Trước tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, với chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn và nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đông đảo chức sắc, tín đồ các tôn giáo đã phá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2Tôi xin cam đoan luận văn này do tôi thực hiện trong thời gian học tập tại khoa Triết học trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh Đây là kết quả quá trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGs.Ts Trương Văn Chung
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2015
Học viên
Trương Thị Ánh Phước
Trang 3Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGs Ts Trương Văn Chung đã hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo là giảng viên Khoa Triết học trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Tp Hồ Chí Minh, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong thời gian học sau đại học tại trường
Xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Tp Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập
Xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ, giúp đỡ của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Gia Lai, Ban Dân tộc tỉnh Gia Lai, Ban Tôn giáo tỉnh Gia Lai, UBND các xã
và bà con đồng bào Jrai tỉnh Gia Lai đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, thu thập tài liệu và điều tra xã hội học để thực hiện luận văn
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Tp Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2015
Trang 4Trang
Phần mở đầu 1
Phần nội dung 9
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về dân tộc và tôn giáo 9
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân tộc và tôn giáo 9
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân tộc 9
1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo 16
1.1.3 Những vấn đề tôn giáo trong một quốc gia đa dân tộc, đa tôn
giáo 27
1.2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam 33
1.2.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc 33
1.2.2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo 38
1.2.3 Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo 42
Chương 2: Thực trạng, đặc điểm mối quan hệ dân tộc tôn giáo và chuyển đổi tôn giáo trong cộng đồng người Jrai ở tỉnh Gia Lai hiện nay 50
2.1 Thực trạng đời sống tôn giáo và văn hóa của dân tộc Jrai ở tỉnh Gia
Lai 50
2.1.1 Những vấn đề địa kinh tế, xã hội của người Jrai 50
2.1.2 Quá trình xâm nhập và phát triển của các tôn giáo vào đời sống của người Jrai 66
2.1.3 Sự chuyển biến và những vấn đề đặt ra trong cộng đồng người Jrai dưới tác động của các tôn giáo 76
Trang 5tôn giáo của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng người Jrai 86
2.2.1 Nguyên tắc 86
2.2.2 Những giải pháp định hướng đối với chính sách dân tộc và tôn giáo của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng người Jrai ở tỉnh Gia Lai hiện nay 93
Kết luận 107
Phụ lục 111
Tài liệu tham khảo 121
Trang 61 CNXH: chủ nghĩa xã hội
2 UBND: Ủy ban nhân dân
3 DTTS: dân tộc thiểu số
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dân tộc và tôn giáo là những vấn đề phức tạp và nhạy cảm, luôn được
các thế lực thù địch khai thác, lợi dụng trong chiến lược “Diễn biến hoà
bình”, bạo loạn lật đổ, chống phá cách mạng Việt Nam Với địa bàn Tây
Nguyên, các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, xem đây là những “ngòi nổ” để kích động tư tưởng ly khai, tự trị trong
âm mưu thành lập một “Nhà nước Đề ga độc lập” ở Tây Nguyên
Nước ta là một quốc gia đa dân tộc, tôn giáo và cũng giống như nhiều quốc gia khác, vấn đề tôn giáo – dân tộc luôn có sự đan xen, thẩm thấu vào nhau, cái này là nguyên nhân của cái kia và ngược lại Chính vì thế công tác tôn giáo chỉ có hiệu quả và thành công khi luôn gắn bó với công tác dân tộc Tuy nhiên, về mặt nhận thức và thực tiễn cũng cần thấy là: công tác dân tộc
và công tác tôn giáo, với tính cách là những khái niệm thì có sự khác nhau cơ bản, do xuất phát từ sự khác nhau giữa khách thể công tác và từ nội dung cơ bản của mỗi loại công tác này
Tính đến tháng 12 năm 2013, ở Việt Nam có 13 tôn giáo (đến năm
2014 là 14 tôn giáo gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Hồi giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Tịnh độ cư sĩ Phật hội, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đạo Baha’i, Minh Chơn đạo, Minh Lý đạo, Bửu Sơn Kỳ Hương, Minh sư đạo, Khất sĩ đạo) và 37 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận với khoảng 24 triệu tín
đồ tôn giáo, chiếm khoảng 27% dân số cả nước Trong đó, chủ yếu là tín đồ Phật giáo (hơn 11 triệu người), Công giáo (gần 7 triệu người), Tin Lành (hơn
1 triệu người), Cao Đài (2,4 triệu người), Phật giáo Hòa Hảo (1,5 triệu người), Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam (hơn 1 triệu người); còn lại là tín đồ các tôn giáo khác, chiếm gần nửa triệu người Số lượng chức sắc, nhà tu hành khá
Trang 8đông, khoảng 83 nghìn người; ngoài ra còn có 250 nghìn chức việc trông coi việc đạo ở khoảng 25 nghìn cơ sở thờ tự
Trước tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, với chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn và nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đông đảo chức sắc, tín đồ các tôn giáo đã phát huy truyền thống yêu nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, đoàn kết đồng bào tôn giáo với đồng bào không theo tôn giáo, hăng hái tham gia các chương trình phát triển kinh tế -
xã hội, tham gia xây dựng và củng cố quốc phòng, đảm bảo an ninh trật tự, góp phần làm nên những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới quê hương, đất nước Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được in
ấn kinh sách, sửa sang, làm mới cơ sở thờ tự, tổ chức sinh hoạt bình thường Hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện của các tôn giáo ngày càng được mở rộng Các tổ chức giáo hội từng bước được củng cố; quan hệ của tôn giáo với Nhà nước ngày càng được hoàn thiện
Nhìn chung, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào tôn giáo những năm qua được nâng lên, đa số chức sắc, chức việc, tín đồ phấn khởi, tin tưởng trước những thành tựu đổi mới của đất nước và chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo; các tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc, hành đạo theo pháp luật, tích cực tham gia phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo, làm từ thiện, xây dựng đời sống văn hóa,… góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng nhau xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Gia Lai là một tỉnh miền núi nằm ở phía bắc Tây Nguyên trên độ cao trung bình 700 - 800 m so với mực nước biển Với diện tích 15.536,92 km², tỉnh Gia Lai trải dài từ 12°58'40" đến 14°37'00" vĩ bắc, từ 107°27'30" đến 108°54'40" kinh đông Phía bắc Gia Lai giáp tỉnh Kon Tum, phía nam giáp tỉnh Đak Lak, phía tây giáp Campuchia với 90km là đường biên giới quốc gia, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên
Trang 9Gia Lai có vị trí địa chiến lược rất quan trọng trong thế trận quốc phòng
và an ninh nhân dân Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng với sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ, quân và dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh, nền kinh tế - xã hội ở Gia Lai đã có những bước khởi sắc
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo, những năm qua, Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã có nhiều chủ trương, giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo sinh hoạt, hành đạo theo Hiến chương và quy định của pháp luật; tập trung tháo gỡ những vướng mắc trong đời sống xã hội và sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo, nên đại bộ phận chức sắc, tín đồ tin tưởng vào chính sách tôn giáo của Nhà nước, quan hệ giữa giáo hội với chính quyền ngày càng gần gũi, cởi mở hơn, hiểu nhau hơn
Trên địa bàn tỉnh hiện có 5 tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đang hoạt động, gồm: Công giáo, Phật giáo, Tin lành, Cao đài, Baha’i; có 330.604 người theo đạo, chiếm 23,5% dân số toàn tỉnh; trong đó người dân tộc thiểu số chiếm 44,02% tổng số người theo đạo; số tín đồ theo đạo cư trú tại 444/2.131 thôn, làng tổ dân phố, thuộc 116/222 xã, phường, thị trấn
Dân tộc Jrai (Jơrai, Ja Rai, Gia Rai) là một trong 5 tộc người (Jrai, Ê
