1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giới thiệu văn học việt nam cho người nước ngoài

132 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở tham khảo kết quả nghiên cứu và các bộ giáo trình Lịch sử Văn học Việt Nam của những người đi trước, công trình Giới thiệu Văn học Việt Nam cho người nước ngoài tập trung giớ

Trang 1

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NCKH

(Do P.QLKH-DA ghi)

Tham gia thực hiện

Điện thoại Email

1 TS Trần Thị Mai

Nhân

Chủ nhiệm

091620949

0

tran_mainhan09@ yahoo.com.vn

C Trường Đại học KHXH&NV

Trang 2

Trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TPHCM; Phòng Quản lý Khoa học – Dự án, Ban Chủ nhiệm khoa Việt Nam học đã tài trợ kinh phí và tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi hoàn thành công trình này

TPHCM ngày 07 tháng 9 năm 2013

Chủ nhiệm đề tài

Trần Thị Mai Nhân

Trang 3

MỤC LỤC

DẪN NHẬP 01

CHƯƠNG 1: VĂN HỌC VIỆT NAM – MỘT CÁI NHÌN CHUNG 03

1.1 Những bộ phận cấu thành .03

1.2 Cách phân kỳ văn học .05

1.3 Những đặc điểm cơ bản .08

CHƯƠNG 2: VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM .41

2.1 Khái niệm văn học dân gian……… 41

2.2 Những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian Việt Nam 41

2.2 Ảnh hưởng của văn học dân gian đến văn học viết .49

2.3 Các thể loại chính của văn học dân gian Việt Nam 60

CHƯƠNG 3: VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM .88

3.1 Những đặc điểm cơ bản .88

3.2 Văn học chữ Hán 94

3.3 Văn học chữ Nôm 101

3.3 Tác giả - tác phẩm tiêu biểu 102

KẾT LUẬN 125

TÀI LIỆU THAM KHẢO 127

PHỤ LỤC 129

Trang 4

TÓM TẮT

GIỚI THIỆU VĂN HỌC VIỆT NAM CHO

NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

Hiện nay, trong chương trình đào tạo bậc Cử nhân ngành Việt Nam học (cho đối

tượng là sinh viên nước ngoài), Văn học Việt Nam là một trong những môn học bắt buộc

Đây là môn học hay nhưng rất khó đối với sinh viên nước ngoài, do sự hạn chế về khả

năng ngôn ngữ Trên cơ sở tham khảo kết quả nghiên cứu và các bộ giáo trình Lịch sử

Văn học Việt Nam của những người đi trước, công trình Giới thiệu Văn học Việt Nam cho người nước ngoài tập trung giới thiệu những vấn đề cơ bản của Văn học Việt Nam,

từ văn học dân gian đến văn học Trung đại Cụ thể, nội dung công trình được sắp xếp thành 3 chương như sau:

Chương 1: Văn học Việt Nam – một cái nhìn chung: Chương này trình bày những thành phần cấu tạo, phân kỳ văn học, những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam

Chương 2: Văn học dân gian Việt Nam: Chương này giới thiệu những đặc trưng

của văn học dân gian, những thể loại chính của văn học dân gian Việt Nam và một số tác phẩm tiêu biểu

Chương 3: Văn học trung đại Việt Nam (từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX): Chương

này giới thiệu những đặc điểm cơ bản của văn học trung đại, văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm và một số tác giả tác phẩm tiêu biểu

Ngoài ra, công trình còn có phần Phụ lục, giới thiệu niên biểu lịch sử văn học Việt Nam (từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX)

Trang 5

ABSTRACT

INTRODUCTION VIETNAMESE LITERATURE

FOR FOREIGNERS

Currently, in the training for Vietnamese Bachelor of school (for an audience of

foreign students), Vietnamese Literature is one of the compulsory subjects This is a

good subject but it is difficult for foreign students, due to limited language skills On the

basis of reference to the research results and the syllabus Vietnamese literature History

of the previous studies, Introduction Vietnamese Literature for foreigners focus on

introducing the basics of Vietnamese literature, from folk literature to medieval literature Specifically, the content is organized into the following three chapters:

Chapter 1: Vietnamese Literature - an overview: This chapter presents the composition, the division of literary periods, the basic characteristics of Vietnamese literature

Chapter 2: Vietnamese Folk Literature: This chapter introduces the characteristics

of Vietnamese Folk Literature, the category of Vietnamese Folk Literature and some typical works

Chapter 3: Vietnamese medieval Literature (from the 10th century to the end of the 19th century): This chapter introduces the basic characteristics of Vietnamese medieval literature, Han characters literature, Nom characters literature and some authors typical works

In addition, the work also introduces the Chronicle of Vietnamese literary history (from the 10th century to the early of the 20th century)

Trang 6

DẪN NHẬP

Từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc đến nay, nhân dân Việt Nam không ngừng đấu tranh chống thiên tai, địch họa; cần cù lao động để tô thắm và gìn giữ non sông, đất

nước bền vững đến muôn đời Chính vì vậy, khi viết về Lịch sử Việt Nam, các tác giả đã

không giấu được tự hào mà khẳng định rằng: “Đất nước này, dân tộc này cũng như cậu

bé làng Gióng, vừa mới có ý thức thì hai vai đã gánh nặng hai nhiệm vụ: làm ăn và đánh giặc Và chính vì vậy mà dân tộc Việt Nam sớm đã được tôi luyện trong ý thức dựng nước và giữ nước, hai mặt này gắn bó với nhau, thể hiện cụ thể trong tư thế vừa sản xuất vừa chiến đấu Đó là hai mặt cơ bản nhất trong nội dung “đời sống xã hội của nhân dân ta”1

Do tồn tại và phát triển gắn liền với lịch sử dân tộc – một lịch sử dài, nhiều biến đổi thăng trầm nên văn học Việt Nam cũng trải qua nhiều biến đổi thăng trầm và có sự giao lưu, tiếp nhận ảnh hưởng từ nhiều hệ tư tưởng lớn và nhiều nền văn học lớn Nhưng với bề dày lịch sử văn hóa, với một nội lực riêng, văn học Việt Nam không ngừng vươn lên, khẳng định được bản sắc riêng của mình và luôn tìm tòi đổi mới, hòa vào dòng chảy chung của văn học thế giới

Thực hiện công trình này, chúng tôi muốn cung cấp cho sinh viên, các nhà nghiên cứu nước ngoài một cái nhìn tổng quát về lịch sử văn học Việt Nam, những tác giả tác phẩm tiêu biểu Trên cơ sở đó, những người quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu văn học Việt Nam có thể đi sâu tìm hiểu những vấn đề về đặc điểm văn học, tiến trình vận động, tác giả, tác phẩm… trong tương quan so sánh với văn học của các quốc gia có những điểm tương đồng về văn hóa, lịch sử Qua công trình, bạn đọc nước ngoài cũng hiểu sâu sắc hơn về lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam

Vì thời gian có hạn nên trong công trình này, chúng tôi chỉ giới thiệu những vấn

đề chung về Lịch sử văn học Việt Nam (các thành phần cấu tạo, vấn đề phân kỳ văn học, những đặc điểm cơ bản), Văn học dân gian Việt Nam và Văn học trung đại Việt Nam Phần giới thiệu Văn học hiện đại Việt Nam, chúng tôi sẽ thực hiện trong một công trình

khác

Nội dung công trình được cấu trúc gồm 3 chương:

Trang 7

Chương 1: Văn học Việt Nam – Một cái nhìn chung

Chương này trình bày những vấn đề chung về lịch sử Văn học Việt Nam như:

những bộ phận cấu thành phần, vấn đề phân kỳ văn học, những đặc điểm cơ bản

Chương 2: Văn học dân gian Việt Nam

Chương này trình bày những vấn đề cơ bản về Văn học dân gian Việt Nam như:

khái niệm văn học dân gian, những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian, quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết và các thể loại chính của văn học dân gian Việt Nam

Chương 3: Văn học Trung đại Việt Nam

Trong chương này, chúng tôi giới thiệu hai bộ phận văn học chính: văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm; những đặc điểm cơ bản của văn học Trung đại và một số tác giả tác phẩm tiêu biểu: Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông và Hội Tao đàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Đình Chiểu

Ngoài ra, công trình còn có phần Phụ lục giới thiệu Niên biểu Lịch sử văn học Việt Nam

1 Dẫn theo Lê Trí Viễn, Giáo trình tổng quan văn chương Việt Nam, Nxb Giáo dục, 2005, tr.10 -11

Trang 8

Chương 1: VĂN HỌC VIỆT NAM - MỘT CÁI NHÌN CHUNG

Tuy nhiên, quá trình vận động, phát triển của văn học Việt Nam cũng vì thế mà trở nên phức tạp Vì vậy, tìm hiểu lịch sử văn học Việt Nam, chúng ta cần phải tìm hiểu trên nhiều phương diện, từ những bộ phận văn học cấu thành, cách phân kỳ văn học cho đến những đặc điểm cụ thể, mang tính đặc trưng

1 NHỮNG BỘ PHẬN CẤU THÀNH

1.1 Văn học dân gian và văn học viết:

Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam được bắt đầu và kết tinh trên cơ sở lời ăn, tiếng nói – những sản phẩm

tinh thần của nhân dân Khi xã hội phát triển, khi con người đã có phương tiện ghi lại những cảm xúc, suy nghĩ, quan niệm… của mình, văn học thành văn mới ra đời Vì vậy,

văn học Việt Nam được cấu tạo từ hai thành phần văn học chính: văn học dân gian và văn học viết Cách xác định này dựa trên phương thức sáng tác và lưu truyền của văn học

(truyền miệng và thành văn)

Văn học dân gian Việt Nam ra đời từ rất sớm và tồn tại cho đến ngày nay Từ lâu,

dân tộc Việt Nam đã xem văn học dân gian là nền tảng, là cơ sở để phát triển nền văn học viết Văn học dân gian là nơi kết tinh những nguồn tư tưởng lớn (yêu nước, nhân đạo, thẩm mĩ), là nơi kết tinh những tình cảm lớn (tình yêu quê hương, tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa…) Văn học dân gian cũng là kho tàng tri thức, là kho kinh nghiệm sống đã được nhân dân lao động đúc kết qua hàng ngàn năm Từ thuở còn thơ, dường như mỗi con người Việt Nam đều được tắm mình trong bầu không khí của ca dao dân ca, của những câu chuyện cổ tích, qua lời kể của bà, lời ru à ơi của mẹ Chính vì vậy, văn học dân gian đã trở thành bầu sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn của con người Việt Nam

