1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đạo đức cán bộ công chức trong hệ thống chính quyền thành phố hồ chí minh hiện nay

142 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đạo đức cán bộ, công chức là một dạng của đạo đức nghề nghiệp, một bộ phận hợp thành hệ thống đạo đức xã hội, có liên quan mật thiết với chính trị, pháp luật, có ảnh hưởng khá sâu sắc đế

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

  

TRẦN VĂN TÌNH

ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH QUYỀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC

Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN ANH QUỐC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH- 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

  

TRẦN VĂN TÌNH

ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH QUYỀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC

Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN ANH QUỐC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH- 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Trần Văn Tình

Trang 4

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1: LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1.1 Lý luận về đạo đức 7

1.1.1 Khái niệm về đạo đức và chức năng của đạo đức đối với hành vi con người 7 1.1.2 Vai trò của đạo đức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 28

1.2 Cán bộ, công chức và đạo đức của cán bộ, công chức ở Việt Nam 33

1.2.1 Cán bộ, công chức ở Việt Nam 33 1.2.2 Phẩm chất đạo đức của cán bộ, công chức ở Việt Nam 48

Chương 2: NÂNG CAO PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH QUYỀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Hệ thống chính quyền thành phố Hồ Chí Minh 66

2.1.1 Khái quát về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính quyền thành phố Hồ Chí Minh 66 2.1.2 Đặc điểm hệ thống chính quyền thành phố Hồ Chí Minh 71 2.1.3 Những nhân tố tác động đến sự hình thành đạo đức cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền thành phố Hồ Chí Minh 75

2.2 Thực trạng đạo đức cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền thành phố Hồ Chí Minh 85

2.2.1 Những ưu điểm của đạo đức cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 85 2.2.2 Một số hạn chế của đạo đức cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 89 2.2.3 Vấn đề đặt ra đối với việc phát huy vai trò đạo đức cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 101

Trang 5

2.3 Giải pháp nâng cao đạo đức cán bộ, công chức trong hệ thống

chính quyền thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 104

2.3.1 Phương hướng nâng cao đạo đức cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 104

2.3.2 Một số giải pháp nâng cao đạo đức cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 109

KẾT LUẬN 125

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

PHỤ LỤC 136

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đạo đức là một trong những hình thái của ý thức xã hội và là một bộ phận cấu thành kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp Do đó, đạo đức có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Đạo đức cán bộ, công chức là một dạng của đạo đức nghề nghiệp, một

bộ phận hợp thành hệ thống đạo đức xã hội, có liên quan mật thiết với chính trị, pháp luật, có ảnh hưởng khá sâu sắc đến thể chế chính trị - xã hội mỗi quốc gia

Ở Việt Nam, đạo đức cán bộ, công chức là đề tài luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đạo đức cán bộ, công chức đã phát huy trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam Đại hội Đại biểu toàn

quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: “Phong cách, lề lối làm việc của

các cơ quan lãnh đạo Đảng từ trung ương đến cơ sở tiếp tục được cải tiến theo hướng sâu sát cơ sở, gần gũi nhân dân, tăng cường đôn đốc, kiểm tra, giám sát” [27,tr.165] Bên cạnh đó, đạo đức cán bộ, công chức còn một số

biểu hiện tiêu cực, suy thoái tạo nên rào cản cho sự phát triển của đất nước Trong Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, Đảng Cộng sản

Việt Nam khẳng định: “thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo

đức lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một

bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý doanh nghiệp Nhà nước và quản lý tài chính, làm giảm lòng tin của nhân dân” [23,tr.263-264] Hiện

nay, vấn đề suy thoái đạo đức của cán bộ, công chức được Đảng tiếp tục

Trang 7

được nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối

sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn diễn biến phức tạp” [27,tr.173] Vì thế, việc

nâng cao đạo đức là yêu cầu đặt ra không chỉ đối với cán bộ ở các cấp chính quyền trên phạm vi cả nước nói chung mà còn là nhiệm vụ cấp bách đối với cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đã trải qua hơn ba trăm năm hình thành và phát triển với nhiều giai đoạn, thời kỳ, thể chế khác nhau Đến nay, chính quyền thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan quản lý văn hóa,

xã hội gắn với sự phát triển kinh tế năng động nhất trên phạm vi cả nước

Đi đôi với những thành tựu đã đạt được về kinh tế, thành phố Hồ Chí Minh gặp phải nhiều vấn đề về văn hóa - xã hội trong đó nổi bật nhất là vấn đề xuống cấp về mặt đạo đức của một bộ phận cán bộ công chức Điều đó đã được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX:

“Một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, giảm sút ý chí phấn đấu

phai nhạt lý tưởng, mất niềm tin, quan liêu, tham nhũng, suy thoái đạo đức, lối sống” [30,tr.37] Để khắc phục sự tha hóa, suy thoái đạo đức và phát

huy một cách hiệu quả năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta phải nghiên cứu một cách có hệ thống đạo đức cán bộ, công chức và đưa ra các giải pháp nâng cao đạo đức cán bộ, công chức

Vì tất cả các lý do trên, tôi chọn vấn đề “Đạo đức cán bộ công chức

trong hệ thống chính quyền thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” làm đề tài

nghiên cứu luận văn thạc sỹ triết học của mình

Trang 8

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Đạo đức nói chung, đạo đức cán bộ, công chức nói riêng luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với việc giáo dục hành vi con người, với sự phát triển kinh tế - xã hội Vấn đề đạo đức được nhiều nhà khoa học tham gia với nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, có thể khái quát theo các hướng sau:

Hướng thứ nhất, các công trình nghiên cứu vấn đề lý thuyết đạo đức

Theo hướng này, có công trình Triết học đạo đức do Phạm Vĩnh Cư tuyển

chọn và giới thiệu các bài viết của các tác giả Vladimir Soloviev, Karol Vojtyla, Albert Schweitzer do Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin xuất bản

năm 2004; công trình Chuẩn mực đạo đức con người Việt Nam hiện nay

của Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản năm 2006 Công trình này nghiên cứu khái quát hệ thống chuẩn mực đạo đức của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, trình bày khái quát các chuẩn mực đạo đức của dân tộc qua các thời

kỳ lịch sử và hiện đại; công trình Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay vấn đề

và giải pháp của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam do GS.VS.Nguyễn Duy

Quí làm chủ biên được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm

2006 Công trình này nghiên cứu khái quát về lý luận, thực trạng, giải pháp xây dựng đạo đức xã hội hiện nay

Hướng thứ hai, các công trình nghiên cứu vấn đề đạo đức trong mối tương quan với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay Theo

hướng này có công trình Ý thức đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường

ở Việt Nam hiện nay của TS.Lê Thị Tuyết Ba do Nhà xuất bản Khoa học xã

hội xuất bản năm 2010; công trình Văn hóa đạo đức ở nước ta hiện nay vấn

đề và giải pháp của Lê Quý Đức - Hoàng Chi Bảo do Nhà xuất bản Văn

hóa - Thông tin xuất bản năm 2007; công trình Văn hóa đạo đức mấy vấn

Trang 9

đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam của PGS.TS.Thành Duy do Nhà xuất

bản Văn hóa Thông tin xuất bản năm 2004 Các công trình này trình bày khái quát về thực trạng đạo đức trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đề xuất giải pháp nâng cao đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ngày nay

Hướng thứ ba, các công trình nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp

Theo hướng này, có các công trình nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp của

công chức tiêu biểu như: công trình Đạo đức trong nền công vụ của tập thể

tác giả Tô Tử Hạ, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Thị Kim Thảo do Nhà xuất bản Lao động - Xã hội xuất bản năm 2002 Công trình này nghiên cứu, trình bày vấn đề cơ bản về đạo đức của cán bộ, công chức trong bối cảnh cải cách hành chính của một số quốc gia ở Đông Nam Á, từ đó đúc kết kinh nghiệm, đề ra các giải pháp nâng cao đạo đức trong thi hành công vụ Bên

cạnh đó, còn có công trình Ảnh hưởng của đạo đức phong kiến trong cán

bộ lãnh đạo quản lý của Việt Nam hiện nay của TS.Nguyễn Thế Kiệt do

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2001 Đây là tập hợp các bài viết của nhiều tác giả trình bày về những ảnh hưởng của nền đạo đức phong

kiến đến nền đạo đức hiện đại của người cán bộ lãnh đạo

Bên cạnh đó, vấn đề đạo đức cán bộ, công chức cũng được Ban Tổ chức, Ban Tuyên giáo Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu tổng kết trên cơ sở thực trạng đạo đội ngũ cán bộ, công chức thành phố Hồ Chí

