.2.1 Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam – cội nguồn của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
Nói đến giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam là nói đến những mặt, những yếu tố tốt đẹp của truyền thống, chứ không phải là mọi truyền thống nói chung Hồ Chí Minh đã có sự kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống cơ bản nhất của dân tộc như: chủ nghĩa yêu nước; ý thức tự lực,
tự cường; tinh thần đoàn kết dân tộc và tấm lòng khoan dung nhân ái,…
Chủ nghĩa yêu nước là chuẩn mực đạo đức đứng đầu trong thang bậc
giá trị truyền thống của dân tộc ta, là dòng tư tưởng chủ lưu xuyên suốt tư duy
và hành động của dân tộc Yêu nước là đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân, luôn chăm lo xây dựng, bảo vệ đất nước và giữ gìn bản sắc dân tộc Lịch sử đã chứng minh, mỗi khi đất nước gặp ngoại xâm, các cuộc khởi nghĩa của dân tộc không ngừng nổ ra; và dù giai cấp nào lãnh đạo cũng đều nêu bật chủ nghĩa yêu nước, đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích giai cấp, một lòng hướng về Tổ quốc
Tuy nhiên, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không phải tự nhiên mà có,
đó là sản phẩm của hàng ngàn năm lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước Lúc đầu, yêu nước bắt nguồn từ những tình cảm đơn sơ nhất: từ yêu thương người thân ruột thịt, rồi đến tình nghĩa xóm làng, và phát triển thành tình yêu đất nước Trải qua những cuộc chiến đấu trường kỳ gian khổ chống lại kẻ thù xâm lược, lòng yêu nước của dân tộc ta không ngừng được hun đúc, trở thành sức mạnh thường trực trong lòng mỗi con người Việt Nam Chính trong những giai đoạn đất nước chống ngoại xâm gặp nhiều thử thách khắc nghiệt, lại càng nêu cao tinh thần yêu nước của nhân dân ta, nhằm quyết tâm giành lại độc lập cho đất nước, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Do đó,
Trang 31Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước…” [44, 171]
Chủ nghĩa yêu nước là nhân tố tác động hết sức mạnh mẽ đến tư tưởng
Hồ Chí Minh, chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước đã thúc đẩy Hồ Chí Minh quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, đem lại tự do cho đồng bào, độc lập cho dân tộc Việt Nam Người từng nói: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế ba” [48, 128]
Gắn liền với chủ nghĩa yêu nước là ý thức tự lực, tự cường dân tộc
Dân tộc ta đã sớm hình thành ý thức tự lực, tự cường trong quá trình đấu tranh chống những kẻ thù xâm lược để xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước Nhờ có ý thức tự lực, tự cường, con người Việt Nam đã tin và phát huy được sức mạnh to lớn của dân tộc, chứ không trông chờ, ỷ lại “đấng cứu thế” nào trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước
Những thắng lợi to lớn của Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử đã chứng minh sức mạnh “nội sinh” to lớn của một đất nước nhỏ bé bắt nguồn từ chính ý thức tự lực, tự cường dân tộc Dù kẻ thù có hùng mạnh đến đâu, nhân dân Việt Nam vẫn hiên ngang bất khuất, chịu đựng tất cả và vượt qua tất cả:
từ chiến thắng Bạch Đằng chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc kéo dài một ngàn năm; nhà Trần ba lần đánh tan quân Nguyên xâm lược; Lê Lợi mười năm kháng chiến chống quân Minh; đến một trăm năm chống Pháp và ba mươi năm chống Mỹ