1 Văn học dân gian

Trang 9

qua nhiều thế hệ Đó là lý do vì sao, khi đã có văn học viết, văn học dân gian vẫn tồn tại

và phát triển Không những vậy, văn học dân gian còn có ảnh hưởng rất lớn đến văn học viết Sự thâm nhập, hòa quyện của văn học dân gian vào văn học viết qua từng thời kỳ đã khiến cho bộ phận văn học này trở nên gần gũi hơn, thiêng liêng hơn và mang đậm tính dân tộc hơn

Văn học viết Việt Nam chính thức ra đời từ thế kỷ X và ngày càng phát triển, giữ

vai trò quan trọng trong nền văn học dân tộc Thành phần văn học này bao gồm văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm, văn học chữ Quốc ngữ và một bộ phận rất ít văn học viết bằng chữ Pháp (Bộ phận văn học này xuất hiện vào những năm 20 của thế kỷ XX, do các

tác giả Việt Nam sáng tác trong nước hoặc nước ngoài như Nguyễn Văn Xiêm, Phạm Văn Ký, Nguyễn Phan Long, Nguyễn Ái Quốc… Trong đó, Nguyễn Ái Quốc được xem

là “một trong những nhà văn Pháp ngữ Việt Nam không những sớm nhất mà còn thành công nhất” (Alain Guillemin – chuyên gia hàng đầu của Pháp về văn học Pháp ngữ ở Việt

Nam) Những tác phẩm tiêu biểu viết bằng tiếng Pháp của Nguyễn Ái Quốc là truyện, ký

và tiểu phẩm, sáng tác trong thời gian tác giả sống và hoạt động cách mạng trên đất Pháp: Paris, Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Con người biết mùi hun khói (1922), Vi hành

(1923), Những trò lố hay Varen và Phan Bội Châu (1925), Bản án chế độ thực dân Pháp

(xuất bản 1925 – 1926) v.v… Sự có mặt của bộ phận văn học viết bằng chữ Pháp đã góp phần làm phong phú hơn cho văn học Việt Nam) Sở dĩ có nhiều bộ phận văn học như vậy là do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của Việt Nam Trong quá trình dựng nước và giữ nước, Việt Nam luôn bị ngoại xâm đe dọa, luôn đứng trước nguy cơ bị “đồng hóa”

1.2 Văn học dân tộc Kinh và văn học các dân tộc ít người:

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Ngoài dân tộc Kinh (chiếm 80% dân số) chủ yếu sống ở đồng bằng, Việt Nam còn có trên 50 dân tộc anh em sống rải rác khắp nơi trên đất nước Việt Nam, chủ yếu là các vùng miền núi Mỗi dân tộc có một tiếng nói riêng, có một nền văn học riêng, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học Việt Nam Xét

trên đặc điểm này, văn học Việt Nam được cấu tạo bởi hai thành phần chính: Văn học của người Kinh và văn học của các dân tộc ít người Trong đó, văn học của người Kinh phát

triển cao hơn, đạt nhiều thành tựu rực rỡ hơn Nhiều tác phẩm văn học của người Kinh

xứng đáng được xem là kiệt tác, là những áng “thiên cổ hùng văn” (Truyện Kiều, Bình Ngô đại cáo…) Nhiều tác giả văn học của người Kinh trở thành danh nhân văn hóa của

Trang 10

Việt Nam và thế giới (Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh…) Vì vậy, trong lịch sử văn học Việt Nam, văn học của người Kinh giữ vai trò chủ đạo

Tuy nhiên, làm nên sự phong phú, đa dạng cho văn học Việt Nam không thể không kể đến vai trò của bộ phận văn học các dân tộc thiểu số Phần lớn, những tác phẩm

có giá trị của bộ phận văn học này đều thuộc thành phần văn học dân gian Điều đặc biệt

là bộ phận văn học của các dân tộc thiểu số đã đóng góp cho văn học Việt Nam những tác

phẩm sử thi có giá trị (bộ phận văn học của người Kinh không có tác phẩm thuộc thể loại này) Đó là Sử thi Đam San, Xinh Nhã, Đam Di của dân tộc Ê đê (Tây Nguyên); mo Đẻ đất đẻ nước của người Mường (Thanh Hóa, Hòa Bình)… hay các truyện thơ Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xôn xao) của dân tộc Thái ở Tây Bắc; Vượt biển (Khăm hải) của dân

tộc Tày Nùng ở Việt Bắc v.v…

Nền văn học viết của các dân tộc ít người hình thành và phát triển sau 1945, chủ yếu viết bằng chữ quốc ngữ Cho đến nay, nhiều cây bút trong nền văn học viết của các dân tộc thiểu số đã vươn lên, để lại dấu ấn trong nền văn học Việt Nam như: Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Y Phương, Vi Hồng, Bạc Văn Ùi v.v…

2 CÁCH PHÂN KỲ VĂN HỌC

Mục đích của việc phân kỳ lịch sử văn học một dân tộc là để nhìn thấy được quá trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc đó Lịch sử văn học Việt Nam có quá trình phát triển khá phức tạp, gắn liền với những bước thăng trầm của lịch sử Vì vậy, vấn đề phân định các giai đoạn phát triển của lịch sử văn học Việt Nam cũng khá phức tạp, thường gây ra những ý kiến trái ngược nhau Tuy nhiên, về cơ bản, có thể tìm ra sự thống

nhất trong quan điểm của các nhà nghiên cứu văn học

Trước đây, trong giới nghiên cứu văn học tồn tại nhiều cách phân kỳ lịch sử văn học Việt Nam Có khi, người ta phân kỳ theo các triều đại phong kiến, và tên gọi của giai đoạn văn học thường là tên gọi của triều đại phong kiến đó Chẳng hạn, có thể phân định:

văn học đời Lý, văn học đời Trần- Hồ, văn học đời Lê, văn học triều Nguyễn v.v… Tất

nhiên, cách phân kỳ này chỉ tồn tại trong 10 thế kỷ văn học viết thời phong kiến

Trong thực tế, có khi người ta lại gọi tên các giai đoạn văn học theo thế kỷ Vì vậy, những thuật ngữ văn học thế kỷ X, văn học thế kỷ XV, văn học thế kỷ XVIII hay văn học thế kỷ XIX xuất hiện

Trang 11

Đặc biệt, cách phân kỳ văn học dựa trên các hình thái xã hội trong sự phát triển của lịch sử Việt Nam là cách phân kỳ được sử dụng phổ biến Theo quan điểm này, lịch

sử văn học Việt Nam được chia thành 4 giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất: Văn học Việt Nam trong buổi đầu mở nước và thời Bắc thuộc (thế kỷ X trở về trước)

Giai đoạn thứ hai: Văn học Việt Nam trong thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến độc lập (từ thế kỷ X đến năm 1858)

Giai đoạn thứ ba: Văn học Việt Nam từ thời Pháp thuộc đến khi giành được độc lập (từ năm 1858 đến khi cách mạng tháng Tám thành công – 1945)

Giai đoạn thứ tư: Văn học Việt Nam từ sau khi giành được độc lập, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (từ tháng 8/1945 đến nay)

Cách phân kỳ văn học này chủ yếu dựa trên cơ sở các mốc lịch sử quan trọng Ví

dụ mốc 1858 là mốc thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên vào cảng Đà Nẵng, mở đầu công cuộc xâm lược Việt Nam, nhưng về văn học, thời điểm này, văn học Việt Nam chưa

có sự chuyển biến về nội dung cũng như nghệ thuật, hay nói cách khác vẫn chưa thoát khỏi phạm trù văn học trung đại Vì vậy, các nhà nghiên cứu có sự thay đổi trong cách phân kỳ lịch sử văn học Việt Nam

Hiện nay, dựa vào mối quan hệ giữa văn chương với lịch sử, đặc biệt là căn cứ vào bản thân sự phát triển của văn học (về nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật, về quan niệm nghệ thuật…), các nhà nghiên cứu chia văn học viết Việt Nam thành ba thời kỳ lớn:

Thời kỳ thứ nhất: Văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX

Thời kỳ thứ hai: Văn học từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám – 1945 Thời kỳ thứ ba: Văn học từ sau Cách mạng tháng Tám – 1945 đến nay

Ba thời kỳ văn học này gắn liền với hai phạm trù lớn: Văn học trung đại và Văn

học hiện đại Trong đó, văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX (thuộc phạm trù trung

đại), phát triển trong sự giao lưu văn hóa, văn học với nhiều nước trong khu vực và chịu

ảnh hưởng sâu sắc nền văn học của các quốc gia đó, đặc biệt là văn học Trung Quốc Trong thời kỳ này, văn học Việt Nam đã tiếp thu ba hệ tư tưởng lớn: Phật giáo, Đạo giáo

và Nho giáo Về chữ viết, văn học Việt Nam thời kỳ này sáng tác bằng chữ Hán và chữ

Nôm nên còn gọi là nền văn học Hán – Nôm Văn học từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám – 1945 phát triển trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ nên có sự

Trang 12

giao lưu văn hóa, văn học với các nước phương Tây, đặc biệt là Pháp Tiếp thu ảnh hưởng của văn học Pháp và xuất phát từ nhu cầu đổi mới của công chúng văn học lúc bấy giờ, văn học Việt Nam thoát dần hệ thống thi pháp của văn học trung đại, bước vào con đường hiện đại hóa và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Vì vậy, văn học thời kỳ này thuộc

phạm trù văn học hiện đại Về chữ viết, các nhà văn, nhà thơ đã sử dụng chữ Quốc ngữ