Minh giai đoạn 2001-2005 và giai đoạn 2006-2010

Các công trình trên đã phân tích sâu sắc các vấn đề đạo đức, đạo đức nghề nghiệp của người cán bộ trên từng phương diện cụ thể Tuy nhiên, vấn đề đạo đức của cán bộ công chức trong hệ thống chính quyền thành phố Hồ Chí Minh hiện nay tiếp cận dưới góc độ triết học đạo đức là một vấn đề mới, còn chưa được nhiều tác giả quan tâm Trên cơ sở kế thừa

Trang 10

những thành quả của các công trình đã nghiên cứu trước, luận văn “Đạo

đức cán bộ công chức trong hệ thống chính quyền thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” tiếp tục nghiên cứu và làm rõ về mặt lý luận cũng như thực tiễn

vấn đề đạo đức của cán bộ công chức trong hệ thống chính quyền thành

phố Hồ Chí Minh

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là nghiên cứu, làm rõ và trình bày một cách hệ thống vấn đề đạo đức của cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Từ đó, luận văn đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp, hạn chế những biểu hiện tiêu cực, hướng đến xây dựng chính quyền vững mạnh, hiệu quả

Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của đề tài là:

- Làm rõ cơ sở lý luận về đạo đức, vai trò của đạo đức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

- Nghiên cứu, phân tích những quan điểm lãnh đạo của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về vấn đề công chức, đạo đức của cán bộ, công chức ở Việt Nam

- Trình bày điều kiện kinh tế, xã hội đối với sự hình thành và phát triển đạo đức của cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền thành phố

Hồ Chí Minh

- Trình bày và phân tích thực trạng đạo đức cán bộ, công chức và những vấn đề được đặt ra đối với việc nâng cao đạo đức cán bộ công chức trong hệ thống chính quyền thành phố Hồ Chí Minh

- Đề xuất những định hướng, giải pháp nhằm phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp trong hoạt động của hệ thống chính quyền

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được xây dựng dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật của Nhà nước về vấn đề đạo đức cán bộ, công chức Đồng thời, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: phân tích, so sánh, phát vấn v.v…và cách tiếp cận của đề tài từ góc độ triết học đạo đức

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa khoa học của luận văn: Luận văn góp phần hệ thống hóa những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề đạo đức trong quá trình thực thi nhiệm vụ công của cán bộ, công chức Trên cơ sở đó, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng, đề xuất một số giải pháp nâng cao đạo đức của cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn của luận văn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể trở thành nguồn tài liệu tham khảo cho những ngành khoa học có liên quan như văn hóa, giáo dục, hành chính học v.v… Nội dung luận văn còn dùng làm tài liệu tham khảo trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình cải cách nền hành chính ở hệ thống chính quyền thành phố

Hồ Chí Minh

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm có hai chương, năm tiết

Chương 1: Lý luận về đạo đức của cán bộ, công chức

Chương 2: Nâng cao phẩm chất đạo đức cán bộ công chức trong hệ thống chính quyền thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Trang 12

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội ra đời cùng với sự hình thành

và phát triển của ý thức, tinh thần nhân loại trong quá trình chinh phục tự nhiên và cải tạo xã hội phục vụ cho chính bản thân con người Cũng chính quá trình đó đã củng cố mối quan hệ giữa người với người hình thành nên tính cộng đồng xã hội Nhằm duy trì và ổn định trật tự xã hội, con người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi Trong đó, tư tưởng đạo đức dù mang tính manh nha, sơ khai nhưng đã ra đời với vai trò là phương thức điều chỉnh hành vi ứng xử của con người trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội

Năng lực chinh phục tự nhiên ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được cải thiện hơn Xã hội cũng dần có sự phân công lao động tạo nên tiền đề đầu tiên đưa đến sự ra đời những tư tưởng đạo đức mang tính hệ thống, đánh dấu sự ra đời của đạo đức học Đạo đức học xuất hiện rất sớm trong lịch sử tư tưởng ở Phương Tây lẫn Phương Đông thời cổ đại

Ở phương tây, danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh với từ

“Mos” có nghĩa là lề thói và từ “Moralis” có nghĩa là thói quen, đạo nghĩa Bên cạnh đó, còn có khái niệm “Ethicos” có nghĩa là lề lối, tập tục gắn với thói quen Cả hai khái niệm trên đều nói đến đạo đức trong mối liên quan đến lề lối và tập tục, thể hiện mối quan hệ giữa người với người trong xã hội Theo đó, đạo đức có thể hiểu là việc phải làm theo những phong tục,

Trang 13

là: “những hành động điều hòa không quá khích” [71,tr.73] Theo Platon,

con người cần đến thượng đế để hướng đến cái thiện Con người sẽ sống có đức hạnh và hướng đến cái thiện khi kết hợp ba bộ phận của linh hồn Platon cũng nhấn mạnh đến vấn đề “công bằng” Tuy ông không giải quyết

cụ thể vấn đề “công bằng” nhưng ông lại xem xét nó trong các mối quan hệ

xã hội của con người Platon nhấn mạnh: “lẽ công bằng là một sự quan hệ

giữa cá nhân, tùy thuộc vào tổ chức xã hội và do đó cần phải được nghiên cứu song song với cơ cấu xã hội chứ không thể được nghiên cứu như một thái độ cá nhân” [71,tr.26] Đến G.Hêghen, ông chú ý đến mối quan hệ

giữa đạo đức và pháp quyền G.Hêghen đã đặt các phạm trù của đạo đức trong mối liên hệ biện chứng với nhau Đồng thời chỉ ra phạm trù cơ bản

của đạo đức là thiện Đạo đức theo G.Hêghen là: “sự thể hiện trọn vẹn ý chí

của con người đối với cái toàn năng biểu hiện sự thống nhất đạo đức cá nhân với quyền lợi chung” [44,tr.107]

Theo quan điểm của các nhà triết học duy tâm chủ quan, đạo đức là cái sẵn có bên trong mỗi con người I.Cantơ (1724-1804) cho rằng con người vừa là một thực thể cảm tính vừa là thực thể lý tính luôn hướng đến hạnh phúc và đức hạnh nhưng chỉ có lý tính mới sinh ra các chuẩn mực đạo

đức Đạo đức theo I.Cantơ là “năng lực hành động phù hợp với qui luật

Trang 14

đạo đức phổ biến, nghĩa là phù hợp với cái gọi là mệnh lệnh tuyệt đối”

[37,tr.65-66] I.Cantơ đưa ra quy luật đạo đức - mệnh lệnh đạo đức đòi hỏi mọi hành động của con người phải nghĩ về con người trước tiên, phải tôn trọng phẩm giá làm người, hành xử trong xã hội không nghĩ về lợi ích mà luôn phải nghĩ đến con người vì con người phải sống xứng đáng với phẩm giá làm người của mình I.Cantơ cho rằng hành vi đạo đức phải là hành vi xuất phát từ một ý chí tốt Thực tiễn đạo đức của con người nhằm lý giải

về trách nhiệm của con người Đồng thời, I.Cantơ cũng chứng minh rằng hạnh phúc lớn nhất trên thực tế chỉ có thể có khi có sự bất tử của tâm hồn

và có sự tồn tại của Chúa Trời như nguyên nhân cao nhất của tất cả mọi

sự tồn tại, bảo đảm mối tương quan giữa đạo đức và đức hạnh vì chỉ khi linh hồn bất tử thì nó sẽ được đền bù xứng đáng trong thế giới của chúa

Do đó, con người cần có niềm tin vào thượng đế để củng cố niềm tin cho hành vi đạo đức

Theo quan điểm của các nhà triết học duy vật trước Mác như: Tômát Hốpxơ (1588-1679), Bêkênít Xpinôza (1632-1677) P.H.Hônbách (1723-1789), L.Phoiơbắc (1804-1872), cái thiện là cái mà con người cần phải vươn lên để đạt được, đồng thời con người cần lánh xa cái ác, chiến thắng những ham muốn lầm lạc và cả sự sợ hãi đối với các hiện tượng tự nhiên Xpinôza đề cao vai trò của lý tính trong việc kiểm soát những ham muốn

có hại cho người khác và cho xã hội Hay đạo đức là hành vi được kiểm soát bởi lý tính Đến L.Phoiơbắc cho rằng đạo đức là sự kết hợp hài hòa giữa nghĩa vụ và hạnh phúc, đồng thời là sự kết hợp hài hòa lợi ích của con người trong mối quan hệ giữa người với người