Hồ Chí Minh luôn đề cao ý thức tự lực, tự cường dân tộc, và xem ý thức
đó như phẩm chất tồn tại thường trực trong mỗi con người Việt Nam, khiến
Trang 32người Việt Nam thà hi sinh chứ không chịu làm nô lệ Người còn nhắc nhở phải phát huy ý thức tự lực tự cường dân tộc ngay trong giai đoạn hòa bình,
để đất nước Việt Nam có thể khẳng định độc lập chủ quyền và ngày càng phát triển giàu mạnh
Bên cạnh ý đó, tinh thần đoàn kết toàn dân cũng là giá trị truyền thống
quý báu của dân tộc Việt Nam, nảy sinh từ ý thức cố kết cộng đồng làng xã trong quá trình chống chọi với thiên tai, hợp tác lao động sản xuất, và nhất là trong đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược
Ngay từ thuở xa xưa, ông cha ta luôn nhấn mạnh tinh thần cộng đồng dân tộc, nếp sống đoàn kết thương yêu đùm bọc lẫn nhau giữa những con người có cùng nguồn cội Những câu chuyện cổ tích Con Rồng – Cháu Tiên, truyền thuyết Vua Hùng , đã luôn nhắc nhớ con người Việt Nam về cội nguồn dân tộc, về hai chữ “đồng bào” máu thịt
Lịch sử dân tộc đã chứng minh sức mạnh to lớn của đại đoàn kết toàn dân, sức mạnh ấy đã giúp dân tộc Việt Nam chiến thắng những kẻ thù xâm lược hùng mạnh nhất; ngược lại không có được sự đoàn kết toàn dân thì vận nước sẽ suy, thậm chí rơi vào cảnh nước mất nhà tan Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn tiếp thu và phát huy tinh thần đoàn kết dân tộc Trong một đất nước với nhiều dân tộc, giai cấp, tôn giáo…, Người luôn kêu gọi bốn chữ “đồng”: đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh, nhằm tập hợp sức mạnh toàn dân, đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi cuối cùng
Một nét nổi bật khác trong giá trị truyền thống của dân tộc ta là tinh
thần nhân ái khoan dung Lòng nhân ái của dân tộc được thể hiện rất cụ thể,
sinh động, từ tình cảm với những người ruột thịt trong gia đình như: “Công cha như núi Thái Sơn; nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”; “Anh em như thể tay chân; rách lành đùm bọc, đói no đỡ đần”; đến thành tình làng nghĩa xóm “tắt lửa tối đèn có nhau”; và mở rộng nữa là tình yêu bao la, giành
Trang 33cho tất cả mọi người trong cả nước: “Bầu ơi thương lấy bí cùng; tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”; “Nhiễu điều phủ lấy giá gương; Người trong một nước phải thương nhau cùng”
Lòng nhân ái, yêu thương con người, nhất là những người hoạn nạn khó khăn là phẩm chất hết sức tốt đẹp, thấm sâu vào tiềm thức của mọi thành viên cộng đồng người Việt Trong mọi hoàn cảnh, mỗi con người Việt Nam đều thấm nhuần tư tưởng “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm
lá rách” Đạo lý trọng nhân nghĩa đi liền với lối ứng xử khoan dung của con người Việt Nam Con người Việt Nam ghét cái xấu, cái ác, nhưng cũng dễ dàng tha thứ lỗi lẫm cho người biết phục thiện: “đánh kẻ chạy đi không ai nỡ đánh kẻ chạy lại”; và ngay cả với kẻ thù cướp nước, dân tộc Việt Nam vẫn có thể “đem đạo nghĩa để thắng hung tàn; lấy chí nhân để thay cường bạo”, rộng lòng mở đường hiếu sinh cho giặc
Ngoài ra, dân tộc Việt Nam còn có nhiều truyền thống văn hóa tốt đẹp,
làm nên phẩm chất quý giá của con người Việt Nam, mà Hồ Chí Minh đã biết
kế thừa và phát huy trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người
Dân tộc Việt Nam luôn hướng về tương lai nhưng không bao giờ lãng quên quá khứ, luôn tưởng nhớ và biết ơn tổ tông đã dày công xây dựng quê hương đất nước Tiếp thu truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc,
Hồ Chí Minh căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” Và Người cũng luôn nhắc nhở: “Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng” [44,172]
Tinh thần hiếu học cũng là nét đẹp văn hóa truyền thống mà ông cha ta hết mực coi trọng, “nhân bất học bất tri lý” Tinh thần hiếu học ấy đã được vun đắp từ ngàn xưa và được thể hiện bằng những hình thức động viên các thế hệ con cháu, như: nêu danh yết bảng các sĩ tử thi đỗ, khắc tên vào bảng
Trang 34vàng bia đá; tổ chức vinh quy bái tổ trịnh trọng; ban thưởng tước lộc tương xứng và quan trọng nhất là lựa chọn được người hiền tài phò dân giúp nước Quê hương xứ Nghệ vốn là vùng văn hóa nổi tiếng, bản thân tên gọi “ông đồ
xứ Nghệ” đã biểu hiện truyền thống hiếu học quê hương Bác Hồ Chí Minh chính là điển hình của con người luôn vượt khó, cầu tiến ham học hỏi và không ngừng kêu gọi tinh thần học tập của cả dân tộc
Tóm lại, những giá trị truyền thống của dân tộc ta như: chủ nghĩa yêu nước, ý thức tự lực tự cường, tinh thần đoàn kết dân tộc, tấm lòng nhân ái khoan dung, chính là triết lý nhân sinh của dân tộc Việt Nam, được đúc kết qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Hơn ai hết, Hồ Chí Minh ý thức rằng con người nếu không thấm nhuần triết lý nhân sinh của dân tộc sẽ dễ dàng
sa vào lối sống tùy tiện, thấp hèn, cản trở con đường phát triển không chỉ đối với mỗi cá nhân, mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của của cả cộng đồng, dân tộc Vì vậy, Người luôn lấy chủ nghĩa yêu nước, ý thức tự lực tự cường, tinh thần đoàn kết dân tộc, lòng yêu thương con người và các phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam như: uống nước nhớ nguồn, tinh thần cầu tiến, ham học hỏi, không ngại gian khổ… làm hành trang trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình
1.2.2 Tinh hoa văn hóa Đông, Tây – tiền đề quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
Về văn hóa phương Đông, Nho giáo và Phật giáo là những luồng tư tưởng có
ảnh hưởng sâu sắc đến Hồ Chí Minh trong quan niệm về con người
Vốn được sinh ra trong một gia đình khoa bảng, ngay từ thuở nhỏ Hồ Chí Minh
đã được học chữ Hán và nghiên cứu về triết học Trung Quốc cổ đại Trong đó, Người đặc biệt quan tâm đến triết học Nho giáo mà Khổng Tử là đại biểu
Con người trong triết học Trung Quốc cổ đại nói chung, Nho giáo nói riêng bàn nhiều nhất là con người luân lý đạo đức Các triết gia Trung Quốc cổ
Trang 35đại thường đem luân thường đạo lý của người gắn với vạn vật trong trời đất, biến trời thành hóa thân của đạo đức (thiên đạo), rồi lại lấy thiên đạo chứng minh cho đạo đức nhân thế Chuẩn mực đạo đức trở thành đặc điểm nổi bật, cho nên, họ tranh luận nhiều xung quanh vấn đề bản tính thiện - ác của con người Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cho rằng sự hình thành và phát triển bản chất của con người là một quá trình Con người sinh ra không phải ngay từ đầu đã là “bản thiện” hay “bản ác” như trong quan niệm Nho giáo, mà “mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng” [50, 558] Thiện hay ác ở mỗi người là do môi trường sống và các quan hệ xã hội chi phối, quyết định
Một mặt, Hồ Chí Minh phê phán quan niệm duy tâm, phân biệt đẳng cấp
“quân tử – tiểu nhân”, coi thường lao động chân tay, hạ thấp vai trò phụ nữ…Đó
là những hạn chế cơ bản trong quan niệm triết học Nho giáo về con người Mặt khác, Hồ Chí Minh kế thừa giá trị tích cực của Nho giáo với quan niệm lấy chữ
“nhân” làm trọng, lấy yêu thương con người để hướng đến một xã hội bình trị, một “thế giới đại đồng” Tuy nhiên, so với đức nhân của Khổng, Mạnh thì quan niệm về đức nhân của Hồ Chí Minh còn được bổ sung nội dung mang tính cách mạng Theo Người, “nhân ái” không phải là thứ tình thương chung chung trừu tượng mà là tình thương đối với con người cụ thể, nhất là người lao động của các dân tộc bị thực dân, đế quốc áp bức, bóc lột Thương người không phải tỏ lòng thương hại kiểu bề trên nhìn xuống hay từ ngoài ngó vào, mà phải tìm cách giúp cho người dân đang chịu lao khổ, áp bức có thể tự mình cởi ách nô lệ, để họ
có thể được hưởng ấm no hạnh phúc thực sự Đó mới chính là nhân ái đích thực
Cùng với Nho giáo, Phật giáo du nhập vào nước ta từ rất sớm, và có ảnh
hưởng không nhỏ đến lĩnh vực tinh thần của người Việt Nam
Triết học Phật giáo cho rằng thế giới về bản chất là dòng biến đổi vô thường, không do một vị thần nào sáng tạo ra Con người là sự kết hợp giữa
“danh” và “sắc” (vật chất và tinh thần), hai thành phần này được tạo nên từ ngũ
Trang 36uẩn là cái luôn biến hóa không ngừng theo luật nhân quả, cho nên tất cả chỉ tồn tại tương đối, vụt mất, vụt còn Tuy quan điểm triết học Phật giáo có ý nghĩa tích cực chống thuyết số mệnh, nhưng luận điểm cho rằng con người là do luật nhân quả, do “nghiệp” mà ra, sự sinh tử của con người là ở trong vòng luân hồi quả báo, chứng tỏ triết học Phật giáo vẫn chứa đựng yếu tố duy tâm thần bí
Hồ Chí Minh tiếp thu giá trị tích cực của Phật giáo ở tư tưởng nhân đạo, bác ái, thương người như thể thương thân, chống lại mọi sự áp bức, phân biệt đẳng cấp và kêu gọi lòng từ bi, hướng thiện Người đau xót trước cảnh chiến tranh mất mát, trong đó máu của người Việt Nam và người Pháp đều đã đổ: “Tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam, đã vì Tổ quốc mà hi sinh tính mệnh Tôi cũng ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp đã tử vong…, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người” [50, 560]
Phật giáo đề cao đức hiếu sinh, tuy nhiên, trong điều kiện buộc phải tiến hành cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc thì đức hiếu sinh theo Hồ Chí Minh phải được thể hiện ở lòng yêu chuộng hòa bình, cố gắng góp phần vào cuộc kháng chiến của nhân dân để tránh tổn thất tối đa về xương máu cho người dân
Nói tóm lại, chính từ nhận thức sâu sắc mặt tích cực của tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng mà Hồ Chí Minh có cái nhìn hết sức khách quan đối với tôn giáo và đời sống tâm linh của con người Hồ Chí Minh hiểu rất rõ tôn giáo là nhu cầu của người có đạo, cho nên Người chủ trương tự do tôn giáo, tín ngưỡng nhằm đoàn kết toàn dân; đồng thời kiên quyết chống lại mọi
âm mưu, thủ đoạn lợi dung tôn giáo, tín ngưỡng để chia rẽ đoàn kết dân tộc, phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân
Đối với văn hóa phương Tây, Hồ Chí Minh tiếp thu, kế thừa có chọn lọc
quan điểm về con người của thời kỳ Phục Hưng, Khai Sáng