để sáng tác văn học Văn học từ sau Cách mạng tháng Tám – 1945 đến nay phát triển

trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh (kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ)

và phát triển trong hoàn cảnh đất nước thống nhất, xây dựng hòa bình (1975 - nay) Do chịu sự chi phối của lịch sử, văn học thời kỳ này mang tính chất hoàn toàn khác với văn học thời kỳ trước (thời kỳ thứ 2) nhưng vẫn trong xu hướng hiện đại hóa nền văn học dân tộc nên vẫn thuộc phạm trù văn học hiện đại Đặc biệt, từ sau 1975, trong xu hướng mở cửa, giao lưu với thế giới, văn học Việt Nam đã có sự đổi mới đáng kể, có xu hướng hòa nhập vào dòng chảy của văn học hiện đại thế giới

Trang 13

Sơ đồ các thành phần cấu tạo của lịch sử văn học Việt Nam

3 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM

Tùy hoàn cảnh ra đời và phát triển mà nền văn học của mỗi dân tộc có những đặc điểm, đặc trưng riêng Không kể thành phần văn học dân gian, nền văn học viết Việt Nam

có lịch sử phát triển hơn mười thế kỷ (từ thế kỷ X đến nay) Mười thế kỷ văn học đó tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh lịch sử rất khác nhau Tuy nhiên, lịch sử phát triển của văn học vẫn mang những đặc điểm chung cơ bản

Trước đây, một số nhà nghiên cứu đã tiến hành khảo sát rất kỹ tiến trình vận động

và những thành tựu của văn học Việt Nam qua các thời kỳ, đồng thời cũng đã rút ra những đặc điểm cơ bản của lịch sử văn học Việt Nam Trong đó, đáng kể nhất là công

trình Đặc điểm lịch sử văn học Việt Nam của Giáo sư Lê Trí Viễn Đây là công trình có

cái nhìn bao quát về toàn bộ lịch sử văn học Việt Nam, từ văn học dân gian đến văn học viết (trung đại và hiện đại) Trong công trình này, tác giả đã phát hiện và lý giải một số đặc điểm cơ bản, có tính qui luật của lịch sử phát triển văn học Việt Nam

Trong phạm vi một công trình biên soạn nhằm phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu của đối tượng là người nước ngoài, chúng tôi chỉ giới thiệu ba đặc điểm, mà theo

Văn học người

Kinh

dân gian

Văn học các dân tộc ít người

Sân khấu dân gian

(Chèo, Tuồng đồ)

VH trung đại (từ TKX-XIX)

VH hiện đại (từ TK XX - nay)

VĂN HỌC VIỆT NAM

(Tục ngữ, câu đố)

Văn học chữ Nôm

Văn học chữ Quốc ngữ

Trang 14

chúng tôi, có thể cung cấp cái nhìn khái quát về đặc điểm của lịch sử văn học Việt Nam

Đó là:

- Văn học Việt Nam gắn bó chặt chẽ với lịch sử dân tộc Việt Nam

- Văn học Việt Nam luôn phản chiếu đời sống tâm hồn, tư tưởng tình cảm của con người Việt Nam

- Văn học Việt Nam phát triển với sự vận động của hai dòng tư tưởng lớn: yêu nước và nhân đạo

3.1 Văn học Việt Nam gắn bó chặt chẽ với lịch sử dân tộc Việt Nam

Có thể nói, trên thế giới, hiếm có dân tộc nào mà lịch sử dân tộc gắn liền với lịch

sử của những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm như dân tộc Việt Nam Bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, không phút nào nhân dân Việt Nam “lơi đi” thanh gươm chiến đấu Chính vì vậy, lịch sử ấy đã in dấu ấn rất đậm nét lên nền văn học dân tộc Có thể thấy rõ điều này qua từng thời kỳ phát triển của văn học Việt Nam (từ thời dựng nước đến nay)

Trước hết, trong văn học Việt Nam từ xưa đến nay đã xuất hiện một dòng văn học

đặc biệt mà không phải dân tộc nào cũng có – dòng văn học yêu nước, chống ngoại xâm

Ngay từ thời dựng nước, văn học dân gian Việt Nam đã lưu lại những câu chuyện kỳ lạ

về những vị anh hùng giàu lòng yêu nước, sẵn sàng xả thân vì đất nước mà không hề tính

toán thiệt hơn Câu chuyện về người anh hùng làng Gióng (truyện Thánh Gióng) là bài ca

bất hủ về tinh thần yêu nước Việt Nam Cậu bé làng Gióng được sinh ra một cách kỳ lạ, lớn lên một cách kỳ lạ và ra trận cũng rất kỳ lạ Lên ba tuổi không biết nói, biết cười nhưng nghe đất nước lâm nguy, cậu bé liền bật ra tiếng nói Và tiếng nói đầu tiên ấy lại là tiếng nói về lòng yêu nước, đòi đánh giặc cứu nước Kỳ lạ thay, sau khi đánh giặc và chiến thắng một cách oai hùng, tráng sĩ ấy đã bỏ lại tất cả, một mình một ngựa bay thẳng lên trời biến mất Đó là sự hy sinh cao cả, vô tư nhất của con người Việt Nam khi đất nước lâm nguy Họ sẵn sàng hy sinh mà không hề đòi hỏi Tổ quốc phải ghi công

Văn học viết thời trung đại đã phản ánh một cách chân thực và hùng hồn lịch sử Việt Nam thời phong kiến Đó là tinh thần đấu tranh quật cường của quân dân nhà Trần trong ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông Đó là những chiến thắng oanh liệt trên sông Như Nguyệt, là những trận thắng nơi ải Chi Lăng, trận Chương Dương, Hàm

Tử, Đống Đa… Qua những chiến công vang dội ấy, văn học khắc họa chân dung của

Trang 15

những con người Việt Nam với bản lĩnh và tinh thần Việt Nam Đó là những Bà Trưng,

Bà Triệu; những Nguyễn Trãi, Lê Lợi, Quang Trung v.v… để làm gương sáng soi mãi đến muôn đời sau

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, văn học lại làm nhiệm vụ

cổ vũ, động viên tinh thần quân dân Chủ nghiã yêu nước được phát huy cao độ trong văn học thời kỳ này Người đọc bắt gặp hình ảnh con người Việt Nam đủ mọi lứa tuổi, mọi giới tính (già, trẻ, gái, trai) cùng hăng hái lên đường Nội dung yêu nước trong văn học càng phong phú hơn với những bài ca ngợi ca lòng yêu nước của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam:

Ôi Việt Nam xứ sở lạ lùng!

Đến em thơ cũng hóa anh hùng Đến ong dại cũng luyện thành chiến sĩ

Và hoa trái cũng biến thành vũ khí

(Tố Hữu)

Mặt khác, mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa văn học Việt Nam với lịch sử dân tộc

Việt Nam còn thể hiện ở việc trong văn học Việt Nam tồn tại một mảng văn học đặc biệt: văn học được sáng tác trong tù Đó là những tác phẩm văn học được sáng tác bởi những

nhà văn, nhà thơ đồng thời là chiến sĩ Họ bị tra tấn, tù đày nhưng vẫn dùng văn học làm

vũ khí chiến đấu, tuyên truyền cách mạng Với những con người ấy, kẻ thù chỉ có thể giam cầm thân xác họ chứ không thể giam giữ được tâm hồn họ

Chính mảng thơ văn trong tù này đã góp phần làm phong phú hơn, sâu sắc hơn nội dung yêu nước và cách mạng trong văn học Việt Nam Những tác phẩm ra đời gắn liền với tù đày xương máu ấy đã trở thành những viên ngọc quí trong kho tàng văn học Việt

Nam: Hải ngoại huyết thư (Phan Bội Châu), Từ ấy (Tố Hữu), Nhật ký trong tù (Hồ Chí

sự “đồng hóa” ấy để giữ vững bản sắc văn hóa của dân tộc, mình Nhưng mặt khác, họ

Trang 16

vẫn tiếp thu những tinh hoa văn hóa ấy để làm giàu có cho vốn văn hóa của dân tộc mình,

trong đó có việc mượn chữ Hán làm văn tự chính trong giao tiếp cũng như trong sáng tác

văn học

Tóm lại, qua một số chi tiết nổi bật về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật của văn học qua nhiều thời kỳ, chúng ta có thể khẳng định trong quá trình phát triển, văn học Việt Nam gắn bó rất chặt chẽ với lịch sử dân tộc Việt Nam

3.2 Văn học phản chiếu đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của con người Việt Nam

Văn học là loại hình nghệ thuật đặc biệt – nghệ thuật ngôn từ Văn học mọi thời đại, mọi dân tộc đều lấy con người làm đối tượng trung tâm để phản ánh và biểu hiện Không có văn học đứng ngoài con người Vì vậy, tất cả đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm, quan điểm… của con người đều được phản chiếu vào tấm gương văn học, để qua

đó, đem lại cho người đọc những xúc cảm thẩm mĩ, những bài học về đạo đức, nhân sinh Nói đến chức năng của văn học, nhà văn M.X Gorki đã có một câu nói bất hủ: “Văn học

là nhân học” Quả thật, văn học là một khoa học nghiên cứu về con người

Văn học Việt Nam qua từng thời kỳ lịch sử đã phản ánh chân thực và sinh động đời sống tinh thần và phong cách thẩm mĩ của con người Việt Nam Qua văn học, người đọc có thể tìm thấy những nét đặc trưng nhất, nổi bật nhất về đời sống tâm hồn, tư tưởng,

tình cảm của con người Việt Nam như: yêu quê hương, đất nước; yêu gia đình; có ý thức trách nhiệm cao với cộng động, dân tộc; thông minh, cần cù; lạc quan; có tinh thần đoàn kết, nhân hậu, thủy chung v.v…

3.2.1 Yêu quê hương, đất nước; có ý thức trách nhiệm cao với cộng đồng, dân tộc

Đây là một phẩm chất đáng quí của con người Việt Nam Phẩm chất này đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ Từ xưa, tình yêu quê hương đất nước của con người Việt Nam đã được thể hiện rất phong phú qua văn học dân gian

Đó là lòng tự hào về phong cảnh xinh đẹp, hữu tình của mỗi miền đất nước Đó còn là ý

thức đoàn kết, là tinh thần chiến đấu chống ngoại xâm để bảo vệ đất nước (Thánh Gióng,

An Dương Vương xây thành Cổ Loa, Truyền thuyết về Hai Bà Trưng…)

Trong văn học trung đại, tình cảm yêu nước của con người Việt Nam được biểu hiện khá phong phú và sâu sắc Người Việt Nam từng dõng dạc khẳng định:

Sông núi nước Nam vua Nam ở

Trang 17

(Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)

Không những ý thức sâu sắc về chủ quyền, lãnh thổ; về văn hóa, truyền thống của dân tộc, con người Việt Nam còn sẵn sàng một tinh thần chiến đấu quật cường để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ ấy:

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!

