1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ thị xã dĩ an, tỉnh bình dương lãnh đạo phát triển văn hóa xã hội (1999 2012)

150 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 3,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến nay, nhân dân Dĩ An còn lưu lại những ngành nghề truyền thống lâu đời như nghề làm tăm nhang, chạm khắc gỗ, sơn mài, làm guốc, làm giấy, dệt chiếu … Nhiều nghề truyền thống ở Dĩ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐINH THỊ LUYỆN

ĐẢNG BỘ THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - XÃ HỘI

(1999 - 2012 )

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐINH THỊ LUYỆN

ĐẢNG BỘ THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - XÃ HỘI

(1999 - 2012)

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60.22.56

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN HÙNG

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tác giả Tư liệu, số liệu sử dụng trong luận văn trung thực và có nguồn gốc

TP Hồ Chí Minh ngày 20 tháng 12 năm 2014

Ký tên

Đinh Thị Luyện

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Thực hiện đường lối đổi mới được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ

VI (1986) của Đảng khởi xướng, nước ta thoát khỏi sự khủng hoảng, khó khăn, kinh tế - xã hội phát triển, an ninh quốc phòng được giữ vững, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao Trong xu thế phát triển chung ấy, huyện Dĩ An (nay là thị xã Dĩ An) được cả nước biết đến với những thành tựu vượt bậc trong sự nghiệp đổi mới, trở thành trái tim công nghiệp của miền Đông Nam Bộ

Sau 13 năm tái lập huyện (20/8/1999 - 2012) – quãng thời gian không dài so với lịch sử hào hùng của mảnh đất này - nhưng đã có rất nhiều sự đổi thay của vùng đất và con người nơi đây Những thành tựu mà thị xã Dĩ An đạt được trong thời gian qua góp phần khẳng định đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng, mà trực tiếp là của một Đảng bộ có truyền thống đoàn kết, thống nhất vượt qua mọi khó khăn, đã chủ động suy nghĩ, tìm tòi và biết vận dụng một cách sáng tạo đường lối đổi mới vào điều kiện địa phương; biết kế thừa

và phát huy những thành quả của thế hệ đi trước để tiếp tục không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động Chính vì vậy, Dĩ An được nâng lên cấp Thị xã theo Quyết định số 04/NQ-CP của Chính phủ ngày 13 tháng 01 năm 2011

Sự phát triển kinh tế gắn liền với phát triển văn hóa - xã hội là một xu thế tất yếu trong lịch sử Sự phát triển văn hóa – xã hội là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển và ngược lại, phát triển kinh tế nhằm giải quyết tốt các vấn

đề văn hóa – xã hội Đặc biệt, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa sự gắn kết chặt chẽ kinh tế trong văn hóa- xã hội, văn hóa – xã hội trong kinh tế trở thành nhu cầu, đòi hỏi khách quan Vì trước đây, có quan điểm cho rằng: chỉ cần tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng cơ chế kinh tế thị

Trang 5

trường cùng với việc phát triển, sử dụng khoa học công nghệ cao là có sự phát triển Sau một thời gian thực hiện kết quả cho thấy, một số quốc gia đạt được một số mục tiêu về tăng trưởng kinh tế nhưng đã vấp phải sự xung đột gay gắt trong xã hội, sự suy thoái về đạo đức, văn hóa ngày càng tăng Từ đó, kéo theo kinh tế phát triển chậm lại, mất ổn định xã hội tăng lên và cuối cùng là

sự phá sản của các kế hoạch phát triển kinh tế, đất nước rơi vào tình trạng suy thoái, không phát triển được

Ở nước ta nói chung, thị xã Dĩ An nói riêng, thực hiện chủ trương của Đảng đã triển khai mô hình: tăng trưởng kinh tế cùng với việc phát triển tài nguyên con người, bảo vệ môi trường sinh thái Mô hình này, tuy tăng trưởng kinh tế không nhanh, nhưng lại bền vững, xã hội ổn định

Hiện nay, kinh tế thị xã Dĩ An tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp – thương mại – dịch

vụ Do đó kinh tế phát triển kéo theo sự phát triển của văn hóa – xã hội Văn hóa – xã hội ở Dĩ An đã có những chuyển biến rõ rệt: Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác giáo dục đào tạo được chăm lo theo hướng chuẩn hóa; năm 2001, được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục trung học

cơ sở; năm 2010, 100% phường đạt chuẩn phổ cập THPT, hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và được công nhận đạt chuẩn Quốc gia chống

mù chữ Công tác xã hội hóa giáo dục, công tác truyền thông dân số - kế hoạch hóa gia đình; chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo, quỹ đền ơn đáp nghĩa, sự nghiệp văn hóa thông tin, thể dục thể thao, bưu chính, viễn thông… được thực hiện hiệu quả và không ngừng phát triển

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được vẫn còn tồn tại những hạn chế như: Các chỉ tiêu về trường đạt chuẩn, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT, xây dựng khu phố -ấp đạt chuẩn dân số và phát triển đạt thấp so với

Trang 6

Nghị quyết; Trung tâm học tập cộng đồng và Hội khuyến học phường (xã) còn lúng túng, hạn chế Tỷ lệ thu dung trong điều trị bệnh còn thấp; công tác quản lý về văn hóa trên một số mặt chưa nề nếp, chưa thật sự chặt chẽ; thể dục thể thao đạt thành tích chưa cao, chưa mạnh…

Để giải quyết những hạn chế trên Dĩ An cần tìm ra nguyên nhân, đề ra những giải pháp để khắc phục, đảm bảo cho đời sống văn hóa, vật chất của nhân dân thị xã Dĩ An ngày một tiến bộ

Từ thực trạng của văn hóa – xã hội tại thị xã Dĩ An, việc nghiên cứu sự phát triển văn hóa – xã hội của thị xã Dĩ An dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ thị

xã có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Cho đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào tổng kết, đánh giá những thành tựu cũng như những hạn chế để tìm ra nguyên nhân của những thành tựu, yếu kém, đồng thời đề ra phương hướng để phát huy những thành tựu và khắc phục những yếu kém của địa phương trong phát triển văn hóa – xã hội giai đoạn tới Nhất là khi đã trở thành thị xã có dân số đông thứ hai cả nước

Với lý do trên, là người dân đang sống và công tác tại địa bàn thị xã chứng kiến sự thay đổi vượt bậc không chỉ về kinh tế mà còn về sự phát triển

về văn hóa- xã hội- một mắt xích quan trọng tạo nên vóc dáng Bình Dương hôm nay Tác giả thấy cần phải nghiên cứu, tổng kết, đánh giá lại chặng đường qua hơn hai nhiệm kỳ của Đảng bộ Dĩ An từ sau khi tái lập cho tới

năm 2012 Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Đảng bộ thị xã Dĩ An lãnh đạo phát triển văn hóa – xã hội (1999 - 2012)” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ

Khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trang 7

Cùng với kinh tế, văn hóa – xã hội là một lĩnh vực rất quan trọng trong đời sống tinh thần của con người Vì thế, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về kinh tế, văn hóa – xã hội như:

+ Tác giả Nguyễn Tiến Duy, “Tổng quan kinh tế - xã hội Việt Nam

Nhóm các đề tài nghiên cứu về tỉnh Bình Dương gồm:

+ Tác giả Nguyễn Văn Hiệp “Những chuyển biến kinh tế - xã hội ở tỉnh Bình Dương từ sau ngày tái lập tỉnh (1997-20003)” Luận văn thạc sĩ Lịch sử

Trang 8

+ Huỳnh Đức Thiện,”Quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh Bình Dương (1993-2003)”, Luận văn thạc sĩ, Trường ĐHKHXH&NV TP.HCM

+ Nguyễn Thanh Long, “Quá trình phân tầng xã hội ở Bình Dương trong công cuộc đổi mới (1983-2004)”Luận văn thạc sĩ Trường

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đều khái quát về vùng đất

và con người Bình Dương Phần lớn đều đi sâu tổng hợp, phân tích, đánh giá

và nêu được những mặt mạnh, mặt hạn chế; những thành tựu cũng như rút ra bài học kinh nghiệm xung quanh các vấn đề như: thu hút vốn đầu tư, phát triển các khu công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế- xã hội, phân tầng xã hội…

Trang 9

Ngoài các công trình nghiên cứu về kinh tế, văn hóa – xã hội nói chung, còn có các công trình nghiên cứu về địa bàn thị xã Dĩ An nói riêng như:

+ Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Dĩ An- tỉnh Bình Dương, “Lịch sử Đảng bộ huyện Dĩ An (1930 – 2005)”, Nxb, CTQG, HN, 2005

+ Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Dĩ An- Đảng ủy xã Bình An, “Lịch

sử Đảng bộ xã Bình An (1975 – 2005)”, Nxb, QĐND, HN, 2009

Các công trình nghiên cứu trên đã cho chúng ta một cái nhìn tổng thể

về kinh tế, văn hóa – xã hội của địa phương; về truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Dĩ An trong từng giai đoạn lịch sử; phác họa được bức tranh kinh tế, xã hội Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này chưa đi sâu vào lĩnh vực phát triển văn hóa – xã hội dưới sự lãnh đão của Đảng bộ Dĩ An Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các công trình đi trước,

tác giả thực hiện đề tài: “Đảng bộ thị xã Dĩ An lãnh đạo phát triển văn hóa – xã hội (1999 - 2012)”