Trang 37Trong thời kỳ Phục Hưng và thời kỳ Khai Sáng, hình ảnh con người hướng đến tự do trở thành điểm nhấn Tuy nhiên, do ảnh hưởng từ phương pháp nghiên cứu của khoa học tự nhiên, khoa học thực nghiệm mà chủ nghĩa duy vật thời kỳ này trở thành chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình, coi con người như một bộ máy vận động theo quy luật cơ học Tuy quan điểm về con người trong triết học thời kỳ Phục Hưng – Khai Sáng còn nhiều hạn chế, nhưng thông điệp: đề cao vai trò con người, hướng con người chinh phục vũ trụ bằng lý trí, bằng phương pháp khoa học đã trở thành vũ khí lý luận của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống thần quyền và chủ nghĩa duy tâm
và hệ tư tưởng phong kiến
Tư tưởng nhân văn, tinh thần dân chủ thời kỳ Khai Sáng là một trong những giá trị nổi bật của nền văn hóa phương Tây mà Hồ Chí Minh rất coi trọng Khi còn học ở trường tiểu học Pháp – Việt và trường Quốc học Huế,
Hồ Chí Minh đã biết đến những tư tưởng khai sáng ấy và khao khát tìm đến khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái”
Sau khi đặt chân đến những quốc gia phương Tây với thành tựu rực rỡ
về khoa học kỹ thuật và nền văn minh phát triển, Hồ Chí Minh được tiếp xúc gần hơn với tư tưởng nhân văn, khai sáng của các đại thi hào, các nhà lý luận nổi tiếng như: Vonte, Điđơrô, Môngtétxkiơ, Rútxô… thông qua các tác phẩm
giá trị như: Tinh thần pháp luật, Khế ước xã hội… Người cũng có cơ hội
nghiên cứu sâu hơn cái gọi là “quyền bình đẳng”, “quyền sống, quyền tự do,
quyền mưu cầu hạnh phúc” của con người trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của
Mỹ, hay Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp Tuy nhiên, Hồ Chí
Minh nhận ra đằng sau những lời lẽ hoa mỹ về tự do, bình đẳng là sự bất bình đẳng và nghèo đói khốn cùng của đông đảo nhân dân lao động
Một mặt, Hồ Chí Minh đánh giá cao những giá trị chân chính, những nhân tố tích cực, tiến bộ của cách mạng dân chủ tư sản, nhất là tư tưởng nhân
Trang 38văn, đề cao giá trị người, giải phóng con người khỏi thần quyền và những xiềng xích của quan hệ phong kiến Mặt khác, Hồ Chí Minh không tán thành với con đường cách mạng nửa vời của các nước tư bản phương Tây, vì các cuộc cách mạng này không thể hoàn toàn xóa bỏ áp bức bóc lột giữa người và người Hồ Chí Minh đánh giá: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa…” [40, 274]
Và sau một thời gian tìm kiếm, Hồ Chí Minh đã đến được với chủ nghĩa Mác – Lênin, một học thuyết khoa học thực sự đã lấy con người làm điểm xuất phát và giải phóng con người là mục đích cuối cùng
1.2.3 Chủ nghĩa Mác-Lênin – tiền đề lý luận cơ bản của tư tưởng
Hồ Chí Minh về con người
Có thể nói, chủ nghĩa Mác – Lênin với thế giới quan duy vật triệt để và phương pháp luận biện chứng khoa học là tiền đề lý luận cơ bản và quan trọng nhất đối với sự hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung
và những nội dung liên quan đến vấn đề con người nói riêng Sau nhiều năm hoạt động thực tiễn và khảo cứu lý luận trên bước đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin” [40, 268]
Xuất phát từ con người hiện thực, con người thực tiễn, và trên cơ sở phê phán quan niệm sai lầm của chủ nghĩa duy tâm, đồng thời khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước đó về con người, chủ nghĩa Mác – Lênin đã xây dựng nội dung mang tính chất khoa học và cách mạng về con người
Trang 39Con người là một thực thể sinh học – xã hội
Theo C.Mác: “con người trực tiếp là thực thể tự nhiên” [33, 232] Mặt