(Sông núi nước Nam – Lý Thường Kiệt)

Lòng yêu nước của con người Việt Nam được phát huy cao độ và thể hiện sâu sắc trong văn học thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, trong xây dựng hòa bình và chủ nghĩa xã hội Đọc văn học thời kỳ này, người đọc dễ dàng nhận ra phẩm chất tốt đẹp

ấy qua hàng loạt những tác phẩm ngợi ca tinh thần ngoan cường, bất khuất của con người

Việt Nam: Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Tây Tiến của Quang Dũng, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Mẹ Suốt, Người con gái Việt Nam của Tố Hữu, Đất quê ta mênh mông của Dương Hương Ly, Hòn Đất của Anh Đức v.v… Chiến tranh có sức tàn phá rất

khốc liệt nhưng với lòng yêu nước sâu sắc, với ý chí ngoan cường, nhân dân Việt Nam vẫn vượt lên gian lao nguy hiểm để chiến đấu và chiến thắng

Có thể nói, tình cảm yêu nước và ý thức trách nhiệm đối với đất nước đã trở thành truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam Truyền thống ấy như âm vang trong từng mạch đất, luôn vọng về để nhắc nhở muôn đời con cháu mai sau:

Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất, Những buổi ngày xưa vọng nói về…

(Đất nước – Nguyễn Đình Thi)

Trang 18

3.2.2 Đoàn kết, ý thức gắn bó giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội:

Con người Việt Nam còn in dấu ấn vào văn học qua tinh thần đoàn kết, có ý thức gắn bó giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội Từ ngàn xưa, khi đất nước bị xâm lăng,

người dân đã thể hiện khát vọng có một vị anh hùng ra đánh giặc cứu nước Khi người anh hùng làng Gióng xuất hiện, nhân dân đã đóng góp lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu ăn “bảy nong cơm, ba nong cà” của cậu bé Đó cũng là bài học sâu sắc về tinh thần đoàn kết mà ông cha ngày xưa muốn nhắn gửi đến các thế hệ sau

Trong những năm tháng đất nước có chiến tranh, con người Việt Nam càng ý thức sâu sắc hơn về tinh thần đoàn kết, về vai trò của từng cá nhân đối với xã hội Đó chính là

một trong những yếu tố làm nên sức mạnh để chiến thắng kẻ thù Trong bài thơ Đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng), Nguyễn Khoa Điềm cũng đã thể hiện một cách

Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất nước muôn đời

(Nguyễn Khoa Điềm)

3.2.3 Nhân hậu, thủy chung:

Đây cũng là một trong những nét đẹp trong đời sống tâm hồn, tình cảm của con người Việt Nam Điều này có thể tìm thấy trong văn học Việt Nam, từ văn học dân gian đến văn học viết

Trong buổi đầu dựng nước, con người Việt Nam phải đương đầu với rất nhiều khó khăn Họ phải chống lại thiên tai, địch họa, thiên nhiên khắc nghiệt để giành lấy sự sống

Vì vậy, họ phải thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi Dù hoàn cảnh

có đổi thay, tình cảm của họ vẫn không dễ dàng thay đổi Đó là biểu hiện rõ nhất của lối sống nhân hậu, nghĩa tình Văn học dân gian Việt Nam có nhiều câu ca thể hiện điều đó:

Trang 19

Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

Một thuyền, một bến, một dây Ngọt bùi ta hưởng, đắng cay ta chịu cùng

Lòng nhân hậu, lối sống nghĩa tình của con người Việt Nam còn thể hiện ở khát vọng đem lại sự công bằng cho những con người “thấp cổ bé miệng” trong xã hội Trong những truyện cổ tích, người bình dân xưa thường tưởng tượng ra hình ảnh những ông Bụt, ông Tiên để cứu giúp những người bất hạnh Kết thúc tác phẩm, những con người nghèo khổ, bất hạnh bao giờ cũng được hưởng cuộc sống giàu sang, hạnh phúc (Truyện

Tấm Cám, Cây tre trăm đốt, Hai chị em, Cây khế…)

Phẩm chất tốt đẹp ấy cũng lấp lánh trong văn học hiện đại Trong kháng chiến, nhiều bà mẹ Việt Nam đã cưu mang, nuôi dưỡng những chiến sĩ cách mạng, coi họ như con ruột của mình:

Bao bà cụ từ tâm làm mẹ Yêu quí con như đẻ con ra

Cho con nào áo, nào quà Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi

(Bầm ơi – Tố Hữu)

Tấm lòng nhân hậu ấy của những người mẹ đã trở thành nguồn động viên tinh thần

vô giá, giúp người chiến sĩ có thêm sức mạnh đối diện với kẻ thù Bởi vậy, hình ảnh những bà mẹ Việt Nam chịu thương, chịu khó, nhân hậu bao dung đã theo những người

chiến sĩ đi suốt hành trình dài dặc của cuộc đời mình:

Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc

Năm con đau, mế thức một mùa dài

Con với mế không phải hòn máu cắt, Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi

(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

Có thể xem tình cảm ấy của người mẹ xuất phát từ tinh thần yêu nước Nhưng nghĩ một cách sâu sắc hơn, đó là tình cảm có nguồn gốc từ lối sống nhân hậu của con người Việt Nam từ bao đời nay Lối sống nhân hậu ấy còn biểu hiện khá phong phú trong

Trang 20

văn học Việt Nam Chẳng hạn, chỉ cần qua những quan niệm sống như: “nghĩa tử là nghĩa tận”, “đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại” , chúng ta có thể thấy được tấm lòng nhân hậu, vị tha của con người Việt Nam

3.2.4 Tinh thần lạc quan vô bờ bến:

Đến với văn học Việt Nam, có lẽ không ai không nhận ra tinh thần lạc quan vô bờ bến của con người Việt Nam Một đất nước còn nghèo khó, lại trải qua một lịch sử dài

chống ngoại xâm và thiên tai, hạn hán như Việt Nam, nếu không có tinh thần lạc quan, luôn tin tưởng vào tương lai thì làm sao con người Việt Nam có thể vượt lên tất cả để hướng về phía trước? Đó là lý do vì sao tinh thần lạc quan trở thành một phẩm chất đáng quí của con người Việt Nam và là nguồn cảm hứng không bao giờ vơi cạn trong văn học Việt Nam

Thử tìm hiểu bài ca dao Mười trứng của người dân Bình Trị Thiên (miền Trung

của Việt Nam), các bạn sẽ thấy con người Việt Nam lạc quan biết dường nào!

Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng khốn, tháng nạn

Đi vay đi dạm, được một quan tiền

Ra chợ Kẻ Diên mua con gà mái

Về nuôi ba tháng; hắn đẻ ra mười trứng Một trứng: ung, hai trứng: ung, ba trứng: ung, Bốn trứng: ung, năm trứng: ung, sáu trứng: ung, Bảy trứng: cũng ung

Còn ba trứng nở ra ba con Con diều tha

Con quạ quắp Con mặt cắt xơi Chớ than phận khó ai ơi!

Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây

Có thể nói, trong văn học dân gian Việt Nam, hiếm có bài ca dao nào nói về tinh

thần lạc quan hay mà sâu sắc như bài ca dao Mười trứng Cái tư duy “gầy vốn” bằng

cách nuôi gà là một kinh nghiệm cũng là nét văn hóa độc đáo của con người Việt Nam

Dù rơi vào hoàn cảnh khốn khó đến đâu, người dân Việt Nam cũng tìm cách khắc phục, không đầu hàng hoàn cảnh Người nông dân trong bài ca dao đã “đi vay, đi dạm” một

Trang 21

quan tiền để mua gà, khắc phục tình cảnh “khốn nạn” của mình với niềm hy vọng tràn đầy Nhưng kết quả là trong số mười trứng gà có được lại bị “ung” đến bảy Còn lại ba trứng, “nở ra ba con”, nhưng ba niềm hy vọng cuối cùng ấy cũng bị cướp mất:

Con diều tha Con quạ quắp Con mặt cắt xơi

Bài ca dao tưởng chừng kết thúc bằng một lời than Nhưng không, vút lên từ những nỗi buồn, từ sự thất vọng đó lại là một lời an ủi:

Chớ than phận khó ai ơi!

Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây

Phải chăng, tinh thần lạc quan đã ăn vào máu thịt của người nông dân Việt Nam? Chính sự lạc quan, tin tưởng vào tương lai ấy đã giúp họ vượt lên số phận, đồng thời đem lại niềm tin cho bao nhiêu số phận khốn khó khác Đó cũng là một nét tính cách đáng quí của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam

Trong những năm kháng chiến, con người Việt Nam phải đối mặt với sự khốc liệt của chiến tranh Họ phải từng giây đẩy lùi cái chết để giành lấy sự sống Vì vậy, bên cạnh lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm, tinh thần lạc quan là phẩm chất không thể thiếu đối với con người Việt Nam Hơn bao giờ hết, sức mạnh của tinh thần lạc quan được phát huy cao độ và trở thành cảm hứng cho các nhà văn, nhà thơ Chúng ta gặp trong văn học thời kỳ này nhiều bài thơ ca ngợi không khí sôi nổi, khẩn trương của những ngày ra trận

Lớp lớp người dân lên đường chiến đấu mà như đi trẩy hội mùa xuân: “Những buổi vui sao cả nước lên đường, xao xuyến bờ tre từng hồi trống giục”, “súng nhỏ súng to chiến trường chật chội, tiếng cười hăm hở đầy sông đầy cầu” (Chính Hữu) Hay tiếng reo vui:

“Cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao” trong thơ Dương Hương Ly; “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” trong thơ Phạm Tiến Duật v.v

Với tinh thần lạc quan vô bờ bến như vậy, con người Việt Nam đã vượt lên muôn trùng gian khổ, hy sinh Bom đạn chiến tranh dẫu có tàn bạo đến đâu cũng không thể dập tắt nổi sức sống mãnh liệt của dân tộc này Tiếng cười vẫn vang lên ngay trong mưa bom, bão đạn:

Ôi! đất anh hùng dễ mấy mươi Chìm trong khói lửa, vẫn xanh tươi

Trang 22

Mưa bom, bão đạn, lòng thanh thản Nhạt muối, vơi cơm, miệng vẫn cười

(Theo chân Bác- Tố Hữu)

Cuộc sống sẽ có nhiều đổi thay Con đường đi đến tương lai của Việt Nam còn nhiều gian nan, vất vả Nhưng tinh thần lạc quan sẽ luôn là sức mạnh để con người Việt Nam vững tin tiến về phía trước

Tóm lại, văn học là tấm gương hội tụ những đức tính, những phẩm chất cơ bản nhất của con người Việt Nam Những phẩm chất cao quí đó đã kết tinh thành hai nguồn

tư tưởng lớn, xuyên suốt trong văn học Việt Nam từ xưa đến nay: tư tưởng yêu nước và

tư tưởng nhân đạo, nhân văn

3.2.5 Nhận thức về tự nhiên, xã hội và tinh thần chinh phục thiên nhiên

Ngay từ buổi đầu dựng nước, văn học dân gian đã phản ánh khá rõ nhận thức về tự nhiên, xã hội (về nguồn gốc vũ trụ, nguồn gốc các dân tộc, các hiện tượng tự nhiên), cũng

như tinh thần chinh phục và cải tạo thiên nhiên của con người Việt Nam qua các thần

thoại: Thần Trụ Trời, Lạc Long Quân và Âu Cơ, Sơn Tinh – Thủy Tinh… Xã hội ngày

càng phát triển, với sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật, con người có sự nhận thức chính xác, khách quan, khoa học hơn về những vấn đề ấy Tuy nhiên, những nhận thức thời sơ khai ấy vẫn phản ánh được trí thông minh, tinh thần làm chủ thiên nhiên và mối quan hệ gắn bó với thiên nhiên của con người Việt Nam

Trong văn học hiện đại, người đọc lại bắt gặp hình ảnh con người Việt Nam với tư thế đẹp hơn, bản lĩnh hơn trong quan hệ với thiên nhiên Họ sống chan hòa, thich nghi với thiên nhiên; hoặc chinh phục, cải tạo thiên nhiên để xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn:

Bạt núi đồi ta moi đất làm gang Ngăn thác dữ ta bắt sông làm điện

(Tố Hữu)

Ngoài ra, chúng ta có thể thấy điều này qua nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng một

thời: Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi, Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam, Tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân…

Trang 23

3.3 Văn học phát triển với hai nguồn tư tưởng lớn: tư tưởng yêu nước và

tư tưởng nhân đạo

Yêu nước và nhân đạo là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong văn học Việt Nam từ xưa đến nay

3.3.1 Tư tưởng yêu nước

Yêu nước là tình cảm thiêng liêng của mỗi con người Lòng yêu nước được biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau Đó là tình yêu đối với non sông, yêu giống nòi, yêu lịch sử dân tộc, yêu nhân dân… Yêu nước là căm thù những thế lực tàn bạo xâm phạm lãnh thổ, chủ quyền của đất nước và sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ đất nước

Ngay trong văn học dân gian, tư tưởng yêu nước đã thể hiện rất phong phú Trước hết, lòng yêu nước được thể hiện qua tình cảm yêu mến, tự hào về cảnh sắc và phong vị của quê hương Ta gặp trong văn học dân gian những câu ca dao ngọt ngào, trìu mến ca ngợi cảnh sắc thiên nhiên ở ba miền đất nước Đây là niềm tự hào của người dân miền Bắc:

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,

Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh,

Ai lên xứ Lạng cùng anh,

Bõ công bác mẹ sinh thành ra em

Tay cầm bầu rượu nắm nem, Mảng vui quên hết lời em dặn dò

Người dân miền Trung cũng tự hào không kém về phong cảnh đẹp như tranh của quê hương mình:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh, nước biếc như tranh họa đồ

Sự giàu có, trù phú của quê hương Nam bộ cũng như mời gọi khách phương xa:

Đồng Nai gạo trắng nước trong

Ai đi đến đó thời không muốn về

Người dân Việt Nam còn tự hào về những sản vật của quê hương Đó cũng là biểu hiện của tình yêu quê hương, đất nước:

Bình Định có núi vọng phu,

Có đầm Thị Nại, có cù lao xanh

Trang 24

Ai về Bình Định cùng anh, Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa

Đọc truyện cổ dân gian, người đọc nhiều thế hệ cảm nhận sâu sắc lòng yêu nước

và tinh thần chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước của con người Việt Nam

Truyền thuyết Thánh Gióng là bài ca ngợi ca lòng yêu nước, chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam trong buổi đầu dựng nước Có thể nói, hình tượng Thánh Gióng là hình

tượng đồng mà lời thề quyết sống mái với giặc của nhân dân Việt Nam được khắc chạm lên đó Khi có giặc, một đứa bé lên 3 tuổi không biết nói, biết cười, đặt đâu nằm đấy bỗng

vươn vai thành tráng sĩ oai phong lẫm liệt, ăn “bảy nong cơm, ba nong cà; uống một hơi nước cạn đà khúc sông”, dân làng phải góp gạo lại nuôi cậu bé Khi xông trận, ngựa đi

đến đâu, giặc chết như ngả rạ đến đó Thắng xong giặc, tráng sĩ bỏ lại tất cả, một mình một ngựa bay lên trời biến mất

Mỗi chi tiết trong tác phẩm đều có toát lên tinh thần yêu nước của con người Việt Nam Khi có giặc, “đến em thơ cũng hóa anh hùng”1, tiếng nói đầu tiên trong đời là tiếng nói của lòng yêu nước; còn nhân dân thì đoàn kết một lòng, sẵn sàng đóng góp của cải vật chất cho công cuộc chiến đấu chống ngoại xâm Họ làm tất cả những việc ấy với một tinh thần vô tư, không vì lợi ích cá nhân Người anh hùng sau khi thực hiện lý tưởng, không cần nhân dân, đất nước phải ghi công v.v

Truyền thuyết về An Dương Vương ngợi ca lòng yêu nước ở khía cạnh khác Đó

là khát vọng xây dựng thành trì kiên cố và khát vọng có được một loại vũ khí hữu hiệu để

sẵn sàng đối phó với kẻ thù, bảo vệ chủ quyền của đất nước Truyền thuyết Hai Bà Trưng ngợi ca những con người vượt lên phận “nữ nhi thường tình” để gánh vác trách

nhiệm với non sông Biết bao tấm gương sáng về lòng yêu nước như vậy đã được nhân dân lưu truyền lại trong những tác phẩm văn học dân gian

1 Thơ Tố Hữu

Trang 25

Tư tưởng yêu nước phát triển cao hơn và biểu hiện sâu sắc, phong phú hơn trong văn học trung đại Khi đất nước thanh bình, văn học tập trung ca ngợi đất nước thanh bình, thịnh trị:

Trước xóm sau thôn tựa khói hồng Bóng chiều man mác có dường không Theo hồi kèn mục trâu về hết

Có trắng từng đôi liệng xuống đồng

(Thiên Trường vãn vọng - Trần Nhân Tông)

Một khung cảnh rất thanh bình, yên ả vào buổi xế tà, nơi một miền thôn dã hiện ra trước mắt người đọc Cái nhìn của tác giả – một nhà thơ, một vị vua hiền – mang màu sắc Phật giáo (sắc sắc không không), khiến cho bức tranh quê vừa nhẹ nhàng thanh thoát, vừa rất đỗi bình yên Bức tranh quê vào buổi chiều với hình ảnh đàn trâu trở về nhà, mục đồng vắt vẻo trên lưng trâu, vi vu tiếng sáo; với hình ảnh những đôi cò trắng tình tứ thưởng thức cảnh trời chiều là khoảnh khắc kỳ diệu mà thi nhân “chộp” được khi đứng ngắm ở phủ Thiên Trường, đồng thời cũng là khát vọng của con người một thời

Ngoài ra, trong văn học Thiền tông cũng có những bài thơ viết về đời sống thế tục

rất hay Chẳng hạn, bài Ngư nhàn (Cảnh nhàn của ông chài) của Không Lộ Thiền sư

Vạn lý thanh giang vạn lý thiên, Nhất thôn tang giá, nhất thôn yên

Ngư ông thụy trước, vô nhân hoán, Quá ngọ tinh lai, tuyết mãn thuyền

Trang 26

nhiên Có thể nói, đây là bài thơ thế tục hay nhất trong văn học trung đại Việt Nam được viết bởi một nhà sư

Khi đất nước có ngoại xâm, tinh thần yêu nước được phát huy cao độ Văn học thể hiện niềm tự về chủ quyền lãnh thổ, về truyền thống văn hóa của dân tộc:

Nam Quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư (Sông núi nước Nam, vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở)

(Nam Quốc sơn hà - Lý Thường Kiệt)

Nhà thơ khẳng định sông núi nước Nam là của người Việt Nam Điều này đã được

“sách trời” phân chia từ ngàn xưa Việt Nam không phải là một quận, một huyện của Trung Quốc như lời tuyên bố của chính quyền phong kiến Trung Quốc Vì vậy, Việt Nam

có quyền tự hào về phong tục tập quán, về cương vực lãnh thổ, về nhân tài hào kiệt của mình:

Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau Song hào kiệt đời nào cũng có

(Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)

Yêu nước, tự hào về đất nước, con người Việt Nam sẵn sàng chiến đấu chống ngoại xâm để bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước:

Trong Nam Quốc sơn hà, Lý Thường Kiệt dõng dạc tuyên bố:

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời)

Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn từng căm thù quân xâm lược đến mất ngủ

quên ăn: “Ta từng tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa được xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm

Trang 27

thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này bọc trong da ngựa, ta cũng nguyện xin làm…”

(Hịch tướng sĩ văn)

Vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi luôn canh cánh bên lòng nỗi ưu quốc ái dân:

Bui có một tấm lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông

Lòng yêu nước được phát huy cao độ đã tập trung được sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân trong công cuộc chiến đấu chống kẻ thù Điều này được thể hiện rất rõ trong

Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi:

“Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới; tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”

Lịch sử đã chứng minh, với lòng yêu nước căm thù giặc sâu sắc, quân dân Đại Việt đã lập nên những chiến công hiển hách: hai lần thắng Tống, ba lần thắng Nguyên Mông, mười năm kháng chiến chống quân Minh thắng lợi vẻ vang

Lòng yêu nước còn thể hiện ở khát vọng lập công danh để trả nợ núi sông của các

vị tướng đời nhà Trần Danh tướng Phạm Ngũ Lão từng lập nên nhiều chiến công cho đất nước vẫn thấy “thẹn” khi nghe người đời kể về Vũ Hầu Gia Cát Lượng (Trung Quốc) Danh tướng Trần Quang Khải vẫn một lòng lo cho đất nước ngay trong lúc ca khúc khải hoàn:

Thái bình nên gắng sức Non nước ấy nghìn thu

(Phò giá về kinh)

Nhìn chung, tư tưởng yêu nước phát triển rực rỡ trong văn học trung đại Việt Nam Nội dung yêu nước trong văn học thời kỳ này thể hiện rất đa dạng và sâu sắc, làm nên một dòng văn học yêu nước Đỉnh cao của văn học yêu nước trong văn học trung đại Việt Nam là Nguyễn Trãi Thơ văn ông chứa chan lòng yêu nước Không chỉ căm thù

quân xâm lược “Ngẫm thù lớn há đội trời chung Căm giặc nước thề không cùng sống”,

ông còn ý thức được trách nhiệm đối với dân với nước:

Quốc phú, binh cường, chăng có chước Bằng tôi nào thửa ích chưng dân

(Nếu không có cách làm cho quốc phú binh cường

Trang 28

Thì việc tôi tồn tại không có ích gì cho dân cả)

(Trần tình bài 1)

Và đặc biệt, với Nguyễn Trãi, tư tưởng yêu nước gắn liền với tư tưởng nhân đạo, yêu nước là thương dân, chăm lo cho đời sống cho nhân dân Mà nhân dân với ông không phải là nhân dân chung chung Họ là “dân đen, con đỏ”, là “manh, lệ” (người dân cày và người đi ở) Bởi vậy, nêu cao chủ nghĩa yêu nước, xuất phát từ trái tim nặng lòng yêu nước, thương dân, thơ văn của Nguyễn Trãi đã làm rung động trái tim của mọi tầng lớp nhân dân Nhận định về chủ nghĩa yêu nước trong thơ văn Nguyễn Trãi, nhà nghiên cứu

Trần Văn Giàu đã khẳng định: “Trước Nguyễn Trãi và mấy trăm năm sau Nguyễn Trãi, không có văn chương của ai mà tràn đầy ý nghĩa như vậy”1 Các tác giả bộ giáo trình

Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII cũng đánh giá cao chủ nghĩa

yêu nước trong thơ văn ông: “Chủ nghĩa yêu nước ấy đã “tập đại thành” được những truyền thống yêu nước của các đời trước và những kinh nghiệm, những sáng tạo của cá phong trào dân tộc đầy tính nhân dân hồi đầu thế kỷ thứ XV Và chủ nghĩa yêu nước trong thơ văn Nguyễn Trãi không những là một đóng góp lớn vào sự phát triển của văn học mà còn là một đóng góp vào lịch sử tư tưởng nước ta”2

Ở giai đoạn sau (từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XIX), lịch sử Việt Nam có nhiều biến động Chế độ phong kiến bộc lộ bản chất phản động, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân Lúc này, lòng yêu nước được thể hiện một cách kín đáo trong văn học, qua tâm trạng hoài cổ của một số nhà thơ (Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bà Huyện Thanh Quan )

Trong bài Qua Đèo Ngang (sáng tác khi rời Thăng Long vào nhậm chức “Cung

trung giáo tập” ở Thuận Hóa), Bà Huyện Thanh Quan đã bộc lộ tâm trạng cô đơn, nhớ tiếc một thời hoàng kim đã mất:

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Trang 29

Còn gì đau xót hơn khi đi trên đất nước mình mà “đau lòng” vì “nhớ nước”! Nhưng có một thời, những con người nặng lòng với đất nước đã phải mang tâm trạng như thế

Nỗi đau ấy thể hiện xót xa hơn trong Thăng Long thành hoài cổ, và Chiều hôm nhớ nhà:

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường?

Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài bóng tịch dương,

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, Nước còn cau mặt với tang thương

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ

Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường

(Thăng Long thành hoài cổ)

Đến nửa sau thế kỷ thứ XIX, khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam, tư tưởng yêu nước lại được phát huy cao độ Trên cơ sở lòng yêu nước truyền thống, nhân dân Việt Nam đã giương cao ngọn cờ yêu nước, chống thực dân Pháp xâm lược Những người nông dân chân lấm tay bùn đã đứng lên cầm tầm vông, giáo mác đương đầu với vũ khí tối tân của giặc Và họ đã bước vào văn học với một tư thế hiên ngang, một tinh thần dũng cảm:

… đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn

to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có

Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh, bọn hè trước, lũ

ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ…

(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc- Nguyễn Đình Chiểu)

Không chỉ dũng cảm, sẵn sàng xả thân khi đối mặt với kẻ thù, họ còn tiếp tục lý tưởng chiến đấu giành độc lập ngay cả lúc hy sinh:

Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp

nguyện được trả thù kia… (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Có thể nói, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, Nguyễn Đình Chiểu đã mở cánh cửa văn học để người nông dân bước vào với tư thế đẹp và đầy ấn tượng như vậy Vì thế,

Trang 30

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc xứng đáng được xem là “tượng đài nghệ thuật” để tưởng niệm những người nghĩa sĩ nông dân đã anh dũng hy sinh trong một giai đoạn lịch sử đáng nhớ của dân tộc Việt Nam

Tinh thần yêu nước trong văn học giai đoạn này còn được thể hiện qua thái độ của

các nhà thơ đối với giai cấp thống trị lúc bấy giờ Trong bài Trung nghĩa ca, Đoàn Hữu

Trưng đã phản ảnh sâu sắc cuộc đấu tranh của nhân dân lao động, đồng thời cũng nghiêm khắc lên án triều đình nhà Nguyễn:

Chẳng ai vì nước đem lòng âu lo Ngoài biên rối tựa tơ vò,

Xem trong triều sĩ như trò trẻ ranh

Nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu cũng từng lên tiếng chất vấn triều đình đã thờ ơ trước vận mệnh đất nước, vận mệnh nhân dân, thậm chí còn dâng đất nước cho giặc:

Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng

Nỡ để dân đen mắc nạn này?

(Chạy giặc)

Và ông cũng thể hiện khát vọng có một vị “Thánh đế” rửa sạch nỗi nhục mất nước ấy:

Chừng nào thánh đế ân soi thấu

Một trận mưa nhuần rửa núi sông?

(Ngóng gió đông)

Đối với những người dân nặng tình yêu nước, nếu không thể cứu được đất nước, nhân dân, họ bất hợp tác với giặc, sẵn sàng chấp nhận cái chết Tấm gương yêu nước của Nguyễn Cao (khi bị thực dân Pháp bắt, đã cự tuyệt mọi thủ đoạn mua chuộc dụ dỗ, còn tự rạch bụng, moi ruột để giữ tròn khí tiết), đã để lại niềm xúc động lớn trong lòng mọi

người Lòng yêu nước ấy, khí tiết anh hùng ấy còn thể hiện rõ trong thơ văn ông:

Hỡi trẻ tạo hóa, sinh ta làm chi?

Sống mà chìm đắm trong vùng dê chó, Thà chết đi cùng trời đất đi về

(Tự phận ca)

Nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu cũng từng thể hiện thái độ bất hợp tác với kẻ thù, một lòng trung thành với đất nước, nhân dân:

Trang 31

Thà đui mà giữ đạo nhà Còn hơn sáng mắt, ông cha không thờ

(Ngư Tiều y thuật vấn đáp)

Có thể nói, trong dòng văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX, Nguyễn Đình Chiểu chiếm một vị trí quan trọng Ông được xem là lá cờ đầu của thơ ca yêu nước giai đoạn này

Khác với Nguyễn Đình Chiểu, những nhà thơ sáng tác theo khuynh hướng tố cáo hiện thực như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, thể hiện tư tưởng yêu nước trong văn học một cách kín đáo nhưng không kém phần sâu sắc

Nguyễn Khuyến từng mượn tiếng chim cuốc kêu khắc khoải để thể hiện tâm sự

“nhớ nước” của mình Không phải ông là người đầu tiên trong văn học mượn tiếng cuốc kêu để giãi bày tâm sự đối với đất nước, nhưng người đọc nhận ra có cái gì đó ngậm ngùi, chua xót trong lời thơ ông Phải chăng, ông cũng chính là con chim cuốc đáng

thương đang ngày đêm nhỏ máu vì tình cảnh nước mất nhà tan?

Năm canh máu chảy đêm hè vắng, Sáu khắc ngày tan bóng nguyệt mờ

Có phải tiếc xuân mà đứng gọi, Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ…

(Cuốc kêu cảm hứng)

Trần Tế Xương, bên cạnh những bài thơ trào phúng, đả kích sâu cay sự xuống dốc

về đạo đức của xã hội đương thời, còn có những vần thơ thể hiện nỗi xót xa trước hoàn

cảnh đổi thay của đất nước Chẳng hạn, ông chán ngán trước cảnh: “Lôi thôi sĩ tử vai đeo

lọ Ậm ọe quan trường miệng thét loa Lọng cắm rợp trời, quan Sứ đến Váy lê quét đất,

mụ đầm ra” và thốt lên câu hỏi đầy đau đớn:

Nhân tài đất Bắc nào ai đó?

Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà!