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

 Mục đích của đề tài:

Nghiên cứu, phân tích và làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ thị xã Dĩ An trên lĩnh vực phát triển văn hóa, xã hội (1999 – 2012) Từ đó, lý giải những thành tựu, hạn chế; nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế; đồng thời đề

ra phương hướng để phát triển văn hóa, xã hội trong giai đoạn tới

 Nhiệm vụ của đề tài:

Khái quát về thị xã Dĩ An và quan điểm của Đảng CSVN cũng như chủ trương của Tỉnh ủy Bình Dương đối với việc phát triển văn hóa – xã hội (1999 - 2012)

Trang 10

Luận văn làm rõ quá trình lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội của Đảng bộ thị xã Dĩ An (1999 - 2012)

Nhận xét chung và nêu giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ thị xã Dĩ An trong lĩnh vực văn hóa- xã hội giai đoạn tới

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, phát triển văn hóa, xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Phương pháp chung được sử dụng trong luận văn là phương pháp biện chứng duy vật Các phương pháp chuyên ngành được sử dụng gồm: phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch, phương pháp khảo sát thực địa …

5 Đóng góp mới của đề tài

Hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu nào về sự lãnh đạo của Đảng

bộ thị xã Dĩ An đối với phát triển văn hóa – xã hội Do đó, trên cơ sở tập hợp, phân tích, đánh giá quá trình phát triển văn hóa - xã hội tại thị xã Dĩ An dưới

sự lãnh đạo của Đảng bộ thị xã (1999 - 2012) Từ đó, rút ra nhận xét chung và nêu một số giải pháp, kiến nghị góp phần phát triển văn hóa - xã hội tại địa phương này trong giai đoạn tiếp theo

6 Ý nghĩa của đề tài

 Ý nghĩa lý luận:

Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng, phát triển văn hóa, xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 11

7 Kết cấu của đề tài

Đề tài “Đảng bộ thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội (1999 – 2012) ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài

liệu tham khảo, phụ lục, đề tài gồm có 3 chương, 7 mục và 15 tiểu mục

Trang 12

Chương 1 THỊ XÃ DĨ AN VÀ QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH DƯƠNG VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA – XÃ HỘI

(1999 – 2012) 1.1 Tổng quan về thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương và thực trạng phát

triển văn hóa - xã hội trước năm 1999

1.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên

Trong lịch sử hình thành và phát triển, vùng đất Dĩ An trở thành một đơn vị hành chính cấp quận, huyện lần đầu tiên vào năm 1957 theo Nghị định

số 40-BNV/HC/NĐ ngày 3-5-1957 của chính quyền Sài Gòn thành lập tỉnh Biên Hòa gồm 4 quận: Châu Thành, Long Thành, Tân Uyên và Dĩ An Quận

Dĩ An là quận mới lập có 2 tổng: Tổng Chánh Mỹ Thượng gồm 4 xã Bình Trị, Tân Hiệp, Tân Hạnh, Hóa An và tổng An Thủy gồm 4 xã Bình An, Đông Hòa, Tân Đông Hiệp, An Bình Như vậy một phần đất của Dĩ An lúc đó, hiện nay thuộc về thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Sau khi thống nhất đất nước, ngày 11-3-1977, Chính phủ ra Quyết định

số 55/1977/QĐ-CP quyết định hợp nhất hai huyện Lái Thiêu và Dĩ An thành huyện Thuận An

Ngày 6-11-1996, theo Quyết định của Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ X, tỉnh Sông Bé được chia thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước (huyện Thuận An thuộc tỉnh Bình Dương)

Huyện Dĩ An được tái lập (tách ra từ huyện Thuận An) theo Quyết định

số 58/1999/NĐ-CP ngày 23-7-1999 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 9 năm 1999

Ngày 13-01-2011, huyện Dĩ An được nâng cấp thành thị xã Dĩ An theo Nghị quyết số 04/NQ-CP của Chính phủ

Trang 13

Dĩ An nằm trong tọa độ địa lý từ 10054’58’’ vĩ độ Bắc đến 106047’11’’ kinh độ Đông

Ranh giới cụ thể: Phía đông giáp quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh; phía tây giáp giáp thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương; phía nam giáp quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; phía bắc giáp thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Dĩ An có diện tích tự nhiên nhỏ nhất tỉnh (6.010 ha) và 297.435 nhân khẩu nhưng lại có mật độ dân số cao nhất tỉnh Bình Dương (4.949 người/km2) Dĩ An nằm ở khu vực trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, gần các thành phố lớn và trung tâm công nghiệp quan trọng của cả nước (Thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa và Thủ Dầu Một)

Dĩ An có điều kiện giao thông vận tải rất thuận lợi

Về đường bộ: trên địa bàn thị xã Dĩ An có nhiều tuyến đường quan trọng đi qua (đường sắt Bắc- Nam, quốc lộ 1A, quốc lộ 1K, xa lộ Hà Nội…) với hệ thống đường bộ dày đặc và chất lượng tốt

Về đường sắt: Tuyến đường sắt Bắc- Nam xuyên Việt chạy qua thị xã với ga Dĩ An đã có lịch sử hàng trăm năm Trước đây còn có tuyến đường sắt

Dĩ An đi Lộc Ninh nhưng đã bị phá trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, hiện nay đang có dự án khôi phục lại Dĩ An còn có Nhà máy xe lửa Dĩ An (nay là Công ty xe lửa Dĩ An) được xây dựng từ thời Pháp thuộc, vào loại lớn nhất Việt Nam

Về đường thủy: Dĩ An có Cảng Bình Dương (còn gọi là Cảng Bình An) được xây dựng sau năm 1975 trên sông Đồng Nai, nằm cạnh xa lộ Hà Nội Là đầu mối giao thông quan trọng của quốc gia và quốc tế, nối với sân bay Tân Sơn Nhất, cảng Sài Gòn, cảng Vũng Tàu

Cùng với thị xã Thuận An và thành phố Thủ Dầu Một, Dĩ An là một trong những địa phương có nền kinh tế phát triển mạnh nhất tỉnh Bình Dương

Trang 14

với nhiều Khu công nghiệp lớn (Sóng Thần 1, Sóng Thần 2, Bình Đường, Dapark thuộc Tân Đông Hiệp A, Phú Mỹ thuộc Tân Đông Hiệp B, dệt may Vinatex thuộc Đông bắc Bình An ) và hàng trăm nhà máy, xí nghiệp vừa và nhỏ không tập trung khác; là vùng đệm cho sự ổn định về chính trị và an ninh quốc phòng cho ba tỉnh Bình Dương, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh

Hiện nay, thị xã Dĩ An có 7 đơn vị hành chính gồm 7 phường: Dĩ An, Tân Bình, Tân Đông Hiệp, Bình An, Bình Thắng, Đông Hòa, An Bình

Với vị trí trên, Dĩ An đã và đang có sức hút mạnh đối với các nhà đầu

tư trong và ngoài nước Tuy nhiên, Dĩ An vẫn có những mặt hạn chế do xuất phát điểm còn thấp về các mặt kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng và vấn đề kỹ thuật còn thiếu đồng bộ, vấn đề bảo vệ môi trường chưa thực sự được giải quyết thông suốt

Về địa hình, địa mạo và khí hậu

Địa hình Dĩ An tương đối bằng phẳng với độ dốc thấp (trung bình từ 5%) và nền dốc cao từ 25-30m so với mực nước biển, biến đổi dần từ Tây sang Đông với hai bậc thềm chính là bậc thềm bằng có độ dốc cao từ 20m đến 40m, có khả năng thoát nước tốt, kết cấu địa chất vững chắc phù hợp với việc xây dựng các khu dân cư, khu công nghiệp, trung tâm hành chính, thương mại

2-và bậc thềm đồng bằng với độ cao từ 2m đến 5m, có độ chịu nén kém nên phù hợp với việc phát triển nông nghiệp và chăn nuôi, ít thuận tiện cho việc cây dựng các công trình

Cụ thể:

Khu vực phía Đông giáp với thành phố Biên Hòa thuộc phường Tân Bình

có địa hình dốc về phía Đông từ độ cao 18m xuống khoảng 2-3m Khu vực ven thành phố Biên Hòa là khu vực đất thấp hiện đang trồng lúa nước và rau màu

Trang 15

Khu vực phía Đông –Bắc thuộc phường Tân Đông Hiệp có độ cao từ 6m, hiện đang là công trường khai thác đá

5-Khu vực phía Bắc thuộc phường Bình An và phường Bình Thắng giáp với thành phố Biên Hòa là khu vực đất thấp, cao độ khoảng từ 2-3m

Khu vực giữa phường Đông Hòa và các trường Đại học thuộc Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là khu vực chân các gò cao Khu vực này trươc đây là công trường khai thác đá

Ngoài ra, trên địa bàn Dĩ An (tập trung ở phường Tân Bình, Tân Đông Hiệp) có nhiều vùng đất dốc tụ trên phù sa cổ và đất nâu vàng phù hợp với cây lúa, rau màu và trồng cây ăn trái [1, tr.16]