tự nhiên của con người thể hiện ở chỗ, con người là bộ phận của thế giới tự nhiên, thông qua sự tiến hóa lâu dài của tự nhiên mà có Tuy nhiên, với tính cách là “một thực thể tự nhiên”, con người khác về chất so với tất cả các thực thể khác, bởi vì “con người không chỉ là thực thể tự nhiên, nó là thực thể tự nhiên có tính chất người, nghĩa là thực thể tự nhiên tồn tại cho bản thân mình
và do đó là thực thể loài” [33, 234] “Thực thể tự nhiên có tính chất người” ở đây chính là “thực thể xã hội” ở con người Cho nên, con người vừa là thực thể tự nhiên, vừa là thực thể xã hội Nói cách khác, con người là một thực thể thống nhất giữa mặt tự nhiên (sinh học) và mặt xã hội
Phương diện xã hội của con người thể hiện trước hết ở chỗ con người được hình thành và phát triển nhờ lao động Thông qua quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất mà con người bắt đầu tách ra khỏi đời sống động vật:
“Bản thân con người bắt đầu từ sự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình – đó là một bước tiến do
tổ chức cơ thể của con người quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình” [34, 29]
Khác với sinh vật thuần túy bản năng, con người còn là một sinh vật xã hội, cho nên chịu sự chi phối của môi trường xã hội và các quy luật xã hội Các quy luật xã hội quy định mối quan hệ giữa người với người, điều chỉnh hành vi của con người Vì vậy ngoài những nhu cầu mang tính sinh học, con người còn có các nhu cầu xã hội như: nhu cầu nhận thức giao tiếp, nhu cầu thẫm mỹ, nhu cầu sáng tạo…
Mặt sinh học và mặt xã hội của con người không tách rời nhau mà thống nhất với nhau Nói con người là một thực thể sinh học - xã hội, có
Trang 40nghĩa là giữa hai mặt sinh học và xã hội trong con người luôn có sự thống nhất chặt chẽ Mặt tự nhiên – sinh học là nền tảng, là tiền đề, điều kiện cho mặt xã hội, và việc thỏa mãn tốt hơn nhu cầu sinh học của con người, làm cho mặt xã hội của con người ngày càng phát triển, hoàn thiện theo hướng văn minh, tiến bộ hơn Mặt xã hội khi thâm nhập vào mặt sinh học, nó sẽ chọn lọc, chế ước, điều tiết mặt sinh học, làm cho mặt sinh học được nhân tính hóa,
xã hội hóa
Về bản chất con người
Trong quan niệm về bản chất con người, C.Mác cho rằng, mỗi con người, mỗi thế hệ người khi ra đời không thể tự chọn cho mình những quan hệ theo sở thích mà phải gia nhập ngay vào những quan hệ xã hội đã có và tất yếu phải trở thành “cái mang những mối liên hệ xã hội ấy” Theo C.Mác: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng vốn có của một cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã
hội” [34, 11] Như vậy, xét trên bình diện tổng quát, bản chất con người không
phải là cái trừu tượng mà là cái hiện thực, không phải là cái vốn có trong mỗi
cá nhân riêng biệt mà là tổng hòa các quan hệ xã hội trong hoàn cảnh lịch sử -
xã hội cụ thể
“Bản chất con người không phải là cái trừu tượng cố hữu” nghĩa là không có con người chung chung trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội, mà chỉ có con người thực tiễn cụ thể, sống trong những điều kiện tự nhiên – xã hội ở mỗi thời đại nhất định Trong những điều kiện
đó, con người bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình thông qua các mối quan hệ xã hội, như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội…
“Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” Tổng hòa ở đây không phải đơn giản là phép cộng đơn giản