Ở Phương Đông, cụ thể là ở triết học Trung Hoa cổ đại, “đạo” là một

trong những phạm trù quan trọng nhất “Đạo” có nghĩa ban đầu là đường

đi Về sau, “đạo” được vận dụng trong triết học để chỉ con đường hay qui

Trang 15

10

luật vận động của tự nhiên mà trong đó con người là một bộ phận hợp

thành Con người cần phải tuân theo đạo để tồn tại và phát triển vì đạo

“hàm ý bao quát các nội dung như hợp lý, chính đáng” [11,tr.137] Theo

Lão Tử “đạo trời không cần tranh mà thắng, không cần nói mà ứng

nghiệm, không mời mà các vật theo về” [12,tr.284]

Phạm trù “đức” cũng được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều, nhưng “đức” chủ yếu được dùng để nói đến đức tính tự nhiên của vạn vật Nếu đạo vô thủy vô chung, đạo có ở mọi nơi thì đức là biểu hiện của đạo

Và ở con người, đạo đức là: “sống đúng qui luật vận hành của thiên nhiên,

thành tựu nhân tính, sống chung với nhau trong một xã hội trật tự thái hòa” [65,tr.17] Từ đó, có thể hiểu đạo đức là con đường sống của con

người trong xã hội hay nói cách khác hơn đạo đức là cách con người lựa chọn cách thức ứng xử với nhau và với tự nhiên

Trong xã hội phong kiến phương Đông, Nho giáo đóng vai trò chi phối trong toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội Do đó, đạo đức Nho giáo được xem là hệ thống chuẩn mức đạo đức chi phối toàn bộ đời sống xã hội Đạo đức theo quan điểm của Nho giáo là đạo làm người, con người phải hành động theo hệ chuẩn mực đã định trong các mối quan hệ xã hội Người sáng lập Nho giáo là Khổng Tử (551 TCN - 479 TCN) và được tiếp tục bổ sung phát triển về sau bởi nhiều nhà tư tưởng nổi bật như Tăng Tử (505 TCN - 405 TCN), Mạnh Tử (372 TCN - 289 TCN) v.v… Tư tưởng đạo đức của Nho giáo ban đầu xoay quanh ba phạm trù chính là Nhân, Trí, Dũng Trong đó, Nhân là yếu tố dẫn đường cho Trí, Dũng Khi đã có Nhân rồi cần đến Trí, Dũng để mạnh dạng hành động theo điều Nhân Đây là ba phạm trù quan trọng nhất trong quan điểm về đạo đức của Khổng Tử Khổng Tử cho rằng bản tính con người là thiện, con người ta làm điều bất thiện chẳng qua là do tư dục và do hoàn cảnh tác động Để

Trang 16

11

con người trở về với bản tính thiện của mình cần phải đề cao Lễ Lễ được xem là hệ thống qui tắc chi phối đời sống xã hội theo trật tự mà chế độ phong kiến yêu cầu Lễ trở thành phương tiện để con người trở về với bản chất thiện của mình là Nhân, Nghĩa

Mạnh Tử kế thừa quan điểm cho rằng bản tính con người là thiện của Khổng Tử Do bản tính con người ta là thiện con người phải biết giữ gìn cái cao quí đó, bỏ đi phần ti tiện, thấp hèn thì mọi người đều trở thành thánh nhân Từ đó, Mạnh Tử chủ trương giáo hóa đạo đức con người Mạnh Tử khẳng định con người ta có thể gìn giữ và phát huy được tính thiện

Như vậy, theo quan điểm của triết gia Trung Quốc cổ đại thì đạo đức chính là những yêu cầu, những nguyên tắc, qui định mà mỗi người phải nhận thức, hành động để đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của bản thân và của xã hội theo một trật tự nhất định

Ở Việt Nam, xuất phát từ nền văn minh lúa nước, nền văn minh có

bước phát triển hội tựu với nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ Những tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo đã du nhập vào Việt Nam Trong

đó, Nho giáo là hệ thống tư tưởng thống trị xã hội Việt Nam thời phong kiến Lê - Nguyễn Nho giáo được người Việt Nam tiếp cận với vai trò là như là kết quả của sự “hệ thống hóa” nền văn hóa bản địa Từ đó, Nho giáo sớm được người dân Việt Nam tiếp nhận và ảnh hưởng đến đời sống tinh thần người dân Vì thế, quan điểm về đạo đức ở Việt Nam thời phong kiến

có điểm tương đồng với quan điểm về đạo đức của Nho giáo Tuy nhiên, tư tưởng đạo đức ở Việt Nam thời kỳ này mang màu sắc riêng được thể hiện ở

sự dung hợp của tam giáo là Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo Bắt đầu từ thời Trần Thái Tông đã thực hiện tổng hợp tam giáo là Nho, Phật, Đạo Cả ba

giáo lý ấy đều “khoác màu sắc Việt Nam để thích ứng với điều kiện sinh tồn

của dân tộc” [19,tr.78]

Trang 17

12

Trên cơ sở kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, kết hợp với tinh hoa văn hóa của nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều cống hiến góp phần hệ thống hóa những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Đồng thời, nâng nó lên một tầm cao mới, hình thành nên nền đạo đức mới, đạo đức cách mạng Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí

Minh, đạo đức cách mạng là “những phẩm chất đòi hỏi con người cần phải

có để tham gia vào cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, để cống hiến được nhiều nhất cho cuộc đấu tranh đó” [42,tr.339] Chủ

tịch Hồ Chí Minh khẳng định con người muốn làm cách mạng trước tiên phải có đạo đức vì chỉ khi có đạo đức thì người cán bộ cách mạng mới giữ vững được chủ nghĩa Mác-Lênin và đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào trong cuộc sống, giữ vững được mục tiêu của đấu tranh cách mạng

Ngày nay, trên cơ sở học thuyết Mác-Lênin đã có nhiều khái niệm đạo đức được đưa ra theo nhiều cách khác nhau

Theo Giáo trình Đạo đức học Mác-Lênin “đạo đức là một hình thái ý

thức xã hội là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau

và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [37,tr.7]

Theo Từ điển Triết học của Nhà xuất bản Tiến bộ Mát-xcơ-va “đạo

đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, một chế định xã hội thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội không trừ lĩnh vực nào” [57,tr.156]

Theo từ điển triết học của Cung Kim Tiến “Đạo đức là một trong

những hình thái ý thức xã hội phản ánh sự tồn tại về mặt tinh thần của cá nhân, một trong những đòn bẩy tinh thần cho quá trình phát triển xã hội Trong lĩnh vực nhận thức đạo đức, thái độ con người đối với thế giới và

Trang 18

Xuất phát từ thực tiễn của khoa học tự nhiên yếu kém và phương pháp siêu hình trong tư duy mà các nhà triết học trước Mác đã không nhận thấy được tính quyết định của vật chất đối với ý thức cũng như không nhận thấy cơ sở xã hội của con người, tức là chưa có quan điểm duy vật về lịch

sử Họ rơi vào duy tâm khi xem xét vấn đề xã hội, do đó không nhận thấy được tính quyết định của yếu tố “tồn tại xã hội” đối với sự hình thành và phát triển của ý thức xã hội nói chung cũng như của ý thức đạo đức nói riêng Theo các nhà triết học trước Mác, đạo đức là cái tự nhiên có sẵn trong bản tính con người hay tồn tại ở một lực lượng siêu nhiên nào đó bên ngoài con người Điểm chung của những quan điểm này là không nhận thức được nguồn gốc của đạo đức nằm ngay cơ sở xã hội của nó là tồn tại

xã hội Những nhà triết học thần học và những nhà triết học duy tâm khách quan cho rằng đạo đức bắt nguồn từ một lực lượng siêu nhiên nào đó ngoài con người là “thần thánh” hay “ý niệm tuyệt đối” hay đạo đức là do thần linh thượng đế tạo ra để giáo hóa con người Do đó, đạo đức mang tính thiện tối cao và là tiêu chuẩn chung của xã hội mà mỗi người phải tuân theo Những nhà triết học duy tâm chủ quan đi tìm nguồn gốc đạo đức ngay trong bản thân con người, đạo đức là cái tiên thiên bất biến, có sẵn và là cái

có trước cơ sở xã hội của con người Những nhà duy vật trước Mác mà tiêu biểu là L.Phoiơbắc đã bắt đầu xem xét đạo đức trong mối quan hệ với con

Trang 19

14

người nhưng con người trong quan điểm của L.Phoiơbắc chỉ là con người trừu tượng bên ngoài lịch sử, giai cấp, dân tộc và thời đại Trong tác phẩm

Luận cương về Phoi-ơ-bắc, Mác viết: “Phoiơbắc lấy con người làm điểm

xuất phát, nhưng đó không phải là con người sống trong một thế giới hiện thực với những quan hệ phức tạp, mà con người trừu tượng” [13,tr.375]

Những người theo quan điểm Charles Darwin (1809-1882) về xã hội đã đồng nhất con người với con vật trong quan niệm về nguồn gốc của đạo đức khi cho rằng những phẩm chất đạo đức của con người là đồng nhất với những bản năng của động vật Theo đó, đạo đức vẫn là cái bắt nguồn từ bên ngoài xã hội, bên ngoài hiện thực khách quan Dù đứng trên nhiều lập trường triết học khác nhau, các trường phái triết học trước Mác mặc dù đã cố gắn tập trung lý giải về ý nghĩa, giá trị cuộc sống v… Nhưng họ vẫn chưa vượt qua được những giới hạn của lịch sử để nhận thức nguồn gốc thực sự của ý thức nói chung và đạo đức nói riêng từ cơ sở tồn tại xã hội của nó

Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về nguồn gốc của đạo đức khác hẳn các nhà triết học, đạo đức học trong lịch sử Khi triết học Mác ra

đời đã mở ra một bước ngoặt cách mạng cho lịch sử triết học, tạo nên sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, đồng thời phát minh ra quan niệm duy vật về lịch sử làm cho chủ nghĩa duy vật Mác xít trở thành chủ nghĩa duy vật triệt để, giải thích một cách đúng đắn về

nguồn gốc của ý thức nói chung và của đạo đức nói riêng

Với quan điểm duy vật về lịch sử, học thuyết Mác đã khẳng định tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, trong đó có ý thức đạo đức Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là kết quả của quá trình phản ánh đời sống xã hội Đồng thời, nó cũng là kết quả của sự vận động và phát triển của lịch sử

xã hội Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh học với mặt xã hội Về mặt sinh học, con người là

Trang 20

15

sản phẩm của quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên Trong quá trình

đó, con người cần những nhu cầu mang tính bản năng, phản ánh bản chất sinh học của con người như: tồn tại, ăn, uống v.v , con người trước tiên phải là con người sinh học Tuy nhiên, mặt tự nhiên chỉ là điều kiện cần cho sự hình thành con người, những nhân tố quyết định đến sự hình thành

con người còn có nguồn gốc sâu xa là mặt xã hội Mác và Ăngghen đã chỉ

ra vai trò của lao động đối với con người C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng

định rằng: “có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn

giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình – đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người qui định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình”

[7,tr.29] Thông qua lao động, con người ngày càng hoàn thiện về thể chất, hình thành ngôn ngữ và phát triển tư duy Học thuyết Mác đã chỉ ra nguồn gốc xã hội của con người đó là lao động, chính lao động đã tách con người

ra khỏi loài vật Trong tác phẩm biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen đã

chỉ ra rằng: “lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống

loài người, và như thế đến một mức độ mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng

ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [9,tr.641] Trong

tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác đã chỉ ra bản chất con người

C.Mác khẳng định: “bản chất con người không phải là một cái trừu tượng

cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” [7,tr.11] Con người là con

người cụ thể, là sản phẩm của quá trình lao động sản xuất hay nói cách khác con người là sản phẩm của xã hội Trong quá trình lao động, con người phải liên kết với nhau cùng tác động vào tự nhiên, tạo ra của cải vật

Trang 21

16

chất phục vụ cho nhu cầu cơ bản của mình như: Ăn, mặt, ở v.v và cũng chính trong quá trình lao động nảy sinh nhu cầu tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, nhu cầu bình đẳng, công bằng trong quan hệ với sản phẩm làm ra Nhằm tối đa hiệu quả lao động, con người cần có sự hi sinh lợi ích cá nhân

vì công đồng Sự hi sinh ban đầu mang tính lợi ích vật chất nhưng về sau, khi đã trở thành thói quen thì sự hi sinh này mang tính tự nguyện Đây chính là hành vi đạo đức đầu tiên của con người Những chuẩn mực đạo đức dần hình thành và phát triển Xuất phát từ quan điểm duy vật về lịch

sử, khi xem xét vấn đề xã hội, chủ nghĩa Mác đã khẳng định vai trò của lao

động trong việc hình thành ý thức của con người C.Mác viết “Phương thức

sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [8,tr.15]

đây chính là luận điểm cốt lõi của chủ nghĩa Mác để giải quyết vấn đề xã hội trong đó có đạo đức

Như vậy, triết học Mác đã bác bỏ nguồn gốc của đạo đức với tư cách

là sản phẩm của những lực lượng siêu nhiên bên ngoài con người cũng như

là sự biểu hiện của năng lực “tiên thiên” sẵn có và nhất thành bất biến trong con người Triết học Mác đem nguồn gốc của đạo đức về với nguồn gốc hiện thực của nó là tồn tại xã hội Đạo đức phản ánh những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định

Ph.Ăngghen nhận xét: “xét cho đến cùng mọi học thuyết về đạo đức đã có

từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ”

[9,tr.137] Từ đó cho thấy, nội dung của đạo đức là do hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình lao động sáng tạo nên Cùng với sự phát triển của nhận thức, đạo đức tồn tại như một hình thái ý thức độc lập, có sự vận động và phát triển

Trang 22

“chất phát”, chưa được tách ra thành hình thái ý thức độc lập Do đó, hình thái ý thức đạo đức trong xã hội cộng sản nguyên thủy mang tính sơ khai

và chưa có tính duy lý Khi xã hội xuất hiện giai cấp và tồn tại đối kháng giai cấp, những hệ thống đạo đức của các giai cấp khác nhau và đối nghịch nhau trên cơ sở đối kháng về vị trí trong quá trình sản xuất vật chất mà cụ thể là vị trí trong mối quan hệ với tư liệu sản xuất và sản phẩm làm ra

Ph.Ăngghen viết: “những quan niệm đạo đức của mình từ những quan hệ

thực tiễn đang làm cơ sở cho vị trí giai cấp của mình, tức là từ những quan

hệ kinh tế trong đó người ta sản xuất và trao đổi” [9,tr.136] Đối kháng giai

cấp là kết quả tất yếu của tiến trình lịch sử nhân loại do sự phát triển của lực lượng sản xuất mà trước tiên là công cụ lao động Đây là một bước tiến của lịch sử nhân loại, quá trình này làm cho đạo đức cũng phát triển so với

xã hội cộng sản nguyên thủy Đạo đức bước đầu phản ánh và điều chỉnh hệ thống quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp Bên cạnh những mặt phát triển, quá trình này cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề mà loài người phải đấu tranh

để chống lại cái ác, tham lam, v.v để xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ

Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội ra đời trên cơ sở tồn tại hội nhất định Cũng như các hình thái ý thức xã hội khác trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang tính giai cấp Tuy nhiên, trong xã hội có giai

Trang 23

18

cấp, đạo đức không chỉ mang tính giai cấp mà còn mang tính nhân loại và

có bước phát triển do nhận thức của con người vượt khỏi tư duy cụ thể để chuyển sang xây dựng tư duy lý luận Nội dung của đạo đức được khái quát dưới dạng các các khái niệm, chuẩn mực và nó ngày càng hoàn thiện về mặt cấu trúc Sự hoàn thiện này làm cho nội dung phản ảnh của đạo đức và quá trình điều chỉnh của đạo đức trở nên sâu sắc hơn Tuy nhiên, trong xã hội còn tồn tại giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột, nội dung và hình thức của đạo đức có bước phát triển nhưng chưa hoàn thiện, chưa mang tính nhân văn, nhân đạo do sự đối kháng giai cấp Để xây dựng đạo đức mang tính nhân văn, nhân đạo với sự chiến thắng của cái thiện cần xây dựng cơ

sở xã hội của nó, tức là xóa bỏ giai cấp cũng như sự đối kháng giai cấp trên

cơ sở sự phát triển cao của lực lượng sản xuất Điều này chỉ có thể đạt được trong xã hội cộng sản mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội

Ph.Ăngghen khẳng định: “chừng nào sự phân cực xã hội còn gay gắt, thì

khái niệm “đạo đức phi gai cấp” thật khó chấp nhận” [9,tr.137]

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, đạo đức được sinh ra từ hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình chinh phục tự nhiên và cải tạo

xã hội, là kết quả của quá trình phản ánh tồn tại xã hội của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Trong xã hội có giai cấp đối kháng, đạo đức mang tính giai cấp, tuy đã phát triển nhưng đạo đức giai đoạn này chưa hoàn thiện Đạo đức chỉ thực sự hoàn thiện khi xã hội tồn tại cơ sở xã hội của nó là sự tiêu vong của giai cấp

Tóm lại, trước Mác đã tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về đạo đức

và nguồn gốc của đạo đức Tuy có nhiều điểm mang tính tích cực nhưng do những giới hạn của thời đại mà những quan điểm về đạo đức của các nhà triết học trước Mác chưa thực sự khoa học Đến khi triết học Mác ra đời với quan điểm duy vật về lịch sử đã tạo ra bước ngoặt trong lịch sử triết

Trang 24

19

học, xem xét các vấn đề xã hội trên quan điểm duy vật về lịch sử đã chỉ ra nguồn gốc của con người cùng với các hình thái ý thức xã hội của con người là ở thực tiễn chinh phục tự nhiên và cải tạo xã hội Đạo đức với tính chất là một hình thái ý thức xã hội được hình thành trên cơ sở tồn tại xã hội, là kết quả của quá trình phản ánh tồn tại xã hội trong một giai đoạn nhất định

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, đạo đức có những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, tức là phản ánh hiện thực đời sống xã hội đã sinh ra nó và khi đời sống

xã hội thay đổi thì đạo đức cũng phải thay đổi theo Hay nói cách khác đạo đức là một phạm trù mang tính lịch sử xã hội mà nguồn gốc sâu xa của nó

là do phương thức sản xuất xã hội qui định và ứng với mỗi hình thái kinh tế

- xã hội khác nhau có một kiểu đạo đức tương ứng Đó là đạo đức ở xã hội cộng sản nguyên thủy tương ứng với chế độ cộng sản nguyên thuỷ, đạo đức

ở xã hội chiếm hữu nô lệ tương ứng với chế độ chiếm hữu nô lệ, đạo đức ở

xã hội phong kiến tương ứng với chế độ phong kiến, đạo đức ở xã hội tư bản chủ nghĩa tương ứng với chế độ tư bản chủ nghĩa và đạo đức ở xã hội cộng sản chủ nghĩa tương ứng với chế độ cộng sản chủ nghĩa Trong tác

phẩm Chống Đuyrinh, Ph.Ăngghen viết: “chúng ta khẳng định rằng, xét

cho đến cùng, mọi thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ” [9,tr.137]

Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, đạo đức biểu hiện lợi ích của

từng giai cấp nhất định Khi xã hội có “đối kháng giai cấp, có kẻ thống trị

và người bị trị, kẻ bốc lột và người bị bốc lột thì không có và không thể có một kiểu đạo đức chung mọi người, mọi xã hội và toàn nhân loại”

[56,tr.692] Đạo đức xã hội chứa bên trong nó những mâu thuẫn và đối

Trang 25

20

kháng giai cấp Trong xã hội có giai cấp thì mỗi giai cấp có những chuẩn mực đạo đức riêng Tư tưởng đạo đức thống trị xã hội chính là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị Như vậy sự hình thành, phát sinh phát triển của đạo đức là một quá trình do sự phát triển của phương thức sản xuất quyết định

Thứ hai, đạo đức chứa dựng hệ thống các nguyên tắt làm chuẩn mực cho hành vi của con người Trong xã hội, tồn tại nhiều hình thức quy phạm khác nhau như pháp luật, tôn giáo, đạo đức Trong đó, đạo đức đã đưa ra những chuẩn mực, qui tắc được biểu hiện thành những khái niệm: Thiện,

ác, tốt, xấu, lương tâm, trách nhiệm v.v…và đây là hệ thống tiêu chuẩn để đánh giá hành vi của con người trong một xã hội ở giai đoạn nhất định Qua

đó, con người tự soi xét chính bản thân mình Tuy nhiên, hệ thống khái niệm này phụ thuộc vào tồn tại xã hội đã nảy sinh ra nó, tức là hệ thống khái niệm đạo đức sẽ thay đổi theo từng thời kỳ khác nhau, từng hoàn cảnh

lịch sử khác nhau Ph.Ăngghen khẳng định: “từ dân tộc này đến dân tộc

khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác

đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược nhau” [9,tr.135]

Những chuẩn mực đạo đức khi được hình thành là tiêu chuẩn cho hành vi của cá nhân trong xã hội Nó là hệ thống các giá trị qui định hành vi của cá nhân đối với cá nhân khác cũng như với xã hội Con người là một sản phẩm

của xã hội, theo C.Mác: “trong tính hiện thực của nó, bản chất con người

là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” [7,tr.11] Khi là một thành viên trong

xã hội, con người chịu sự chi phối bởi môi trường xã hội, tức là chịu sự chi phối bởi hệ thống tiêu chuẩn, nguyên tắc mang tính phổ biến chung cho xã hội Hệ thống nguyên tắc này là pháp luật, phong tục, đạo đức v.v… Trong

đó, đạo đức đánh giá và điều chỉnh hành vi của con người theo những chuẩn mực đạo đức

Trang 26

21

Trong xã hội có giai cấp, đạo đức bao giờ cũng thể hiện lợi ích của giai cấp Những chuẩn mực đạo đức là yêu cầu của cả xã hội hoặc của một giai cấp đối với cá nhân Những chuẩn mực đạo đức đã được thừa nhận sẽ trở thành chuẩn mực hành vi, đồng thời cũng là tiêu chuẩn để đánh giá hành vi của cá nhân Việc thực hiện những chuẩn mực mang tính phổ biến chung này dần trở thành bản năng, nó tồn tại như một nhu cần có, cần được thực hiện cho nên sự điều chỉnh của đạo đức mang tính tự nguyện, tự do lựa chọn trong hành vi của mình

Thứ ba, đạo đức là một hệ thống các giá trị xã hội Đạo đức chứa đựng hệ thống các tiêu chuẩn, qui tắc dùng để điều chỉnh, đánh giá hành vi, thái độ của con người, đây cũng chính là hệ thống giá trị xã hội làm cho cuộc sống có ích, có ý nghĩa để con người sống xứng đáng với vị trí làm người của mình Các giá trị này thường được biểu hiện dưới hình thức khẳng định hay phủ định một lợi ích nào đó Nghĩa là nó bày tỏ thái độ của

cá nhân trước hành vi của mình, của chủ thể khác trong một cộng đồng nhất định Nếu hệ thống giá trị đạo đức này phản ánh đúng hiện thực xã hội, phù hợp với sự phát triển, tiến bộ thì hệ thống đạo đức này mang tính tích cực nhân đạo và ngược lại hệ thống này mang tính phản động, phản

nhân đạo

Đạo đức được xem là một hệ thống các chuẩn mực nên khi nhận thức đạo đức cần xem xét đạo đức trên cơ sở liên hệ và tác động lẫn nhau

của những yếu tố cấu thành

Đạo đức là sự thống nhất giữa ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức

Trong đó, ý thức đạo đức là kết quả của quá trình nhận thức đạo đức, là hệ thống những qui tắc, chuẩn mực, giá trị đạo đức, cùng với những cảm xúc, những tình cảm đạo đức của con người, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau cùng phản ánh hiện thực đạo đức đang tồn tại Ý thức đạo đức

Trang 27

22

có vai trò vô cùng to lớn trong việc điều chỉnh hành vi của con người trong

sự đối chiếu giữ chuẩn mực hành vi cá nhân với những chuẩn mực đạo đức

xã hội Tự giác thực hiện các chuẩn mực đạo đức nhằm đem lại những giá trị tốt đẹp cho xã hội Ý thức đạo đức về mặt cấu trúc gồm: Tri thức đạo

đức, tình cảm đạo đức và ý chí đạo đức

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, thực tiễn là “những hoạt động

vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo

tự nhiên và xã hội” [41,tr.347] Theo đó, thực tiễn đạo đức là toàn bộ hoạt

động mang tính vật chất của con người bị quy định bởi ý thức đạo đức, là quá trình hiện thực hóa ý thức đạo đức, đưa ý thức đạo đức vào cuộc sống Thực tiễn đạo đức trong xã hội được biểu hiệu như sự tương trợ, hành động giúp đỡ v.v… Thực tiễn đạo đức mang tính lịch sử xã hội, gắn với mỗi thời đại lịch sử xã hội khác nhau do sự khác nhau về điều kiện kinh tế - xã hội, con người có tri thức khác nhau, ý thức đạo đức khác nhau thì hành vi đạo đức cũng khác nhau nhưng đều hướng đến các giá trị chung mang tính nhân văn, vì sự tiến bộ của con người

Thực tiễn đạo đức có vai trò vô cùng quan trọng, vừa là cơ sở, mục đích, động lực chủ yếu của ý thức đạo đức Ý thức đạo đức được hình thành từ hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình chinh phục tự nhiên cải tạo xã hội, chỉ khi có thực tiễn đạo đức thì ý thức đạo đức mới có thể thông qua hoạt động cụ thể của con người mà chuyển hóa thành lực

lượng vật chất có lợi cho xã hội Theo triết học Mác, thực tiễn đạo đức là:

“hệ thống các hành vi đạo đức của con người được nảy sinh trên cơ sở ý

thức đạo đức” [37,tr.13] Và đến lượt nó thì ý thức đạo đức bổ sung cho

thực tiễn đạo đức làm phong phú thêm thực tiễn đạo đức

Giữa ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau hình thành nên bản chất đạo đức của

Trang 28

23

con người, của giai cấp ở một thời đại lịch sử nhất định Về nhận thức luận,

có thể tách ý thức đạo đức ra khỏi thực tiễn đạo đức, còn trong hoạt động thực tiễn thì không thể tách ý thức đạo đức ra khỏi chủ thể của hành vi đạo đức Thực tiễn đạo đức là hành vi có ý thức của chủ thể Ý thức đạo đức được phản ảnh trong hành vi của chủ thể đạo đức

Đạo đức không chỉ là quan hệ giữa ý thức đạo đức và hành vi đạo đức mà nó còn biểu hiện quan hệ giữa người với người, đó là quan hệ đạo

đức Quan hệ đạo đức là “hệ thống những quan hệ xác định giữa con người

và con người, giữa cá nhân và xã hội về mặt đạo đức” [37,tr.13] Nó là

quan hệ tinh thần nhưng lại phản ánh tồn tại xã hội Quan hệ xã hội là quan

hệ giữa con người với con người trong xã hội, là yếu tố góp phần hình thành nên bản chất xã hội của con người Nếu xét xã hội như một hệ thống các quan hệ xã hội giữa người với người thì quan hệ đạo đức là một dạng quan hệ xã hội, là hệ thống những quan hệ xã hội về mặt đạo đức của con

người trong từng thời kỳ lịch sử nhất định Quan hệ đạo đức được hình

thành, tồn tại và phát triển theo quy luật khách quan của xã hội Nó phản ánh và được qui định bởi quan hệ sản xuất của xã hội Quan hệ đạo đức thông qua quan hệ lợi ích giữa người với người, giữa người với xã hội mà phản ánh quan hệ sản xuất Quan hệ đạo đức luôn biến đổi theo sự phát triển của kinh tế - xã hội và là một cơ sở quan trọng để hình thành nên ý

thức đạo đức

Xem xét đạo đức trong mối quan hệ giữa cái chung với cái riêng, cái phổ biến với cái đặc thù và cái đơn nhất thì đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nó là sự thống nhất giữa cái chung

và cái riêng, cái phổ biến với cái đặc thù và cái đơn nhất Đạo đức xã hội là

đạo đức được xem xét, đánh giá trong phạm vi toàn xã hội Đạo đức xã hội được hình thành trên cơ sở phản ánh tồn tại xã hội của cộng đồng nhất

Trang 29

24

định, là phương thức điều chỉnh hành vi của cá nhân thuộc cộng đồng nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của cộng đồng Đạo đức xã hội được hình thành trên cơ sở cộng đồng về lợi ích và hoạt động của cá nhân thuộc cộng đồng Đạo đức xã hội tồn tại như là một hệ thống kinh nghiệm mang tính

phổ biến của đạo đức cộng đồng

Đạo đức cá nhân là đạo đức của từng cá nhân riêng lẻ trong cộng đồng Đạo đức cá nhân phản ánh tồn tại của cá nhân như là một hệ thống riêng lẽ của tồn tại xã hội Trong hoạt động thực tiễn và nhận thức, cá nhân tiếp thu đạo đức xã hội như là một hệ thống kinh nghiệm xã hội đã được hình thành trong lịch sử cộng đồng Trước mắt cá nhân, đạo đức xã hội tồn tại là khách quan mà mọi cá nhân cần nhận thức để tự giác thực hiện Tùy thuộc vào lập trường quan điểm, thái độ, điều kiện nhận thức mà mỗi cá nhân có mức độ tiếp nhận khác nhau đối với đạo đức xã hội

Do đó, đạo đức có các chức năng đối với con người như sau:

Thứ nhất, chức năng nhận thức của đạo đức Cũng giống như những

hình thái ý thức xã hội khác, đạo đức phản ánh tồn tại xã hội Tuy nhiên, phản ánh của đạo đức cũng có những nét riêng Đạo đức trước hết là một hình thái ý thức xã hội nhưng nó không dừng lại ở ý thức mà nó luôn gắn với hoạt động thực tiễn của con người Vì vậy, đạo đức vừa mang tính ý thức vừa mang tính thực tiễn Nhận thức đạo đức có hai đặc điểm khác với các hình thái ý thức xã hội khác Nhận thức đạo đức được chuyển hóa thành hành động đạo đức ngay sau khi kết quả của quá trình nhận thức được ghi nhận, tạo nên mối quan hệ biện chứng giữa ý thức đạo đức và

Trang 30

25

nhận thức để tự nhận thức các giá trị đạo đức của cá nhân Chính nhờ vào quá trình này mà chủ thể nhận thức chuyển hóa được những giá trị đạo đức của xã hội thành đạo đức cá nhân Nhận thức hướng nội là chủ thể nhận thức lấy bản thân mình làm đối tượng nhận thức Thông qua hoạt động tự đánh giá, tự thẩm định hành vi đạo đức của chủ thể trong mối quan hệ với hệ thống giá trị đạo đức xã hội mà chủ thể hình thành và phát triển đạo đức cá nhân Nếu trong nhận thức pháp luật, vai trò của công cụ cưỡng chế đóng vai trò vô cùng quan trọng thì trong nhận thức đạo đức, dư luận xã hội và lương tâm có vai trò mà không gì có thể thay thế được Dư luận xã hội là sự đánh giá từ phía xã hội đối với chủ thể hành động, còn lương tâm là sự tự đánh giá của chính chủ thể đối với hành vi của mình Cả hai đều giúp chủ thể khẳng định lại chân giá trị đạo đức của mình và của xã hội Nhận thức đạo đức đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nên tình cảm đạo đức Nhận thức đạo đức và kết quả của nó tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh các chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo cho sự vận động và phát triển của xã hội Chức năng nhận thức của đạo đức tạo ra cơ sở cho các chức năng khác của đạo đức phát huy

Nhận thức đạo đức cũng tồn tại hai trình độ là trình độ thông thường

và trình độ lý luận Nhận thức đạo đức ở trình độ thông thường là đạo đức

mà mỗi cá nhân đều cần phải nhận thức trong hoạt động thực tiễn của mình Nhận thức đạo đức ở trình độ lý luận là nhận thức được hình thành bởi hệ thống giá trị đạo đức Ý thức đạo được khái quát thành hệ thống khái niệm, phạm trù đáp ứng cho sự phát triển của đạo đức và tiến bộ xã hội Đây là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành hệ tư tưởng và hành vi của giai cấp cầm quyền

Trang 31

26

Thứ hai, đạo đức có chức năng điều chỉnh hành vi Đạo đức là một

trong những phương thức điều chỉnh hành vi quan trọng của con người trong xã hội Con người muốn tồn tại phải liên kết với nhau cùng chinh phục tự nhiên Trong quá trình lao động sản xuất, con người hình thành nên mối quan hệ xã hội giữa người với người Để xã hội nằm trong trật tự nhất định, con người đã đưa ra nhiều phương pháp điều chỉnh hành vi như chính trị, pháp quyền, đạo đức, v.v… Trong đó, chính trị sử dụng quyền lực đặc biệt là quyền lực Nhà nước, nắm trong tay mọi nguồn lực của quốc gia điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội thông qua các biện pháp đặc trưng: Pháp luật, hành chính, kinh tế v.v… Đạo đức điều chỉnh hành vi của con người thông qua sức mạnh của lương tâm và dư luận xã hội Tuy nhiên, giữa pháp luật và đạo đức có mối quan hệ mật thiết với nhau, có thể chuyển

hóa cho nhau Pháp luật được thể hiện dưới hình thức quy phạm pháp luật,

là ý chí, thái độ tán thành hay cấm đoán của giai cấp thống trị đối với vấn

đề xã hội Pháp luật do Nhà nước ban hành mới hay thừa nhận từ quan hệ

có sẵn trong xã hội điều chỉnh những quan hệ xã hội mà Nhà nước nhận thấy tầm quan trọng cần thiết điều chỉnh chứ không điều chỉnh mọi vấn đề

trong xã hội Pháp luật được định nghĩa là: “những tập quán hình thành và

lưu truyền trong xã hội, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị và được Nhà nước thừa nhận, chúng trở thành những qui tắc xử sự chung và được Nhà nước đảm bảo thực hiện” [38,tr.234] Pháp luật được đảm bảo thực

hiện bằng công cụ bạo lực của mình là hệ thống nhà tù, cảnh sát v.v… nhằm thực hiện định hướng của giai cấp thống trị Trong khi đó, đạo đức là những chuẩn mực được cộng đồng, xã hội thừa nhận, là kết quả của quá trình phản ánh tồn tại xã hội đã sinh ra nó Mục đích điều chỉnh của đạo

đức là tạo nên mối quan hệ hài hòa của con người trong xã hội Đối tượng

điều chỉnh của đạo đức trước tiên là hành vi cá nhân và thông qua hành vi,

Trang 32

27

cá nhân điều chỉnh quan hệ của cá nhân với cộng đồng Đạo đức điều chỉnh hành vi thông qua sự tự giác lựa chọn hành động theo nội dung của những chuẩn mực được xác lập ban đầu Đạo đức thông qua dư luận xã hội để khuyến khích cái thiện, phê phán cái xấu và để bản thân chủ thể hành động

tự giác điều chỉnh hành vi Do đó, tác dụng điều chỉnh hành vi của đạo đức mang tính lâu dài và bền vững hơn Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức thông qua dư luận xã hội và lương tâm là một chức năng vô cùng quan trọng mà không một hình thái ý thức xã hội nào có thể thay thế được Việc xây dựng hệ thống giá trị đạo đức chuẩn mực để mọi người cùng hướng đến sẽ đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội dựa trên sự hài hòa

về lợi ích

Thứ ba, đạo đức có chức năng giáo dục Trong một giới hạn nhất định, con người vừa là sản phẩm của lịch sử vừa là chủ thể của lịch sử Con người sinh ra trong quá trình chinh phục tự nhiên đã hình thành nên ý thức

xã hội trên cơ sở điều kiện sinh hoạt vật chất nhất định Đồng thời con người thông qua hoạt động có ý thức của mình tác động trở lại cơ sở kinh

tế - xã hội Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, nó là sản phẩm của con người, được kế thừa, bổ sung qua nhiều thế hệ tiếp theo Nhưng khi được định hình, đạo đức tồn tại như một hệ thống khách quan

chi phối trở lại hành vi của con người

Trong xã hội có giai cấp, hệ thống đạo đức xã hội phản ánh lợi ích của giai cấp thống trị Bên cạnh đó, còn tồn tại nhiều hệ thống đạo đức phản ánh lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác nhau Các hệ thống đạo đức này cùng tồn tại trong xã hội và tác động đến sự hình thành đạo đức cá nhân thông qua kết quả của quá trình nhận thức đạo đức và thực tiễn đạo đức Sự lặp lại các hành vi đạo đức một cách thường xuyên làm cho đạo đức cá nhân, đạo đức xã hội được củng cố, phát triển

Trang 33

cá nhân mình Các chuẩn mực của hệ thống đạo đức khi đã hoàn thiện sẽ giúp các cá nhân, cộng đồng tự động điều chỉnh hành vi theo hệ thống chuẩn mực đã định, hướng con người đến những giá trị mà xã hội cho là

cao cả, tốt đẹp

Như vậy chức năng giáo dục của đạo đức được thể hiện ở sự kế thừa những giá trị đạo đức tốt đẹp lẫn nhau giữa các thành viên trong cộng đồng Đồng thời, chức năng giáo dục của đạo đức còn thể hiện ở sự tự giác hành động, tự giáo dục

1.1.2 Vai trò của đạo đức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội ra đời sớm trong lịch sử tư tưởng nhân loại Đạo đức phản ánh tồn tại xã hội đã sinh nó, là sản phẩm của tồn tại xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất định Xét trong mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội với quan điểm duy vật về lịch

sử, C.Mác và Ph.Ănghen đã chỉ ra vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối

với các hình thái ý thức xã hội trong đó có đạo đức C.Mác viết: “không

phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [8,tr.15] Đồng thời, chủ nghĩa Mác-

Lênin khẳng định tính độc lập tương đối của đạo đức với các hình thái ý thức xã hội khác và với tồn tại xã hội đã sinh ra nó mà trước hết là ý thức chính trị, pháp quyền, thẩm mỹ, tôn giáo v.v… Cùng với các hình thái ý

Trang 34

Trong một tổ chức, nguồn lực đạo đức mang lại hiệu quả cao cho sự phát triển Chính vì nhận thấy điều này nên các tổ chức ngày càng gia tăng việc khai thác và đưa nguồn lực vô hạn trên vào các sản phẩm của mình Đối với các tổ chức, đạo đức trở thành một yếu tố góp phần hình thành, nâng cao giá trị thương hiệu của tổ chức

Trong một quốc gia, đạo đức là nguồn lực vô hạn, việc khai thác và phát triển nguồn lực đạo đức đóng vai trò quan trọng, đặt nền móng cho sự phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững Tuy nhiên, sự tác động của đạo đức đối với đời sống kinh tế - xã hội phải đặt trong mối quan hệ với các yếu tố sau:

Thứ nhất, sự tác động của ý thức đạo đức đến sự phát triển của kinh

tế - xã hội thông qua tính chất tiến bộ của chuẩn mực đạo đức Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức đạo đức chứa đựng bên trong nó những tư tưởng, khát vọng của con người và cả những mâu thuẫn mang tính đối kháng giai cấp trên cơ sở đối kháng về lợi ích giai cấp Những mẫu thuẫn đối kháng

Trang 35

30

trong xã hội có giai cấp là kết quả phản ánh quá trình đấu tranh lâu dài giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị Trong xã hội có giai cấp, ý thức đạo đức phản ánh lợi ích của giai cấp thống trị theo hướng củng cố nền thống trị Những giá trị đạo đức phù hợp với lợi ích giai cấp cầm quyền được thể chế hóa thành quy phạm mang tính bắt buộc chung được nhà nước đảm bảo thực hiện Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định theo sự tiến bộ của lịch sử, giai cấp thống trị vẫn chịu sự ảnh hưởng và phải thừa nhận một số chuẩn mực đạo đức đã mang tính phổ quát cho toàn xã hội Khi ý thức đạo đức của giai cấp thống trị mang tính tiến bộ phù hợp với tồn tại xã hội thì

nó sẽ tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội Ph.Ăngghen viết: “sự

phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, v.v điều dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế Nhưng tất cả cũng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế” [10,tr.271] Và ngược lại,

nó kiềm hãm sự phát triển của xã hội Nhưng sự kiềm hãm chỉ diễn ra trong một giai đoạn nhất định Khi lực lượng sản xuất đã phát triển đến giai đoạn chín mùi thì sẽ diễn ra cách mạng xã hội phá vỡ quan hệ sản xuất lỗi thời cùng với kiến trúc thượng tầng tương ứng, thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác với một hệ thống ý thức xã hội mới phù hợp với nó, trong đó có ý thức đạo đức Có thể nói, trong những điều kiện lịch sử nhất định, đạo đức tiến bộ của giai cấp cách mạng góp phần làm nên thành công của cách mạng xã hội

Thứ hai, sự tác động của ý thức đạo đức đối với thái độ của người lao động trong quá trình lao động sản xuất Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, con người vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của xã hội Con người được hình thành thông qua quá trình lao động sản xuất Cũng chính trong quá trình này, các hình thái ý thức xã hội được hình thành trong

đó có ý thức đạo đức Ý thức đạo đức được hình thành và phát triển qua

Trang 36

31

nhiều hình thái kinh tế - xã hội khác nhau trong lịch sử, chứa đựng bên trong nó nhiều nội dung khác nhau nhưng có một khuynh hướng chung là chống lại cái bất công, cái ác và hướng đến cái thiện, cái đẹp Qua đó, ý thức đạo đức ngày càng hoàn thiện góp phần hình thành nên con người với

ý thức kỷ luật, trình độ chuyên môn cao và tính tự giác trong lao động Đạo đức đã trở thành mục tiêu, động lực phát triển xã hội

Thứ ba, sự tác động của ý thức đạo đức đối với sự phát triển kinh

tế - xã hội thông qua giai cấp cầm quyền Trong xã hội có giai cấp, bản chất giai cấp thống trị đóng vai trò quan trọng đối với sự tiến bộ của xã hội Khi giai cấp thống trị đại diện cho giai cấp cách mạng, thì ý thức đạo đức của giai cấp thống trị phù hợp với ý thức chính trị và tồn tại xã hội đã sinh ra nó, đồng thời thúc đẩy xã hội phát triển Ngược lại, khi giai cấp thống trị không đồng thời là giai cấp cách mạng thì ý thức đạo đức của giai cấp thống trị sẽ mang tính phản động, tiêu cực, kiềm hãm sự phát triển của xã hội

Trong một hình thái kinh tế - xã hội, bản chất của giai cấp thống trị quyết định bản chất của nhà nước và ý thức đạo đức của giai cấp thống trị đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành thể chế nhà nước Thể chế nhà nước là một loại thể chế đặc biệt do nhà nước ban hành Thể

chế nhà nước là “toàn bộ các cơ quan nhà nước với hệ thống qui định do

Nhà nước xác lập trong hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước và được Nhà nước sử dụng để điều chỉnh và tạo ra các hành vi và mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, tổ chức nhằm thiết lập trật tự kỷ cương xã hội”

[59,tr.110] Thể chế nhà nước với vai trò là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng nó ra ra đời để bảo vệ và duy trì quyền thống trị giai cấp Do

đó, bản chất giai cấp thống trị mang tính tiến bộ thì thể chế nhà nước mang tính tiến bộ và ngược lại

Trang 37

32

Thứ tư, sự tác động của đạo đức đặt trong mối quan hệ với mức độ phổ biến của chuẩn mực đạo đức tiến bộ Trong cùng một xã hội có giai cấp, tồn tại các hình thái ý thức đạo đức khác nhau giữa các giai cấp khác nhau Trong đó, ý thức đạo đức tiến bộ thuộc về giai cấp cách mạng và giai cấp cách mạng có nhiệm vụ phổ biến trong toàn xã hội chuẩn mực đạo đức

mới mở đường cho cách mạng xã hội tiến tới thành công

Sau cách mạng xã hội, khi mà các quan hệ sản xuất mới được xác lập thì các hình thái ý thức của xã hội cũ vẫn còn phát huy tác dụng, trong đó có đạo đức Ý thức đạo đức mới chưa kịp phát huy rộng rãi trong toàn bộ đời sống xã hội do đó chưa thể phát huy hết sức mạnh tổng hợp của các thành phần trong xã hội để phát triển xã hội Khi ý thức đạo đức mới thâm nhập một cách sâu rộng vào quần chúng nhân dân thì nó

có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy xã hội nhanh chóng phát triển

Với học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội, chủ nghĩa Mác đã khẳng định vai trò quyết định của điều kiện kinh tế - xã hội đối với sự hình thành và phát triển của ý thức đạo đức, đồng thời khẳng định vai trò tích cực của đạo đức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội khi nó phản ánh phù hợp với tồn tại xã hội đã sinh ra nó Nhưng, đạo đức với tư cách

là một hình thái ý thức xã hội, nó không thể trực tiếp tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội mà nó chỉ có thể phát huy tác dụng thông qua hoạt động cụ thể của con người trong mối liên hệ với tính chất tiến bộ của ý thức đạo đức, thái độ của con người với quá trình lao động, bản chất của giai cấp cầm quyền và mức độ phổ biến của các chuẩn mực đạo đức tốt đẹp Phát huy vai trò của ý thức đạo đức là phát huy vai trò của con người trong đời sống xã hội

Trang 38

33

1.2 CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VÀ ĐẠO ĐỨC CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM

1.2.1 Cán bộ, công chức ở Việt Nam

Khi ra đời, Nhà nước phải thực hiện các chức năng cơ bản là chức năng thống trị giai cấp, chức năng quản lý xã hội Để thực hiện các chức

năng của mình, Nhà nước cần phải có một đội ngũ “giúp việc” thực thi

hàng loạt các nhiệm vụ của từng thời kỳ khác nhau Trong quá trình này,

“người giúp việc cho Nhà nước” là những người nhân danh và sử dụng

quyền lực Nhà nước tác động đến tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Hiệu lực cũng như hiệu quả của việc thực hiện các nhiệm vụ trên phụ thuộc

vào trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức của đội ngũ “những người

giúp việc” này

Cán bộ, công chức là thuật ngữ mang tính lịch sử xã hội, được hình thành và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước tư bản

mà dấu mốc đầu tiên là sự thành công của cách mạng tư sản Với sự thành công của cách mạng công nghiệp đã làm thay đổi cơ bản đời sống kinh tế

- xã hội và lực lượng sản xuất tư sản phát triển ở những quốc gia thực hiện nó Quan hệ sản xuất phong kiến không còn phù hợp với lực lượng sản xuất mới Do đó, giai cấp tư sản tiến hành cuộc cách mạng tư sản, mở đường cho phương thức sản xuất tư bản phát triển Với Nhà nước dân chủ

tư sản, vai trò vị trí của con người trong xã hội được khẳng định hơn ở chế độ xã hội phong kiến Xã hội chuyển từ xã hội thần dân sang xã hội công dân Nhà vua không còn là chủ thể quyền lực duy nhất nữa mà chỉ còn là hình ảnh mang tính “biểu trưng” cho quốc gia Quyền lực Nhà nước nắm trong tay giai cấp tư sản và tiến hành xây dựng Nhà nước dân chủ tư sản Để đảm bảo duy trì quyền thống trị, phát triển kinh tế - xã hội,

Trang 39

công chức được hiểu là: “những người giữ công vụ thường xuyên trong cơ

quan Nhà nước, được xếp vào ngạch, bậc công chức được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước” [61,tr.55] Đối với những quốc gia nhất nguyên về

chính trị, cán bộ, công chức được hiểu rộng hơn Cán bộ, công chức là:

“những người giữ công vụ thường xuyên trong cơ quan Nhà nước, được

xếp vào ngạch, bậc công chức được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”

và “những đối tượng có dấu hiệu tương tự nhưng làm việc tại các tổ chức

của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội” [61,tr.55], rất khó để đưa ra một khái

niệm chung về công chức cho mọi quốc gia Tuy nhiên, có thể thấy rằng cán bộ, công chức là một dạng nghề nghiệp đặc biệt, “nghề công chức” Nó đặc biệt vì cán bộ, công chức khác với các dạng lao động khác ở chỗ công chức sử dụng quyền lực Nhà nước, một dạng quyền lực đặc biệt của xã hội

Thực tiễn xã hội đã cho thấy rằng nhân tố con người mà chủ yếu là những người thực thi quyền lực nhà nước luôn có vai trò quyết định đối với

sự tồn vong của một chế độ xã hội, sự phát triển hay khủng hoảng của một quốc gia Nên vấn đề con người luôn là vấn đề được đặc biệt quan tâm ở nhiều quốc gia Trong chế độ quan lại phong kiến, vấn đề con người đã được các Nhà nước phong kiến quan tâm chọn lựa nhằm chọn ra đội ngũ

“quan lại” trung thành, tài đức phục vụ giai cấp và phục vụ xã hội Ngày nay, các quốc gia trên thế giới nhận thấy vai trò của người phục vụ bộ máy Nhà nước là rất quan trọng và được đề cao, gọi đội ngũ này là “cán bộ,

Trang 40

bộ trưởng (còn gọi là công chức chính trị hay công chức chuyên nghiệp), những người đứng đầu bộ máy độc lập và những quan chức của ngành hành chính” [39,tr.122] Như vậy, chỉ những người làm việc trong ngành

hành pháp mới được gọi là công chức Quan hệ giữa Chính phủ và công chức là quan hệ giữa ông chủ và người làm thuê

Ở Đức, theo Luật Công chức, công chức Cộng hoà Liên bang Đức

là: “những người phục vụ ở các đoàn thể xã hội, đoàn thể xây dựng cơ sở

vật chất và tài chính, có quan hệ làm việc và tín nhiệm theo luật chung Những người chịu sự chỉ huy, kiểm tra, đôn đốc trực tiếp của liên bang là công chức liên bang; còn những người phục vụ ở các đoàn thể xã hội, đoàn thể xây dựng cơ sở vật chất và tài chính theo luật chung trực tiếp lệ thuộc Chính phủ liên bang là công chức gián tiếp Tất cả những người trên đây đều được gọi chung là công chức” [39,tr.122-123] Như vậy, theo Luật

Công chức, công chức Cộng hòa Liên bang Đức được chia ra thành hai loại, công chức trực tiếp và công chức gián tiếp Công chức trực tiếp là những người chịu sự chỉ huy, kiểm tra, đôn đốc trực tiếp của chính phủ liên bang Công chức gián tiếp là những người làm việc trong các tổ chức xã hội, tổ chức xây dựng cơ sở vật chất và tài chính theo luật chung, trực tiếp

lệ thuộc Chính phủ liên bang

Ở Pháp, theo Điều 2 Chương II Qui chế về công chức năm 1994 của

Cộng hòa Pháp đã đưa ra khái niệm như sau: “công chức là những người

được bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên với thời gian làm việc trọn

Ngày đăng: 04/05/2021, 07:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w