(Vịnh khoa thi Hương)

Có khi lòng yêu nước của nhà thơ thể hiện một cách kín đáo qua tâm sự hoài cổ về một thời đã qua:

Sông kia rày đã nên đồng, Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai,

Trang 32

Nửa đêm tiếng ếch bên tai, Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò

tiếp xúc với Tân thư - sách vở phương Tây, được dịch qua tiếng Nhật) Đó là Phan Bội

Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thượng Hiền, Trần Cao Vân…

Trong văn học, nội dung yêu nước được thể hiện mạnh mẽ qua tác phẩm của các chí sĩ yêu nước Đó là những vần thơ chứa chan lòng yêu nước, nóng bỏng bầu nhiệt huyết quyết giải phóng đất nước, giành độc lập, tự do cho dân tộc:

Non sông đã chết sống, thêm nhục Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài Muốn vượt biển Đông theo cánh gió Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi

(Xuất dương lưu biệt - Phan Bội Châu)

Trong bài văn tế khóc Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Thượng Hiền cũng thể hiện nỗi

đau nước nhà “Sông tràn núi khuyết” và bộc lộ khát vọng một ngày đất nước sạch bóng

quân thù:

Than ôi nước nhà Sông tràn núi khuyết Mong một ngày kia Quân thù giết hết…

(Văn tế Tôn Thất Thuyết)

Thơ văn Phan Bội Châu được xem là đỉnh cao của văn thơ yêu nước giai đoạn này Thơ ông thể hiện lý tưởng dân tộc, chứa chan bầu nhiệt huyết và lòng yêu nước thương dân nên có sức lay động lòng người Ông kêu gọi thanh niên – thế hệ rường cột của nước nhà bằng những vần thơ mạnh mẽ, dạt dào cảm xúc:

Trang 33

Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi:

Xếp bút nghiên mà tu dưỡng lấy tinh thần, Đừng ham chơi, đừng ham mặc, ham ăn, Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa, Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ…

(Bài ca chúc Tết thanh niên)

Tư tưởng yêu nước tiếp tục phát triển và thể hiện sâu sắc, mới mẻ trong văn học giai đoạn 1930 -1945 với những tên tuổi như Tố Hữu, Sóng Hồng, Nguyễn Ái Quốc – Hồ

Chí Minh… Với tập thơ Từ ấy, Tố Hữu đã có những đóng góp đáng kể cho dòng văn học

yêu nước và cách mạng giai đoạn này Người chiến sĩ cách mạng trong tập thơ đã thể hiện niềm say mê lý tưởng, kiên định với con đường cách mạng, vì đã xác định rất rõ:

Đời cách mạng, từ khi tôi đã hiểu Dấn thân vô là phải chịu tù đày

Biểu hiện của tư tưởng yêu nước trong văn học thời kỳ này rất phong phú và mới

mẻ Yêu nước là yêu quê hương, xứ sở; yêu Đảng, yêu Bác, yêu nhân dân; căm thù giặc sâu sắc, sẵn sàng xả thân vì độc lập dân tộc và luôn lạc quan, tin tưởng vào tương lai đất nước Nhiều bài thơ có sức sống vượt thời gian ra đời trong thời kỳ này phần lớn là

những bài thơ viết về quê hương, đất nước Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm là bài

thơ có sự phức hợp các cảm xúc (tự hào, đau đớn, xót xa, tiếc nuối, căm hận, oán hờn…)

khi nghe tin kẻ thù giày xéo quê hương Đất nước của Nguyễn Đình Thi tái hiện khá

hoàn chỉnh hình ảnh đất nước xinh đẹp trong quá khứ, đau thương mà tuyệt vời anh dũng

trong kháng chiến và rực rỡ chói lòa trong chiến thắng Đất quê ta mênh mông của

Trang 34

Dương Hương Ly xây dựng hình tượng bà mẹ Việt Nam anh hùng trong kháng chiến

chống Mỹ – một hình tượng đẹp kết tinh bởi lòng yêu nước Việt Nam Đất nước (trích Trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm tự hào về một đất nước gắn

liền với chiều rộng của không gian, chiều dài của thời gian và chiều sâu của truyền thống văn hóa; là “đất nước của nhân dân” v.v…

Tư tưởng yêu nước còn lấp lánh trong những tác phẩm văn xuôi thời kỳ này: Đất nước đứng lên, Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi, Sống như Anh của Trần Đình Vân, Hòn Đất của Anh Đức, Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu, Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng v.v…

Mỗi tác phẩm khai thác mỗi khía cạnh khác nhau của lòng yêu nước, nhưng đều thống nhất ở một điểm: ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn và tính cách của con người Việt Nam trong những năm tháng đất nước có chiến tranh Vẻ đẹp đó được kết tinh bởi tư tưởng yêu nước truyền thống của dân tộc và chủ nghĩa anh hùng của thời đại

Có thể nói, trải qua một lịch sử dài nhiều biến đổi thăng trầm, tư tưởng yêu nước của con người Việt Nam ngày càng được củng cố, phát triển và thăng hoa trong những năm đất nước chìm trong mưa bom, bão đạn Tư tưởng ấy đã trở thành tư tưởng chủ đạo xuyên suốt trong văn học Việt Nam từ xưa đến nay Đó cũng là yếu tố quan trọng hình thành nên hệ thống giá trị tinh thần Việt Nam và nhân cách Việt Nam

3.3.2 Tư tưởng nhân đạo

Xuất hiện khá sớm trong đời sống con người Việt Nam, tư tưởng nhân đạo cũng là một trong những tư tưởng quan trọng góp phần hình thành nên những giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam

Nhân đạo là yêu thương con người; tôn trọng, tin tưởng, ca ngợi những phẩm chất cao đẹp của con người; cảm thông chia sẻ với những buồn vui đau khổ của con người; đồng thời sẵn sàng đấu tranh chống lại những thế lực tàn bạo chà đạp lên nhân phẩm con người

Từ khi hình thành và phát triển cho đến nay, tư tưởng nhân đạo đã ăn sâu vào đời sống tinh thần, tình cảm của con người Việt Nam Trong văn học, tư tưởng nhân đạo cũng có sự vận động qua các thời kỳ và trở thành nguồn tư tưởng lớn, xuyên suốt trong văn học Việt Nam, từ văn học dân gian cho đến văn học viết

Trang 35

Văn học dân gian thể hiện tinh thần tương thân, tương ái giữa con người với con người trong xã hội Đó chính là biểu hiện rõ nhất của tư tưởng nhân đạo:

Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng

(Ca dao) Trong truyện cổ dân gian, tư tưởng nhân đạo của nhân dân cũng được thể hiện sâu sắc qua việc cảm thông với số phận những con người bất hanh (người con út, con riêng; người mồ côi, đi ở; người có ngoại hình xấu xí…) Những tác phẩm này thường kết thúc

có hậu Chẳng hạn, những người có số phận bất hạnh như Sọ Dừa (truyện Sọ Dừa), anh Khoai (Cây tre trăm đốt), cô Tấm (Tấm Cám), người em trong Cây khế…, cuối cùng đều

được hưởng cuộc sống sang giàu, hạnh phúc Những kẻ tham lam, độc ác như người anh

trong Cây khế, vợ chồng lão phú ông trong Cây tre trăm đốt, mẹ con mụ dì ghẻ trong Tấm Cám … đều bị trừng trị hoặc trở thành trò cười cho thiên hạ

Trong văn học dân gian, không ít những câu chuyện đã gây xúc động cho người đọc bởi nhân dân đã giải quyết vấn đề trên quan điểm nhân đạo Chẳng hạn, trong lịch sử, Hai Bà Trưng khi thất bại đã nhảy xuống sông tự tử để bảo toàn khí tiết, nhưng trong

Truyền thuyết về Hai Bà Trưng, tác giả dân gian đã không để Hai Bà chết mà xây dựng

chi tiết nửa đêm, Bà nhuốm bệnh rồi bay lên trời biến mất Đó là cái kết thúc rất có ý nghĩa, biểu hiện lòng nhân đạo của nhân dân Phải chăng, họ muốn những người anh hùng ấy không mất đi mà bất tử trong lòng nhân dân, trong lòng đất nước?

Đọc truyện Mỵ Châu - Trọng Thủy, người đọc vừa xót xa, oán trách, vừa cảm

thông cho những lỗi lầm của nàng Mỵ Châu Xét về lý, Mỵ Châu đáng trách vì nàng đã vì tình yêu mà làm lộ bí mật quốc gia dẫn đến hậu quả nghiêm trọng: nước mất, nhà tan Nhưng xét về tình, Mỵ Châu thật đáng thương, vì nàng có tâm hồn trong sáng, giàu niềm tin, sống hết mình vì tình yêu Lỗi lầm nàng gây nên là hoàn toàn vô ý Trọng Thủy cũng đáng thương vì chàng yêu Mỵ Châu nhưng buộc phải chọn chữ hiếu, hy sinh chữ tình Vì

vậy, dân gian đã kết thúc câu chuyện bi thảm ấy một cách rất nhân hậu: Mỵ Châu sau khi chết, hóa thành ngọc trai nơi đáy biển và nếu đem ngọc trai rửa bằng nước giếng Trọng

Trang 36

Thủy, ngọc sẽ sáng đẹp hơn bội phần Đó cũng là biểu hiện của tư tưởng nhân đạo Việt

Nam

Tương tự, tình cảm anh – em, vợ – chồng gắn bó keo sơn của ba nhân vật trong

truyện Sự tích Trầu Cau đã để lại mối cảm thương sâu sắc cho người đọc Câu chuyện

bắt đầu bằng một sự hiểu lầm đáng tiếc và kết thúc bằng ba cái chết đáng thương Nhưng tất cả như tan đi khi tình cảm của họ có sức mạnh vượt lên cái chết Họ hóa thành trầu, cau, đá vôi để khi hòa chung lại tạo nên màu đỏ thắm Từ đó, trong dân gian có tục ăn trầu Và hình ảnh “trầu cau” thường xuất hiện trong những dịp cưới xin nhằm kết mối lương duyên