Khí hậu của Dĩ An nằm ở vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo

và có nhiệt độ quanh năm trung bình dao động từ 25,8ºC đến 26,9ºC Thời tiết

ổn định với hai mùa rõ rệt Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 kéo dài đến tháng 4, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 Trong các tháng mưa, độ ẩm không khí là 76,7% và trong các tháng nắng là 65 đến 80%, độ ẩm thấp nhất là 35 đến 45% Lượng bức xạ dồi dào và ít biến động giữa các mùa và tương đối ổn định giữa các năm Hàng tháng, chế độ bức xạ tổng cộng từ 10,2 Kcal đến 14,2 Kcal và cường độ bức xạ của tháng 2,3,4 lên đến 1 Kcal/cm

Vào khoảng tháng 2, 3, 4 là mùa nắng nhất trong năm với mức nắng từ 8 đến 10 giờ trong ngày và khoảng 2.500 - 2.800 giờ/năm, lượng bức xạ trong tháng này lớn, lượng nước bốc hơi cao chiếm 75 đến 80% cả năm Tháng 9 là tháng có mưa nhiều nhất, có giờ nắng ít nhất khoảng 4 đến 6 giờ trong ngày Trong năm, lượng mưa tương đối ổn định, tính mức trung bình hàng năm khoảng 1.600-1.700 mm/năm, cao nhất là 2.683mm, thấp nhất là 1.376mm Lượng mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm khoảng 85 đến 95% lượng mưa toàn năm Tuy nhiên trong các tháng mưa ít xảy ra ngập lụt vì

Trang 16

huyện đã đầu tư hệ thống thoát nước để xử lý Hướng gió chủ yếu ở hướng Tây Nam và hầu như không có bão trong năm [28, tr.10]

Thủy văn và nguồn tài nguyên

Thị xã Dĩ An có hệ thống sông suối thuộc hệ thống sông Đồng Nai và có

nguồn nước ngầm hạn hẹp Do vậy, mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp đều phải dựa vào hệ thống sông Đồng Nai Sông Đồng Nai chạy dọc theo hướng Đông Bắc của thị xã và mang theo hệ thống sông rạch nhỏ như Rạch Ông Tích, Rạch Bà Lo có nguồn nước mặt phục vụ tốt cho công tác tưới tiêu, sản xuất nông nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt cho dân cư Ngoài ra, Dĩ An có mạng lưới sông ngòi, ao hồ phân bố không đều chủ yếu là ở hướng Đông Nam của thị xã Do đó, ở các vùng này thuận tiện cho việc nuôi trồng thủy sản và tưới tiêu hoa màu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp

Từ lịch sử cấu tạo địa chất, thay đổi cao độ của địa hình và sự bồi tụ phù

sa của hệ thống sông suối, thị xã Dĩ An có cơ cấu đất khá phong phú thích hợp với nhiều loại cây công nghiệp dài và ngắn ngày, xây dựng dân dụng, các khu công nghiệp và thương mại- dịch vụ

Theo số liệu của ngành nông nghiệp, đất đai của Dĩ An gồm 5 loại chính là đất nâu vàng, đất phù sa, đất xám, đất xói mòn trơ sỏi đá và đất mặt nước (sông suối, ao hồ)

Đất nâu vàng: Đây là loại đất có diện tích lớn nhất với 4.587,04ha, chiếm

76,32% tổng diện tích tự nhiên; là loại đất có qui mô lớn nhất trong các loại đất được tạo thành từ hai loại phiến đá và mẫu chất phù sa cổ được phân bổ đều ở các phường Đặc trưng cơ bản của loại đất này thường có mầu nâu vàng

do quá trình tích lũy sắt và nhôm Về mùa mưa đất ẩm, nước hòa tan các nguyên tố sắt và nhôm tồn tại ở trạng thái khử, di chuyển theo nươc ngầm Vào mùa khô do tác dụng mao dẫn các thành phần sắt và nhôm thẩm thấu lên

Trang 17

phía trên, bị oxy hóa và kết tủa thành kết vón laterit (đá ong) Đất nâu vàng có giá trị sử dụng tương đối cao đối với nông nghiệp do có nhiều dưỡng chất thích hợp với trồng cây lâu năm như cao su, điều, bạch đàn, cây ăn quả

Đất phù sa: Loại đất này có diện tích 957,50ha, chiếm 15,93% diện tích thị

xã, phân bổ tập trung ở các phường Tân Bình, Bình An, Bình Thắng Đất phù

sa được chia làm 3 loại: đất phù sa không được bồi, đất phù sa có tầng loang

lổ đỏ vàng và đất phù sa gley Loại đất này được hình thành do sự lắng đọng phù sa trong mua lũ, thường có màu xám nhạt đến xám nâu, lượng mùn và đạm trung bình, kali cao và photpho thấp Đây là loại đất thủy thành tốt nhất nên hầu hết diện tích đã được khai thác sử dụng cho nông nghiệp (trồng lúa, hoa màu và cây ăn trái), không nên sử dụng cho việc xây dựng các công trình xây dựng

Đất xám: là loại đất có diện tích lớn thứ 3 của Dĩ An Đất có diện tích

314,00ha, chiếm 5,23% diện tích của thị xã, được phân bố tập trung ở các phường Bình An, Đông Hòa và Dĩ An Đất xám được chia làm 3 loại: đất xám trên phù sa cổ, đất xám trên phù sa cổ có kết vón và đất xám gley Đặc điểm của đất xám là có thành phần cơ giới nhẹ, nghèo dưỡng chất, giữ nước kém nên được xếp vào nhóm đất bạc màu Loại đất này có thể trồng các loại cây hoa màu như củ mì, bắp, các cây họ đậu, cây ăn trái (mãng cầu, nhãn) và cây công nghiệp (cao su, điều, hồ tiêu) nhưng phải bón thêm phân hữu cơ

Đất xói mòn trơ sỏi đá: Có diện tích là 77,00 ha, chỉ chiếm 1,28% diện

tích toàn thị xã, được phân bố chủ yếu ở phường Bình An trên núi Châu Thới

và các núi nhỏ khác Nhóm đất này hình thành ở vùng xuất lộ các đá gốc trên địa hình sườn đồi dốc Đất có chất lượng thấp do lẫn nhiều mảnh vụn, tảng lăn đá cứng, bị bào mòn và rửa trôi các dưỡng chất, thuộc nhóm đất bạc màu

Trang 18

Đất mặt nước: Là diện tích thường xuyên ngập nước của các con sông,

rạch, hồ đầm, chỉ chiếm diện tích nhỏ khoảng 74,50ha, chiếm tỷ lệ 1,24% Đất mặt nước được phân bố ở các phường Tân Bình, Bình Thắng, Bình An, Đông Hòa và Tân Đông Hiệp

Nhìn chung, tài nguyên đất của thị xã Dĩ An không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp do phần lớn diện tích thuộc nhóm đất bạc màu và bị khô hạn Toàn thị xã chỉ có khoảng 957,5ha đất phù sa là thuận lợi cho sản xuất nông – lâm nghiệp, nhất là đối với cây lâu năm

Tuy vậy, với phần lớn diện tích có địa hình tương đối bằng phẳng (độ cao

từ 20-30m so với mặt nước biển), có độ dốc không lớn (trung bình từ 2-5%) nên ít tốn kém trong việc xây ủi mặt bằng Không những thế, đất hình thành tại chỗ nên có nền đất vững chắc, có khả năng chịu nén tốt (trên 2kg/cm2), giảm được chi phí gia cố xử lý nền móng khi xây dựng công trình Do đó rất thuận lợi cho lĩnh vực xây dựng, giao thông

Tài nguyên nước: Thị xã Dĩ An có hai loại nước là nước mặt và nước

ngầm Nguồn nước mặt: được cung cấp bởi sông Đồng Nai và một số kênh rạch ven sông Tổng lưu lượng chảy của hệ thống sông này có thể đủ cho Công ty cấp thoát nước phục vụ sinh hoạt cho nhân dân và tưới tiêu trong nông nghiệp, đồng thời đủ cho việc xử lý chất thải của các khu công nghiệp Sông Đồng Nai chảy qua khu vực Đông – Nam của thị xã Khu vực này hiện có cầu Đồng Nai, cảng Bình Dương Đoạn sông qua khu vực này có chiều rộng khoảng 200m, dài khoảng 1km và có độ sâu tại mép bờ thuộc đại phận Dĩ An khoảng 6-8m Hiện đang được sử dụng thành các cảng, bến; cảng Bình Dương (DASO) và các bến gỗ, vật liệu xây dựng cảng và bến đều nằm

ở hai phía cầu cầu Đồng Nai nên rất thuận lợi cho giao thông thủy – bộ kết

Trang 19

hợp nhằm vận chuyển hàng hóa của thị xã, tỉnh cũng như các vùng lân cận một cách nhanh chóng nhất

Ngoài ra, Dĩ An còn có hệ thống sông, rạch nhỏ như: Suối Xiệp bắt đầu từ

ấp Đông An- phía Đông phường Tân Đông Hiệp chảy qua khu vực phía Bắc núi Châu Thới làm ranh giới của phường Bình An và phường Bình Thắng với thành phố Biên Hòa để đổ ra sông Đồng Nai; Suối Nhum là ranh giới giữa phường Đông Hòa và Thủ Đức nằm về phía Tây của Dĩ An; Suối Lồ Ồ bắt đầu từ khu vực Tây – Nam phường Bình An chảy theo hướng Tây- Đông Suối có chiều dài khoảng 2,5km, rộng từ 4-15m Nhiều suối nhỏ thuộc phường Tân Bình chảy về phía Đông qua địa phận xã Tân Hạnh (thành phố Biên Hòa) dài từ 500-1400m như suối Ông Cược, suồi Thầy Tu, suối Cầu Đá, suối Mù U, suối Bá Tước, suối Ông Cấn, suối Cây Da, suối Cây Tường, Mạng lưới suối này đang phục vụ cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn phường Tân Bình

Nguồn nước ngầm ở thị xã gồm nước ngầm sâu và nước ngầm mạch nông Nước ngầm sâu có chất lượng nước tốt, không bị nhiễm mặn có xuất phát liên quan tới nguồn nước ngầm có áp lực từ Bến Cát qua thị xã Thủ Dầu Một và thị xã Dĩ An, có độ sâu chứa nước từ 30 đến 90 độ Nguồn nước ngầm mạch nông được phân bố gần mặt đất, không có áp lực và phụ thuộc vào lượng mưa [55, tr.13]

Tài nguyên rừng: trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mĩ

xâm lược, ở một số nơi của Dĩ An vẫn còn một số rừng lõm làm nơi căn cứ kháng chiến của Đảng bộ, quân và nhân dân Dĩ An như: rừng Sặt (phường Đông Hòa); núi và rừng ông Viễn (phường Bình An); rừng Hố Lang, Hố Ngựa, Hố Mây (phường Tân Bình); rừng Đồng An (phường An Bình); rừng Sáu Mẫu (phường Tân Đông Hiệp)…Tuy nhiên, sau ngày giải phóng do việc

Trang 20

khai thác của người dân cũng như quy hoạch chuyển mục đích sử dụng đất những cánh rừng này đã nhường chỗ cho các khu dân cư và Khu công nghiệp

sau này Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2005, diện tích đất lâm nghiệp của

rừng của thị xã Dĩ An là 3.07 ha, rừng sản xuất chiếm 0.05 ha tổng diện tích

tự nhiên, giảm 138.27 do chuyển một phần sang đất có diện tích lịch sử văn hóa (khu di tích Hố Lang phường Tân Bình) Tính đến nay, diện tích đất rừng

tự nhiên ở thị xã không còn, kể cả rừng trồng tập trung và diện tích đất rừng

khoanh nuôi cũng còn rất ít

Tài nguyên khoáng sản của Dĩ An cũng không phong phú và đa dạng, chủ yếu là khoáng sản phi kim loại gồm khoáng sản sét gạch ngói, tập trung ở phường Bình An, Đông Hòa với tổng tài nguyên khoáng sản là 250 triệu m3 Loại sét này có khả năng chịu lửa cao thích hợp với công nghiệp luyện kim

Đá xây dựng tập trung ở Núi Châu Thới thuộc phường Bình An và phường Đông Hòa với tổng tài nguyên khoáng sản khoảng 150 triệu m3, trong đó khai thác 12 triệu m3 Có thể nói nguồn tài nguyên khoáng sản của Dĩ An không có

trữ lượng lớn nhưng cũng đủ để phục vụ cho nhu cầu xây dựng trong thị xã[1, tr.13]

Nhìn chung, lịch sử phát triển địa chất vùng đất Dĩ An đã trải qua quá trình lâu dài và phức tạp Cho đến nay, có thể thấy Dĩ An nằm trong vùng có chế

độ kiến tạo tương đối ổn định, các tai biến địa chất hầu như không xảy ra Khí hậu nhiệt đới ôn hòa, các hiện tượng thời tiết bất thường như giông bão, lũ lụt, hạn hán ít khi xảy ra Bên cạnh đó với vị trí “nhất cận thị, nhì cận giang” của mình, Dĩ An đã biến vùng đất khô hạn thành vùng có lợi thế đắc địa “tấc đất, tấc vàng” Đó là cơ sở, nền tảng để phát triển nhanh, mạnh, bền vững không chỉ về kinh tế mà còn về văn hóa- xã hội

1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội:

Về đặc điểm kinh tế:

Trang 21

Từ cuối thế kỷ thứ XVI, đầu thế kỷ XVII, đã có những lớp cư dân Việt đến sinh sống ở vùng châu thổ sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Cửu Long Ban đầu họ sống chủ yếu bằng nghề nông (dọc theo lưu vực sông Đồng Nai) hoặc một vài nghề thủ công khác Một số người Hoa đến định cư ở Dĩ An, phần lớn họ có mối liên hệ với những người buôn bán từ các miền của đất nước, nhất là những người đã đến định cư hoặc buôn bán ở Cù Lao Phố Sau lớp người Hoa chuyên buôn bán là lớp người Hoa chuyên làm nghề gốm sứ từ

Hà Tiên và các nơi tìm về Dĩ An, Lái Thiêu, nhưng tập trung ở vùng Lái Thiêu nhiều hơn Gốm sứ từ Lái Thiêu, Dĩ An được vận chuyển bằng đường thủy tới vùng đồng bằng Nam Bộ và trao đổi mua bán lấy lúa gạo, vải vóc, cá… mang về địa phương Cho đến nay, nhân dân Dĩ An còn lưu lại những ngành nghề truyền thống lâu đời như nghề làm tăm nhang, chạm khắc gỗ, sơn mài, làm guốc, làm giấy, dệt chiếu … Nhiều nghề truyền thống ở Dĩ An vẫn tồn tại đến ngày nay cho thấy sự phát triển của các nghề thủ công đã chuyên môn hóa như ấp Chợ, xóm Đường, xóm Nhang, xóm Gầu, xóm Giếng …

Đến thế kỷ XX, khi thực dân Pháp thực hiện kế hoạch khai thác thuộc địa, bọn tư sản Pháp cấu kết với chính quyền địa phương cướp đất của dân trồng cây cao su, xây dựng Nhà máy xe lửa Dĩ An, mở tuyến đường sắt từ Sài Gòn đi các nơi để vận chuyển hàng hóa, nhất là chở mủ cao su (từ đồn điền ở miền Đông Nam Bộ) Sự xuất hiện của Nhà máy xe lửa Dĩ An (thành lập năm 1912) là một bước ngoặt trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của người dân Dĩ An Kinh tế có nhiều chuyển biến theo hướng công nghiệp – thủ công nghiệp phát triển phục vụ cho thực dân Pháp Người nông dân không có ruộng đất, người thợ thủ công trong điều kiện khó khăn cơ cực đã tìm vào nhà máy kiếm việc làm, những người nông dân trở thành lớp công nhân trong một

cơ sở công nghiệp hiện đại nhất ngành đường sắt của thực dân Pháp ở miền

Trang 22

Nam lúc bấy giờ Cùng với sự xuất hiện của tầng lớp công nhân, sự phân hóa giai cấp cũng dần rõ rệt

Nhìn chung, thời kỳ kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống

Mỹ, sự phát triển kinh tế công nghiệp ở Dĩ An chủ yếu phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của các nước đế quốc xâm lược Nền kinh tế của địa phương vẫn chủ yếu là nông nghiệp và các nghề thủ công truyền thống

Sau ngày giải phóng, Đảng bộ Dĩ An vừa tập trung lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ cấp bách là bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng, củng cố chính quyền, vừa động viên nhân dân khắc phục hậu quả chiến tranh, rà phá bom mìn, phục hồi, mở rộng sản xuất, đẩy mạnh hoạt động văn hóa, tư tưởng từng bước ổn định đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho nhân dân Các cơ sở kinh tế của địch trên địa bàn được tiếp quản nguyên vẹn, các cơ sở quản lý nhỏ như lò gạch, trại chăn nuôi heo, gà, trại cưa, cở sở khai thác đá, cát… cùng những ngành nghề thủ công nghiệp như sản xuất gạch ngói, lò đường, làm nhang,… được phục hồi hoạt động sản xuất, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp và lao động nông nghiệp vẫn chiếm đa số Sau năm 1975, toàn huyện có hơn 2.580 ha đất sản xuất nông nghiệp nhưng phần lớn là đất đồi gò, thiếu nước sản xuất; sản lượng thu hoạch lúa và hoa màu chỉ đáp ứng 60% nhu cầu về lương thực, nên đời sống kinh tế của nhân dân gặp nhiều khó khăn

10 năm sau ngày giải phóng, thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ Dĩ An trong những năm 1975 – 1985, cùng với việc củng cố mở rộng phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp dần dần được khôi phục và phát triển, nhất là sản xuất các ngành nghề: gốm, mộc, đường, khai thác đất, sạn các ngành nghề được khuyến khích sản xuất kinh doanh tiếp tục phát triển Mặc dù vậy, đời sống kinh tế của nhân dân Dĩ An

Trang 23

vẫn gặp nhiều khó khăn, nến kinh tế vẫn chủ yếu là tiểu thủ công nghiệp và kinh tế nông nghiệp

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Sông

Bé, phát huy lợi thế gần thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế lớn và giao lưu quốc tế phát triển kinh tế, thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp, mở rộng dịch vụ, từng bước hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Huyện Thuận

An đã chủ động chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ sang công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp – dịch

vụ, du lịch - nông nghiệp Khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh, tạo điều kiện cho các ngành, các thành phần kinh tế phát triển

Để phù hợp với phát triển kinh tế theo đường lối đổi mới, theo chủ trương của tỉnh, huyện đã tiến hành sắp xếp, củng cố các doanh nghiệp quốc doanh địa phương theo hướng có năng lực hoạt động thực sự và tinh gọn bộ máy, giải thể các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể hoạt động không hiệu quả

Từ những năm 1991 – 1999, tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và những chủ trương, chính sách “trải chiếu hoa mời gọi các nhà đầu tư” để phát triển kinh tế của tỉnh Sông Bé, thị xã Dĩ An đã tiếp tục khai thác tiềm năng, thế mạnh, thực hiện các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế nhiều thành phần đã giải phóng sức sản xuất, sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, nhất là khu vực sản xuất ngoài quốc doanh phát triển năng động với nhiều loại hình kinh tế, huy động được nguồn vốn, lao động có tay nghề, tăng nhanh khối lượng hàng hóa tiêu dùng và xuất khẩu Đến cuối năm 1995,

có 31 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn 327,5 triệu USD, các doanh nghiệp trong nước đầu tư 222 tỷ đồng để phát triển sản xuất Dĩ An đã cùng

Trang 24

với tỉnh mở mũi đột phá xây dựng thành công Khu công nghiệp Sóng Thần với 165ha (trên địa bàn Dĩ An hiện nay)

Thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định số 49-QĐ/UB của ủy ban nhân dân tỉnh Sông Bé về phát triển kinh tế ngoài quốc doanh, Dĩ An đã xây dựng và thực hiện chương trình phát triển kinh tế các thể, hộ gia đình, khuyến khích phát triển các ngành sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, giải quyết việc làm cho người lao động, làm ra nhiều của cải cho xã hội, thiết thực tăng thu nhập cho gia đình Nhiều cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp trực tiếp phục cho sản xuất nông nghiệp của địa phương như: Cơ sở sản xuất thức ăn gia súc, sản xuất phân bón ở Đông Hòa; nhà máy xay xát lúa, lò gạch ở Tân Bình Ở Bình An, từ 5 lò gạch năm 1985 đến năm 1991 đã có 30 lò gạch ngói, 5 cơ sở sản xuất đá granit, 3 cơ sở sản xuất khai thác đá thủ công, 1 xí nghiệp tư doanh chế biến nông, lâm, hải sản;

4 cơ sở chế biến gỗ…Đây chính kết quả thực tế bước đầu phát triển kinh tế ngoài quốc doanh cho thấy đường lối đổi mới của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, là sự vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của địa phương Dĩ An Do

đó, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 40,6%; trong đó, doanh nghiệp nhà nước tăng 18,9%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 59,4% Đặc biệt, giai đoạn từ 1996 đến 1999, trên địa bàn Dĩ An đã hình thành các khu công nghiệp tập như: Sóng Thần 1, Sóng Thần 2, Đồng An, Bình Đường Đây là bước đột phá về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ngày càng tăng nhanh về các loại hình dịch vụ sản xuất và đời sống

Sau khi được tái lập (8/1999), địa bàn Dĩ An có 4 khu công nghiệp (Sóng Thần 1, Sóng Thần 2, Bình Đường và Tân Đông Hiệp), đã thu hút 130

dự án trong đó có 72 dự án đầu tư từ nước ngoài với 406 triệu USD, đầu tư trong nước 58 dự án với tổng số vốn 996 tỷ đồng Điều này đã góp phần giải quyết nhiều việc làm cho người lao động và tăng ngân sách cho địa phương

Trang 25

Trong năm 1999, tỷ trọng công nghiệp đạt 79,68% GDP, thương mại - du lịch đạt 18,4%, nông nghiệp đạt 1,92% So với năm 1995, cơ cấu kinh tế công nghiệp năm 1999 tăng 13,24%, thương mại - du lịch tăng 10,51% Giá trị sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm 1999 đạt 2.038,8 tỷ đồng, tăng 29,11 so với năm 1998

Cùng với việc đầu tư phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng của Dĩ An cũng được tập trung đầu tư phát triển Một số công trình phục vụ cho phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội được xây dựng như: hạ thế lưới điện về Tân Đông Hiệp, Tân Bình, An Phú, Thuận Giao, An Sơn; tu sửa nâng cấp đường An Thạnh- Bình Chuẩn, Thuận Giao- An Phú,

Vì vậy kinh tế của Dĩ An chuyển từ cơ cấu công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ, sang cơ cấu công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – dịch vụ, du lịch – nông nghiệp

Có thể nói, mặc dù phải phấn đấu gian khổ để khắc phục những hạn chế, thiếu sót, nhưng những thành tựu trong 13 năm đổi mới (1986 – 1999) của thị

xã Dĩ An đã tạo những chuyển biến quan trọng về chất, hình thành những tiền

đề, nền tảng mới trong giai đoạn sau khi tái lập

Bước vào năm 2000, thực hiện mục tiêu: “Công nghiệp hóa với tốc độ cao, ổn định vững chắc, đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế: công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – dịch vụ - thương nghiệp – du lịch – nông nghiệp, từng bước nâng cao đời sống nhân dân” Kết quả là giá trị sản lượng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp thực hiện đạt 2.860,5 tỷ đồng, tăng 27% so với Nghị quyết của thị ủy đề ra năm 1999

Giai đoạn 2001 – 2005, Dĩ An được quy hoạch 6 khu và 2 cụm công nghiệp, với tổng diện tích 867,8ha, tỷ lệ lấp kín các khu công nghiệp là trên 80% Từ năm 2002, các ngành hóa chất, cơ khí, thực phẩm cao cấp, hàng tiêu

Trang 26

dùng cao cấp…có xu hướng tăng nhanh Nhiều doanh nghiệp trên địa bàn Dĩ

An đã mạnh dạn đầu tư nhập khẩu và cải tiến mới công nghệ, tạo ra những sản phẩm công nghiệp đạt chất lượng cao hiện đã được xuất khẩu ra thị trường thế giới Đến năm 2005, hầu hết các khu, cụm công nghiệp đã đi vào hoạt động ổn định, thu hút 968 dự án đầu tư trong và ngoài nước Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của huyện giữ tốc độ tăng trưởng nhanh, tương đối bền vững (tăng từ 17- 20% so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ tám, khóa VIII đề ra) Tỷ trọng công nghiệp tăng bình quân 40,1%/năm, thương mại - dịch vụ tăng bình quân 30,15%/năm, nông nghiệp tăng 2,11%/năm Cơ cấu kinh tế tổng thể của huyện đến cuối tháng 8 năm

2005 đạt tỷ trọng: công nghiệp 89,98%, thương mại – dịch vụ 7%, nông nghiệp chỉ còn 0,25% Tình hình sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp nhìn chung ổn định và phát triển đúng hướng, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, giải quyết việc làm cho trên 100.660 lao động trong và ngoài tỉnh, góp phần tăng nguồn thu ngân sách cho địa phương

Đến năm 2009, tổng thu ngân sách trên địa bàn thị xã đạt 3.688,9 tỷ đồng; cán cân thu chi ngân sách đạt 468 tỷ đồng (cân đối dư); thu nhập bình quân đầu người đạt 35,17 triệu đồng/người/năm, tương đương 1.954 USD/người/năm, bằng 1,85 lần so với thu nhập bình quân của cả nước (1.050USD); mức tăng trưởng kinh tế đạt 14,6%

Đến năm 2010, với sự bứt phá của hoạt động công nghiệp, kinh tế của thị xã tiếp tục phát triển và duy trì tăng trưởng bình quân 16,2%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng với tỷ trọng tương ứng: Công nghiệp 75,63%, thương mại – dịch vụ 24,26%, nông nghiệp 0,11% Trong thời gian này trên địa bàn thị xã đã có 443 công ty, xí nghiệp đang hoạt động trong và ngoài các khu công nghiệp Sóng Thần 1 và 2 So với năm 2005, số doanh

Trang 27

nghiệp đầu tư vào địa bàn thị xã tăng trên 200 doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng hàng năm của Dĩ An luôn đạt từ 15 – 18%/năm

Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp sẵn có tiếp tục phát triển, mở rộng sản xuất như khai thác, sản xuất đá, gạch ngói, đan lát, tăm nhang xuất khẩu, sửa chữa cơ khí…Bên cạnh các ngành nghề truyền thống có lợi thế phát triển như chế biến nông, lâm sản, vật liệu xây dựng, gốm xứ mỹ nghệ, chế biến thực phẩm, thêu, đan…nhằm giải quyết nhiều việc làm, khai thác có hiệu quả các nguồn lực địa bàn, thị xã còn chủ trương khuyến khích phát triển công nghiệp sạch, sử dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại, có giá trị cao hơn

Cùng với sự phát triển ngành công nghiệp, lĩnh vực thương mại – dịch

vụ cũng là thế mạnh của Dĩ An với thị trường khá ổn định, nhu cầu lớn Trong những năm 2002 – 2005, ngành thương mại – dịch vụ của huyện phát triển mạnh với nhiều chủng loại hàng hóa đa dạng, dồi dào, phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, mua bán, trao đổi hàng hóa Thị xã Dĩ An đã quy hoạch, đầu tư hàng chục tỷ đồng nâng cấp, sửa chữa xây dựng mới 12 chợ, 3 khu thương mại cùng với trên 6.000 cơ sở kinh doanh thương mại – dịch vụ, hình thành mạng lưới thương nghiệp và dịch vụ đa dạng, tạo điều kiện chop các thành phần kinh tế trên địa bàn của thị xã phát triển, góp phần nâng cao doanh

số hàng năm Đến năm 2009, trên địa bàn thị xã có 3 siêu thị (Siêu thị Vinatex, Siêu thị sách Dĩ An, Siêu thị sách An Bình), 3 trung tâm thương mại (Sài Gòn Factory, Outlet Mall, Sóng Thần Plaza) và 19 chợ Thị xã cũng đã tiến hành nhiều biện pháp rà soát, hậu kiểm để chấn chỉnh công tác quản lý, ngăn chặn gian lận thương mại, hàng gian, hàng giả, kinh doanh không lành mạnh, vệ sinh môi trường, vi phạm hàng lang đường bộ và trật tự, an toàn xã hội

Trang 28

Trong sản xuất nông nghiệp, diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm

do chuyển đổi mục đích sử dụng sang phát triển công nghiệp, thổ cư Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng giảm trồng trọt, khuyến khích tăng trưởng chăn nuôi gia súc, gia cầm, chủ yếu nuôi heo, gà, bò sữa Ngoài

ra, Dĩ An chú trọng phát triển chương trình khuyến nông, câu lạc bộ IPM; xây dựng các dự án kiên cố hóa kênh mương, khai thông mương suối, bảo đảm tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp; khuyến khích đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hình thành vùng rau sạch chuyên canh ở phường Tân Bình và Đông Hòa, tạo ra cây thực phẩm hàng hóa phục vụ trực tiếp nhu cầu ngày càng tăng của các khu công nghiệp và ngoài tỉnh Các loại hình chăn nuôi phát triển đa dạng tạo ra sự hỗ trợ nhau giữa trồng trọt và chăn nuôi, mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân Năm 2005, tổng đàn heo đạt 10.000 con, tăng 31,6%, gia cầm 120.000, tăng 51,89% Bộ mặt nông thôn có sự thay đổi rõ rệt, đời sống nông dân được cải thiện

Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, nông nghiệp và nông dân, thị xã đã khuyến khích nông dân áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát triển mô hình kinh tế hộ, mô hình VAC…vào sản xuất Do dó, tuy lao động sản xuất nông nghiệp của thị xã ngày càng thu hẹp dần, số hộ làm nông nghiệp giảm theo, nhưng giá trị sản lượng nông nghiệp vẫn tăng đều hàng năm Nhiều mô hình sản xuất mới được hình thành như: mô hình trồng rau sạch, nuôi bò sinh sản ở phường Tân Bình, trồng cây cảnh, phong lan, nấm bào ngư ở thị trấn Dĩ An; mô hình đan len, giỏ, nón xuất khẩu ở phường Bình An; nuôi cá bè ở phường Bình Thắng…đặc biệt ngành chăn nuôi được chú trọng đầu tư nhiều hơn về quy mô chuồng trại theo hướng hình thành các trang trại tập trung Hiện có hơn 800 hộ sản xuất nông nghiệp, chiếm hơn 4,3% tổng số hộ trong thị xã, nhưng năng suất cây trồng, vật nuôi vẫn ổn định

Trang 29

và tăng Nhiều tập thể, cá nhân được Hội đồng nhân dân thị xã khen thưởng

về thành tích xuất sắc trong phong trào nông dân sản xuất giỏi

Để phục vụ cho các hoạt động phát triển kinh tế, thị xã Dĩ An đã thực hiện chương trình điện khí hóa nông thôn, đầu tư nâng cấp hệ thống cung cấp điện

ở các khu dân cư, xóa bỏ 16 điện kế tổng, nâng cấp chất lượng cung cấp điện, giảm giá thành sử dụng điện lưới quốc gia, tăng 1,1% so với đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII

Công tác xây dựng cơ bản, phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ tạo điều kiện phát triển kinh tế nâng cao mức sống nhân dân là một chủ trương được quán triệt và thực hiện tích cực Bằng nhiều nguồn vốn (từ nguồn vốn của tỉnh, của thị xã và huy động sự đóng góp của nhân dân), thị xã Dĩ An đã tập trung xây dựng 83 công trình với tổng số vốn đạt 41,58 tỷ đồng; trong đó 22 công trình giao thông, 19 công trình điện, 36 công trình giáo dục và y tế Nâng cấp đường giao thông Dĩ An – Truông Tre, đường Bà Chín Giá – phường Dĩ An, đường Đông Hòa – Tân Đông Hiệp, nâng cấp mở rộng đường Trần Hưng Đạo, công trình lưới điện quốc gia phường Dĩ An, Tân Đông Hiệp…Các công trình kết cấu hạ tầng được xây dựng sớm đưa vào sử dụng đã tạo điều kiện cho nhân dân thụ hưởng các phúc lợi chung của xã hội

Trong lĩnh vực giao thông vận tải, có những chuyển biến tích cực, các thành phần kinh tế đầu tư và đưa vào hoạt động thường xuyên các tuyến xe buýt, đáp ứng được một phần nhu cầu đi lại của người dân, góp phần hạn chế tai nạn và ùn tắc giao thông trên địa bàn, được nhân dân đồng tình ủng hộ Chương trình làm đường giao thông nông thôn, chỉnh trang đô thị của thị xã đạt kết quả khá Thị xã Dĩ An đã thực hiện được 310 công trình các loại, với tổng số vốn đầu tư 40,7 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách chiếm 18,39%, dân đóng góp 73,2% Nhiều gia đình ở các xã đóng góp hàng chục triệu đồng,

Trang 30

riêng cá nhân chị Ao Thị Lan ở ấp Bình Thung, phường Bình An, đóng góp

200 triệu đồng xây dựng các công trình giao thông nông thôn ở phường Đáng trân trọng hơn, giữa lúc đất đai ở Dĩ An đang “sốt giá” vẫn có hàng trăm hộ dân hiến hàng ngàn mét vuông đất để mở rộng đường giao thông nông thôn vì lợi ích chung Tính đến năm 2009, tổng diện tích đất giao thông trên địa bàn

đô thị là 500,29ha Tỷ lệ đất giao thông so với đất xây dựng đô thị đạt 14,69% Mật độ đường trong khu vực đô thị (tính đến đường có lộ giới 11,5m) tập trung đông dân cư đạt 6,99km/km2, tổng chiều dài là 238,14km

Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, hoạt động bưu chính – viễn thông ngày càng phát triển với tốc độ nhanh, cung cấp và bảo đảm tốt, thông suốt các dịch vụ thông tin liên lạc Năm 2005, toàn thị xã có 21.309 máy điện thoại, bình quân đạt 14 máy/100 dân (tăng 5 máy so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII đề ra), doanh thu ngành bưu điện trong 5 năm (2001 – 2005) đạt 193,5 tỷ đồng Các loại hình dịch vụ cao cấp như bưu chính – viễn thông, tài chính – ngân hàng, siêu thị, khách sạn….đang có xu thế phát triển mạnh mẽ Đến cuối năm 2009, hệ thống thông tin liên lạc và bưu chính – viễn thông của Dĩ An đã tiến bộ vượt bậc, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -

xã hội và bảo vệ, giữ vững an ninh – quốc phòng trên địa bàn Tổng số thuê bao số điện thoại đạt 1 máy/hộ dân

Về đặc điểm xã hội

Theo các tài liệu khảo cổ đã được công bố, vùng đất miền Đông Nam

Bộ cách đây ba, bốn ngàn năm từng có một trung tâm cư dân bản địa khá đông đảo Trên địa bàn Dĩ An và các vùng phụ cận đã phát hiện nhiều hiện vật của chủ nhân xa xưa Điều đó đã chứng minh vùng đất này từng có một nền văn minh của cư dân bản địa Tuy nhiên, do những biến thiên của lịch sử

Trang 31

cho đến trước khi người Việt đến khẩn hoang lập nghiệp, địa bàn huyện Dĩ

An còn là vùng đất rừng rậm, đầm lầy với nhiều thú dữ [1, tr.19]

Đến cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, đã có những lớp cư dân Việt đến sinh sống ở vùng châu thổ sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Cửu Long Các đợt di dân đầu tiên phần lớn đi bằng đường biển, rồi theo các cửa sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, mở rộng công cuộc khẩn hoang, lập nghiệp dọc bờ các con sông Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai thống suất Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược phương Nam, chia thôn, ấp, lập bộ máy hành chính ở vùng Đồng Nai, Gia Định

Đến giữa thế kỷ XVIII, những làn sóng di dân từ vùng Thuận Quảng (miền Trung) vào ngày càng tăng Đặc biệt vào đầu thế kỷ XIX, những cuộc

di dân có tổ chức của triều đình nhà Nguyễn tiến hành đã đánh dấu một bước phát triển dân cư ở vùng đất này

Theo sách “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức, Chưởng cơ

Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh lấy đất Nông Nại (miền Đông Nam Bộ) đặt làm Gia Định phủ, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên Dinh Trấn Biên quản trị huyện Phước Long gồm 3 tổng: Phước Lộc, Bình An và Long Thành Vùng đất Dĩ An thuộc tổng Bình An, huyện Phước Long, dinh Trấn Biên Năm 1808, dinh Trấn Biên đổi thành trấn Biên Hoà, huyện Phước Long nâng lên thành phủ Phước Long, tổng Bình An nâng thành huyện Bình An Năm 1832, khi "Ngũ trấn" được đổi thành "Nam Kỳ lục tỉnh", trấn Biên Hoà thành tỉnh Biên Hoà có 4 huyện, Dĩ An thuộc địa phận huyện Bình An Năm 1880, Thực dân Pháp sắp xếp lại cơ cấu hành chính củng cố chính trị, Dĩ An trở thành một phần thuộc tỉnh Biên Hoà, một phần thuộc quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định [1, tr.12]

Trang 32

Đến đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa và sự xuất hiện Nhà máy xe lửa Dĩ An (năm 1912); ở Dĩ An xuất hiện tầng lớp công nhân lao động trong một cơ sở công nghiệp hiện đại nhất ngành đường sắt của thực dân Pháp ở miền Nam lúc bấy giờ Ngoài ra còn một bộ phận công nhân của các nhà máy, hãng sản xuất đặt tại Biên Hòa, Thủ Đức Phần lớn những công nhân này xuất thân từ nông dân nên sớm hình thành được liên minh công nông trong suốt quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc

Từ 1954 đến 1975, chính quyền Nguỵ thành lập quận Dĩ An trực thuộc tỉnh Biên Hoà Tháng 9 năm 1960, khu uỷ Sài Gòn - Gia Định chia huyện Thủ Đức thành hai huyện là Dĩ An (gồm 6 xã: Đông Hòa, An Bình, Tân Đông Hiệp, Hiệp Bình và Tam Bình) và Thủ Đức đến năm 1961 trở lại như cũ Năm 1962, chia tiếp một lần nữa thành hai huyện là Nam Thủ Đức và Bắc Thủ Đức (bao gồm địa bàn Dĩ An nên còn được gọi là huyện Thủ Dĩ) Tháng

7 năm 1967, Trung ương Cục cho lập quận Dĩ An (gồm các xã: Tân Vạn, Tân Hiệp, Bình Trị, Hóa An, Bửu Hòa, Tân Hạnh) Huyện Dĩ An trở thành một quận của Phân khu 5 Tháng 8 năm 1971, quận Dĩ An được nhập với quận Bắc Thủ Đức thành quận An Đức (gồm 8 xã: Tân Hạnh, Hóa An, Tân Hiệp, Bình Trị, Tân Đông Hiệp, Bình An, Đông Hòa, An Bình) Tháng 10 năm

1972, quận Dĩ An giao về tỉnh Biên Hoà Đến đầu năm 1974, Dĩ An giao về tỉnh Thủ Dầu Một

Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi Tháng 7 năm

1976, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định sáp nhập tỉnh Thủ Dầu Một với tỉnh Bình Phước thành tỉnh Sông Bé Tháng 10 năm 1976, thực hiện chủ trương của tỉnh, huyện Lái Thiêu và Dĩ An của Sông

Bé sáp nhập thành Thuận An

Trang 33

Kể từ khi Đảng CSVN đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước (1986) Dĩ An nói riêng, Bình Dương nói chung đã thu hút hàng chục ngàn lao động nhập cư từ các địa phương khác đến làm việc Đặc biệt, vào năm 1999 thực hiện Nghị định 58/1999/NĐ-CP của Chính phủ, huyện Thuận An tách ra tái lập hai huyện: Thuận An và Dĩ An Dĩ An gồm các xã An Bình, Bình An, Đông Hòa, tân Bình, Tân Đông Hiệp và thị trấn Dĩ An Tháng 2 năm 2003, huyện thành lập thêm xã Bình Thắng Thị trấn Dĩ An là huyện lỵ, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Ngày 13 tháng 01 năm 2011, Dĩ

An được nâng lên cấp Thị xã theo Nghị quyết 04/NQ-CP của Chính phủ [1, tr.11-17] Trải qua 13 năm (1999- 2012), như một “làn sóng dân cư mới” ồ ạt làm việc trong các Khu công nghiệp tạo nên sự trù phú, sung túc trong sự phát triển kinh tế, xã hội của Dĩ An

Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở trên địa bàn tỉnh Bình Dương, tính đến ngày 1/4/2009 Dĩ An có số dân là 297.125 người Số dân tạm trú là 193.125 người, chiếm tỷ lệ 64,95% Lực lượng lao động nhập cư vào Dĩ An chủ yếu là lao động trẻ Dân số trong độ tuổi lao động và lao động ở tất cả các ngành nghề là 210.691 người, chiếm tỷ lệ 70,83% dân số toàn huyện Trong

đó, lao động công nghiệp xây dựng là 170.508 người, chiếm tỷ lệ 80,93% so với tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc; lao động dịch vụ thương mại, hành chính là 38.909 người, chiếm tỷ lệ 18,45% so với tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc Còn lại là lao động trong các lĩnh vực khác Số lao động công nghiệp làm việc và cư trú tại địa bàn Dĩ An có khoảng 138.515 người, chiếm

tỷ lệ 65,74% số lao động trong huyện Lao động nông nghiệp có khoảng 1.934 người, chiếm tỷ lệ 1% tổng số lao động sinh sống tại Dĩ An [9, tr.16] Đến năm 2012 dân số tại Dĩ An là: 355.370 người, mật độ dân số: 5.928 người/km2 (theo Niên giám thống kê Bình Dương 2012)

Trang 34

Nhìn chung, dân cư Dĩ An xuất phát từ nhiều nguồn, qua nhiều thời kỳ; do

đó có nhiều tôn giáo và đa dạng về tín ngưỡng Từ ngàn xưa đã là nơi hội tụ nhiều nền văn hóa khác nhau với tập tục lề lối sống khác nhau đã tạo nên những sắc thái riêng trong công đồng dân cư dưới tinh thần đoàn kết và phát triển Đặc biệt, Dĩ An cũng là một vùng đất giàu truyền thống cách mạng, tinh thần yêu nước nồng nàn, truyền thống lao động cần cù và sáng tạo Điều này không chỉ giúp cho việc phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp - thương mại và dịch vụ- nông nghiệp mà còn tạo một bước chuyển biến tích cực, hiệu quả trên lĩnh vực văn hóa – xã hội Góp phần cùng tỉnh Bình Dương và cả nước thực hiện đạt mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”

1.1.3 Thực trạng phát triển văn hóa – xã hội của thị xã Dĩ An trước năm

1999

Về văn hóa

Dĩ An là vùng đất giàu truyền thống cách mạng Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng bộ, nhân dân Dĩ An đã anh dũng chiến đấu, quét sạch bè lũ bán nước và cướp nước, góp phần không nhỏ vào giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Sau khi đất nước thống nhất,

Dĩ An bắt tay ngay vào việc đặt những viên gạch làm nền móng đầu tiên để xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa, xã hội Cùng với sự quan tâm lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương, với sự nỗ lực phấn đấu của mình, Đảng bộ Dĩ

An đã biết phát huy sức mạnh tổng hợp: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…Do đó tình hình kinh tế Dĩ An trước năm 1999 đã có những bước tăng trưởng đáng kể

Cùng với kinh tế, văn hóa, xã hội cũng được Đảng bộ Dĩ An quan tâm đầu tư phát triển Chủ trương chung về văn hóa, xã hội của Đảng bộ Dĩ An là:

“nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, ra sức khôi phục và phát triển

Trang 35

kinh tế văn hóa, ổn định đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân” Đồng thời Đảng bộ còn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc chăm lo công tác văn hóa,

y tế, giáo dục, bảo vệ công cuộc cải tạo và xây dựng xã hội chủ nghĩa” [1,

tr.307] Công việc đầu tiên là xóa bỏ văn hóa nô dịch không lành mạnh, văn hóa phẩm phản động, đồi trụy; thay thế vào đó là việc xây dựng phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng cách mạng do Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ làm nòng cốt hoạt động sôi nổi Để xây dựng văn hóa, xã hội trong giai đoạn này, công việc hàng đầu của chính quyền cách mạng là chăm lo phát triển giáo dục, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và thực hiện tốt chính sách xã hội Kết quả được thể hiện như sau:

15 tuổi vào học cấp II đạt trên 90% Bằng kinh phí huy động từ nhân dân và các doanh nghiệp trên địa bàn cùng với ngân sách địa phương, việc tu sửa, đầu tư xây dựng mới và mua sắm máy móc, trang thiết bị mới từng bước thực hiện nhằm đáp ứng cho nhu cầu dạy và học theo hướng hiện đại hóa cơ sở vật chất Ngoài ra, đội ngũ giáo viên tăng nhanh về số lượng và chất lượng, đang từng bước được chuẩn hóa; số lượng trường đạt tiên tiến, giáo viên dạy giỏi ngày càng tăng Các biện pháp cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục được thực hiện toàn diện, phương châm “học đi đôi với hành” kết hợp chặt chẽ với ba môi trường giáo dục “Gia đình - nhà trường- xã hội” ngày càng được thực hiện tốt hơn Sự nghiệp đào tạo con người đã không ngừng phát triển [1, tr.373]

Trang 36

Nhìn chung, công tác giáo dục trước năm 1999 đã đạt những thành tựu đáng kể Tuy nhiên, Dĩ An vừa mới được tái lập nên vẫn còn có những trở ngại, hạn chế nhất định về trường, lớp, giáo viên, đời sống kinh tế của nhân dân còn thấp, cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu… đòi hỏi phải vươn lên

để tiến nhanh, tiến kịp với sự nghiệp giáo dục chung của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung

Văn hóa thông tin, thể dục thể thao

Các hoạt động văn hóa, xã hội, đặc biệt là công tác truyền thông ngày càng được đẩy mạnh với sự trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành văn hóa thông tin Các hoạt động thông tin nhằm cổ động phổ biến các chính sách chủ trương của Đảng, Nhà nước và giới thiệu các mô hình tiên tiến điển hình đến nhân dân được thực hiện có hiệu quả Đa dạng hóa các dịch vụ kinh doanh văn hóa phẩm và nội dung của các hoạt động văn nghệ, tác phẩm nghệ thuật, khuyến khích các hoạt động thi đua lành mạnh về phong trào thể dục thể thao nhằm động viên tinh thần tự chăm sóc sức khỏe của nhân dân đồng thời cổ vũ mạnh mẽ cho nhân dân nhất là lớp trẻ phát huy tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc

Tuy nhiên, bên cạnh việc đẩy mạnh các hoạt động kể trên, lĩnh vực văn hóa thông tin, thể dục thể thao của Dĩ An còn gặp một số hạn chế nhất định như: chậm thực hiện các tiến độ xây dựng công trình văn hóa Cán bộ phụ trách chưa đủ chuẩn, số lượng ít, chưa có nhiều kinh nghiệm…Do đó, chưa đáp ứng kịp thời cho nhu cầu sinh hoạt văn hóa của nhân dân

Về xã hội

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân

Bên cạnh việc chú trọng tới sự nghiệp giáo dục, Đảng bộ thị xã Dĩ An cũng còn quan tâm tới nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân Sau khi công cuộc đổi mới đất nước được tiến hành, toàn thị xã đã tăng cường củng cố

Trang 37

mạng lưới y tế, ngoài các bệnh viện, các trạm y tế xã được xây dựng và tu bổ với trang thiết bị ngày càng hiện đại, chất lượng khám chữa bệnh và tinh thần phục vụ tốt hơn Thị xã Dĩ An còn thực hiện các chương trình y tế quốc gia cho nhân dân, thực hiện công tác phòng ngừa dịch bệnh, xây dựng ý thức bảo

vệ môi trường trong cộng đồng dân cư

Ngoài ra, công tác truyền thông dân số cũng được thực hiện tốt giúp mọi người nhận thức tốt chiến lược kế hoạch hóa gia đình Hội Chữ Thập Đỏ, Hội Y học cổ truyền cũng luôn quan tâm tới sức khỏe người dân thông qua các hoạt động thiết thực tận các cơ sở Chương trình chăm sóc sức khỏe dành cho trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi Tại Dĩ An có 2 bệnh viện công lập

là bệnh viện Dĩ An và bệnh viện Quân Đoàn 4 và 11 phòng khám đa khoa do

tư nhân thành lập và một bệnh viện có quy mô lớn đang được khởi công xây dựng là bệnh viện đa khoa quốc tế Việt Anh Đức Dĩ An có 469 cơ sở y tế tư nhân hoạt động Đã có hơn 40.000 người được khám và điều trị bệnh Ngoài

ra, Trung tâm y tế kết hợp với các địa phương tổ chức các đợt khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho các đối tượng chính sách [1, tr.373]

Chính sách xã hội

Miền Nam được giải phóng, non sông thu về một mối, biết bao nhiêu xương máu đã đổ ra trên chiến trường Những chiến sĩ cách mạng đã anh dũng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để giải phóng quê hương, giải phóng đất nước Công lao của các chiến sĩ ấy mãi mãi muôn đời sau phải khắc ghi

Để đền đáp một phần công lao của các chiến sĩ, thị ủy Dĩ An nói riêng, tỉnh

ủy Bình Dương nói chung đã có những chính sách với người và gia đình có công với cách mạng để giảm bớt đi những mất mát mà họ phải gánh chịu Từ sau năm 1975 đến khi được tái lập huyện việc thực hiện các chính sách xã hội được quan tâm sâu sắc như: công tác đền ơn đáp nghĩa đối với người có công với cách mạng, gia đình thương binh, liệt sĩ, cán bộ nghỉ hưu Nhiều chương

Trang 38

trình đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn như: Xây nhà tình nghĩa, lập sổ tiết kiệm, hỗ trợ vay vốn sản xuất, trợ cấp xã hội, vận động các đơn vị, đoàn thể nhận chăm sóc cho hàng trăm đối tượng chính sách, mang lại hiệu quả thiết thực [1, tr.374] Bên cạnh đó, Ban thường vụ thị ủy và các Chi bộ, Đảng

bộ đã quán triệt sâu sắc tinh thần Chỉ thị 35 của Ban Bí thư Trung ương Đảng,

rà soát và xem xét các tập thể, cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược cũng như trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Đến năm 1995, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho Đảng bộ, nhân dân huyện Dĩ

An và 5 xã: Tân Đông Hiệp, Tân Bình, An Thạnh, An Sơn, Bình Hòa; cùng với 96 bà mẹ được tuyên dương “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, hoàn thành cơ

bản công tác giải quyết tồn đọng sau chiến tranh [1, Tr.374]

Chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo luôn được các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ngành và đoàn thể quan tâm sâu sắc như: Đào tạo nghề cho lao động nông thôn, bộ đội xuất ngũ và giới thiệu việc làm cho người lao động… Thực hiện việc cho vay vốn sản xuất đối với các đối tượng nghèo thông qua các nguồn vốn cũng được chú ý thực hiện góp phần làm giảm tỷ lệ nghèo trên địa bàn Dĩ An

Như vậy, bước đầu Đảng bộ Dĩ An đã có những chính sách khích lệ, động viên đối với những cá nhân, gia đình đã chịu mất mát hy sinh trong chiến tranh, gia đình nghèo, neo đơn Ngoài việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho gia đình chính sách, người có công với cách mạng, Đảng bộ Dĩ

An còn thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho nhân dân địa phương, góp phần cải thiện đời sống nhân dân

1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bình Dương về phát triển văn hóa –

xã hội từ 1999 – 2012

1.2.1 Về lĩnh vực văn hóa

Trang 39

Thuật ngữ “văn hóa” xuất hiện từ lâu đời trong ngôn ngữ nhân loại và cho đến nay văn hóa là một trong những khái niệm phức tạp và khó xác định Nói đến văn hóa là nói đến vai trò chủ thể của con người đồng thời thông qua hoạt động văn hóa, con người cũng là sản phẩm của văn hóa Chủ tịch Hồ Chí

Minh nói : “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn” Như vậy, khái niệm văn hóa

chứa đựng bản chất nhân văn, nhân bản

Văn hóa – xã hội là lĩnh vực rất quan trọng trong đời sống con người Văn hóa phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Do đó, ngay từ Đại hội VII (6/1991) Đảng ta đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Cương lĩnh năm 1991 lần đầu tiên đưa ra quan niệm nền văn hoá Việt Nam có đặc trưng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Tại Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII (7/1998) Đảng ta đưa ra 5 quan điểm cơ bản chỉ đạo, 10 nhiệm vụ cụ thể và 4 giải pháp lớn để xây dựng và

phát triển nền văn hoá trong thời kỳ mới

Từ Đại hội Đảng lầnVIII đến Đại hội Đảng lần thứ X và nhiều Nghị quyết Trung ương tiếp theo đã xác định văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Trong đó đáng lưu ý các thời điểm như: Đại hội VIII (6/1996) của Đảng khẳng định: khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, là một

Trang 40

động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới Do đó phải coi sự nghiệp giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển xã hội Hội nghị Trung ương 9 khoá IX

(1/2004) xác định thêm "phát triển văn hoá đồng bộ với phát triển kinh tế"

Hội nghị Trung ương 10 khoá IX (7/2004) đặt vấn đề đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm; xây dựng chỉnh đốn Đảng là then chốt với nhiệm vụ không ngừng nâng cao văn hoá - nền tảng - tinh thần xã hội Đồng thời Hội nghị cũng nhận định: cơ chế thị trường đã làm thay đổi mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, thúc đẩy dân chủ đời sống xã hội,

đa dạng hoá thị hiếu và phương thức sinh hoạt văn hoá Do đó phạm vi, vai trò dân chủ hoá - xã hội hoá văn hoá của cá nhân ngày càng tăng lên và mở rộng là những thách thức mới đối với sự lãnh đạo, quản lý công tác văn hoá của Đảng và Nhà nước ta

Tóm lại, với quan điểm phát triển về văn hóa xuyên suốt của Đảng ta

được thể hiện rất ngắn gọn và cô đọng: Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra chất lượng mới của cuộc sống; xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Phát

triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Đây là quan điểm xuất phát

để Đảng bộ tỉnh Bình Dương đề ra chủ trương phát triển văn hóa - xã hội của địa phương

Ngay sau khi được tách ra từ tỉnh Sông Bé và chính thức đi vào hoạt động ngày 01 tháng 01 năm 1997 Đến (12/1997), Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ VI diễn ra; ngoài những chủ trương phát triển kinh

Ngày đăng: 04/05/2021, 07:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w