Đê, Chăm, Raglai, Chu Ru) Mã Lai - Đa Đảo (Malayo - Polinesien) hiện đang sinh sống trên vùng đất nam Trường Sơn và đồng bằng ven biển Trung Bộ Địa bàn cư trú là từ nam Kon Tum đến bắc tỉnh Đak Lak (theo chiều bắc - nam) và từ tây bắc tỉnh Phú Yên đến vùng biên giới tiếp giáp với Campuchia (theo chiều đông - tây) Trong khu vực cư trú này, Gia Lai là địa bàn người Jrai sinh sống tập trung nhất Khu vực cư trú chính là phía tây cao nguyên Pleiku (thuộc các huyện Chư Păh, Ia Grai, Đức Cơ, Chư Prông, Chư Sê, thành phố Pleiku) và vùng trũng Cheo Reo - Phú Túc ở phía đông nam tỉnh (thuộc thị xã Ayun Pa và các huyện Phú Thiện, Ia Pa, Krông Pa)
Trang 10Với số lượng dân cư chiếm ưu thế trong cộng đồng các dân tộc thiểu
số, ý thức về tộc người và vùng lãnh thổ tộc người khá rõ, lại sinh sống trên địa bàn án ngữ các đầu mối giao thông huyết mạch nối bắc Tây Nguyên với các tỉnh ven biển nam Trung Bộ nên người Jrai ở Gia Lai chiếm giữ một vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị và an ninh - quốc phòng Đây là bộ phận dân cư đã có những đóng góp quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Trong những năm kháng chiến giải phóng dân tộc cũng như trong thời kỳ xây dựng đất nước những tên người như nhà giáo Nay Đer, anh hùng Kpa Ó, anh hùng Kpui Thu đã đi vào lòng đồng bào Tây Nguyên
và cả nước
Từ năm 2000 đến nay, phản động Fulro và các thế lực thù địch gia tăng các hoạt động chống phá, tăng cường tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, chia rẽ khối đoàn kết Kinh - Thượng, đoàn kết lương - giáo, kích động đồng bào các dân tộc biểu tình gây ra các sự kiện tháng 2 năm 2001 và tháng 4 năm 2004 trên địa bàn tỉnh
Do vậy, việc nâng cao chất lượng đời sống, phát triển kinh tế xã hội, gắn công tác dân tộc và tôn giáo trong cộng đồng người Jrai ở tỉnh Gia Lai hiện nay là một vấn đề hết sức quan trọng, cần được quan tâm đặt lên hàng
đầu Với lý do đó, người viết nghiên cứu đề tài “Vấn đề dân tộc và tôn giáo
trong cộng đồng người Jrai ở tỉnh Gia Lai hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ triết học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đè tài
Vấn đề dân tộc và tôn giáo là các nội dung quan trọng trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta cũng như là đối tượng nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, học giả trong nước Các công trình nghiên cứu tập trung vào bốn hướng chủ yếu sau đây:
Trang 11Hướng 1: nghiên cứu độc lập về vấn đề tộc người và văn hóa tộc người
gồm có các công trình tiêu biểu sau: Lê Ngọc Thắng, 2002, Vấn đề dân tộc và
định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung
ương, 2002, Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng Cộng Sản Việt
Nam: chương trình chuyên đề dùng cho cán bộ Đảng viên cơ sở, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội Chu Đức Tính, 2001, Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc
giải quyết vấn đề dân tộc dân chủ trong Cách mạng Việt Nam (1930-1954),
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Nguyễn Thế Thắng, 1999, Chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Nxb Lao động, Hà Nội
Cục Tư tưởng - Văn hóa Tổng cục Chính trị, 1998, Một số vấn đề dân tộc và
quan điểm chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước ta, Nxb Quân đội Nhân
dân, Hà Nội Nông Văn Lưu, 1995, Giải quyết vấn đề dân tộc qua việc thực
hiện tự do tín ngưỡng tôn giáo ở vùng dân tộc H'Mông hiện nay, Viện Nghiên
cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Hà Nội Đỗ Hữu Long,
1968, Vấn đề dân tộc thiểu số tại Việt Nam, Học viện Quốc gia Hành chánh,
Tp Hồ Chí Minh
Hướng 2: nghiên cứu độc lập về vấn đề tôn giáo, tôn giáo tộc người
gồm có các công trình tiêu biểu sau: Trịnh Tây, 2012, Dân tộc và tôn giáo
Trung Quốc, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh Tăng Bình,
2012, Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo lịch sử văn hóa trong cộng đồng các
dân tộc Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội Trương Sỹ Hùng, 2010, Tôn giáo trong đời sống văn hóa Đông Nam Á, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Đỗ
Quang Hưng, 2010, Đời sống tôn giáo tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội, Nxb
Hà Nội Nguyễn Thế Doanh, 2006, Các văn bản pháp luật quan hệ đến tín
ngưỡng, tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Trần Minh Thư, 2005, Tìm hiểu pháp luật Việt Nam về tôn giáo, tín ngưỡng, Nxb Tư pháp, Hà Nội Đặng
Nghiêm Vạn, 2005, Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam,
Trang 12Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Đặng Nghiêm Vạn, 2001, Dân tộc văn hóa
tôn giáo, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Cục Dân vận và Tuyên truyền đặc
biệt Tổng cục Chính trị, 1998, Tìm hiểu về tôn giáo (lưu hành nội bộ), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Nguyễn Tài Thư, 1997, Ảnh hưởng của các hệ tư
tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay: chương trình khoa
học công nghệ cấp nhà nước đề tài: KX-07-03, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội Trường Quân sự trẻ em tại Ấn Độ, 1998, “Mầm móng của những cuộc
chiến tranh tôn giáo”, Sài Gòn Giải Phóng, số 9
Hướng 3: nghiên cứu mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và tôn giáo có
một số công trình tiêu biểu sau: Trần Hồng Liên, 2002, Vấn đề dân tộc và tôn
giáo ở Sóc Trăng, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Nông Văn Lưu, 1995, Giải quyết vấn đề dân tộc qua việc thực hiện tự do tín ngưỡng tôn giáo ở vùng dân tộc H'Mông hiện nay, Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng
Hồ Chí Minh, Hà Nội Vũ Văn Hậu, 2009, Củng cố mối quan hệ dân tộc và
tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Trịnh Tây, 2012, Dân tộc và tôn giáo Trung
Quốc, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh Nguyễn Đức Lữ,
2013, Tôn giáo với dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích:
Luận văn làm sáng tỏ về mặt lý luận chung của mối liên hệ giữa dân tộc
và tôn giáo và thực trạng diễn biến và những vấn đề đang đặt ra trong đời sống dân tộc và tôn giáo của cộng đồng người Jrai ở tỉnh Gia Lai hiện nay Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra các giải pháp định hướng nâng cao công tác dân tộc và tôn giáo, đảm bảo an ninh chính trị xã hội, nâng cao đời sống về mọi mặt cho cộng đồng người Jrai ở tỉnh Gia Lai
Nhiệm vụ:
Trang 13Để đạt được những mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn là:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về dân tộc và tôn giáo
- Phân tích, đánh giá thực trạng sự thay đổi và mối quan hệ dân tộc và đời sống tôn giáo trong cộng đồng người Jrai ở tỉnh Gia Lai hiện nay
- Luận văn đưa ra các giải pháp định hướng nâng cao công tác dân tộc
và tôn giáo, đảm bảo an ninh chính trị xã hội, nâng cao đời sống về mọi mặt cho cộng đồng người Jrai ở tỉnh Gia Lai
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Đây là vấn đề phức tạp và có đối tượng nghiên cứu là người dân tộc thiểu số Jrai ở tỉnh Gia Lai Trong luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, người viết xin nghiên cứu dưới góc độ triết học, tôn giáo Phạm vi nghiên cứu vấn đề dân tộc
và tôn giáo trong cộng đồng người Jrai ở tỉnh Gia Lai hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Nguyên tắc tiếp cận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở thế giới quan
và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Phương pháp tiếp cận của người viết là vấn đề triết học, tôn giáo với các lý thuyết về dân tộc học và tôn giáo học phục vụ mục đích nghiên cứu Do vậy, nguyên tắc tiếp cận là đa ngành và liên ngành (triết học, dân tộc học, sử học, văn hóa học, tôn giáo học) để rút ra những vấn đề chung nhất và thống nhất về vấn đề nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, lôgic và lịch sử, thống kê, điều tra xã hội học để nghiên cứu và trình bày luận văn này Trong đó, người viết tập trung vào 03 phương pháp cụ thể chủ yếu và quan trọng nhất đó là phương pháp điền giã, phương pháp phỏng vấn sâu và phương pháp điều tra xã hội học để đem lại những kết luận
có độ tin cậy cao cho vấn đề nghiên cứu
Trang 14Để giải quyết những vấn đề của thực tiễn luận văn còn dựa trên các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết, quyết định, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Gia Lai
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Về mặt khoa học:
Luận văn đã góp phần làm sáng tỏ những lý luận cơ bản và những vấn
đề thực tiễn về dân tộc và tôn giáo Đồng thời, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm giải quyết hiệu quả vấn đề dân tộc và tôn giáo trong cộng đồng người Jrai ở tỉnh Gia Lai trong thời gian tới
Về mặt thực tiễn:
Những đề xuất, những ý nghĩa và bài học được rút ra từ cách giải quyết hiệu quả vấn đề dân tộc và tôn giáo trong cộng đồng người Jrai ở tỉnh Gia Lai trong thời gian tới của luận văn có thể góp phần vào việc bổ sung, điều chỉnh công tác tôn giáo trong hệ thống chính trị của tỉnh nhằm giải quyết hiệu quả vấn đề dân tộc và tôn giáo trong cộng đồng người Jrai ở tỉnh Gia Lai trong thời gian tới
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề lý luận và thực tiễn vấn đề dân tộc và tôn giáo trong các trường đại học và cao đẳng, các cơ quan nghiên cứu về dân tộc và tôn giáo trong cộng đồng người đồng bào dân tộc thiểu số
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 2 chương, 4 tiết và 11 tiểu tiết
Trang 15PHẦN NỘI DUNG Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO 1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân tộc và tôn giáo
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân tộc
Dân tộc là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc Dân tộc là vấn đề quan trọng đối với việc xây dựng các học thuyết lý luận cũng như việc giải quyết các vấn đề thực tiễn cuộc sống, do vậy được rất nhiều nhà lý luận và hoạt động cách mạng chú ý Hai nhà sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản C.Mác và Ph.Ăngghen lúc sinh thời cũng hết sức chú ý đến vấn đề dân tộc Song do điều kiện lịch sử - xã hội và
sự cần thiết đáp ứng kịp thời yêu cầu của lý luận và thực tiễn lúc bấy giờ nên hai ông chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách đầy đủ và sâu sắc vấn đề dân tộc, do đó chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể về dân tộc cũng như chưa trình bày một cách tập trung và đầy đủ nhất để hệ thống hóa quan điểm của mình
về vấn đề dân tộc Tuy nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đã đưa ra những luận điểm rất cơ bản mang tính phương pháp luận chung định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo về dân tộc
Tùy theo mục đích và đối tượng nghiên cứu mà thuật ngữ “dân tộc” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Nhưng có hai cách hiểu được chấp nhận nhiều nhất là dân tộc với nghĩa là “tộc người – dân tộc” và dân tộc với nghĩa là “quốc gia – dân tộc”
Thứ nhất, hiểu theo nghĩa truyền thống dân tộc là “Tộc người – dân
tộc” hay còn gọi là cộng đồng tộc người tương đương với các thuật ngữ La
tinh: “ethnos”, “ethnis”, “ethnicity” Một tộc người – dân tộc thường sống trên một lãnh thổ nhất định hoặc sống đan xen với các tộc người - dân tộc
Trang 16khác trong cùng một quốc gia hoặc thuộc nhiều quốc gia Mỗi Tộc người – dân tộc có phong tục, tập quán, lối sống, nền văn hóa và ngôn ngữ riêng Hiểu theo nghĩa này, hiện nay trên thế giới có khoảng 3000 tộc người – dân tộc phân bố ở hơn 200 quốc gia Việt Nam hiện nay có trên 54 dân tộc anh em, các dân tộc đều bình đẳng trong đại gia đình dân tộc Việt Nam cùng nhau chung tay xây dựng đất nước
Thứ hai, dân tộc được hiểu theo nghĩa là “Quốc gia – dân tộc” (nation)
hay “dân tộc hiện đại” C.Mác và Ph.Ăngghen không bàn đến dân tộc theo nghĩa trên mà chủ yếu nói đến dân tộc theo nghĩa này để phân biệt với các cộng đồng người trước đây như thị tộc, bộ lạc, bộ tộc
Trước Mác, các nhà tư tưởng đã cố gắng tìm ra những định nghĩa chung về dân tộc Tuy nhiên, những luận điểm này chỉ dừng lại ở việc gắn dân tộc với quốc gia và nhấn mạnh quan hệ chính trị nhưng lại không đề cập tới quan hệ cộng đồng và kinh tế Chẳng hạn như Bá tước Đờ Maixtre (Pháp) dùng khái niệm “dân tộc” để chỉ một cộng đồng người bao gồm vua và giới quý tộc, một cộng đồng rất hẹp trong xã hội hay nhà triết học khai sáng Pháp Đi-đơ-rô xem dân tộc là một số lượng đáng kể dân chúng sống trên một phạm
vi đất nước nhất định và tuân theo sự cai trị của một chính phủ… Thậm chí một số nhà tư tưởng tư sản khi định nghĩa về dân tộc chỉ nhấn mạnh yếu tố tinh thần chủng tộc Chẳng hạn như Bru-nô Baud…(1548 - 1600), nhà triết học người Ý, cho rằng: dân tộc là một tổng hợp những con người có chung một số phận đã được đoàn kết lại thành một cộng đồng về tính cách
Kế thừa các điểm tiến bộ, tích cực của các nhà tư tưởng đi trước, đồng thời tìm ra những hạn chế khuyết điểm đó là chưa thấy rõ dân tộc là hình thức cộng đồng người mang tính lịch sử, chưa thấy rõ cơ chế kinh tế - xã hội của
sự hình thành và tồn tại của các dân tộc Dựa trên những thay đổi của điều kiện lịch sử xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra và ngày càng hoàn thiện
lý luận về dân tộc của mình C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận ra rằng quá trình
Trang 17hình thành các dân tộc hiện đại gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thay thế phương thức sản xuất phong kiến thông qua việc phân tích xã hội tư bản
Luận điểm về vấn đề dân tộc được thể hiện tập trung trong tác phẩm
Tuyên ngôn Đảng Cộng sản: “Giai cấp tư sản ngày càng xóa bỏ tình trạng
phân tán về tư liệu sản xuất, về tài sản và dân cư Nó tụ tập dân cư, tập trung các tư liệu sản xuất và tích tụ tài sản vào trong tay một số ít người Kết quả tất nhiên của những thay đổi ấy là sự tập trung về chính trị Những địa phương độc lập, liên hệ với nhau hầu hết chỉ bởi quan hệ liên minh và có những lợi ích, luật lệ, chính phủ, thuế quan khác nhau, thì đã tập hợp lại thành một dân tộc thống nhất, một chính phủ thống nhất, một luật pháp thống nhất, một lợi ích dân tộc thống nhất mang tính giai cấp và một hàng rào thuế quan thống nhất” [36, tr.602-603] Lần đầu tiên C.Mác và Ph.Ăngghen đã
nhìn thấy được cơ sở kinh tế và chính trị cho sự ra đời và tồn tại của các “dân tộc hiện đại”, “dân tộc công nghiệp” tức là “dân tộc tư sản”, là những dân tộc được thành lập cùng với sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
mà đại biểu là giai cấp tư sản Tuy nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen không phủ nhận sự tồn tại của các dân tộc tiền tư bản Hai ông đã nhận thấy rằng có những dân tộc được hình thành trước chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là những dân tộc ở phương Đông, gắn với phương thức sản xuất Á châu Dân tộc không chỉ
là sản phẩm của sự phát triển về mặt kinh tế - xã hội mà còn là sự tiếp nối lịch
sử các cộng đồng trước khi dân tộc được hình thành có quan hệ trực tiếp với
sự hình thành dân tộc ấy
Như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhìn thấy được tầm quan trọng của vấn đề dân tộc, trong đó đặc biệt là vấn đề chống áp bức dân tộc và giải phóng dân tộc Đây là cơ sở để V.I.Lê Nin kế thừa và phát triển thành lý luận
về dân tộc trong điều kiện lịch sử mới
Trang 18Sống trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền, tức chủ nghĩa đế quốc, V.I.Lênin đã đưa ra những luận điểm rất sâu sắc về vấn đề dân tộc từ việc tổng kết, đánh giá mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với đế quốc và các phong trào giải phóng của các dân tộc thuộc địa
Đầu tiên, trong tác phẩm Ý kiến phê phán về vấn đề dân tộc, V.I.Lênin
đã nhìn thấy sự lớn mạnh tất yếu của các phong trào giải phóng dân tộc, chống mọi áp lực dân tộc để thiết lập nên các quốc gia dân tộc độc lập Tuy nhiên, các quốc gia dân tộc sẽ không tồn tại biệt lập nhau mà ngày càng phải liên hệ với nhau, phụ thuộc nhau trên tất cả các mặt của đời sống xã hội
Người viết: “Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, có hai xu
hướng lịch sử trong vấn đề dân tộc Xu hướng thứ nhất là: sự thức tỉnh của đời sống dân tộc và của các phong trào dân tộc, cuộc đấu tranh chống mọi áp bức dân tộc, việc thiết lập các quốc gia dân tộc Xu hướng thứ hai là: việc phát triển và tăng cường đủ mọi quan hệ giữa các dân tộc, việc xóa bỏ những hàng rào ngăn cách dân tộc và việc thiết lập sự thống nhất quốc tế của tư sản, của điều kiện kinh tế, của chính trị, của văn hóa… cả hai xu hướng đó là quy luật phổ biến của chủ nghĩa tư bản” [27, tr.157]
Quan trọng nhất trong lý luận của V.I.Lênin là ba nguyên tắc thể hiện
các quyền cơ bản của dân tộc được thể hiện rõ qua tác phẩm Về quyền dân tộc
tự quyết như sau: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền
tự quyết; liên hợp công nhân tất cả các dân tộc lại” [28, tr.375] Các quyền
ấy là:
Quyền bình đẳng dân tộc, là một nguyên tắc được V.I.Lênin hết sức
lưu ý Theo V.I.Lênin, bình đẳng dân tộc phải được thể hiện toàn diện trên tất
cả các mặt của đời sống xã hội V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Người nào không thừa
nhận và không bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc và bình đẳng giữa các ngôn ngữ, không đấu tranh chống mọi áp bức hay mọi bất bình đẳng dân
Trang 19tộc, người đó không phải là mácxít, thậm chí cũng không phải là người dân chủ nữa” [28, tr.375] Đồng thời, V.I.Lênin cũng phê phán bình đẳng dân tộc
hình thức theo kiểu dân chủ tư sản, tức là bình đẳng cho một số ít dân tộc tư sản, đo đó bình đẳng dân tộc thực sự không thể thực hiện được dưới chủ nghĩa đế quốc Theo V.I.Lênin, để có bình đẳng dân tộc thực sự thì phải có sự gắn kết nhau của nông dân và công nhân thuộc mọi dân tộc trong cuộc cách mạng vô sản lật đổ giai cấp tư sản, và muốn thực hiện điều đó thì phải giải
phóng các dân tộc khỏi áp bức, bất công V.I.Lênin viết: “Trong vấn đề dân
tộc, chính sách của giai cấp vô sản, khi đã giành được chính quyền, không phải tuyên bố có tính chất hình thức theo kiểu dân chủ tư sản về sự bình đẳng giữa các dân tộc, - một sự bình đẳng không thể thực hiện dưới chủ nghĩa đế quốc, - mà là triệt để làm cho công nhân và nông dân thuộc mọi dân tộc thực
sự gần gũi và gắn bó với nhau trong cuộc đấu tranh cách mạng của họ nhằm lật đổ giai cấp tư sản Muốn thực hiện mục đích đó thì phải hoàn toàn giải phóng các dân tộc thuộc địa và tất cả các dân tộc bị áp bức hoặc bị bất bình đẳng” [31, tr.136]
Quyền tự quyết dân tộc, là nguyên tắc quan trọng thứ hai trong cương
lĩnh của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc Theo V.I.Lênin, quyền dân tộc tự quyết nghĩa là quyền phân lập và thành lập quốc gia dân tộc riêng biệt V.I.Lênin
kêu gọi: “Phải đem lại cho họ quyền tự do phân lập, để đảm bảo sao cho sự
nghi kỵ do chủ nghĩa tư bản để lại trong quần chúng lao động thuộc các dân tộc khác nhau và lòng căm giận của công nhân các dân tộc bị áp bức đối với công nhân các dân tộc đi áp bức hoàn toàn tiêu tan và được thay thế bằng một liên minh tự giác và tự nguyện” [31, tr.136]
Trước Cách mạng tháng 10 Nga, vương quốc của đế quốc Nga Sa Hoàng được ví như là một nhà tù lớn của rất nhiều dân tộc Các dân tộc bị trị,
bị áp bức và bóc lột nặng nề, không được quyền quyết định vận mệnh của dân tộc mình Chính vì vậy, khẩu hiệu “dân tộc tự quyết” có sức lôi cuốn mạnh
Trang 20mẽ các dân tộc bị áp bức vào trào lưu cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo V.I.Lênin đã nhìn thấy rằng quyền dân tộc tự quyết là biện pháp tích cực trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, đem đến sự gần gũi, đoàn kết giữa các dân tộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp vô sản tiến hành sẽ đem lại cho các dân tộc bị áp bức và các thuộc địa một sự tự do hoàn toàn, với mục đích làm cho sự xích gần tự nguyện và sự đoàn kết của các dân tộc được dễ dàng và nhanh chóng
Tuy nhiên, dân tộc tự quyết không có nghĩa là nhất thiết phải tách khỏi nước lớn trong mọi điều kiện V.I.Lênin đã nhiều lần lên tiếng bảo vệ sự hiểu
biết đúng đắn khẩu hiệu về quyền tự quyết dân tộc V.I.Lênin viết: “Chúng ta
đòi quyền tự do tự quyết không phải là chúng ta mớ ước xây dựng các nước nhỏ bé, mà ngược lại vì chúng ta muốn những quốc gia to lớn và sự xích lại của liên bang các dân tộc nhưng trên cơ sở thực sự dân chủ, thực sự quốc tế”
[29, tr.328] Như vậy, quyền dân tộc tự quyết không có nghĩa là để các dân tộc tách ra, mà chính là để các dân tộc xích lại với nhau Sức mạnh của khẩu hiện: “dân tộc tự quyết” là ở chỗ, nó gạt bỏ tất cả mọi cơ sở nghi ngờ về mưu
đồ xâm lược của dân tộc này đối với dân tộc khác, và nhằm chuẩn bị cho các dân tộc tiến tới sự liên minh tự nguyện vào một quốc gia xã hội chủ nghĩa bao gồm nhiều dân tộc
Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại là nguyên tắc thứ ba trong
cương lĩnh của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc Đây là sự liên minh quốc tế trong cuộc đấu tranh chống áp bức giai cấp và áp bức dân tộc, vì sự giải phóng dân tộc và xã hội V.I.Lênin hết sức coi trọng nhiệm vụ dân tộc và quốc tế của giai cấp vô sản Việc giải phóng khỏi ách tư bản, việc xây dựng xã hội chủ nghĩa
và cộng sản chủ nghĩa là nhiệm vụ quốc tế của tất cả những người vô sản, của tất cả nhân dân lao động của các dân tộc
Chủ nghĩa quốc tế vô sản thể hiện tính chất chung của những quyền lợi
cơ bản và những ý nguyện tiến bộ của nhân dân lao động của tất cả các dân
Trang 21tộc, nó đối lập với chủ nghĩa dân tộc tư sản gây sự thù hằn và chia rẽ giữa các
dân tộc V.I.Lênin phê phán: “Nguyên tắc của chủ nghĩa dân tộc tư sản là sự
phát triển dân tộc nói chung, do đó mà sinh ra tính đặc biệt của chủ nghĩa dân tộc tư sản, những cuộc xung đột không có lối thoát” [27, tr.169] Ngược
lại với chính sách đó của giai cấp tư sản, “Giai cấp vô sản không thể tán
thành bất cứ một sự thừa nhận nào đối với chủ nghĩa dân tộc cả; trái lại nó tán thành bất cứ cái gì giúp vào việc xóa bỏ phân biệt chủng tộc, vào việc phá hủy những hàng rào ngăn cách các dân tộc, tán thành bất cứ cái gì làm cho mối liên hệ giữa các dân tộc ngày càng mật thiết, bất cứ cái gì dẫn đến sự hợp nhất các dân tộc Hành động khác đi, có nghĩa là đứng về phía giai cấp tiểu thị dân tộc chủ nghĩa phản động” [27, tr.169]
Như vậy, chủ nghĩa quốc tế vô sản không phải vì mục đích xóa bỏ các dân tộc mà là đoàn kết dân tộc, liên minh dân tộc trong cuộc đấu tranh lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, chống áp bức dân tộc
Tóm lại, các nguyên tắc quyền bình đẳng dân tộc, quyền dân tộc tự
quyết và liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại là những luận điểm quan
trọng và sâu sắc của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc Những luận điểm đó đã trở thành “ngọn cờ” có sức lôi cuốn mạnh mẽ các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại trong cuộc đấu tranh chống áp bức giai cấp và áp bức dân tộc
Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay quyền tự quyết dân tộc và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa sô vanh chỉ cách nhau ranh giới như một sợi chỉ nhỏ Do vậy cần phải phân biệt và nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa dân tộc chân chính Chủ nghĩa sô vanh là một chủ nghĩa sùng bái tinh thần bè phái cực đoan, mù quáng trên danh nghĩa của một nhóm (thường là một quốc gia hoặc một dân tộc), nhất là khi tinh thần bè phái đó có bao gồm cả sự thù hận chống lại một nhóm địch thủ Chủ nghĩa Sô vanh là một hình thức cực đoan của chủ nghĩa dân tộc, dẫn đến chủ nghĩa dân tộc lệch lạc, dân tộc nước lớn, dân tộc hẹp hòi, bài ngoại, tự cho dân tộc mình là dân tộc siêu đẳng có sứ
Trang 22mệnh lãnh đạo các dân tộc khác Kỳ thị dân tộc là nhìn dân tộc này hay dân tộc khác với con mắt miệt thị Chỉ thấy dân tộc mình, coi dân tộc mình là nhất, không xem trọng dân tộc khác, không quan tâm tới lợi ích chính đáng của dân tộc khác, xem thường tác dụng của dân tộc khác đối với cả nước; thiếu tôn trọng hoặc đối xử không bình đẳng với các dân tộc có trình độ phát triển thấp hơn Tư tưởng dân tộc hẹp hòi là khép kín, biệt lập, bảo thủ, bài ngoại, ngờ vực dân tộc khác, Những người có tư tưởng này hay nhấn mạnh đặc điểm riêng biệt của dân tộc, không thấy rõ lợi ích của cả nước và tương lai của dân tộc mình; không muốn tiếp thu sự giúp đỡ và những kinh nghiệm hay những tinh hoa văn hoá của các dân tộc khác
1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo
a) Khái niệm
Tôn giáo là gì? Đây là một vấn đề tưởng chừng xưa cũ nhưng cũng là một vấn đề thường xuyên mới Người ta xem xét, nhận thức tôn giáo từ những không gian văn hoá và truyền thống tư tưởng khác nhau mà dẫn đến kết luận
và giải đáp cũng rất khác nhau Điều này làm nảy sinh ra vấn đề lý giải tôn giáo như thế nào?
“Tôn giáo” là một thuật ngữ không thuần Việt, được du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX Xét về nội dung, thuật ngữ tôn giáo khó có thể hàm chứa được tất cả nội dung đầy đủ của nó từ cổ đến kim, từ đông sang tây Trên thực tế có rất nhiều quan điểm khác nhau về tôn giáo của nhiều dân tộc và nhiều tác giả trên thế giới
Tôn giáo bắt nguồn từ thuật ngữ “religion” tiếng Anh (“legere” tiếng
Latinh) có nghĩa là thu nhận thêm sức mạnh thiên nhiên Vào đầu công nguyên khi đạo Kitô xuất hiện, đế chế Rôma yêu cầu phải có một tôn giáo chung và xóa bỏ các tôn giáo trước đó cho nên khái niệm “religion” lúc này
để chỉ đạo Kitô Đến thế kỷ XVI, với sự ra đời của đạo Tin Lành tách ra từ
Trang 23Công giáo, thuật ngữ “religion” trở thành thuật ngữ chỉ hai tôn giáo cùng thờ một chúa Sau này chủ nghĩa tư bản bành trướng ra khỏi phạm vi châu Âu, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, nhiều tôn giáo khác nhau nên lúc này thuật ngữ “religion” dùng để chỉ các hình thức tôn giáo khác nhau trên thế giới
Thuật ngữ “religion” được dịch ra thành “Tông giáo” và du nhập vào Nhật Bản vào cuối thế kỷ XVIII Thuật ngữ “Tông giáo” được gia nhập vào Việt Nam và được đăng báo vào cuối thế kỷ XIX nhưng do kỵ húy vua Thiệu Trị nên được gọi là “Tôn giáo”
Khái niệm tôn giáo có rất nhiều ý kiến khác nhau, không thống nhất:
Các nhà thần học cho rằng: tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và
con người
Các nhà tâm lý học cho rằng: tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân
trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo
Khái niệm mang bản chất xã hội của tôn giáo theo C.Mác là: “Tôn giáo
là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần” [39,
tr.570]
Khái niệm mang nguồn gốc nhận thức tôn giáo của Ph.Ăngghen: “Tôn
giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc con người của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [40, tr.664]
Để có khái niệm đầy đủ về tôn giáo cần phải lưu ý:
Khi nói đến tôn giáo, dù theo nghĩa nào thì luôn luôn phải đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của vật thể hữu hình và vô hình
Trang 24Tôn giáo không chỉ là sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và đánh mất chính mình do đó phải sợ hãi dựa vào thánh thần mà còn hướng con người tới niềm
tin tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện, mang tính “hoàng kim nguyên thủy”,
một cuộc đời mà cả quá khứ, hiện tại và tương lai cùng nhau chung sống Nó gieo niềm hy vọng vào con người, dù có phần ảo tưởng để mà yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một xã hội nhiều bất công và khổ ải
Như vậy, tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, phụ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý, văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau trong từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau
b) Nguồn gốc của tôn giáo
Vấn đề nguồn gốc của tôn giáo là một trong những vấn đề quan trọng nhất của tôn giáo học mác xít Nhờ vạch ra được nguyên nhân xuất hiện và tồn tại của hiện tượng nào đó mới giải thích nó khoa học được
Nguồn gốc xã hội:
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội nảy sinh trên cơ sở kinh tế - xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội Do đó, tìm nguồn gốc hình thành của nó không phải trong ý thức mà là trong lịch sử xã hội, lịch sử hoạt động thực tiễn của con người
Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử phát triển kế tiếp nhau của các hình thái kinh tế - xã hội Hình thái kinh tế - xã hội ra đời trên
cơ sở nền sản xuất thấp kém Nền kinh tế tự nhiên lấy săn bắt, hái lượm là chính Cuộc sống của con người lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên Quan hệ giữa các thành viên trong bộ lạc là quan hệ cộng đồng bình đẳng, hợp tác trên cơ
Trang 25sở công hữu về tư liệu sản xuất Do lực lượng sản xuất thấp kém, giới tự nhiên kỳ bí bao quanh con người, thiên tai như hạn hán, lũ lụt, động đất, núi lửa, thú dữ, bệnh tật… đe dọa cuộc sống của con người Con người cảm thấy bất lực trước tự nhiên Họ thần thánh hóa sức mạnh của tự nhiên và sau đó lại cầu xin sự che chở, cầu cứu những sức mạnh đã được thần thánh hóa đó
Ph.Ăngghen cho rằng: “Trong những thời kỳ đầu của lịch sử, chính những thế
lực thiên nhiên, là những cái trước tiên được phản ánh như thế, và trong quá trình phát triển hơn nữa thì ở những dân tộc khác nhau, những lực lượng thiên nhiên ấy đã được nhân hóa một cách hết sức nhiều vẻ và hết sức hỗn tạp” [40, tr.437]
Về sau trong xã hội có giai cấp thì cùng với lực lượng bí ẩn của tự nhiên là lực lượng mang tính xã hội luôn tìm cách thống trị cuộc sống hằng
ngày của quần chúng nhân dân Ph.Ăngghen cho rằng: “Chẳng bao lâu, bên
cạnh những lực lượng thiên nhiên lại còn có cả những lực lượng xã hội tác động – những lực lượng này đối lập với con người, một cách xa lạ lúc đầu cũng không thể hiểu được đối với họ, và cũng thống trị họ với cái vẻ tất yếu
bề ngoài giống như bản thân những lực lượng tự nhiên vậy Những nhân vật
ảo tưởng, lúc đầu chỉ phản ánh những lực lượng huyền bí của các lực lượng
tự nhiên, thì nay lại vì thế có cả thuộc tính xã hội và trở thành các đại biểu cho các lực lượng lịch sử” [40, tr.437]
Bế tắc trong đời sống hiện thực, con người tìm đến sự giải thoát trong đời sống tinh thần, họ tìm đến tôn giáo Trong xã hội có giai cấp, sự bóc lột giai cấp, sự tàn bạo bất công, chiến tranh, đói khổ và bệnh tật… cũng là
những nguyên nhân xã hội làm nảy sinh tôn giáo V.I.Lênin cho rằng: “sự bất
lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất nhiên
đề ra lòng tin vào cuộc sống tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia, cũng giống như sự bất lực của con người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đề ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu” [80, tr.46]
Trang 26Theo Ph.Ăngghen: “trong xã hội tư sản ngày nay con người bị thống
trị bởi những quan hệ kinh tế do chính họ tạo ra, những tư liệu sản xuất do chính họ sản xuất ra, như là bởi một lực lượng xa lạ Do đó cơ sở thực tế của mọi phản ánh có tính chất tôn giáo của hiện thực vẫn tiếp tục tồn tại và cùng với cơ sở đó thì chính ngay sự phản ánh của nó trong tôn giáo cũng tiếp tục tồn tại” [40, tr.438]
Như vậy có thể nói nguồn gốc xã hội của tôn giáo là tính hạn chế của lực lượng sản xuất kéo theo sự hạn chế trong quan hệ giữa con người với nhau trong xã hội C.Mác cho rằng tính hạn chế thực tế đó đã phản ánh vào trong những tôn giáo cổ đại, thể hiện sự bất lực của con người trước những sức mạnh đang thống trị con người
Nguồn gốc nhận thức
Các nhà duy vật trước C.Mác thường nhấn mạnh đến nguồn gốc nhận thức của tôn giáo Còn những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin lại quan tâm trước hết đến nguồn gốc kinh tế - xã hội của tôn giáo Chính vì vậy học thuyết duy vật của C.Mác đã vượt lên các nhà duy vật đương thời Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác – Lênin không loại bỏ nguồn gốc nhận thức của tôn giáo mà còn làm sáng tỏ nó một cách có khoa học
Để hiểu rõ nguồn gốc nhận thức của tôn giáo cần phải tìm hiểu rõ lịch
sử nhận thức và đặc điểm các quá trình nhận thức của con người
Lịch sử nhận thức của con người là một quá trình từ thấp đến cao, trong
đó giai đoạn thấp là giai đoạn nhận thức cảm tính Ơ giai đoạn nhận thức này con người chưa hề sáng tạo ra tôn giáo bởi vì tôn giáo với tư cách là ý thức, là niềm tin bao giờ cũng gắn với cái siêu nhiên, thần thánh mà nhận thức cảm tính thì chưa tạo ra cái siêu nhiên, thần thánh được Như vậy, tôn giáo chỉ có thể ra đời khi nhận thức đã đạt đến một trình độ nhất định Thần thánh, cái siêu nhiên, thế giới bên kia… là sản phẩm của những biểu tượng, sự trừu
tượng hóa, sự khái quát hóa dưới dạng hư ảo Theo Ph.Ăngghen, “sự nhân
Trang 27cách hóa các lực lượng tự nhiên này đã làm nảy sinh ra những vị thần đầu tiên, những vị thần này, trong quá trình phát triển về sau này của tôn giáo, ngày càng mang một hình dáng của sức mạnh siêu phàm, cho đến lúc, rút cuộc lại, do một quá trình trừu tượng hóa… (quá trình chưng cất - hoàn toàn
tự nhiên) trong tiến trình phát triển của trí tuệ, trong đầu óc của con người,
từ đông đảo những vị thần có quyền lực ít nhiều bị hạn chế và hạn chế lẫn nhau, nảy sinh ra quan niệm về một vị thần độc tôn của các tôn giáo độc thần” [41, tr.404] Nói như vậy có nghĩa là tôn giáo chỉ có thể ra đời ở một
trình độ nhận thức nhất định, đồng thời nó phải gắn với sự tự ý thức của con người về mối quan hệ của mình với thế giới bên ngoài Khi chưa biết tự ý thức con người cũng không biết được sự bất lực của bản thân mình trước sức mạnh của thế giới bên ngoài, do đó con người chưa có nhu cầu sáng tạo ra tôn giáo để bù đắp cho sự bất lực ấy
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo gắn liền với đặc điểm của quá trình nhận thức Đó là một quá trình phức tạp và mâu thuẫn, nó là sự thống nhất một cách biện chứng giữa nội dung khách quan và hình thức chủ quan Những hình thức phản ánh thế giới hiện thực càng đa dạng, phong phú bao nhiêu thì con người càng có khả năng nhận thức thế giới xung quanh sâu sắc và đầy đủ bấy nhiều Nhưng mỗi hình thức mới của sự phản ánh không những tạo ra những khả năng mới để nhận thức thế giới sâu sắc hơn mà còn tạo ra khả năng “xa rời” hiện thực, phản ánh sai lầm nó V.I.Lênin đồng ý với ý kiến của
L.Phoi ơ bắc rằng: “Thượng đế siêu hình không phải một thứ gì khác mà là sự
tập hợp, là toàn bộ những đặc tính chung nhất rút ra từ giới tự nhiên, song con người, nhờ vào sự tưởng tượng, tức là chính bằng phương pháp tách rời chủ thể khỏi nhận thức cảm tính, khỏi vật chất của giới tự nhiên, lại đem giới
tự nhiên biến thành chủ thể hay một thực thể độc lập” [55, tr.31] và ông còn
phân tích sâu hơn “Khi trí tuệ (của con người) tiếp xúc với một vật cá biệt,
sao chụp hình ảnh (một khái niệm) của nó, đó không phải là một hành vi giản
Trang 28đơn, trực tiếp, cứng đờ như sự phản ánh trong gương, mà là một hành vi phức tạp, có hai mặt, khúc khuỷu, bao hàm khả năng của ảo tưởng bay ra khỏi cuộc sống; hơn nữa: bao hàm khả năng của một sự chuyển biến (hơn nữa, không thấy được, và người ta không ý thức về nó) của khái niệm trừu tượng, của ý niệm thành ảo tưởng (inlet – instanz = thượng đế)” [30, tr.394 –
395] Thực chất nguồn gốc nhận thức của tôn giáo cũng như mọi ý thức sai lầm chính là sự tuyệt đối hóa, sự cường điệu mặt chủ thể của nhận thức con người, biến nó thành cái không có nội dung khách quan, không còn cơ sở “thế gian”, nghĩa là cái siêu nhiên thần thánh “Tính phức tạp của quá trình nhận thức đã tạo ra khả năng xuất hiện các quan niệm sai lầm mang tính hư ảo của tôn giáo” [34, tr.14]
Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo
Ngay từ thời cổ đại, các nhà duy vật đã nghiên cứu đến ảnh hưởng của yếu tố tâm lý (tâm trạng, cảm xúc) đến sự ra đời của tôn giáo Họ đã đưa ra luận điểm “sự sợ hãi sinh ra thần thánh”
Các nhà duy vật cận đại đã phát triển tư tưởng của các nhà duy vật cổ đại, đặc biệt là V.phoi ơ bắc – và cho rằng nguồn gốc đó không chỉ bao gồm những tình cảm tiêu cực như cô đơn, bất hạnh, đau khổ, nỗi kinh hoàng, sợ hãi, sự chán chường… dễ dẫn con người đến với tôn giáo Con người tìm đến với tôn giáo để mong được sự che chở, an ủi, cứu giúp Tôn giáo là thuốc giảm đau, làm giảm nỗi khổ đau của con người trong cuộc sống hiện thực Tôn giáo nhiều khi là phương tiện hữu hiệu giúp con người cân bằng sự hẫng hụt tâm lý, giải thoát nỗi hẫng hụt cô đơn của con người trong cuộc sống Trong cuộc sống hằng ngày, con người không chỉ tiếp xúc cả với những cái
vô hình, trừu tượng, không thể lý giải được bằng lý trí mà chỉ có thể cảm nhận được bằng tâm thức, linh cảm Trong thế giới của tâm thức và linh cảm đó, chỉ có niềm tin vào sự hiện tồn và cứu giúp của thần thánh mới có thể giúp con người lý giải, đứng vững và vượt qua được những trở ngại trong cuộc
Trang 29sống Những trạng thái tâm lý, tình cảm tích cực, niềm vui, sự thỏa mãn, tình yêu, sự kính trọng… một cách thái quá đôi khi cũng có thể là một trong những nguyên nhân dẫn con người đến với tôn giáo Con người muốn được san sẻ trong tôn giáo những tình cảm vui mừng của mình, muốn được đắm mình trong không gian tôn giáo để được sống trong trạng thái ảo giác, được hưởng cái thiêng liêng cao cả, và đôi khi lãng quên cả hiện tại Không chỉ tình cảm, mà cả những điều mong muốn, ước vọng, nhu cầu khắc phục những tình cảm tiêu cực, muốn được đền bù hư ảo cũng dẫn đến sự hình thành và phát
triển tình cảm và niềm tin tôn giáo Ph.Ăngghen cho rằng: “Tôn giáo vẫn có
thể tồn tại với tư cách là một hình thức trực tiếp, nghĩa là một hình thức cảm xúc trong quan hệ giữa con người đối với các lực lượng xa lạ, tự nhiên và xã hội đang thống trị họ” [40, tr.438]
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã giải quyết vấn đề nguồn gốc tâm lý của tôn giáo khác về nguyên tắc so với các nhà duy vật trước đó Nếu như các nhà duy vật trước Mác gắn nguyên nhân xuất hiện của tôn giáo với sự sợ hãi trước các lực lượng tự nhiên thì chủ nghĩa Mác lần đầu tiên vạch được nguồn gốc của sự sợ hãi đó Lê nin tán thành và phân tích
thêm: “sự sợ hãi trước thế lực mù quáng của tư bản – mù quáng vì quần
chúng nhân dân không thể đoán trước được nó – là thế lực bất cứ lúc nào trong đời sống của người vô sản và người tiểu chủ, cũng đe dọa đem lại cho
họ và đang đem lại cho họ sự phá sản “đột ngột”, “bất ngờ”, “ngẫu nhiên”, làm cho họ phải diệt vong, biến họ thành một người ăn xin, một kẻ bần cùng, một gái điếm, và dồn họ vào cảnh chết đói, đó chính là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại” [25, tr.515 – 516]
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội Đặc điểm quan trọng trong ý thức tôn giáo là một mặt nó phản ánh tồn tại xã hội, mặt khác nó lại có xu hướng phản kháng lại xã hội đã sinh ra và nuôi dưỡng nó Vì vậy, từ khi ra đời đến nay, cùng với sự biến đổi của lịch sử, tôn giáo cũng biến đổi theo
Trang 30c) Tính chất, chức năng của tôn giáo
Tính chất:
Tính lịch sử của tôn giáo: Con người sáng tạo ra tôn giáo Mặc dù nó
còn tồn tại lâu dài, nhưng nó chỉ là một phạm trù lịch sử Tôn giáo không phải xuất hiện cùng một lúc với con người Tôn giáo chỉ xuất hiện khi khả năng tư duy trừu tượng của con người đạt tới mức độ nhất định
Tôn giáo là sản phẩm của lịch sử Trong từng giai đoạn của lịch sử, tôn giáo có sự biến đổi cho phù hợp với kết cấu chính trị và xã hội của thời đại
đó Thời đại thay đổi, tôn giáo cũng có sự thay đổi, điều chỉnh theo
Đến một giai đoạn lịch sử nhất định, khi con người nhận thức được bản chất các hiện tượng tự nhiên, xã hội, khi con người làm chủ được tự nhiên, xã hội, làm chủ được bản thân mình, và xây dựng được niềm tin cho mỗi con người thì tôn giáo sẽ không còn
Tính quần chúng của tôn giáo: Tôn giáo là nơi sinh hoạt văn hóa, tinh
thần của một số bộ phần quần chúng, nhân dân lao động Hiện nay số lượng tín đồ của các tôn giáo chiếm tỉ lệ khá cao trong dân số thế giới
Tuy tôn giáo phản ánh hạnh phúc hư hảo, song nó phản ánh khát vọng của những con người bị áp bức về một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái Bởi vì tôn giáo thường có tính nhân văn, nhân đạo, hướng thiện Vì vậy còn nhiều người ở trong các tầng lớp khác nhau của xã hội tin theo
Tính chính trị của tôn giáo: Tính chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện
khi xã hội đã phân chia giai cấp, các giai cấp chính trị đã lợi dụng tôn giáo để phục vụ lợi ích của mình
Trong thời kỳ công xã nguyên thủy, tôn giáo chỉ phản ánh nhận thức hồn nhiên, ngây thơ của con người về bản thân và thế giới xung quanh mình Nhưng khi xuất hiện giai cấp thì tôn giáo thường phản ánh giai cấp và đấu tranh giai cấp
Trang 31Trong nội bộ các tôn giáo cuộc đấu tranh giữa các dòng, hệ, phái nhiều khi cũng mang tính chính trị Trong những cuộc đấu tranh ý thức hệ, thì tôn giáo thường là một bộ phận của đấu tranh giai cấp.
Chức năng của tôn giáo:
Chức năng thế giới quan: Mỗi tôn giáo, khi trở thành một tôn giáo đích
thực đều phải trả lời câu hỏi: Thế giới này là gì? Do đâu mà có? Vận hành theo quy luật nào? Đằng sau cái thế giới hữu hình này là gì? Có thể nhận thức được không? Dù phản ánh hư ảo thế giới khách quan nhưng tôn giáo luôn
có kỳ vọng đáp ứng nhu cầu của con người về nhận thức
Khi phản ánh một cách hư ảo hiện thực, tôn giáo có tham vọng tạo ra một bức tranh của mình về thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức của con người dưới một hình thức phi hiện thực Bức tranh tôn giáo ấy bao gồm hai
bộ phận: thế giới thần thánh và thế giới trần tục và trên cơ sở đó mà tôn giáo giải thích các vấn đề của tự nhiên cũng như xã hội Sự lý giải của tôn giáo về thế giới nhằm hướng con người tới cái siêu nhiên, thần thánh, do đó nó đã xem nhẹ đời sống hiện thực Quan niệm này có thể tác động tiêu cực đến ý thức giáo dân, đến thái độ của họ đối với xung quanh
Chức năng đền bù hư ảo: Luận điểm nổi tiếng của C Mác: “Tôn giáo
là thuốc phiện của nhân dân” đã làm nổi bật chức năng đền bù hư ảo của tôn
giáo Giống như thuốc phiện, tôn giáo đã tạo ra cái vẻ bề ngoài của “sự giảm nhẹ” tạm thời những nỗi đau khổ của con người, an ủi cho những sự mất mát, thiếu hụt của con người trong cuộc sống
Chức năng đền bù hư ảo không chỉ là chức năng chủ yếu, đặc thù mà còn là chức năng phổ biến của tôn giáo Ở đâu có tôn giáo ở đó có chức năng đền bù hư ảo
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phức tạp, nó không chỉ thực hiện một chức năng mà gồm một hệ thống chức năng xã hội Mặc dù là chức năng
Trang 32chủ yếu nhưng chức năng đền bù hư ảo không thể tách rời các chức năng khác của tôn giáo
Chức năng điều chỉnh: Tôn giáo đã tạo ra một hệ thống các chuẩn mực,
những giá trị nhằm điều chỉnh hành của những con người có đạo Những hành
vi được điều chỉnh ở đây không chỉ là những hành vi trong thờ cúng mà ngay
cả trong cuộc sống hàng ngày trong gia đình cũng như ngoài xã hội của giáo dân Vì vậy, hệ thống chuẩn mực, giá trị trong lý thuyết đạo đức và xã hội mà tôn giáo tạo ra đã ảnh hưởng quan trọng đến mọi hoạt động của con người Tất nhiên ở đây chúng ta cần phải chú ý rằng những chuẩn mực, giá trị tôn giáo đã bị tước bỏ khá nhiều những đặc trưng khách quan và phụ thuộc vào những giá trị siêu nhiên, hư ảo
Chức năng giao tiếp: Chức năng giao tiếp của tôn giáo thể hiện khả
năng liên hệ giữa những người có chung một tín ngưỡng Sự liên hệ (giao tiếp) được thực hiện chủ yếu trong hoạt động thờ cúng, sự giao tiếp với thánh thần được coi là sự giao tiếp tối cao Ngoài mối liên hệ giao tiếp trong quá trình thờ cúng, giữa các giáo dân còn có sự giao tiếp ngoài tôn giáo như liên
hệ kinh tế, liên hệ cuộc sống hàng ngày, liên hệ trong gia đình Những mối liên hệ ngoài tôn giáo có thể lại củng cố, tăng cường các mối liên hệ tôn giáo của họ
Chức năng liên kết: Trong các xã hội trước đây, tôn giáo với tư cách là
bộ phận tất yếu trong cấu trúc thượng tầng đã đóng vai trò quan trọng của nhân tố liên kết xã hội, nghĩa là nhân tố làm ổn định những trật tự xã hội đang tồn tại, dựa trên những hệ thống giá trị và chuẩn mực chung của xã hội Tuy nhiên không nên quan niệm một cách sai lầm rằng tôn giáo bao giờ cũng là nhân tố liên kết xã hội chủ yếu, bảo đảm sự thống nhất của xã hội Sự thống nhất của xã hội trước hết được bảo đảm bởi hệ thống sản xuất vật chất xã hội chứ không phải bằng cộng đồng tín ngưỡng Hơn nữa trong những điều kiện
Trang 33xã hội nhất định, tôn giáo có thể biểu hiện như là ngọn cờ tư tưởng của sự chống đối lại xã hội, chống lại chế độ phản tiến bộ đương thời
Trên đây là hệ thống chức năng của tôn giáo, trong đó mỗi chức năng lại hàm chứa các chức năng khác
1.1.3 Những vấn đề tôn giáo trong một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo
a Xu hướng thống nhất trong đa dạng cùng tồn tại và phát triển
Toàn cầu hóa là sự mơ tưởng của tất cả các tôn giáo dù là tôn giáo có
bề dày lịch sử lâu đời hay là những tôn giáo mới xuất hiện trong thời gian gần đây Chẳng hạn như đạo Cao Đài ở Việt Nam ngay từ khi mới ra đời đã tuyên
bố là tôn giáo của nhân loại
Lịch sử đã chứng minh sự tồn tại và phát triển của một tôn giáo phụ thuộc rất nhiều vào sự bành trướng của thế lực chính trị có trong tay tiềm lực kinh tế nhất định Trong thời đại ngày nay, vấn đề toàn cầu hóa tôn giáo chủ yếu phụ thuộc vào chính sách bá quyền của một số cường quốc muốn gắn vấn
đề nhân quyền với tự do tôn giáo cho từng quốc gia, dân tộc
Chính quá trình toàn cầu hóa này đã làm cho một quốc gia, dân tộc không chỉ có một tôn giáo độc tôn mà tồn tại xen kẽ, bình đẳng nhiều niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau Từ xu thế toàn cầu hóa đã dẫn đến xu thế đa dạng hóa tôn giáo Ngày nay, trình độ dân trí được nâng cao, không gian xã hội đã vượt ra khỏi ngưỡng quốc gia, dân tộc Con người không chỉ tiếp cận với một tôn giáo truyền thống mà còn giao lưu với nhiều tôn giáo khác nhau
Sự tiếp cận ấy không hề thụ động mà có tính chọn lọc, tiếp thu tiến bộ Từ đó dẫn đến phân hóa, khô đạo, nhạt đạo trong các tín đồ tôn giáo và làm nảy sinh hiện tượng song hành tôn giáo trong một con người Nghĩa là trong một cá nhân cùng lúc tồn tại nhiều tôn giáo
Trong bối cảnh đó, các tôn giáo phải có sự thay đổi cho phù hợp với nhau, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể để cùng tồn tại và phát triển Đồng
Trang 34thời, nhà nước phải có những biện pháp quản lý đảm bảo cho các tôn giáo phát triển bình đẳng và ổn định Hoa Kỳ và Singapore là một trong những quốc gia thực hiện tốt công tác này
Hoa Kỳ là một trong số ít các quốc gia trên thế giới mà trong đó hiện diện đầy đủ các giáo hội tôn giáo lớn nhỏ, các giáo phái cũ mới đủ loại, với nhiều loại quan điểm, khuynh hướng từ bảo thủ đến cấp tiến, thậm chí là cực đoan Ở đất nước này, người ta thấy tất cả các tôn giáo thế giới cũng như các tín ngưỡng bản địa cùng chung sống, cùng cạnh tranh trong xã hội thị trường đặc trưng kiểu Mỹ, đó là các Giáo hội Tin lành, Giáo hội Công giáo, Chính Thống giáo, Do Thái giáo, Islam giáo, Ấn Độ giáo, Sikh giáo, Phật giáo, Baha’i giáo, Đạo giáo, tôn giáo tín ngưỡng bản địa của người Indian, các tôn giáo mới, v.v… Sự đa nguyên tôn giáo ở Hoa Kỳ là kết quả của quá trình phát triển lịch sử của đất nước này Dân cư Hoa Kỳ, ngoài những người Indian (thổ dân Da đỏ), là những người di cư và hậu duệ của họ thuộc các chủng tộc, dân tộc khác nhau từ các nước châu Âu, châu Á, châu Phi Họ là những tín đồ của các tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau và khi đến Hoa Kỳ họ mang theo cả tôn giáo, tín ngưỡng của mình Quá trình di cư đó diễn ra trong lịch sử và cho đến ngày nay vẫn đang tiếp tục Do vậy, bức tranh tôn giáo Hoa Kỳ đã đa dạng, nay càng thêm đa dạng Một đặc điểm khác của tình hình tôn giáo ở Hoa Kỳ là tuy số lượng các tổ chức tôn giáo rất nhiều, nhưng không có một giáo hội tôn giáo nào được thừa nhận là giáo hội chiếm địa vị thống trị - hay còn gọi là quốc giáo Đặc điểm này đã được C.Mác và Ph Ăngghen nhận xét
ngay từ thế kỉ XIX trong tác phẩm “Gia đình thần thánh” Hai ông viết: “…
Tôn giáo được phát triển một cách toàn diện trên thực tế chỉ ở những nơi mà
ở đó không có bất kì một tôn giáo nào được ưu đãi Ngoài ra, trên bức tranh
đa nguyên tôn giáo ở Hoa Kỳ còn có một mảng màu của những “người không tôn giáo”
Trang 35Cũng như Hoa Kỳ, Singapore là một xã hội di dân Việc thông qua tín ngưỡng, tôn giáo từ nước gốc đem đến để duy trì một sợi dây liên kết văn hoá
là điều rất tự nhiên Do vậy, quan hệ giữa tôn giáo và sắc tộc ở Singapore khá mật thiết Trong quá trình phát triển nền kinh tế và xã hội ở Singapore, điều kiện tồn tại của tôn giáo truyền thống đã biến đổi làm cho một mặt là tính khoan dung, tính nhân từ tôn giáo và sự coi trọng hoà bình yên ổn được phát triển và mặt khác là sự bất đồng giữa các tôn giáo và các giáo phái về các vấn
đề như giáo lý, giới luật, sự tranh chấp về tín đồ… được kiềm chế Do đó, có thể gác lại những khác biệt để tìm thấy cái chung, điều hoà tốt quan hệ Ở Singapore không chỉ tồn tại các loại tôn giáo mà các hệ phái của các tôn giáo lớn cũng có thể tìm thấy dấu vết của mình ở đây, các tôn giáo và hệ phái có thể cùng tồn tại hoà bình là nhờ tình hình đất nước Singapore: là một xã hội di dân, là một nước nhỏ đất hẹp, người không đông nhưng là một xã hội hiện đại, kinh tế phát triển, giáo dục tiên tiến Điều đó làm cho mỗi người dân Singapore, dù là tin theo tôn giáo nào, thuộc về dân tộc nào, về tâm lý, tư tưởng và hành vi đều nhìn thẳng vào hiện thực này Quan niệm chính trị của cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu trước đây về “3S” là: Sinh tồn (Survival), An ninh (Sercurity), Thành công (Success) đã đi sâu vào trong lòng người Một ý thức lo toan cho nước, cho dân thường có thể du nhập vào quan niệm tôn giáo của các tín đồ yêu nước Chính phủ Singapore nhận thức rằng đa dạng về tôn giáo và dân tộc là tình hình cơ bản của Singapore, xử lý vấn đề tôn giáo phù hợp thì nhân dân các dân tộc sẽ đoàn kết, xã hội sẽ ổn định; xử lý không hợp
lý thì xã hội sẽ xuất hiện những nhân tố bất ổn định Singapore cho rằng chỉ
có thể thông qua chính sách tôn giáo đúng đắn và tạo ra quan niệm giá trị chung để làm cho khuynh hướng ly tâm đi tới nhất trí Đồng thời nhận thức được rằng tôn giáo có mặt tích cực của nó, đối với một người nó có vai trò cảm hoá đạo đức; về mặt phát triển sự nghiệp phúc lợi và sự nghiệp giáo dục, giáo hội có thể đóng góp cho xã hội Do nhận thức được rằng sự hài hoà giữa
Trang 36các tôn giáo không phải tự nhiên mà có, cho nên Chính phủ đã coi trọng công tác tôn giáo, chú ý đến quan hệ tôn giáo, tăng cường hướng dẫn tôn giáo, thông qua việc chế định chính sách và để thực hiện công tác quản lý hoạt động tôn giáo Chính phủ cũng đã xử lý tốt mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị, kiên trì tách biệt giữa chính trị và tôn giáo là nguyên tắc cơ bản để chế định chính sách tôn giáo ở Singapore vì họ cho rằng một nước đa dạng về tôn giáo, một khi tôn giáo can dự vào chính trị thì mặt khoan dung, hoà bình trong đặc tính văn hoá của nó sẽ bị ức chế, sẽ ảnh hưởng tới cùng tồn tại hoà bình giữa các tôn giáo
b Xu hướng đấu tranh, xung đột giữa các tôn giáo hoặc giữa các hệ phái trong cùng một tôn giáo
Tôn giáo xuất hiện rất sớm từ thời thượng cổ như một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh Trong các cộng đồng cổ đại, đều tồn tại những tín ngưỡng hay tôn giáo bản địa Con người cần niềm tin và sức mạnh tinh thần trước quá nhiều hiểm hoạ đe doạ sự tồn tại của mình Tôn giáo ra đời không phải là sự phản ứng bằng bạo lực trước những đe doạ đó Xuất phát điểm của các tôn giáo đều bắt đầu bằng con đường phi bạo lực Đa phần quá trình tôn giáo đều diễn ra một cách hoà bình Xung đột tôn giáo xuất hiện muộn hơn và không liên quan đến nguyên nhân hình thành tôn giáo Hầu hết các tôn giáo đều hướng con người tới một thế giới siêu nhiên mà ở đó không
có xung đột và bạo lực Trên phương diện giáo lí, không tôn giáo nào khuyến khích xung đột và chủ trương giải quyết xung đột bằng bạo lực Tinh thần này được phản ánh cả trong nội dung lẫn phương cách thực hiện Tôn giáo dạy con người phải biết tha thứ và thương yêu nhau - một khái niệm khác với mâu thuẫn và hằn thù vốn là cơ sở của xung đột Điều quan trọng, tôn giáo hướng con người tới lòng nhân ái - một quan điểm và thái độ cần thiết để ngăn chặn
và giải quyết xung đột Tôn giáo cũng có thái độ phi đấu tranh khi khuyên con người phải biết chấp nhận thực tại Tôn giáo cũng không chủ trương phổ biến
Trang 37các giá trị và niềm tin của mình bằng công cụ bạo lực như quân đội và vũ khí Tôn giáo phát triển được qua biên giới chủ yếu nhờ những giá trị nhân bản đáp ứng được nhu cầu tâm lí chung của con người Thái độ phi bạo lực của tôn giáo đã đem lại sức sống cho nó trong các cộng đồng vốn luôn bị đè nặng bởi xung đột và bạo lực Xung đột tôn giáo không xuất phát từ bản chất tôn giáo mà xuất phát từ các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, sự đa dạng tôn giáo chứa đựng tiềm năng xung đột Các tôn giáo thường có thế giới quan và nhân sinh quan khác nhau Đó là cơ sở tạo nên những hệ thống giá trị tinh thần, quan niệm đạo đức và các niềm tin tuyệt đối khác nhau giữa các tôn giáo Một hệ thống giá trị và niềm tin như vậy thường khiến tín đồ đặt trọn lòng tin vào tôn giáo đó Đó là tâm lí độc quyền tôn giáo và thái độ phủ nhận tôn giáo khác Tín điều tôn giáo thường được coi
là thiêng liêng nên dễ nhạy cảm với giáo lí và quan niệm của tôn giáo khác Những tín điều không phù hợp với tôn giáo đó dễ bị coi là báng bổ và từ đó làm nảy sinh bất đồng tôn giáo Tôn giáo dễ trở thành nguồn xung đột chính bởi sự đa dạng tôn giáo Ít nhất, đa dạng tôn giáo cũng góp phần tạo thêm ranh giới trong một thế giới vốn đã khá chia rẽ với sự hình thành những cộng đồng tôn giáo và lãnh địa tinh thần riêng Nguy cơ xung đột này càng tăng lên bởi xu hướng bành trướng của nhiều tôn giáo Sự cạnh tranh giáo dân và lãnh địa nhiều khi trở thành nguyên nhân xung đột trực tiếp giữa các tôn giáo Tuy nhiên, dù nhiều xung đột mang màu sắc tôn giáo nhưng thực ra xuất phát chủ yếu từ xung đột giữa các cộng đồng văn hoá khác nhau mà tôn giáo chỉ là một trong số đó Mặc dù xu hướng độc tôn tôn giáo là có thể, song sự chuyển biến thành thái độ kì thị và xung đột tôn giáo lại xuất phát từ một số người thực hành tôn giáo chứ không phải từ bản chất tinh thần tôn giáo Tinh thần tha thứ
và lòng nhân ái đã góp phần ngăn cản xu hướng độc tôn bằng con đường bạo lực
Trang 38Thứ hai, trong nhiều tôn giáo lớn thường có các giáo phái khác nhau
Sự phân chia này hoặc do những bất đồng giáo lí (Công giáo với Chính Thống giáo và Tin Lành), mâu thuẫn về địa vị và tổ chức (Sunni, Shi’ite hay Harijit của Hồi giáo) hoặc sự phân nhánh và biến đổi qua quá trình địa phương hoá (Tiểu thừa, Đại thừa và các giáo phái nhỏ hơn của Phật giáo) Sự bất nhất dẫn đến bất đồng, bất đồng dẫn đến mâu thuẫn, mâu thuẫn tạo ra xung đột Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của tôn giáo là sự xuất hiện yếu
tố chính trị trong tôn giáo do chi phối của môi trường kinh tế - chính trị - xã hội và sự tác động của yêu cầu tổ chức Sự tranh chấp địa vị trung tâm giữa các giáo phái đã góp thêm nguyên nhân phi tôn giáo vào kiểu dạng xung đột tôn giáo này
Thứ ba, tôn giáo được coi là nguồn của xung đột còn bởi những liên hệ
về mặt giá trị với các nguyên nhân xung đột khác, đặc biệt là xung đột lãnh thổ và sắc tộc Trong quá trình phát triển, nhiều giá trị tôn giáo đã kết hợp với những yếu tố bản địa, trở thành bộ phận không tách rời trong hệ thống giá trị cộng đồng và góp phần tạo nên bản sắc cộng đồng Trong chừng mực nào đó, tôn giáo đóng vai trò như một sợi dây liên kết cộng đồng nên dần dần chúng hoà trộn với các giá trị quốc gia, dân tộc Bởi mối liên hệ như vậy và với tư cách là giá trị cộng đồng, tôn giáo thường dễ bị lôi kéo vào trong các xung đột lãnh thổ hay sắc tộc nhằm kích thích chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa dân tộc Điều này đôi khi tạo nên suy nghĩ cho rằng đây là xung đột tôn giáo
Thứ tư, đó là mâu thuẫn giữa tôn giáo và thế tục Thực ra, bản chất của mâu thuẫn này cũng gần giống mâu thuẫn trong quan niệm và niềm tin giữa các tôn giáo khác nhau Về mặt nào đó, tôn giáo ra đời nhằm cải biến thực tại theo quan niệm và cách thức riêng của mình Trong khi đó, thực tế lại đa dạng
và phức tạp hơn nhiều những gì tôn giáo quan niệm Vì thế, bất đồng về quan niệm, trái ngược về niềm tin là khó tránh khỏi Xung đột tôn giáo - thế tục hiện diện khá nhiều trong lịch sử và được thể hiện trên nhiều khía cạnh đời
Trang 39sống khác nhau như chính trị, xã hội và văn hoá Chính vì mâu thuẫn này mà các tôn giáo khi mới ra đời đều gặp không ít khó khăn để có được chỗ đứng trong đời sống cộng đồng Nhiều tôn giáo hoặc bị coi là bất hợp pháp hoặc thậm chí bị đàn áp như Công giáo chẳng hạn Để tồn tại, nhiều tôn giáo phải dựa vào bạo lực Xung đột tôn giáo - thế tục càng gay gắt Tuy nhiên, loại xung đột này không đơn thuần chỉ xuất phát từ các tôn giáo mà còn cả từ phía chính quyền thế tục Khi thần quyền nắm chính quyền, đó có thể là sự phân biệt đối xử hoặc sự kì thị tôn giáo khác
Thứ năm, rất nhiều xung đột tôn giáo xảy ra do liên quan đến chính trị Trong lịch sử tôn giáo, sự liên quan với chính trị đã đem lại cả nguyên nhân lẫn điều kiện cho xung đột tôn giáo Là điều kiện khi chính trị được tôn giáo
sử dụng để phát huy thế lực và ảnh hưởng Là nguyên nhân khi chính trị sử dụng tôn giáo để thực hiện mục tiêu của mình Mâu thuẫn tôn giáo được chính trị tiếp sức đã bị trầm trọng thêm Ngược lại, mâu thuẫn chính trị đi cùng tôn giáo lại tạo nên xung đột tôn giáo
1.2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam
1.2.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc
Trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách dân tộc là nhất quán theo nguyên tắc “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển”
Bình đẳng giữa các dân tộc trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội
Bình đẳng giữa các dân tộc là nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc Các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp đều ngang nhau về quyền lợi và nghĩa vụ trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội Quyền bình đẳng giữa các dân tộc được bảo đảm bằng pháp luật
Trang 40Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, trước hết là quyền bình đẳng về chính trị, chống mọi biểu hiện chia rẽ kỳ thị dân tộc, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, tự ty dân tộc,… Quyền bình đẳng về kinh tế đảm bảo sự bình đẳng trong quan hệ lợi ích giữa các dân tộc Nhà nước có trách nhiệm giúp các dân tộc có kinh tế chậm phát triển để cùng đạt trình độ phát triển chung với các dân tộc khác trong cả nước Bình đẳng về văn hoá, xã hội đảm bảo cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc, làm phong phú, đa dạng nền văn hoá Việt Nam
Do phần lớn các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay có trình độ phát triển thấp, nên bên cạnh việc bảo đảm quyền bình đẳng toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội cần phải tạo điều kiện thuận lợi để cho đồng bào các dân tộc thiểu số có cơ hội phát triển bình đẳng với các dân tộc khác Sự quan tâm tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển, đó chính là thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc
Đoàn kết các dân tộc
Các dân tộc Việt Nam đã cùng chung sống lâu đời, gắn bó máu thịt với nhau, no đói có nhau, vinh nhục bên nhau, đồng cam cộng khổ, sống chết một lòng cùng nhau dựng nước và giữ nước Truyền thống đoàn kết đó được gìn giữ và phát triển trong suốt tiến trình hàng ngàn năm lịch sử, gắn kết các dân tộc chung sức xây dựng Tổ quốc Việt Nam thống nhất
Đoàn kết dân tộc được xác định là một nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Đoàn kết dân tộc được quán triệt xuyên suốt trong các giai đoạn cách mạng Việt Nam Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc đang phát huy truyền thống đoàn kết tốt đẹp, cùng nhau xây dựng đất nước với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh và tiến bộ