Trong văn học trung đại, tư tưởng nhân đạo phát triển lên một bước cao hơn Nguyễn Trãi và những nhà thơ khác (Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh…) đã tiếp thu một cách sáng tạo, tích cực tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo, trên

cơ sở tư tưởng nhân đạo truyền thống của dân tộc Vì vậy, với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa luôn gắn với lòng yêu thương nhân dân:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Không những vậy, Nguyễn Trãi còn nêu cao truyền thống nhân đạo của dân tộc khi thể hiện lòng nhân ái với kẻ thù: tha tội chết cho tướng giặc, còn cấp lương thực, tàu thuyền cho chúng về nước:

Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh

(Bình Ngô đại cáo)

Đặc biệt, trong văn học giai đoạn từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, tư tưởng nhân đạo phát triển mạnh mẽ, hình thành trào lưu nhân đạo chủ nghĩa Văn học lên tiếng tố cáo chế độ phong kiến bất công, vô nhân đạo, chà đạp lên con người; đồng thời đấu tranh bênh vực cho quyền sống, quyền hạnh phúc của con người, nhất là người phụ nữ

Nguyễn Du là nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa Ông xót thương cho thân phận những

con người nghèo khổ, bất hạnh Trong Sở kiến hành (Những điều trông thấy trên đường

đi), ông xót xa khi chứng kiến cảnh đói khổ của mẹ con người phụ nữ:

Trang 37

Một mẹ cùng ba con

Lê la bên đường nọ Đứa bé ôm trong lòng Đứa lớn tay mang giỏ Trong giỏ đựng những gì

Mớ rau lẫn tấm cám Nửa ngày bụng vẫn không Thịt da beo cầy sói…

Trong tác phẩm Truyện Kiều, ông đã xây dựng được một Thúy Kiều tài sắc vẹn

toàn, hiếu thảo với cha mẹ; chung thủy trong tình yêu… nhưng phải rơi vào kiếp “đoạn trường”, mười lăm lưu lạc với bao nhục nhã, ê chề Thân phận Thúy Kiều cũng là thân phận của bao nhiêu người phụ nữ nói chung trong xã hội cũ:

Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung!

Có trái tim nhân đạo bao la, có sự cảm thông sâu sắc với người phụ nữ, nhà thơ mới bật lên lời than đầy xót xa như thế

Qua nhân vật Thúy Kiều, Nguyễn Du cũng lên tiếng tố cáo chế độ phong kiến, tố cáo thế lực đồng tiền, đã biến con người thành món hàng mua bán:

Một ngày lạ thói sai nha Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền

Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn là tiếng nói tố cáo chiến tranh phong kiến,

gây chia rẽ hạnh phúc lứa đôi, khiến những người chinh phụ phải chờ chồng đến tàn phai nhan sắc, tiều tụy cả hình hài:

- Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ Chàng há từng học lũ vương tôn?

Cớ sao cách trở nước non, Khiến người thôi sớm, thôi hôm những sầu…

- Tin thường lại người không thấy lại, Hoa dương tàn đã trải rêu xanh

Rêu xanh mấy lớp xung quanh, Sân đi một bước trăm tình ngẩn ngơ!

Trang 38

Xuất hiện trong dòng cảm hứng chủ đạo ấy, thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói mạnh mẽ bênh vực cho những người phụ nữ Nếu xã hội phong kiến coi thường người phụ nữ thì Hồ Xuân Hương đề cao phẩm giá của họ:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn, Bảy nổi ba chìm với nước non

Nếu xã hội phong kiến khinh bỉ, thậm chí đối xử oan nghiệt với những người phụ

nữ không chồng mà chửa thì Xuân Hương cảm thông và biện hộ cho họ:

Quản bao miệng thế lời chênh lệch Không có nhưng mà có mới ngoan

(Không chồng mà chửa)

Tư tưởng nhân đạo còn thể hiện ở thái độ trân trọng và ngợi ca những khát vọng

của con người Đó là khát vọng tự do, công lý Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã xé

hàng rào phong kiến khi miêu tả nàng Kiều tự do trong tình yêu: “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” đến thăm Kim Trọng Ông để cho Từ Hải “Chọc trời khuấy nước mặc dầu Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” là bộc lộ khát vọng tự do của con người trong

xã hội lúc bấy giờ Trong văn học trung đại Việt Nam, hiếm có nhà thơ nào thể hiện mạnh mẽ khát vọng tự do như Nguyễn Du Bởi vậy, với triều đình phong kiến, Từ Hải bị coi là “giặc cỏ” nhưng với nhân dân, đó là hình tượng đẹp mang khát vọng của thời đại Khát vọng tự do ấy gắn liền với khát vọng công lý chính nghĩa Điều này thể hiện rất rõ qua màn kịch “báo ân báo oán” của Thúy Kiều:

Từ rằng: “Ân oán hai bên, Mặc nàng xử quyết báo đền cho minh”

Trang 39

Tất cả những người liên quan đến cuộc đời mười lăm năm lưu lạc của Kiều như Thúc Sinh, Hoạn Thư, Bạc Bà, Bạc Hạnh, Sư Vải Giác Duyên… đều được nàng phân xử rất công minh, “ân đền, oán trả”

Có thể nói, tư tưởng nhân đạo được thể hiện trong văn học thời kỳ này rất phong phú và sâu sắc, đáp ứng được nhu cầu của con người

Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, xã hội Việt Nam có nhiều biến

động Văn học phân hóa thành nhiều khuynh hướng, nhiều bộ phận khác nhau: văn học lãng mạn, văn học hiện thực, văn học cách mạng Tư tưởng nhân đạo ngày càng phát

triển và có những biểu hiện phong phú, gắn với những xu hướng văn học ấy

Trong văn học lãng mạn, tư tưởng nhân đạo thể hiện rõ nhất ở khát vọng giải phóng cái tôi cá nhân của con người Văn học là tiếng nói đấu tranh cho con người cá

nhân, thoát khỏi mọi ràng buộc của lễ giáo phong kiến Cuộc đấu tranh này bắt đầu từ Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách Câu chuyện tình đẹp, lãng mạn nhưng kết thúc một

cách bi thảm giữa Tố Tâm và Đạm Thủy đã làm rung động trái tim của hàng triệu độc giả, nhất là tầng lớp thanh niên Họ cảm thấy như được nói hộ nỗi lòng bị đè nén, trói

buộc suốt bao nhiêu năm Tiếp theo Tố Tâm, hàng loạt tiểu thuyết trong nhóm Tự lực văn đoàn ra đời đã đẩy cuộc đấu tranh lên mức cao hơn, quyết liệt hơn (Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân của Khái Hưng, Đoạn tuyệt của Nhất Linh…) Có thể nói, những tác

phẩm văn học này đã “đẩy toang cánh cửa mà Tố Tâm mới hé mở Nó kêu gọi “đoạn tuyệt” hẳn với đại gia đình phong kiến Nó công khai đề cao chủ nghĩa cá nhân, coi đó là nhân đạo, là văn minh tiến bộ”1

Sự ra đời của phong trào Thơ Mới (1932) với việc khẳng định cái tôi cá nhân

(individu), lấy cá nhân làm nguồn cảm hứng sáng tạo đã góp phần làm sâu sắc hơn tư tưởng nhân đạo trong văn học lãng mạn thời kỳ này Các nhà thơ tự do nói về niềm vui, nỗi buồn; sự cô đơn hay hạnh phúc của con người nơi trần thế:

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

1 Nguyễn Đăng Mạnh (2000), Giáo trình lịch sử Văn học Việt Nam 1930- 1945, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.61

Trang 40

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều…

(Vội vàng – Xuân Diệu)

Với những bài thơ viết về tình yêu, tình quê hương, dân tộc…, đắm say, lãng

mạn, các nhà Thơ Mới đã khơi dậy trong lòng người đọc tình yêu mãnh liệt đối với cuộc

sống, con người; đánh thức ở họ tinh thần cá nhân vốn bị đè nén trong một thời gian dài Phải chăng, đó cũng là nét mới, là chiều sâu của tư tưởng nhân đạo của bộ phận văn học này?

Trong văn học hiện thực giai đoạn này, tư tưởng nhân đạo cũng có những biểu hiện mới mẻ Trước hết, đó là sự cảm thông với những con người nghèo khổ, bị chà đạp,

bị đẩy đến bước đường cùng như chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, anh Pha trong Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam

Cao v.v… Vì phải đóng sưu thuế cho chính quyền thực dân, phong kiến, chị Dậu phải bán con, bán chó cho nhà Nghị Quế với giá rẻ mạt Chí Phèo – một nông dân hiền lành,

có lòng tự trọng - bị đẩy vào con đường lưu manh hóa, đánh mất nhân tính lẫn nhân hình Khi khát vọng hoàn lương trỗi dậy, Chí Phèo muốn trở lại làm người lương thiện thì xã hội lại đóng sầm cánh cửa hoàn lương, để cuối cùng Chí Phèo phải chết một cách tức tưởi Các nhà văn viết về những thân phận bất hạnh này với một thái độ cảm thông, với một tấm lòng trân trọng và yêu thương tha thiết

Đặc biệt, nét nhân đạo mới mẻ thể hiện ở việc các nhà văn đã phát hiện và ngợi

ca những phẩm chất tốt đẹp của con người, ngay trong những hoàn cảnh bi đát nhất Chị Dậu mang những phẩm chất đáng quý của người phụ nữ Việt Nam: yêu chồng, thương con, chịu thương chịu khó, giàu đức hy sinh, có ý thức về nhân phẩm Dù rất cần tiền

để nộp sưu thuế nhưng chị sẵn sàng ném xấp giấy bạc vào mặt tên quan phủ dâm ô khi hắn giở trò đồi bại Chị cũng tiềm tàng một sức mạnh phản kháng trước cường quyền Chị từng vùng lên chống lại bọn cai lệ và người nhà lý trưởng khi chúng hà hiếp chồng

mình: “Mày đánh chồng bà đi, bà cho mày xem”và “sấn tới, túm lấy cổ hắn, ấn giúi ra cửa…”

Trong tác phẩm Chí Phèo, Nam Cao đã phát hiện ra vẻ đẹp tâm hồn của những

con người bị xã hội khinh rẻ (Thị Nở), bị xã hội làm cho tha hóa (Chí Phèo) Bát cháo hành và sự ân cần của Thị Nở đã đánh thức tính người trong con quỷ dữ Chí Phèo Chí

Ngày đăng: 04/05/2021, 07:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm