1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ ngô kha trong bối cảnh văn học miền nam 1954 1975

184 68 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 184
Dung lượng 3,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặt Ngô Kha trong bối cảnh lịch sử miền Nam và hơn cả là dòng chảy văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 để nghiên cứu sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về hành trình tư tưởng củ

Trang 3

Xác nhận của GVHD Xác nhận của CTHĐ

Trang 4

bối cảnh văn học miền Nam 1954-1975” tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ

phía những người thầy, nhà nghiên cứu, những người thân, bạn bè và học trò của nhà thơ Ngô Kha

Đầu tiên cho tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy hướng dẫn của tôi, GS TS Huỳnh Như Phương - người thầy đã tận tâm hướng dẫn, dõi theo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu về nhà thơ Ngô Kha từ lúc tôi làm khóa luận tốt nghiệp Cử nhân tới khi tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp bậc Cao học

Tại Huế, tôi xin chân thành cảm ơn bà Ngô Thị Huân (chị gái nhà thơ Ngô Kha), nhà nghiên cứu, dịch giả Bửu Ý, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Châu Phan, nhà thơ Võ Quê, PGS TS Bửu Nam (Trường ĐH Sư phạm Huế), nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, ông Nguyễn Duy Hiền, ông Nguyễn Xuân Hoa, ông Lê Văn Lân, họa sĩ Vĩnh Phối, họa sĩ Đinh Cường (hiện sống tại Hoa Kỳ) đã cung cấp cho tôi những hình ảnh, tư liệu quý giá và những câu chuyện sinh động về cuộc đời nhà thơ Ngô Kha

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tôi xin chân thành cảm ơn nhà thơ Nguyễn Quốc Thái, nhà thơ Cao Thoại Châu, nhà văn Nguyễn Thanh Văn, nhà báo Trần Thức, nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên, TS Trần Hoài Anh (Trường ĐH Văn hóa TP HCM) đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi có được những tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến ông Nguyễn Hiếu Học, ông Lý Văn Trung, ông Nguyễn Văn On, là những nhà giáo về hưu hiện sống tại Bình Dương đã cho tôi những lời góp ý chân thành để tôi hoàn thành đề tài này

Sau cùng là lòng biết ơn đối gia đình tôi, những người luôn thầm lặng đứng sau, làm chỗ dựa tinh thần vững chắc mỗi khi tôi gặp khó khăn, nản chí

Xin chân thành cảm ơn!

TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 12 năm 2014

Học viên Trần Thị Mỹ Hiền

Trang 5

Kha trong bối cảnh văn học miền Nam 1954-1975” là công trình nghiên cứu của

riêng tôi Các số liệu thống kê, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Tác giả Luận văn

Trần Thị Mỹ Hiền

Trang 6

NGÔ KHA

(1935-1973)

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 14

5 Phương pháp nghiên cứu 14

6 Đóng góp của luận văn 15

7 Kết cấu của luận văn 16

CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH XÃ HỘI, VĂN HỌC MIỀN NAM GIAI ĐOẠN 1954- 1975 VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA NGÔ KHA 1.1 Bối cảnh xã hội miền Nam giai đoạn 1954-1975 17

1.1.1.Tình hình chính trị tại miền Nam 17

1.1.2.Phong trào đấu tranh của sinh viên-học sinh tại các đô thị miền Nam 20

1.2 Bối cảnh văn học đô thị miền Nam 23

1.2.1 Văn học trong một xã hội biến động vì chiến tranh 23

1.2.2 Sự phức tạp của các khuynh hướng văn học 30

1.2.2.1 Khuynh hướng hiện đại 31

1.2.2.2 Khuynh hướng dân tộc 36

1.3 Ngô Kha – nhà thơ dấn thân 39

1.3.1 Cuộc đời Ngô Kha 39

1.3.2 Sự nghiệp văn chương của Ngô Kha 51

Tiểu kết 56

CHƯƠNG 2:HÀNH TRÌNH TƯ TƯỞNG TRONG THƠ NGÔ KHA 2.1 Thơ Ngô Kha trong dòng văn học ảnh hưởng trào lưu tư tưởng phương Tây 57

2.1 1 Khuynh hướng siêu thực 57

2.1.1.1 Chủ nghĩa siêu thực và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam 57

2.1.1.2 Thế giới siêu thực trong thơ Ngô Kha 62

2.1.1.3 Hình ảnh siêu thực trong thơ Ngô Kha 76

2.1.1.4 Bút pháp siêu thực trong thơ Ngô Kha 79

Trang 8

2.1.2 Khuynh hướng hiện sinh 83

2.1.2.1 Chủ nghĩa hiện sinh và sự hiện diện của nó ở miền Nam 83

2.1.2.2 Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong thơ Ngô Kha 87

2.2 Thơ Ngô Kha trong dòng văn học đấu tranh dân tộc 98

Tiểu kết 111

CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT THƠ NGÔ KHA 3.1 Trường ca 113

3.1.1 Thể loại trường ca và sự phân định tác phẩm trường ca của Ngô Kha 113

3.1.2 Đặc điểm trường ca của Ngô Kha 117

3.2 Thơ tự do 126

3.2.1 Thơ tự do - bước đột phá của thơ ca miền Nam 126

3.2.2 Thơ tự do Ngô Kha 130

3.3 Ngôn ngữ thơ 136

Tiểu kết 146

KẾT LUẬN 148

BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ LUẬN VĂN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 TÁC PHẨM NGÔ KHA ĐÃ CÔNG BỐ Error! Bookmark not defined

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 có một thi sĩ mang một số phận khá đặc biệt Sinh ra và lớn lên tại Huế, ông là một trong số những nhân vật nổi bật trong các phong trào đấu tranh ở đô thị cùng thế hệ với lớp trí thức Huế lúc bấy giờ như Bửu Ý, Nguyễn Hữu Châu Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Bửu Chỉ, Đinh Cường… và đặc biệt, là bạn rất thân với người nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn Nhân vật đó không ai khác chính là thi sĩ Ngô Kha Sống và hoạt động trong thời kỳ đất nước đầy biến động, ông đã thể hiện ý chí dấn thân quyết liệt, tất cả vì hòa bình dân tộc, tự do, công lý Nhưng nghiệt ngã thay, cuộc đời đã không ban cho nhà thơ một cuộc sống tốt đẹp Ông bị lực lượng phi nhân bắt và thủ tiêu một cách

mờ ám nhằm tiêu diệt sức ảnh hưởng của một người trí thức có lương tri, một thầy giáo có uy tín trong lòng các học trò của mình Nhưng cho đến nay, người thầy giáo

ấy vẫn bất tử, vẫn tồn tại trong tâm thức những người bạn, những học trò mến yêu Những năm gần đây bí mật về sự mất tích của Ngô Kha dần được những người thân, đồng nghiệp và các học trò thân yêu của ông tìm hiểu tuy vẫn có những điều chưa thật sáng rõ Và quan trọng hơn, đó chính là chưa tìm ra hài cốt của nhà thơ bất hạnh này Những dữ kiện về cuộc đời ông cứ thấp thoáng như một huyền sử Tầm vóc con người đó đã vượt qua những vấn đề vụn vặt, nhỏ bé của cuộc đời Tư tưởng, hành động và cả sự ra đi của ông đã trở thành những suy tưởng đẹp trong lòng những người thân và bè bạn Cái tên Ngô Kha vẫn còn bay qua những giấc mơ lãng đãng của nhiều người bạn một thời ở Huế và cả thế hệ trẻ sau này Để tưởng nhớ đến một con người, một cuộc đời đẹp như thế, vài năm trở lại đây có nhiều bài viết, tập sách tập hợp lại thơ ông, nhưng để có một công trình nghiên cứu một cách công phu, đầy đủ về cả cuộc đời, sự nghiệp văn chương cũng như những giá trị trong thơ ông thì chưa có công trình nào hoàn thiện

1.2 Năm 2011, trong khóa luận tốt nghiệp của mình, chúng tôi đã có những bước đầu nghiên cứu về thơ Ngô Kha với đề tài “Thế giới nghệ thuật thơ Ngô Kha” Trong công trình này, với quy mô của một khóa luận tốt nghiệp Cử nhân, chúng tôi chỉ mới tiếp cận thế giới nghệ thuật thơ Ngô Kha trong một chừng mực nhất định

Đó là tìm hiểu hành trình thơ Ngô Kha trong phạm vi những tác phẩm của ông mà chưa có cơ hội đối sánh với các cây bút cùng thời để có cái nhìn bao quát, đồng thời

Trang 10

định vị giá trị thơ Ngô Kha trong dòng văn học miền Nam 1954-1975 Bước đầu khám phá thế giới thơ Ngô Kha, chúng tôi đã bắt được mạch nguồn cảm hứng thơ

Ngô Kha qua các giai đoạn của cuộc đời thông qua những tác phẩm Hoa cô độc,

Ngụ ngôn của người đãng trí và Trường ca hòa bình Qua đó, người nghiên cứu đã

khám phá được dấu ấn nghệ thuật mà Ngô Kha tạo dựng trong thơ mình Ở phần kết luận, chúng tôi có nêu một nhận định làm tiền đề để lần này, thông qua đề tài luận

văn, mong muốn được minh chứng rõ ràng hơn Ý đó là: “Ngô Kha, nhà thơ đầu

tiên của miền Nam viết thơ siêu thực bằng thể loại trường ca” Sau này, Đỗ Lai

“là trường ca siêu thực đầu tiên của văn học thành thị miền Nam 1945-1975, thậm

chí của cả Việt Nam” [98,39] Chính sự trùng hợp thú vị đó và những ý tưởng khơi

mở ban đầu mà chúng tôi quyết định tiếp tục nghiên cứu thơ Ngô Kha

1.3 Muốn đánh giá, công nhận tài năng của một tác giả văn học, không gì công bằng và khoa học hơn khi chúng ta đặt tác giả đó vào diễn trình văn học cũng như thời đại mà nhà thơ ấy sinh sống Chất xúc tác từ thời đại cũng như không khí sinh hoạt văn học, sự tương tác qua lại giữa những người cầm bút sẽ là môi trường thuận lợi cho hạt mầm văn chương nảy nở Là nhà thơ, đồng thời là một công dân trong xã hội, Ngô Kha không thể vượt thoát hay tách mình ra khỏi dòng lịch sử mà mình đang sống để sáng tác Đặt Ngô Kha trong bối cảnh lịch sử miền Nam và hơn

cả là dòng chảy văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 để nghiên cứu sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về hành trình tư tưởng của tác giả, đồng thời cho thấy được những gì là đặc trưng, nổi bật trong phong cách sáng tác của nhà thơ này

Kết hợp những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài Thơ Ngô Kha

trong bối cảnh văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 làm đối tượng nghiên cứu

cho luận văn của mình

2 Lịch sử nghiên cứu

Ngô Kha là nhà thơ miền Nam giai đoạn 1954-1975, nhưng do sống và hoạt động tại Huế nên tên tuổi ông ít được phổ biến trên văn đàn lúc bấy giờ Cái tên Ngô Kha chỉ vang lên nổi bật trong các phong trào tranh đấu của sinh viên học sinh Huế những năm 1960-1973 với vai trò là một trong những người đi đầu, hoặc được nhắc đến ít nhiều trong dòng văn học phản kháng tại miền Nam trong những bài

Trang 11

nghiên cứu về dòng văn chương đó sau này Ngoài ra, cái chết có phần bí ẩn của ông, dưới sự vùi lấp của lớp bụi thời gian cũng gây trở ngại không ít trong việc nghiên cứu về nhà thơ Tuy vậy, căn cứ vào các tài liệu có được khi tìm hiểu về Ngô Kha, chúng ta có thể chia quá trình ấy qua hai giai đoạn:

2.1 Như đã nói, không gian hoạt động của Ngô Kha chủ yếu ở Huế Ông dạy học và sáng tác ở Huế nên tên tuổi ông ít được biết đến (mặc dù từng có thơ đăng

trên một số tạp chí ở Sài Gòn như Đất Nước, Trình Bầy trước ngày ông mất) Sự

kiện Ngô Kha được nhắc đến đầu tiên trên mặt báo có thể kể đến là bài điểm sách của người học trò – Nguyễn Đính – nhà thơ Trần Vàng Sao sau này Đó là bài “phê

bình” đầu tiên về thơ Ngô Kha - tập thơ đầu tay: Hoa cô độc Bài này được đăng trên báo Lành Mạnh ở Huế năm 1961 Rất tiếc, bài báo sau này bị thất lạc, vẫn chưa

có cơ hội tìm ra

Cho đến khi ông bị mất tích một cách bí mật vào tháng 1-1973, hơn hai mươi tháng sau (tháng 12-1974) một nhóm bạn của ông ở Huế và Sài Gòn đã liên lạc với nhau chủ trương làm một số báo đặc biệt để kêu gọi nhà cầm quyền cung cấp thông

tin về sự mất tích của nhà thơ Loạt bài được thực hiện trên số báo Đứng Dậy số

Loạt bài có đăng bức thư tìm con của bà Cao Thị Uẩn [193], “Tuyên cáo của các giáo sư văn nghệ sĩ Huế

về việc bắt giữ giáo sư Ngô Kha cuối 1972”, “Thư gởi đồng nghiệp Ngô Kha” của Nguyễn Ngọc Minh [96], “Lá thư gởi cho người đang ở trong tù hay đã bị thủ tiêu” của Trịnh Công Sơn [141], “Ngục tù hay quê hương của thi sĩ” của Lê Khắc Cầm

[12] và một số bài của các đồng nghiệp khác Đây là lần thứ hai (nhưng đặc biệt hơn) cái tên Ngô Kha trở thành một hiện tượng trên mặt báo cũng như với những độc giả Sài Gòn lúc bấy giờ Thế nhưng số báo như một cánh thư không được hồi

âm, tin tức Ngô Kha vẫn bặt tăm, cái tên Ngô Kha lại nằm im trong tâm thức những người bạn ông, cho đến sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất

2.2 Sau 1975, Ngô Kha đã được nhắc đến trong những cuốn sách, những tài liệu viết về dòng văn chương tranh đấu miền Nam trước 1975, đặc biệt là bộ phận

1

Trong cuốn sách “Ngô Kha – ngụ ngôn của một thế hệ” do nhóm Trần Thức, Nguyễn Duy Hiền, Nguyễn

Thanh Văn, Lê Khắc Cầm và Nguyễn Quốc Thái biên soạn năm 2005 ghi là báo Đối Diện số 65-66, mùa Giáng Sinh 1974 nhưng theo tư liệu thực tế là Tạp chí Đứng Dậy Thực ra, để tránh chế độ kiểm duyệt báo chí của chính quyền Sài Gòn tòa soạn báo Đối Diện có 3 lần đổi tên, ban đầu là Đối Diện, rồi Đồng Dao và cuối cùng là Đứng Dậy Số 65 - 66 mùa Giáng sinh năm 1974, lúc này báo đã đổi tên thành Đứng Dậy

Trang 12

đấu tranh của những trí thức và học sinh - sinh viên ở Huế những năm 1960-1973

Trong quyển Văn học Việt Nam chống Mỹ cứu nước, NXB Khoa học xã hội Hà Nội,

1979 do Phong Lê chủ biên , tác giả đã dành phần năm “Văn học yêu nước tiến bộ

trong lòng các thành thị miền Nam” để nói về bộ phận văn học rất quyết liệt và hào

hùng này Trong đó tác giả cũng đã đề cập đến Ngô Kha như một trong những ngọn

cờ đầu trong các hoạt động yêu nước của trí thức trẻ lúc bấy giờ [79] Thơ ông là phương tiện đắc lực trong việc tuyên truyền và thể hiện ý chí mạnh mẽ, tinh thần yêu chuộng hòa bình của nhân loại Đó như một sự ghi nhận và tôn vinh những giá trị đích thực mà những cuộc đời oanh liệt như thế hệ của Ngô Kha đã âm thầm đóng góp vào nền văn học này

Năm 1991, Hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên - Huế cho xuất bản một Tuyển

tập Thơ Ngô Kha trong đó có Hoa cô độc (1961), Ngụ ngôn của người đãng trí

(1969), Trường ca hòa bình và những bài thơ rời Tuyển tập đã cố gắng sưu tầm

nhưng vẫn chưa thật sự đầy đủ, đặc biệt có lời tựa của Hoàng Phủ Ngọc Tường viết

trần đoản mệnh” nên tập trung vào việc dựng lại chân dung nhà thơ thông qua số

phận cùng con người trong các tập thơ Ngô Kha được tác giả bài viết mệnh danh bằng nhiều cái tên, gắn với số phận của các nhân vật trong thần thoại Hy Lạp Ban đầu là Narcisse – người bị mê hoặc bởi chính chiếc bóng của mình, sau đó là Thésée, và cuối cùng là chàng Orphée với tiếng đàn lya bất tử Không riêng gì Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường xem cả thế hệ thanh niên trí thức thời đó đã “bội nhiễm căn bệnh Narcisse”, để rồi “Cúi nhìn chính mình Ngô Kha đã bắt gặp trên cánh đồng hắt hiu của linh hồn chàng một loài ác hoa mọc lên từ bao giờ, chàng âu yếm gọi tên nó là “Hoa cô độc” Hành trình vào thơ của chàng khởi đầu với niềm kiêu hãnh thầm kín của bông hoa ấy” [98, 13] Bài viết đã chạm đến những vấn đề nhân bản khi nhận xét về một con người bằng cái nhìn thương xót, cảm thông với một lối viết nhẹ nhàng, hấp dẫn

Những năm gần đây, cánh cửa nghiên cứu có phần tự do và mở rộng, đã có nhiều công trình tìm hiểu đánh giá lại về dòng văn học được mệnh danh là “Văn

2 Bài này sau này in lại trong Ngô Kha – hành trình thơ, hành trình dấn thân và ngôi nhà vĩnh cửu (2013),

Bửu Nam, Phạm Thị Nga Anh (chủ biên), Nxb Hội nhà văn, TP HCM với tựa đề “Ngô Kha, cây đàn lya và

những chòm sao…”

Trang 13

học yêu nước đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975” Năm 1993, Báo Thanh

Niên, Báo Tuổi Trẻ và NXB Trẻ đã cho ra đời ấn bản “Tiếng hát những người đi tới” do Lê Hoàng, Nguyễn Công Khế, Lê Văn Nuôi chủ biên [110] Cuốn sách giới

thiệu thơ, văn, nhạc, họa, báo chí của phong trào sinh viên học sinh miền Nam chống Mỹ từ 1960 – 1975 Trong phần nội dung, ban biên tập đăng những bài viết đánh giá thành tựu văn học giai đoạn này như sự nhìn nhận lại nhưng với những ý kiến thẳng thắn và xác đáng hơn so với các sách nghiên cứu trước đây Độc giả cũng đặc biệt xúc động với câu nói của nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng khi cho ra

ấn phẩm này “Muộn còn hơn không, thiếu vẫn hơn khoảng trống vắng mà văn học

sử chẳng thể giải thích với đương thời và hậu thế…” [110, 10] Cuốn sách còn có

bài viết của Trần Hữu Tá với nhan đề “Nghĩ về tuổi trẻ, nghĩ về thơ, nghĩ…” với

những dòng viết bày tỏ tình cảm của mình với các nhân vật mà nếu nhắc đến bây giờ, trong tâm trí ta họ vẫn còn rất trẻ bởi họ đã vĩnh viễn nằm lại dưới lòng đất mẹ với cái tuổi rất đẹp - tuổi đôi mươi Đó là Trần Quang Long, Nhất Chi Mai, Phan Trước Viên… Trong đó tác giả vẫn không quên nhắc đến một người có số phận không kém phần bi kịch: Ngô Kha Nhắc đến Ngô Kha người ta vẫn thường ghi lại câu nói nguyên văn như minh chứng một sự thật đau thương nhưng không bao giờ

lý giải được: “Năm 1973, Ngô Kha bị địch ám hại ở Huế ngay sau khi hiệp định

Paris được ký kết chưa ráo mực” Trong phần thơ Ngô Kha, người đọc sẽ không khỏi xúc động khi đọc bài viết của Tần Hoài Dạ Vũ: “Ngô Kha, người báo thức

lương tri” Tác giả có một nhận định rất xác đáng rằng “Cuộc đời Ngô Kha là một

chuỗi dang dở!” Vâng, không dang dở sao được khi ông đã vĩnh viễn cô độc dưới lòng đất mẹ với cái tuổi rất tươi, dồi dào năng lực sáng tạo Bài viết không chỉ đánh giá về cuộc đời, con người và sự nghiệp thi ca, mà còn cho thấy phẩm chất sáng ngời của một con người rất “động” ẩn sâu bên trong lớp vỏ trang nghiêm

Trong Nhìn lại một chặng đường văn học của Trần Hữu Tá, NXB Thành phố

Hồ Chí Minh năm 2000 [146], tác giả chủ yếu sưu tầm và nghiên cứu lại thơ ca của

các tác giả trong giai đoạn văn học từ 1954 – 1975 ở Sài Gòn Trong phần “Sự qui

tụ lực lượng đặc sắc”, tác giả có nhắc tới Ngô Kha trong vai trò một người “nhận

đường”, chuyển từ hình thức thơ ca của chủ nghĩa hiện đại Tây phương sang những cung bậc kêu gọi đấu tranh hòa bình trong không khí dân tộc Cuốn sách cũng dành

Trang 14

vài trang để in lại hai bài thơ của Ngô Kha được viết theo khuynh hướng hiện đại là

“Mai có hòa bình” và “Cho những người nằm xuống”

Năm 2005, NXB Thuận Hóa cùng nhóm tác giả Trần Thức, Hoàng Dũng, Bửu

Nam và Ngô Thời Đôn đã tập hợp và xuất bản cuốn Viết trên đường tranh đấu –

Tuyển tập thơ văn yêu nước của tuổi trẻ Huế trong phong trào đấu tranh đô thị 1954-1975 [165]. Trong tuyển tập này, ở chặng đường 1969-1975 nhóm tác giả

cũng đã cho in lại hai bài thơ của Ngô Kha là Cho những người nằm xuống và Mai

có hòa bình Trong phần tiểu sử tác giả, ban biên tập cuốn sách cung cấp một dữ

kiện là năm 1983 Ngô Kha được công nhận liệt sĩ, trong khi cuốn Ngô Kha – ngụ

ngôn của một thế hệ viết là năm 1981 Theo đánh giá của chúng tôi, thông tin trong

cuốn sách in cũng trong năm này là Ngô Kha – ngụ ngôn của một thế hệ do nhóm

những người bạn, học trò của Ngô Kha là Trần Thức, Nguyễn Duy Hiền, Lê Khắc

hành [164] cung cấp có cơ sở hơn Bởi đây là quyển sách tập hợp tương đối đầy đủ

về di sản thơ Ngô Kha, gồm ba tập thơ đã được tác giả xuất bản là Hoa cô độc, Ngụ

ngôn của người đãng trí, Trường ca hòa bình Đồng thời ấn phẩm còn sưu tầm

thêm một số bài thơ rời qua nhiều tư liệu khác nhau như Bài ca Tự quyết, Mùa đông

chiến tranh ở Huế, Hành trình, Ngõ hoang vu vào tình yêu… cùng một số truyện

ngắn, tiểu luận Về phần nội dung, cuốn sách dành phần khá lớn đăng một số bài viết của những người bạn cùng thời với Ngô Kha như Nguyễn Duy Hiền, Nguyễn Thanh Văn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Bửu Ý, Thái Ngọc San, Võ Quê, Nguyễn Công Thắng, Nguyễn Phú Yên, Trần Phá Nhạc, Ngô Minh… Đáng chú ý là bài

nghiên cứu về thơ Ngô Kha của Trần Thùy Mai “Ngụ ngôn của người đãng trí –

Bản bi ca đối mặt với cái chết” Bài viết chủ yếu đi vào nghiên cứu đánh giá tập thơ Ngụ ngôn của người đãng trí về phương diện nội dung tư tưởng, trong đó có một ý

tưởng sâu sắc đáng để ta suy ngẫm:

Thông điệp của ngụ ngôn ở đây không gì khác hơn là dự cảm về cái chết Cái chết không thể chống đỡ, không thể trốn tránh Cái chết của một người, một thế hệ, một dân tộc Để thoát khỏi dự cảm ấy, tâm hồn đã tự động chọn cách đánh mất ý thức Đãng trí ở đây có nghĩa là phủ nhận thực tại Là chống lại cái quyền lực đang cưỡng ép người ta phải thừa

Trang 15

nhận một thực tại phi nhân Nhưng dù ta quay mặt đi, những tiếng kêu chát chúa của cuộc sống vẫn cứ dội vào tâm thức [164, 221], [98,62]

Trong bài viết của Nguyễn Thanh Văn: “Ngô Kha – Đường bay vô lường của

số phận”, tác giả tỏ ra có cái nhìn thông hiểu khi đặt toàn bộ thơ Ngô Kha vào hoàn

cảnh xã hội lúc bấy giờ để lý giải, phân tích Bằng ngòi bút khá tinh tế, sắc sảo cùng cách cảm nhận riêng, Nguyễn Thanh Văn đã cung cấp cho chúng ta một cách hiểu

để thưởng thức và nhìn nhận toàn bộ con người cùng những sáng tạo tinh thần của Ngô Kha - nhà thơ đồng thời là thầy dạy ngày xưa của mình

Ngoài những bài viết giá trị trên, điều quý giá nhất so với những tài liệu trước

đó là cuốn sách đã cung cấp vài thông tin về sự mất tích của nhà thơ Ngô Kha, từng

là một dấu chấm hỏi lớn trong lòng nhiều người

Năm 2007, trong “Phác họa chân dung một thế hệ” được in dưới dạng hồi ký

của Tần Hoài Dạ Vũ và Nguyễn Đông Nhật, NXB Đà Nẵng [199], hai tác giả đã dựng lại cho người đọc thế hệ hôm nay tuy chỉ là “phác họa” nhưng thật sâu sắc và lớn lao về một giai đoạn lịch sử trong lòng các thế hệ thanh niên trí thức miền Nam ngày ấy Vì được trình bày dưới dạng hồi ký nên người đọc dễ dàng cảm nhận đó là

dòng chảy liên tục trong ký ức của một thế hệ đã qua Trong Chương VII “Tự do

hay là chết”, hai tác giả đã nhắc tới Ngô Kha bằng một danh xưng trang trọng: nhà

giáo, nhà thơ Ngô Kha, niềm tự hào chung của các thế hệ sinh viên học sinh Huế ngày ấy Nhắc tới Ngô Kha, tác giả quyển sách xem ông như vai trò người tiên phong nòng cốt trong các hoạt động phong trào học sinh sinh viên, tiêu biểu là sự kiện ông cùng Trịnh Công Sơn tổ chức hai “Đêm không ngủ” để chống đối nhà cầm quyền lúc bấy giờ [199, 229]

Trong số Tất niên 2010 của báo Kiến Thức Ngày Nay có bài viết của nhà nghiên cứu lý luận văn học Huỳnh Như Phương với nhan đề: “Thơ tuổi đôi mươi:

thức tỉnh và hy vọng” (3).Trong bài viết, tác giả có những nhận định sâu sắc về lý tưởng và những cách tân nghệ thuật của các cây bút trẻ đăng thơ trên các tạp chí văn nghệ trước 1975 như Trần Quang Long, Ngô Kha, Võ Quê, Thái Ngọc San, Võ

3 Bài này sau này đăng lại trong Ngô Kha - Hành trình thơ, hành trình dấn thân và ngôi nhà vĩnh cửu, sđd, tr

25

Trang 16

Thiều Quang, Trần Vàng Sao, Nguyễn Quốc Thái, Lê Văn Ngăn… Và có một nhận xét đáng lưu ý là:

Thơ trẻ dấn thân ở các đô thị miền Nam là một bản hợp ca nhiều cung bậc, nhiều giọng điệu, trong đó có những giọng điệu chưa thật định hình

rõ nét Âm hưởng chung là hào hùng, khí phách Nhưng cũng có giọng điệu thâm trầm, suy niệm.[…] Trong những nhà thơ đó, theo chúng tôi, Ngô Kha là tác giả mà tác phẩm mang đậm hơi thở hiện đại hơn cả [126], [98,30]

Tất cả các bài viết trên đều đề cập đến Ngô Kha trong vai trò một trí thức yêu nước với những vần thơ nói lên khía cạnh tinh thần đó Họ cũng nhấn mạnh đến bộ phận thơ văn yêu nước tiến bộ như một nhu cầu của lịch sử Tuy vậy vẫn chưa có công trình nào chính thức tìm hiểu, đánh giá một cách trọn vẹn, đầy đủ về di sản thơ Ngô Kha, trong cả dòng thơ yêu nước tiến bộ lẫn dòng thơ siêu thực

Sau đó không lâu, trên trang web của trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn Hà Nội có đăng một bài viết của ThS Diêu Lan Phương nghiên cứu về thơ siêu

thực của Ngô Kha với tiêu đề “Ngụ ngôn của người đãng trí – Bản trường ca siêu

thực độc đáo của thi ca Việt Nam”(4) Bài viết đã có cách tiếp cận và phân tích sâu

yếu tố siêu thực trong thơ Ngô Kha, đặc biệt là tập Ngụ ngôn của người đãng trí

Tuy nhiên vì chỉ là một bài viết ngắn nên tác giả đã trình bày hết sức cô đọng vài nét về chủ nghĩa siêu thực trong thơ Ngô Kha Có thể xem đây là tài liệu tham khảo cần thiết khi bước đầu nghiên cứu tìm hiểu về giá trị thơ Ngô Kha như một tác giả độc lập trên thi đàn dân tộc

Năm 2011, chúng tôi đã thực hiện một khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về thơ Ngô Kha với tên đề tài là “Thế giới nghệ thuật thơ Ngô Kha” Công trình đã có sự khái quát về cuộc đời dựa trên những nguồn tài liệu có được, đồng thời nghiên cứu

về thế giới nghệ thuật thơ Ngô Kha Trong công trình này, chúng tôi đã đi vào tìm hiểu thơ Ngô Kha qua các góc độ như ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa hiện sinh và ý thức dấn thân trong thơ tác giả này Tuy nhiên, dưới góc độ một khóa luận tốt nghiệp Cử nhân nên một số vấn đề chúng tôi vẫn chưa tiếp cận một cách

4 Bài này cũng được in lại trong cuốn Ngô Kha – Hành trình thơ, hành trình dấn thân và ngôi nhà vĩnh cửu,

Sđd, tr 52

Trang 17

toàn diện và sâu sắc Đặc biệt, công trình vẫn chưa có cái nhìn đối sánh Ngô Kha với các nhà thơ cùng khuynh hướng trên thi đàn giai đoạn 1954-1975

Đầu năm 2013, tác giả Suzuki Hisao – chủ tịch tập đoàn in Coal Sack của

Nhật Bản đã xuất bản cuốn Tuyển tập 175 bài thơ về độc lập và tự do của Việt Nam

để an ủi hương hồn những người mất vì chiến tranh (A Collection of Poems for Independence, Freedom and Requiem of Vietnam by 175 poets) [143]. Tuyển tập được viết bằng ba thứ tiếng là tiếng Việt – tiếng Anh – tiếng Nhật, trong đó tác giả

quyển sách đã chọn đăng bài thơ Mùa đông chiến tranh ở Huế của Ngô Kha như

một sự tưởng nhớ đặc biệt Điều này cho thấy nhà thơ Ngô Kha đã không còn xa lạ với người đọc thơ trong nước cũng như ngoài nước, bởi di sản thơ cũng như những

dữ kiện của cuộc đời ông đã chạm đến trái tim của nhiều độc giả trên toàn thế giới

Cùng khoảng thời gian này, Nxb Hội Nhà văn đã cho ra mắt ấn phẩm Ngô

Kha – Hành trình thơ, hành trình dấn thân và ngôi nhà vĩnh cửu do Bửu Nam và

Phạm Thị Anh Nga chủ biên [98] Tính đến thời điểm này, đây là quyển sách sưu tầm tương đối đầy đủ di sản văn chương của nhà thơ Ngô Kha đồng thời cũng tập hợp nhiều bài viết nghiên cứu đánh giá thơ Ngô Kha dưới nhiều góc độ nghệ thuật Với dung lượng 463 trang, ấn phẩm trình trình bày thành năm phần Phần một là

Hành trình thơ Ngô Kha với các bài viết nghiên cứu, đánh giá về giá trị nghệ thuật

thơ Ngô Kha của những cây bút phê bình tên tuổi như Đỗ Lai Thúy, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Bửu Nam, Huỳnh Như Phương… Đây là phần tinh túy về góc độ nghiên cứu bởi đã tập hợp được nhiều nhận định về nghệ thuật thơ Ngô Kha, chủ yếu là phần thơ siêu thực Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy trong bài viết “Người đọc không đãng trí” khẳng định “Ngô Kha xứng đáng có một vị trí trên hành trình tìm kiếm cái khác của thơ Việt” [98, 40]

Bửu Nam trong bài “Vũ trụ thơ Ngô Kha” thì nhận định:

Giai đoạn thứ nhất bắt đầu với tập thơ Hoa cô độc (1961), đây là tập thơ

mang hơi hướng siêu thực trên cái nền chủ đạo tâm thức lãng mạn kết

hợp với lối viết tượng trưng – và kết thúc với trường ca Ngụ ngôn của

người đãng trí (1968, xuất bản 1969) là tập trường ca in đậm lối viết siêu

thực và là một thành tựu đỉnh cao của thơ Ngô Kha trong giai đoạn này [98, 33]

Trang 18

Trong bài viết “Thơ Ngô Kha, hành trình bi tráng của người trí thức dấn thân”,

Nguyễn Xuân Hoa nhận xét: “Bằng một giọng thơ lặng lẽ, đầy trăn trở, tập thơ Hoa

cô độc của Ngô Kha đã mang hơi hướng của phong cách thơ siêu thực với những thi

ảnh và cảm xúc siêu hình mới, đầy hình tượng triết học đương đại” [98, 17]

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, một người bạn thân thiết của Ngô Kha, trong bài “Như một đời bông hoa” thì cho rằng “Với văn học, Ngô Kha xuất hiện

như một nhà thơ siêu thực của thời đại anh” [98, 311] Nhà thơ Diễm Châu, thành viên trong nhóm chủ trương tạp chí Trình Bầy trước 1975, trong một dịp đăng nhiều

bài thơ của Becerra – một nhà thơ trẻ người Mêxicô mất vì tai nạn, có nhắc tới Ngô Kha, trong đó ông ca ngợi “Ngô Kha như một nhà thơ sử dụng lối viết siêu thực hay

nhất Việt Nam ở cả hai miền” [98, 247]

Còn Ngô Văn Tao trong “Thơ Ngô Kha – Ngụ ngôn của người đãng trí” thì

“Ngụ ngôn của người đãng trí là một bản hòa tấu dài không điệp khúc, là một bức họa đồ lớn “trừu tượng và lập thể” [98, 42] Mỗi người một cách cảm nhận, thơ Ngô Kha có lẽ là một trường hợp khá mới mẻ cho người đọc về một phong cách thơ không mấy phổ biến ở Việt Nam giai đoạn này

Trong phần hai Hành trình dấn thân của Ngô Kha và phần ba Ngôi nhà vĩnh

cửu, ban biên tập đã tập hợp gần 40 bài viết của các tác giả là bạn, là học trò của

Ngô Kha như Thái Ngọc San, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đinh Cường, Lê Văn Thuyên, Chu Sơn, Hoàng Trọng Tấn, Hoàng Hà, Nguyễn Công Thắng, Nguyễn Phú Yên, Nguyễn Duy Hiền, Tiêu Dao Bảo Cự…Tất cả đã làm nên một bức tranh sinh

Mỗi bài viết như một mảng ghép trong bức họa đồ số mệnh Họ đã làm sống dậy chân dung Ngô Kha – một người thầy giáo hiền lành, vui tính, nhưng bộc trực và quyết liệt trước cái xấu, cái phi nghĩa khi đứng trên giảng đường hay các mặt trận đường phố; một thi sĩ lãng mạn, cô đơn và có phần lý tưởng đối với cuộc đời Qua phần này, người đọc sẽ hiểu những nét cá tính đời thường đồng thời cũng cảm nhận những góc khuất, những mặt đối lập trong tâm hồn thi sĩ Ngô Kha Qua bao biến thiên của thời cuộc, kẻ mất người còn, mỗi bài viết của người ở lại như một nén hương lòng thắp lên dành cho người bạn có số phận bi thương, tuy vậy vẫn luôn là niềm tự hào trong

5

Phần này có đăng lại một số bài đã in trong cuốn Ngô Kha – Ngụ ngôn của một thế hệ, Sđd

Trang 19

lòng họ, như tâm sự của họa sĩ Đinh Cường trong một bài thơ viết nhân dịp giỗ Ngô Kha:

tôi muốn cầm trái tim anh lay gọi

máu thắm phục sinh trên cánh đồng

(Đinh Cường – Nhớ tiếng chim ác là ngày giỗ Ngô Kha) [98, 295]

Trong nỗ lực sưu tầm và tập hợp, khi ra ấn phẩm lần này, trong phần thơ Ngô Kha, ban biên tập đã bổ sung thêm bốn bài thơ chưa được in trong tuyển tập nào

trước đó của Ngô Kha, đó là các bài Xác ướp (1962), Mai về ngồi nghỉ (1965), Mùa

xuân ánh lửa mặt trời (1970), Như núi rừng kiên cường bước tới (1972) Vì thế, có

thể xem đây là tài liệu tham khảo cần thiết khi muốn hiểu về nhà thơ Ngô Kha cho đến nay

Trên đây chúng tôi đã tóm lược và khái quát về lịch sử nghiên cứu đối với thơ Ngô Kha nói riêng và tác giả Ngô Kha nói chung Đến nay, tên tuổi nhà thơ Ngô Kha đã không còn xa lạ với bạn đọc văn chương Tuy nhiên, để đánh giá một cách đầy đủ, nghiêm túc và khoa học về tác giả này thì vẫn là một vấn đề còn bỏ ngỏ Vì thế qua công trình này, người viết mong muốn sẽ đóng góp một phần công sức trong việc tìm hiểu, nhận định và đánh giá một cách khoa học về cuộc đời và thế giới nghệ thuật cũng như giá trị thơ Ngô Kha trong sự vận động, phát triển đa dạng của bộ phận văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Để tìm hiểu “Thơ Ngô Kha trong bối cảnh văn học miền Nam 1954-1975”, đối

tượng tiếp cận chính trong đề tài là toàn bộ những sáng tác của Ngô Kha từ Hoa cô

độc đến Ngụ ngôn của người đãng trí, Trường ca hòa bình và những bài thơ rời,

được xuất bản trong nước và nước ngoài giai đoạn trước và sau năm 1975 Điều đó giúp ta có cái nhìn toàn diện về sự nghiệp văn chương của Ngô Kha nói riêng và những đóng góp của ông trong tiến trình văn học hiện đại nói chung

Ngoài những tài liệu có liên quan trực tiếp đến Ngô Kha, chúng tôi cũng khai thác các tài liệu về hoạt động sáng tác, lý luận-phê bình văn học miền Nam 1954-

1975 để thấy được khuynh hướng hoạt động văn chương của các cây bút trong giai

Trang 20

đoạn này Chúng tôi đặc biệt chú ý đến các tài liệu, tạp chí trước 1975 đăng các sáng tác của các tác giả thuộc dòng văn học đô thị miền Nam 1954 – 1975 cùng những sáng tác đã được xuất bản của các tác giả có ảnh hưởng từ các trào lưu tư tưởng phương Tây nhằm có cái nhìn đối sánh, phục vụ cho việc đánh giá, làm rõ nội dung đề tài

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu một cách đầy đủ và hệ thống cuộc đời cùng những tư tưởng của Ngô Kha thi sĩ đồng thời là một trí thức yêu nước để có cái nhìn đúng đắn về hành trình thơ ông

- Tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Ngô Kha để thấy được những độc đáo trong cách tân nghệ thuật ông thể hiện trong thơ mình Từ đó thấy được giá trị văn chương mà Ngô Kha đóng góp cho nền văn học nước nhà không chỉ trong giai đoạn 1954-1975 mà cho đến bây giờ

5 Phương pháp nghiên cứu

Với phương pháp này ta đặt các tác phẩm của Ngô Kha vào hoàn cảnh lịch sử miền Nam giai đoạn 1954-1975 để có cái nhìn thấu đáo, tìm ra nguyên nhân cùng những tác động của xã hội đến tư tưởng của tác giả và nội dung tác phẩm

Tiếp cận sâu tiểu sử, cuộc đời của nhà thơ Ngô Kha thông qua những câu chuyện từ người thân, bạn bè và những tư liệu về các chặng đường hoạt động để hiểu những vận động trong tâm tư của tác giả từ nhỏ đến lớn, từ đó cảm được thế giới nội tâm tác giả gửi gắm vào các tác phẩm của mình

Tiếp cận tác phẩm theo hướng này sẽ có cách nhìn nhận cụ thể, trực diện với văn bản, hệ thống hóa những phân tích bên trong tác phẩm (mã hóa cấu trúc tác phẩm, phân tích về mặt thể loại, ngôn ngữ thơ) để có sự nhận xét sâu sắc thế giới nghệ thuật thơ Ngô Kha

Trang 21

5.4 Phương pháp so sánh

Đây là phương pháp quan trọng của đề tài Với phương pháp này, chúng ta sẽ

có cái nhìn tương chiếu với các nhà thơ trong cùng một một khuynh hướng sáng tác cũng như trong cùng giai đoạn, từ đó thấy được điểm nổi bật và nét riêng của nhà thơ Ngô Kha

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phương pháp tiếp cận, phỏng vấn sâu Chúng tôi đã gặp gỡ, trao đổi, phỏng vấn người thân, bạn bè cùng các nhân vật có liên quan đến tác giả để có thêm tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu

6 Đóng góp của luận văn

Ý nghĩa khoa học:

Đề tài sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn các vấn đề về chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa hiện sinh, những yếu tố tư tưởng đã tác động đến sự vận động và phát triển của dòng văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975

Cũng thông qua đề tài này, chúng tôi mong muốn có một cái nhìn toàn diện, bao quát về sự nghiệp sáng tác của Ngô Kha trong bối cảnh văn chương miền Nam giai đoạn 1954-1975, từ đó khẳng định những đóng góp của Ngô Kha trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại

Ý nghĩa thực tiễn:

Ngoài việc hiểu sâu sắc hơn về một nhà thơ miền Nam có số phận đặc biệt và phong cách nghệ thuật độc đáo, chúng ta còn nhận diện được bộ mặt của thơ ca miền Nam Đây sẽ là tài liệu đáng tin cậy khi nghiên cứu, tìm hiểu về tác giả Ngô Kha trong các công trình sau này hoặc những vấn đề văn học có liên quan đến bối cảnh văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu 14 trang, luận văn được kết cấu thành 3 chương Trong

đó, chương 1 đi vào tìm hiểu khái quát tình hình chính trị, xã hội cũng như bối cảnh

và sự vận động của văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 để làm nền, từ đó, chúng tôi đặt Ngô Kha vào để thấy được những tác động của lịch sử lên cuộc đời và hành trình sáng tác của nhà thơ này Chương này được triển khai trong 39 trang

Trang 22

Chương hai gồm 55 trang, được triển khai thành hai mục lớn: 2.1 Thơ Ngô Kha trong dòng văn học ảnh hưởng trào lưu tư tưởng phương Tây, trình bày trong

41 trang Phần này lại được chia thành hai mục nhỏ để tìm hiểu hai dấu ấn nghệ thuật quan trọng trong thơ Ngô Kha là dấu ấn siêu thực và dấu ấn hiện sinh Phần

cho thấy ý chí dấn thân quyết liệt của Ngô Kha trong bộ phận thơ hướng về hiện thực

Chương ba, chúng tôi đi vào khai thác những đặc sắc nghệ thuật làm nên phong cách sáng tác của Ngô Kha trong ba tiểu mục 3.1 Trường ca; 3.2 Thơ tự do

và 3.3 Ngôn ngữ thơ Chương này được trình bày trong 34 trang

Kết luận 3 trang, tổng kết toàn bộ cuộc đời, con người, sự nghiệp thơ Ngô Kha đồng thời khẳng định những giá trị mà Ngô Kha để lại trong di sản thơ ca đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975 nói riêng và thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung

Trang 23

ở một góc độ nhất định, là chất nền cho những vận động khác trong văn học nghệ thuật, ít nhiều có ý nghĩa đối với lịch sử văn học nước nhà Sự cộng hưởng của nhiều yếu tố thời cuộc đã làm cho dòng văn học này trở nên phong phú, hấp dẫn, đóng góp giá trị nhiều mặt Tìm hiểu bối cảnh xã hội cũng như văn học miền Nam nói chung sẽ là bước chuẩn bị để chúng ta “vén bức màn bí mật”, giúp giải mã những bí ẩn về thế giới nghệ thuật của một nhà thơ

1.1 Bối cảnh xã hội miền Nam giai đoạn 1954-1975

1.1.1 Tình hình chính trị tại miền Nam

Sau khi hiệp định Genève được ký kết vào tháng 7-1954, dải đất hình chữ S bị chia cắt thành hai phần Miền Nam là thuật ngữ dùng để định danh một phần lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 trở vào Tồn tại song song đó là một thể chế chính trị khác hẳn miền Bắc, khác hẳn với con đường dân tộc từ trước đến giờ Đó là một miền Nam

“tự do” dưới sự hỗ trợ đắc lực của Hoa Kỳ, hình thành chính phủ Việt Nam Cộng Hòa Ban đầu, chính phủ ấy do Ngô Đình Diệm đứng đầu Chính quyền Ngô Đình Diệm đã có những cố gắng để xây dựng miền Nam thành một quốc gia độc lập Nhưng những chủ trương ông đưa ra không phù hợp với mong đợi của người dân miền Nam Những sa đọa ngày càng trầm trọng của những người trong gia đình họ Ngô càng làm cho tâm lý chống đối trong xã hội ngày càng lộ rõ và gay gắt Chưa

kể, để củng cố quyền lực của mình, chính quyền ông Diệm đã có những điều luật gay gắt, ban bố những sắc lệnh hết sức sai lầm Xã hội miền Nam những năm đầu dưới chính quyền Ngô Đình Diệm nhìn trên bề mặt được xem là ổn định Sau chiến tranh nhà cửa dân chúng kể cả vùng nông thôn được xây dựng lại khang trang hơn

Trang 24

Mức sống xã hội được nâng cao Nhiều trường học ở các cấp bậc được xây dựng Chế độ giáo dục tại miền Nam phần nào cải tiến Các sản phẩm tiêu dùng đa dạng xuất hiện trên thị trường mang lại sự thỏa mãn nhất thời cho người dân Nhưng đó chỉ là sự tiện nghi bề mặt Tận trong sâu xa, người dân vẫn nhận ra một sự bất ổn tự trong chế độ chính trị cũng như sự lệ thuộc của xã hội miền Nam đối với chính phủ

Mỹ Lòng tự tôn dân tộc không cho phép con người ta có thể mãi mù mờ về ý thức

và trách nhiệm của một dân tộc bị lệ thuộc Đó chính là mầm mống sâu xa cho những nhen nhóm phản kháng tự trong lòng xã hội miền Nam lúc bấy giờ

Ngày 20-12-1960 Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tuyên bố thành lập,

do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch, mục tiêu là lực lượng chống Mỹ và chính quyền miền Nam, giành độc lập, thống nhất đất nước Trong tình hình ấy Ngô Đình Diệm lại áp dụng chính sách độc tài, gia đình trị Ông và Ngô Đình Nhu đã tổ chức Đảng Cần lao Nhân vị, lập các cơ cấu mật vụ để củng cố chính quyền Ông dẹp các đảng phái quốc gia, đàn áp phe đối lập nên dân chúng ngày càng chán ghét và ngả

về phía Mặt trận Giải phóng Từ 1959 trở đi đã xảy ra nhiều vụ ném bom, lập tuyên ngôn, biểu tình chống chính quyền từ chính những người trong chế độ này Điều này cho thấy trí thức không còn đứng bên lề để đàm tiếu hay bình luận mà đã quyết định nhập cuộc với yêu cầu cụ thể đặt ra cho người lãnh đạo đất nước Hành động của chính quyền đã đẩy thêm tinh thần đối kháng nơi hàng ngũ trí thức bất mãn với chính quyền miền Nam để mở ra con đường dấn thân khác, hướng về Mặt trận giải phóng như sau này

Từ tháng 5 năm 1963 vấn đề Phật Giáo tại miền Nam đã trở nên trầm trọng Bằng lệnh cấm treo cờ Phật giáo trong ngày lễ Phật Đản, chính quyền này đã xúc phạm đến quyền tự do tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo vốn bắt rễ lâu đời trong tâm thức người dân Việt bao thế kỷ qua Có thể nói, đây là giọt nước tràn ly, là ngòi nổ

có sức công phá mãnh liệt làm lung lay chính quyền họ Ngô nhanh chóng nhất Cao trào phản kháng bắt đầu bằng sự kiện Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại ngã

tư Phan Đình Phùng – Lê văn Duyệt ngày 11-6-1963, thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh của các Phật tử khắp miền Nam, giáng một đòn mạnh vào uy tín của chính quyền miền Nam lúc bấy giờ Một tháng sau, ngày 7-7-1963 nhà văn Nhất Linh tự

tử Phong trào đấu tranh lan rộng khắp nước lôi cuốn không chỉ riêng tín đồ Phật giáo mà đủ mọi thành phần đặc biệt là giới trí thức trẻ, bao gồm hầu hết sinh viên

Trang 25

khắp các trường Đại học ở miền Nam Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, Phật giáo đã có cuộc vận động mang tầm vóc quốc gia và tác động sâu rộng tới dư luận quốc tế Tiếp theo ngọn lửa Thích Quảng Đức là hàng loạt những vụ tự thiêu của tín

đồ Phật giáo phản đối chính quyền Những sự kiện này đã làm chấn động dư luận thế giới, đến mức ngày 16-8-1963 ngoại trưởng Hoa Kỳ là Dean Rusk phát biểu với báo chí tỏ ý lo ngại về tình hình chính trị ở Nam Việt Nam

Các sự kiện chính trị từ năm 1963 trở đi có tác động rất lớn đến suy nghĩ, tư tưởng của tầng lớp sinh viên trí thức Để xoa dịu sự phẫn nộ của quần chúng và cứu vãn tình hình, Mỹ mưu toan để quân đội làm cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm Ngày 1-11-1963, tướng Dương Văn Minh đảo chính, lật đổ Diệm – Nhu Sau cuộc đảo chính chính quyền Ngô Đình Diệm, chính quyền VNCH thay đổi liên tục

“Chỉ trong vòng 19 tháng đã có đến 13 chính phủ được dựng lên rồi bị lật đổ… trong mắt nhiều người nhất là giới thanh niên sinh viên đây là thời kỳ đen tối nhất của xã hội miền Nam” [199,76] Trong khi đó, từ đầu năm 1964, tổng thống Hoa

Kỳ cử tướng Westmoreland sang Việt Nam để lập Bộ tư lệnh Viện trợ Quân sự Hoa

Kỳ tại miền Nam và chuẩn bị đổ quân sang Việt Nam Trước tình hình này, ai cũng hiểu Hoa Kỳ đã chính thức mạnh tay để thực hiện mục đích của mình tại miền Nam

Sự kiện Mỹ thay đổi chiến lược từ “chiến tranh đơn phương” đến “chiến tranh đặc biệt” rồi “chiến tranh cục bộ”, cũng như chính sách “thay ngựa giữa dòng” vào năm

1963, chẳng những không thể thay đổi được tình thế mà càng làm lộ rõ những bất

ổn trong bộ máy chính quyền Mỹ và chính quyền Sài Gòn bấy giờ Đó là cơ hội cho làn sóng đấu tranh Cách mạng dâng cao Trong xã hội ngoài hai lực lượng là Việt Nam Cộng hòa và phía Cách mạng còn xuất hiện thêm lực lượng thứ ba là những trí thức có tư tưởng tiến bộ Họ đứng lên kêu gọi hòa bình, phản đối chiến tranh Ngày 6-6-1969 Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ra đời Chính phủ này do Huỳnh Tấn Phát làm chủ tịch, Phùng Văn Cung làm phó chủ tịch, Nguyễn Thị Bình làm ngoại trưởng, Trần Văn Trà làm Bộ trưởng Quốc phòng, Nguyễn Văn Kiết làm Bộ trưởng giáo dục, Lưu Hữu Phước làm Bộ trưởng thông tin và Văn hóa…

Trang 26

Đầu năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết quy định ngừng bắn, chấm dứt chiến tranh Những vận động lịch sử tiếp theo cho đến ngày 30-4-1975, lợi thế nghiêng về phía Cách mạng

1.1.2 Phong trào đấu tranh của sinh viên-học sinh tại các đô thị

miền Nam

Phong trào đấu tranh tại miền Nam bắt đầu bằng cuộc đấu tranh chống sự độc tài của chính quyền Ngô Đình Diệm từ năm 1954 đến 1963, đòi thi hành hiệp định Genève diễn ra liên tục và quyết liệt Họ dùng nhiều hình thức đấu tranh như kêu gọi, kiến nghị, lập phong trào “dùng hàng nội hóa”… Sinh viên thì đấu tranh đòi quyền lợi học đường, đòi giảm học phí, đòi mở thêm trường công, trợ cấp trường tư, đòi chuyển ngữ đại học… Đầu năm 1963, thực lực của phong trào đấu tranh đô thị càng lớn mạnh Trong sự kiện Phật giáo năm này, hàng ngàn sinh viên và giáo sư đã tuyệt thực, đòi giải quyết nguyện vọng của Phật giáo Khi Diệm ban bố thiết quân luật và ra lệnh tấn công chùa chiền ở khắp miền Nam, ngay lập tức hàng vạn học sinh cùng nhân dân tham gia bãi khóa và xuống đường

Năm 1965, bước ngoặt mới trong cuộc chiến tranh Việt Nam Mỹ đổ quân vào miền Nam trực tiếp tham chiến Trước tình hình leo thang chiến tranh, ngày 7-1 báo

Sứ Mệnh của sinh viên Huế ra mắt nêu rõ nguyện vọng, lập trường đấu tranh vì dân

tộc của mình Ngày 9-1 hàng ngàn học sinh sinh viên Sài Gòn tổ chức lễ kỷ niệm ngày anh Trần Văn Ơn hy sinh Đến 25-2-1965 Phong trào Dân tộc Tự quyết ra đời, qui tụ nhiều nhân sĩ, trí thức, công nhân, sinh viên, học sinh, phụ nữ và các thành phần tôn giáo, ra lời kêu gọi tố cáo Mỹ ném bom miền Bắc, đòi đàm phán để tìm giải pháp hòa bình

Mùa xuân 1966 phong trào chống Nguyễn Văn Thiệu bùng nổ dữ dội trên khắp các đô thị miền Nam Mở đầu là việc thành lập Hội đồng Sinh viên tranh thủ cách mạng và Lực lượng giáo chức tranh thủ dân chủ Thừa Thiên-Huế ra đời ngày 12-3-1966 Liên tục từ đây cho đến cuối tháng ba đã nổ ra nhiều cuộc biểu tình của sinh viên học sinh, giáo chức Huế vạch trần âm mưu thống trị của Mỹ tại miền Nam

Bước vào những năm 70, các phong trào đô thị càng bùng phát dữ dội ở cả Sài Gòn và Huế Lớn lên trong cảnh nước nhà không yên ổn, như bao thế hệ trẻ miền

Trang 27

Nam vùng tạm bị chiếm, một trí thức Sài Gòn có nhận xét: “Họ sinh ra đã có ánh hỏa châu thay thế ánh trăng vàng, tiếng đại bác át lẫn tiếng ru con, đã có những tên lính ngoại quốc bắn phá xóm làng, sát hại thường dân, hãm hiếp phụ nữ” [79] Sinh viên trí thức vốn là thế hệ tiềm năng cho đất nước, trong tình cảnh ấy cũng không thể nào vô tư được hơn Nhiều người đã cảm thấy hụt hẫng sâu sắc trước thực trạng

xã hội và đất nước Có người tìm đến tôn giáo như một chỗ dựa tinh thần, có người cặm cụi vào những trang sách triết học mong tìm thấy ở đó một sự lý giải hợp lý cho cuộc đời Cũng không ít người lặng lẽ tách mình ra ngoài thế cuộc để chiêm nghiệm và sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật… Cũng có số ít sớm giác ngộ Cách mạng nên mạnh dạn chọn một hướng đi riêng cho mình Nói chung, đó là thời đại của những cuộc tìm đường, những suy tư về cuộc sống, về lý tưởng hầu tìm ra một con đường tốt đẹp cho đất nước và con người Tuy nhiên, nếu suy tư mà không hành động thì sẽ chẳng thể thay đổi được điều gì Cuối cùng, đội ngũ những sinh viên trí thức ấy cũng nhận ra rằng, dường như họ đã đủ sự trưởng thành để đưa vai gánh vác chuyện đất nước Không còn con đường nào mang lại hạnh phúc tốt hơn là tìm lại hình dáng quê hương mình Chính vì thế, những sinh viên học sinh cùng những trí thức có lương tri thấy mình không thể ngồi yên trên ghế giảng đường được nữa Không còn đơn thuần tham gia những hoạt động tự phát, đội ngũ sinh viên đã tìm ra một hình thức đấu tranh mới, quy mô mà hệ thống hơn Ngoài việc xuống đường, hình thành nên “trận địa đường phố” với rất nhiều hoạt động ý nghĩa

cả về văn hóa lẫn chính trị, họ đã chung tay lập ra hoặc tham gia vào những tờ báo

để lan tỏa tư tưởng nhanh hơn Nhiều trường học có tờ nội san của mình, chẳng hạn

tờ Nhân Bản của sinh viên Đại học Sư phạm Sài Gòn, tồn tại được từ năm 1966 đến

1968 Đặc biệt tờ Sinh Viên, tiếng nói của Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trực tiếp

tham gia trận địa đấu tranh văn hóa - tư tưởng Để thống nhất chủ đề nội dung của báo chí sinh viên, Hiệp hội Báo chí sinh viên được thành lập Ngoài ra Tổng hội

Sinh viên còn tổ chức Hội Sinh viên sáng tác, giới thiệu tuyển tập thơ Tiếng hát

những người đi tới (tập 1 và 2) của các tác giả Trần Quang Long, Lê Hồng Nguyên,

Thảo Nguyên, Hải Hà, Chánh Sử, Nguyên Hạo , tập thơ Mặt trời hồng, kịch thơ

Tiếng gọi Lam Sơn của Trần Quang Long, xuất bản tập nhạc Hát từ đồng hoang của

Miên Đức Thắng Ở các thành phố khác phong trào báo chí cũng xuất hiện như: Đà

Nẵng có tờ Vượt Sóng (1965) của Lực lượng Nhân dân tranh thủ hòa bình, tờ Đứng

Trang 28

Đầu Gió của lực lượng thanh niên sinh viên học sinh, tạp chí Tiềm Lực do Phan

Duy Nhân phụ trách, tờ Tiếng Gọi Học Sinh (1971-1972) của Tổng đoàn Học sinh

Đà Nẵng Ở Nha Trang có tờ Nhân Sinh (1971-1972), Liên Kết (1974-1975), đặc biệt lưu hành tài liệu phản chiến Tuyên ngôn của thế hệ thanh niên khước từ cầm

súng Ở Đà Lạt có tờ Đà Lạt Thức (1965), Nước Mắt Mẹ, Tin Tưởng, Đạo Pháp, Thắp Đuốc, Niềm Tin, Tranh Thủ Nhân Dân Ở Cần Thơ có tờ nội san Hồn Nước Đó là chưa kể hàng loạt tờ báo khác rất phong phú của học sinh các trường

trung học trên khắp đô thị miền Nam, đặc biệt ở Sài Gòn Thời gian này lực lượng

sinh viên cũng chủ trương một số tờ báo bí mật như Suối Thép, Lửa Thiêng, Thanh

Niên Từ 1970 đến 1974, Huế tiếp tục ra đời nhiều báo như Tự Quyết, Nối Tay, Tiếng Gọi Sinh Viên, Tiếng Gọi Việt Nam, Mặt Trận Văn Hóa, Mặt Trận Hòa Bình, Tranh Đấu Hòa Bình, Tự Cường, Thân Hữu Từ 1971 có thêm Đất Nước Ta, Đất Mới, Thái Hòa, Tin Yêu, Phụ Nữ, Sinh Viên Huế…

Ý thức vùng dậy đó cũng được phản ánh khá đầy đủ trong các sáng tác thơ ca, kịch, nhạc, họa mà họ sử dụng như một vũ khí đấu tranh chống lại bạo quyền Rất nhiều sự kiện đấu tranh của tầng lớp nhân dân đô thị trở thành ngọn đuốc tiên phong thức tỉnh lòng người Như Lê Khắc Cầm từng nói, con người ở đô thị miền Nam mang trong mình một “thân phận kép” Một mặt, họ bị đè nặng, bị vò nát tâm can bởi cảnh chiến tranh mỗi ngày đang bằm nát quê hương; mặt khác, họ cũng bị tác động, chịu ảnh hưởng bởi những xu hướng, trào lưu xã hội, văn hóa Tây phương nên phần ý thức về con người cá nhân bắt đầu trỗi dậy Họ có một nhu cầu muốn giải phóng con người ra khỏi những bất công xã hội cũng như trong chính con người họ Hai con người ấy có lúc song hành, hỗ trợ nhau nhưng cũng có lúc chúng cản trở, trì kéo nhau trong chọn lựa và hành động Nhưng rồi cuối cùng họ cũng phải đi đến một chọn lựa, đó là vì dân tộc trước, sau đó sẽ tới vấn đề cá nhân Bằng tất cả ý thức và lương tâm của mình, họ đã lựa chọn dấn thân, trong cả nghệ thuật

và hành động, một cách quyết liệt và đầy trách nhiệm Chính vì vậy, không chỉ đấu tranh bằng hình thức vũ trang chính trị, những sinh viên, trí thức miền Nam còn kết hợp nhiều hình thức đấu tranh khác, đặc biệt là cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa – văn nghệ góp phần nung đúc ý chí đấu tranh, ảnh hưởng sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân

Trang 29

Ngày 2-5-1970 Mặt trận nhân dân tranh thủ hòa bình thành phố Huế được thành lập Ngày 26-5 Tổng hội Sinh viên Huế lại được thành lập, tiếp tục chương trình hoạt động Ngày 28-7 Đại hội Sinh viên học sinh miền Nam được tổ chức tại Huế, hơn 5.000 người của nhiều đoàn thể ở Huế, Đà Nẵng tham dự Năm 1972 phong trào đấu tranh chuyển sang hình thái mới Tháng 3-1972 tòa án quân sự mặt trận xét xử 10 lãnh tụ của phong trào, trong đó có các anh chị Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Nguyễn Xuân Thượng, Võ Thị Bạch Tuyết Trước tòa án, tất cả anh chị

em cắt tay lấy máu viết khẩu hiệu "Tự do hay là chết” Ngày 23-3 phó lãnh sự Mỹ tại Huế - P Owens tiếp xúc với Tổng hội Sinh viên Huế; dịp này đại diện sinh viên khẳng định: không chấp nhận sự có mặt của người Mỹ ở miền Nam Việt Nam, người Mỹ phải chấm dứt âm mưu duy trì chiến tranh và mọi mưu toan thống trị nhân dân Việt Nam

Đầu năm 1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình được

ký kết nhưng tình hình chính trị không hề yên ổn Ở Huế sinh viên năm phân khoa

tổ chức hội thảo về tình hình đất nước Ngày 16-3-1974 học sinh sinh viên Sài Gòn cùng nhiều nhân sĩ, trí thức xuống đường đòi trả tự do cho anh Huỳnh Tấn Mẫm và các tù chính trị khác Học sinh Trường Pétrus Ký xé bích chương tuyên truyền của chính quyền, học sinh Cao Thắng chiếm diễn đàn lên án chiến tranh, đòi ngưng bắn Ngày 25-8 thanh niên cùng đồng bào tổ chức kỷ niệm ngày hi sinh của Quách Thị Trang tại trung tâm Sài Gòn, sau đó biến thành cuộc tuần hành Cũng trong dịp cuối năm này, ở Huế bùng lên một cao trào đòi chính quyền miền Nam công bố tin tức

về người anh hùng, thầy giáo Ngô Kha Đêm Giáng sinh 1974 hàng trăm thanh niên

và sinh viên học sinh Công giáo tổ chức mit-tinh tại hai nhà thờ lớn ở Sài Gòn Các cuộc đấu tranh tương tự cứ thế diễn ra đến tháng 4-1975 Dù chính quyền vẫn ra sức kháng cự, nhưng những người theo dõi thời cuộc biết rằng, sự việc sắp đến hồi kết thúc

1.2 Bối cảnh văn học đô thị miền Nam

1.2.1 Văn học trong một xã hội biến động vì chiến tranh

Có thể nói văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 đã có sự vận động theo chiều hướng hiện đại, tiến bộ, mang những màu sắc riêng Hiện đại nhưng không tách rời quá khứ, văn học giai đoạn này có sự tiếp biến, kế thừa từ những giai đoạn

Trang 30

đoạn văn học trước Tuy vậy cũng có một đặc điểm nổi bật, đó là các cây bút đã tìm cách xây dựng tư tưởng tác phẩm trên nền triết học hiện đại, hướng con người vào thế giới của chính mình đồng thời phản ánh phần nào sự khốc liệt của thực tại đất nước

Nếu phân chia chặng đường văn học, ta có thể chia văn học miền Nam thành hai mốc lớn Giai đoạn đầu từ sau Hiệp định Genève đến cuối 1963, và giai đoạn hai từ 1964-1975 Cách phân chia này tuy có tính chất tương đối nhưng một phần cũng dựa vào biến cố lịch sử tại miền Nam và phần khác dựa vào sự khác nhau nằm

ở nội dung sáng tác, đường hướng, tinh thần của hai thế hệ tác giả

Giai đoạn đầu từ 1954-1963 tình hình miền Nam tương đối ổn định Đây là giai đoạn chính quyền Ngô Đình Diệm kiện toàn bộ máy nhà nước miền Nam vừa được thiết lập dưới sự cố vấn của Hoa Kỳ Người dân miền Nam trong tâm thế vừa chấm dứt chiến tranh nên có phần an tâm, hồ hởi xây dựng đời sống trên mọi lĩnh vực Chính vì vậy mà hoạt động văn học cũng có sự ổn định, xuất hiện nhiều cái mới, khơi dậy những mầm mống nghệ thuật tiềm ẩn từ thời tiền chiến, nay có điều kiện phát triển Tuy nhiên nói đến văn chương miền Nam giai đoạn này còn phải nói đến hiệu ứng của một biến động xã hội quan trọng tại miền Nam sau khi hiệp định Genève được ký kết Đó là sự di cư của một bộ phận cư dân miền Bắc vào Nam sinh sống Những người Bắc di cư này khi vào Nam đã tạo nên sự cộng hưởng văn hóa, đồng thời phát lộ những mầm mống tốt cho sự phát triển văn học nghệ thuật Chính điều kiện thuận lợi, cởi mở ở miền Nam đã giúp cho các cây bút văn nghệ ở miền Nam và cả miền Bắc di cư hăm hở bắt tay vào việc cải cách văn chương theo chiều hướng hiện đại

Thế hệ những nhà văn miền Nam xuất hiện từ trước 1954 vẫn giữ được sự điềm nhiên; họ vẫn sáng tác nhưng vẻ cổ điển và “hiền lành” của họ ít tạo được sự chú ý của độc giả Trong khi đó, những người xuất hiện lớp sau, những cây bút di

cư từ miền Bắc, miền Trung vào, do có điều kiện hấp thụ những luồng gió hiện đại trên thế giới nên có cái sung sức muốn đổi mới nền văn học Đây là đội ngũ chính làm cho văn học miền Nam khởi sắc

Trang 31

Ngọn triều đổi mới văn học đầu tiên trong giai đoạn này là nhóm Sáng Tạo do

ý bởi những chủ trương văn nghệ mà họ đưa ra Trước khi có những “tuyên ngôn” cải cách, các thành viên đã cùng ngồi lại với nhau để “nhìn lại văn nghệ Tiền chiến

ở Việt Nam” Theo Trần Thanh Hiệp, thơ hiện nay phải khác thơ tiền chiến ở chỗ

“mang lại một ý thức mới về sự vận động của nghệ thuật, thức tỉnh một số người rằng nghệ thuật không phải chỉ là sự diễn tả tâm tình hay là sự thần phục thực tại, hay là sự tuyên truyền chính trị hay là sự cuồng loạn hư vô” [116] Họ chủ trương phủ nhận thơ ca tiền chiến, theo cách nói của Mai Thảo là “ném trả nghệ thuật đó về với quá khứ của nó” [116] Họ xem nghệ thuật tiền chiến “như những hàng rào cản bước tiến của một nền nghệ thuật muốn phát triển”, như cái “tử thi” cần được nói lời truy điệu để rồi dũng cảm bước lên một bậc thang mới Với Thanh Tâm Tuyền

“thơ bây giờ là một sự xáo trộn ngôn ngữ” Mai Thảo không nói nhiều nhưng lối viết của ông là một minh chứng cho sự cách tân trong văn chương, rồi Nguyên Sa, Quách Thoại, Tô Thùy Yên… Tựu trung chủ trương của nhóm là muốn phủ nhận

nền văn nghệ tiền chiến mà nhất là văn chương Tự Lực Văn Đoàn Họ muốn có một

“nghệ thuật phá vỡ những hình thức sẵn có hỗn loạn trong những niềm cảm xúc, một nghệ thuật của say sưa, một vẻ đẹp hãi hùng mọi rợ, nghệ thuật bắt nguồn từ một nhân sinh quan bi thảm” [115, 10] Văn học thời đại mới, theo Mai Thảo là

“không thể còn là tả chân Nguyễn Công Hoan, lãng mạn lối Thanh Châu, những

khái niệm Xuân Thu, những luận đề Tự Lực” [89] Trong chủ trương đổi mới nhiều lĩnh vực như thơ, truyện, hội họa… của nhóm Sáng Tạo thì vấn đề về thơ được chú

ý đưa ra thảo luận nhiều nhất Trong “Nói chuyện về thơ bây giờ”, Tô Thùy Yên phát biểu: “Thơ ném sự xáo trộn vào một trật tự, phá hủy những cấp bậc của lý trí (…), thơ là phản nghĩa của sự bình thản, dửng dưng, lạnh nhạt, quân bình và tự nhiên, nó là một cách khiến người ta từ chối những gì đã chấp nhận trước để tạo một thăng bằng chông chênh…” [75]

Có thể nói biến cố lịch sử sau hiệp định Genève là một nhát cắt đớn đau về chính trị, gây ra tình cảnh thảm sầu trong vòng hơn 20 năm cho đất nước, nhưng

6 Đứng ở góc độc thâm niên thì Mai Thảo chỉ mới gia nhập sau này Bởi ban đầu đây là nhóm “Sinh viên Hà

Nội di cư” tập họp lại với nhau để làm tờ báo Người Việt do Doãn Quốc Sỹ làm chủ nhiệm cùng với Thanh

Tâm Tuyền, Nguyễn Sỹ Tế, Trần Thanh Hiệp…)

Trang 32

đứng ở góc độ văn chương, chính đó lại là bước ngoặt khởi phát những ý tưởng và cộng hưởng những tư tưởng tiến bộ để có những ý tưởng mới mẻ cho văn chương Ngọn gió thứ hai ào ạt thổi vào văn đàn miền Nam là những luồng tư tưởng triết học và văn học phương Tây, kết hợp với văn hóa Mỹ Thực ra thời tiền chiến những ảnh hưởng văn học phương Tây đã xuất hiện ở Việt Nam và đã có những thành tựu đáng kể Đó là phong trào Thơ Mới với những khuynh hướng như lãng mạn, tượng trưng, siêu thực… nhưng sự ảnh hưởng đó ở số ít những trí thức Tây học, và cũng có một thời gian lùi nhất định trước khi vào Việt Nam Giai đoạn này

ở miền Nam nhiều trí thức có điều kiện du học trở về nước Những trí thức này có nền tảng tiếng nước ngoài, được tắm mình trong nền văn hóa châu Âu nên ít nhiều thụ hưởng những tư tưởng tiến bộ trên thế giới Khi về nước, họ đã nỗ lực truyền lại cho thế hệ trẻ Việt Nam bằng những bài dịch, hoặc viết lại, đăng trên các tạp chí tiến bộ ở Huế và Sài Gòn Hầu như những trào lưu văn học nào xuất hiện trên thế giới thì ngay sau đó đều có những bài viết đăng ở các tạp chí văn nghệ miền Nam, thậm chí có những thử nghiệm qua việc áp dụng phê bình trên những tác phẩm văn chương cụ thể Nhiều trường phái, tư tưởng triết học của châu Âu truyền vào miền Nam qua các ngả như sách báo, sự truyền đạt trực tiếp của các giáo sư trên giảng đường đại học, những bài viết, nghiên cứu của các nhà lý luận về trào lưu triết học Nhiều trường phái lý luận - phê bình ở phương Tây được giới thiệu ở Việt Nam lúc bấy giờ như chủ nghĩa hiện sinh, phân tâm học, mỹ học tiếp nhận, cấu trúc luận, hiện tượng luận… Sự tiếp nhận luồng gió triết học và trào lưu văn học phương Tây không chỉ làm phong phú và hiện đại hóa nền lý luận - phê bình văn học dân tộc mà còn tác động trực tiếp đến hoạt động sáng tác của các cây bút văn nghệ miền Nam Như Nguyên Sa từng nhận xét:

Nhìn tổng quát cả một thế kỷ văn chương ta thấy sự giao tiếp với văn học nghệ thuật Tây phương thúc đẩy ta tiếp nhận mau lẹ để tiếp nhận cái khác Ta như bị thúc đẩy với một tiếng nói không âm thanh: phải đổi thay thật nhanh, phải biến dịch thật mau, cho nên, người này vừa làm xong cổ điển, không đợi thế kỷ XVIII và XIX trôi qua, người kia tiến ngay đến siêu thực, cùng một tác giả có thể nhảy từ tả chân sang siêu thực rồi đến hiện sinh[2, 33]

Trang 33

Trong giai đoạn đầu, tư tưởng chi phối mạnh mẽ nhất trên văn đàn là chủ nghĩa hiện sinh Từ sau 1963, nhiều trường phái triết học, mỹ học và lý luận – phê bình khác của phương Tây cũng được giới thiệu ở miền Nam như hiện tượng học, cấu trúc luận, mỹ học tiếp nhận, tiểu thuyết Mới… Với sự phong phú, đa dạng về khuynh hướng, trào lưu tư tưởng, văn đàn miền Nam có sự sôi động trở lại Văn nghệ sĩ, tùy theo điều kiện tiếp nhận, mỗi người một phong cách, một tiếng nói Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến mảng sáng tác văn học, thúc đẩy văn học phát triển

Một điểm đặc biệt trong văn học miền Nam giai đoạn này là sự xuất hiện của hàng loạt các cây bút nữ như Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, Lệ Hằng, Trần Thị NgH… Mặc dù phong trào nữ quyền ở các nước phương Tây chưa ảnh hưởng rầm rộ đến miền Nam nhưng sự xuất hiện của họ vào giữa những năm 1960 có một ý nghĩa đặc biệt Các cây bút nữ đã “đem lại một không khí mới, một cái nhìn mới về cuộc đời, một lối cảm xúc mới và cả những lối diễn tả, lời ăn tiếng nói mới…” [123, 349] Tác phẩm của các nhà văn này vừa là tiếng nói phản ứng của hoàn cảnh cá nhân, vừa là sự lên tiếng các vấn đề của xã hội và chiến tranh Bằng lối cảm nhận tinh tế và giọng điệu riêng, họ đã diễn

tả được những khúc quanh trong tâm lý người phụ nữ khi đối diện với hoàn cảnh chiến tranh Trong tác phẩm của mình, các cây bút nữ dường như đã lục lọi và khai thác hết những góc cạnh của đời sống xã hội do hậu quả của chiến tranh trút lên thân thể và tâm hồn họ Vậy nên khi đọc những tác phẩm như thế, người đọc sẽ ít nhiều có sự đồng cảm, cảm thương hơn là ấn tượng phê phán Họ đã soi rọi đến những khía cạnh gai góc, khốc liệt nhất của cuộc sống và luân lý cá nhân Giọng văn không còn sự mượt mà, không nhìn nữ giới với cái nhìn trìu mến mà họ sẵn sàng “đâm thủng” những ung nhọt mà xã hội thời chiến gây ra trong tâm hồn họ Ngoài ra, văn đàn sôi nổi không chỉ nhờ những hoạt động văn học trong nước

mà ở miền Nam từ giai đoạn 1954 trở đi, sách báo nước ngoài trở thành một nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống Tinh thần tìm tòi và đón nhận văn minh Tây phương như một nhu cầu của con người khi muốn phát triển Văn học miền Nam chịu sự chi phối rất lớn của cơ chế tiêu thụ của thị trường kinh doanh Tại các đô thị miền Nam, mặt bằng văn hóa đọc lúc bấy giờ rất phát triển Hỗ trợ đắc lực cho hoạt động văn học thời kỳ này là sự ra đời nhiều tờ báo, tạp chí xuất bản ở Sài Gòn Nói như Trần

Trang 34

Hữu Tá, trong một giai đoạn lịch sử nhất định, “báo chí là bà đỡ của văn chương” Những tạp chí văn nghệ này ra đời dưới sự chủ xướng của những cây bút có tư tưởng tiến bộ Thành viên là những người có chung lập trường về chính trị và ý tưởng văn nghệ, đứng chung với nhau thành một nhóm để thực hiện ý tưởng của mình Vì thế, ban đầu họ xuất hiện một cách ngẫu nhiên, đồng loạt, nhưng sau đó với chủ trương, xu hướng riêng, mỗi người đã khẳng định mình dưới nhiều thể nghiệm khuynh hướng văn học khác nhau Nhiều ý tưởng, sáng kiến được đưa ra thảo luận và có những bước dò đường thuận lợi Các bài viết phổ biến tư tưởng văn học, triết học mới, công trình nghiên cứu và bài viết về lý luận - phê bình văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 hầu hết được giới thiệu trên các báo, tạp chí xuất

bản ở miền Nam như: Văn, Bách Khoa, Tư Tưởng, Sáng Tạo, Đại Học, Văn Học,

Nghiên Cứu Văn Học, Hiện Đại, Khởi Hành, Trình Bầy, Thời Tập, Tin Văn, Ý Thức, Mai, Văn Nghệ… Có lẽ chính vì vậy mà Cao Huy Khanh khi phân chia các tác giả

văn xuôi đô thị miền Nam ông đã gắn liền tên tuổi họ với tên của những tờ báo, tạp chí miền Nam

Trong giai đoạn đầu, dưới thời Ngô Đình Diệm, chính sách quản lý báo chí có phần khắt khe nhưng nhiều tạp chí đã định hình và phát triển, gây tiếng vang trong giới trí thức Sau 1963, báo chí có phần tự do hơn nên các thể loại cũng đa dạng

hơn Lúc này bắt đầu có những tờ báo đối lập, phản đối chính quyền như Đất Nước,

Hành Trình, Đối Diện

Thành phần độc giả văn chương trên những tờ báo, tạp chí miền Nam chủ yếu

tập trung ở thành thị Theo nhận định của nhà văn Túy Hồng thì “Thời gian trước

1975 ở Việt Nam, sách báo xuất bản tại Sài Gòn như báo Văn, báo Bách Khoa, sách khảo cứu, tiểu thuyết… miền Trung đã tiêu thụ hết ba phần tư số lượng xuất bản”

[123, 95] Điều này cũng thấy được dựa trên số liệu thống kê độc giả riêng tạp chí Bách Khoa tại Sài Gòn của tác giả Vũ Thị Thu Thanh [151], sau biến cố Mậu Thân năm 1968, lượng độc giả miền Trung của tạp chí này giảm đáng kể Kết quả này cho thấy, độc giả miền Trung chuộng sách biên khảo, trong khi độc giả Sài Gòn thì thích nhật báo, thích những loại truyện tiêu khiển Điều này về sau sẽ góp phần lý giải cho việc xuất hiện một số tên tuổi nổi bật trong hoạt động văn nghệ theo khuynh hướng hiện đại ở Huế, trong đó có Ngô Kha, đối tượng nghiên cứu trong công trình này

Trang 35

Trở lại hoạt động văn học, giai đoạn đầu sau 1954, văn chương có sự chuyển biến mau lẹ, xuất hiện nhiều khuynh hướng sáng tác khác nhau trên văn đàn Từ bước nền là văn chương lãng mạn thời tiền chiến giờ đã chuyển dần sang hiện sinh, rồi siêu thực Trong thơ có sự sáng tạo ngôn ngữ, hình ảnh, lối đặt câu, hình thức thể hiện Trong tiểu thuyết cũng có những biến tấu trong cách hành văn, đổi mới về

tư tưởng, đặc biệt là ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh Ngoài ra, một số còn chịu ảnh hưởng và tạo dựng phong cách với phong trào tiểu thuyết Mới Đa số là ảnh hưởng và tiếp thu từ những lý thuyết triết học và lý luận văn học phương Tây mới tràn vào Việt Nam Mỗi người nhanh chóng định hình một phong cách riêng, chiếm một vị thế nhất định trên văn đàn

Sau 1963, hàng loạt những biến cố chính trị xảy ra tại miền Nam, tinh thần các tầng lớp nhân dân bắt đầu hoang mang Văn nghệ sĩ cũng không còn bình an như trước, bắt đầu có những thất vọng, chán nản Chính sách về báo chí có phần thắt chặt hơn trước Một số tờ báo văn nghệ phải đóng cửa, một số tờ nổi tiếng có đội

ngũ vững chắc thì vẫn tồn tại như Văn, Bách Khoa Báo chí, văn chương, phim ảnh

nuôi dưỡng tinh thần phản chiến bắt đầu xuất hiện Trong tình cảnh ấy, văn chương bắt đầu có xu hướng xuống dốc Không còn cái tự do, tin tưởng như ban đầu, thơ văn phản ánh tâm trạng hoang mang, ngờ vực, bơ vơ, thiếu tin tưởng hơn bao giờ hết Trước áp lực của cuộc sống những nhà văn đầu quân vào những tờ nhật báo, viết tiểu thuyết định kỳ theo kiểu feuilleton Trong mảng thơ, các cây bút không còn mặn mà, háo hức với thơ tự do mà quay về với những thể loại cũ như thơ thất ngôn, thơ ngũ ngôn, thơ lục bát hay lục bát biến thể, cổ phong… Về nội dung, thơ không còn nhiều những suy tưởng cầu kỳ mới lạ mà nói lên trực tiếp những suy tư của con người trong vòng xoáy của chiến tranh Họ bộc bạch qua thơ những tình cảm rất nhẹ nhàng, trong sáng nhưng cũng đầy dẫy những thất vọng, hoang mang trong con người họ Lúc này xuất hiện ngày càng nhiều những cây bút không chuyên, phần nhiều là những quân nhân đang trong quân ngũ hay đã xuất ngũ Thơ lúc này đúng hơn, là phương tiện để giãi bày tâm sự cá nhân hơn là vì mục đích nghệ thuật Đội ngũ làm thơ lúc này rất đông, nhưng để tạo một dấu ấn nghệ thuật độc đáo thì

không nhiều Trong tập hợp Thơ miền Nam thời chiến (Tập 1 và 2) [162] do Thư Ấn

Quán xuất bản tại Hoa Kỳ, Trần Hoài Thư tập hợp được khoảng trên 400 nhà thơ Hầu hết những bài thơ dạng này đăng trên các báo, tạp chí xuất bản tại Sài Gòn Sự

Trang 36

nhẹ nhàng đó làm cho không khí văn nghệ chùng xuống nếu không muốn nói là tuột dốc Nó phản ánh cái ưu tư thời đại đè nặng lên tâm tư mỗi con người Thơ lúc bấy giờ chủ yếu là thơ phản kháng, thơ đấu tranh Ngôn ngữ chuyển dần sang xu hướng đại chúng, dễ hòa nhập Một cách hình ảnh, có thể ví văn chương lúc ấy như một quả cầu, sau 1954 những trí thức văn nghệ sĩ thi nhau đẩy nó lên dốc, đến giai đoạn này không còn ai đẩy, mà cũng không kiềm giữ, quả cầu ấy đã tuột xuống, tuy không phải trở về vị trí ban đầu, nhưng quả cầu không còn động lực để đi lên tiếp nữa

Văn học tồn tại và phát triển trong một xã hội biến động vì chiến tranh nên có

sự đa diện, phức tạp hơn bình thường Nó không chỉ có một mặt đơn giản như văn học giai đoạn tiền chiến nay văn học giai đoạn cách mạng mà ở đó là sự tổng hòa mọi phương diện, mọi góc cạnh, có xu hướng đi lên và cũng có những khúc quanh định mệnh Văn học phản ánh tương đối đầy đủ, trọn vẹn những khía cạnh tinh thần con người cũng như những biến động của một xã hội miền Nam thời chiến Tất nhiên văn chương không thể chỉ có tả thực, nhưng có thể xem văn học giai đoạn này giống như một cô gái đã trải qua những dâu bể cuộc đời, không còn sự hồn nhiên, lãng mạn, nhẹ nhàng, không còn sự tin tưởng một cách ngây thơ Ánh mắt ấy đã đủ trưởng thành để ngắm nhìn và đối mặt với thực tế cuộc sống, đúng với bản chất thực của cuộc đời

1.2.2 Sự phức tạp của các khuynh hướng văn học

Nhiều nhà nghiên cứu văn học cùng đồng tình rằng văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 đa dạng và phức tạp Đó là giai đoạn của những biến động và cũng

là thử thách cho các văn nghệ sĩ trước áp lực của thời đại khi cùng một lúc có điều kiện tiếp nhận nhiều khuynh hướng và trào lưu văn hóa Để minh chứng cho sự đa dạng về khuynh hướng văn chương giai đoạn này đã có nhiều cách phân chia khác nhau Nguyễn Khắc Ngữ [106] khi viết về phần văn học giai đoạn này đã chia thành sáu khuynh hướng chính Đó là khuynh hướng văn học viết về chiến tranh, khuynh hướng hiện sinh, khuynh hướng hiện thực, khuynh hướng dân tộc, khuynh hướng bình dân và khuynh hướng trào phúng Ở mỗi khuynh hướng ông dẫn ra một số tác giả đại diện Cách phân chia này quá cụ thể, tác giả lại không tựa trên cùng một tiêu chí mà dựa trên nhiều phương diện khác nhau Chẳng hạn nói khuynh hướng hiện

Trang 37

sinh và hiện thực thì dựa vào bút pháp, tức nghiêng về phần hình thức Còn khuynh hướng viết về chiến tranh, khuynh hướng dân tộc, khuynh hướng trào phúng thì dựa vào nội dung sáng tác Còn khuynh hướng bình dân thì chú trọng vào thành phần độc giả Chính vì vậy mà cách phân chia này có sự nhập nhằng, nếu không muốn nói là có trùng lắp ở những khía cạnh của tác phẩm

Còn Võ Phiến [123] thì lại không phân chia cụ thể theo một tiêu chí nào Cách phân định của ông chủ yếu theo trục thời gian Ở giai đoạn 1954-1963 ông nhấn

mạnh đến những nhóm tác giả gắn liền với tên những tờ báo như Mùa Lúa Mới,

Sáng Tạo, Văn Hóa Ngày Nay, Bách Khoa, Nhân Loại, Vui Sống, Đại Học, Quan Điểm… Có lẽ vì thời này các tờ báo hoạt động còn nhiều, báo chí ảnh hưởng rộng

rãi Sang giai đoạn thứ hai là từ 1964-1975, ông lại phân theo các bình diện như: thất vọng, thiền vị, dấn thân, phản chiến, yêu đương Ngoài ra còn có văn học theo

xu hướng bình dân, văn thơ hài hước… Ở đây, tác giả không theo một tiêu chí phân loại nào, cũng giống như trên, có những trùng lắp nên chưa bao quát, cũng như không mang tính khoa học

Thật sự rất khó để có sự phân chia thống nhất và khoa học, bởi như trên đã nói, đây là một giai đoạn văn chương thời tao loạn, rất khó có cái gì bền vững, rạch ròi Tuy nhiên, theo người nghiên cứu, dựa trên sự vận động văn học, ta có thể phân chia theo hai nhóm chính Đó là khuynh hướng văn chương theo các xu trào hiện đại và khuynh hướng văn chương hướng về dân tộc Có thể đây cũng chưa phải là cách tối ưu, nhưng ở một chừng mực nào đó thiết nghĩ sẽ tạo sự đơn giản trong việc tiếp nhận

1.2.2.1 Khuynh hướng hiện đại

Khuynh hướng hiện đại bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ XX nhưng thành công đỉnh cao là trong giai đoạn 1930-1945 Đây là thời vàng son của những thử nghiệm và cách tân thơ Việt Sau 1954, dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa, xã hội miền Nam có những thuận lợi nhất định để văn nghệ tiếp tục phát triển theo tinh thần hiện đại Văn học miền Nam có điều kiện tiếp thu những thành tựu của thơ ca tiền chiến, nếu không muốn nói là một bước phát triển mới tựa trên những nền tảng

của thơ ca trước đó Dù chủ trương của nhóm Sáng Tạo những năm đầu sau khi

thành lập chính quyền miền Nam là “phủ nhận” Thơ Mới, nhưng thành tựu cũng

Trang 38

như sức ảnh hưởng của Thơ Mới không hề dứt Trước 1954 đã có Xuân Thu Nhã

Tập (1942), và nhóm Dạ Đài (1945) gồm Trần Dần, Trần Mai Châu, Đinh Hùng,

Vũ Hoàng Địch, Vũ Hoàng Chương…, với những nỗ lực tìm tòi đổi mới trên chặng đường cuối cùng của Thơ Mới Tuy không đi được đến cùng nhưng tư tưởng cách tân thơ đã tạo một tín hiệu tốt trên con đường chuyển động của hành trình thơ Việt Sau 1954, sợi chỉ văn chương dở dang trước đó đã được nối lại nhưng bằng một tâm thế khác hẳn giai đoạn tiền chiến Nối lại nhưng không chấp nhận đi theo lối mòn,

cũng không cần “lấy trớn”, nhóm Sáng Tạo hùng hồn tuyên bố “truy điệu” Thơ Mới

và Tự Lực Văn Đoàn Đây là một cú hích lớn để làm sống dậy tinh thần đổi mới văn

học, đóng góp lớn cho văn chương Việt Ngày trước, trong tuyên ngôn của nhóm

Dạ Đài, các thành viên của họ đã có ý rằng:

[…] làm sao người ta cứ lăn lộn mãi trong mối thất tình eo hẹp? Làm sao người ta cứ khóc mãi, than mãi, rung động mãi theo những con đường rung động cũ? Làm sao người ta cứ nhìn mãi vũ trụ ở ba chiều và thu hẹp tâm tư ở bảy giây tình cảm? Chúng ta còn có nghèo nàn thế nữa đâu? [128]

Ngày nay Sáng Tạo cũng có những ý kiến tương tự Họ xem đây là giai đoạn

cần phải mới toàn diện, không thể để cho nền văn học lặp lại những lối mòn, ru những vần điệu du dương nhưng không còn phù hợp với thời đại này nữa Điều mà

nhóm Sáng Tạo thảo luận nhiều nhất chính là làm sao phá bỏ lối mòn của hình thức

Thơ Mới để có một hình thức thơ hiện đại hơn Họ hướng về thơ tự do Có thể nói, thơ miền Nam sau 1954 là một sự nối dài thơ ca tiền chiến nhưng bằng những cung bậc mới mẻ hơn Thật ra đã là thơ thì bộc lộ tâm tình, mà tình đã tràn ra thì không gì chứa hết Và như vậy thì đã lãng mạn rồi Nhưng cái chất lãng mạn trong văn chương giai đoạn đầu thơ ca miền Nam không giống cái lãng mạn thời tiền chiến Nói như Võ Phiến khi so sánh về nỗi sầu của thơ ca hai giai đoạn, ông cho rằng thơ tiền chiến là “sầu mộng” còn sau 1954 ở miền Nam “đã sầu thì sầu đau sầu đớn, sầu quằn quại, sầu chết thôi…” [123, 367] Ông cũng nói “Tiền chiến đa số là thơ tình trong đó có lẫn một ít thơ điên loạn khổ não; hậu chiến đa số là thơ khổ não suy tư trong đó có lẫn một ít thơ tình” [123, 369] Trên cái nền chung của thơ miền Nam lúc bấy giờ những nhà thơ viết thơ tình không ít, nhưng để lại dấu ấn đậm nhất có thể kể đến Nguyên Sa, Trần Dạ Từ, Du Tử Lê Nếu Thanh Tâm Tuyền là người

Trang 39

khởi xướng thơ tự do, có công trong việc tạo ra nhịp điệu mới cho câu thơ thì Nguyên Sa có công trong việc sáng tạo hình ảnh thơ Hình ảnh trong thơ Nguyên Sa

là những hình ảnh lạ, đẹp, nồng nàn nhưng không sướt mướt đến mức sáo rỗng Người đọc thơ Nguyên Sa đi từ bất ngờ này đến ngạc nhiên khác bởi cách sáng tạo

hình ảnh và ý tứ trong thơ Như bài Áo lụa Hà Đông nổi tiếng:

anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn

mà mùa thu dài lắm ở chung quanh

linh hồn anh vội vã vẽ chân dung

bày vội vã vào trong hồn mở cửa

Thi sĩ phát hiện ra hình ảnh thơ từ những ngõ ngách khác nhau của cuộc sống, nhưng khi vào thơ tự dưng đẹp đến bất ngờ Như phát hiện của Trần Dạ Từ:

Lần đầu anh ghé môi hôn

Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang

(Nụ hôn đầu)

Cái giật mình, cái “hết hồn” ấy mới đáng yêu làm sao Trăm con ve nhỏ giật mình hay trái tim của hai người đang giật thót, lâng lâng vì những rung động quá mãnh liệt của tình yêu khi lần đầu tiên chứng nghiệm cái hôn đầu!

Thơ siêu thực manh nha từ Hàn Mặc Tử, định hình với Xuân Thu Nhã Tập,

đến giai đoạn này tuy không dấy lên thành một phong trào lớn nhưng sức hút và sự mới mẻ của nó luôn mời gọi thi nhân trên con đường khám phá và thể nghiệm Trong dòng văn học miền Nam, ít có thi sĩ nào định hình rõ ràng phong cách này,

nhưng có thể kể đến Đinh Hùng với Mê Hồn Ca (1954), Thanh Tâm Tuyền với Tôi

không còn cô độc (1956), Ngô Kha với Hoa cô độc (1961) và Ngụ ngôn của người đãng trí (1969), những bài thơ rời của Tô Thùy Yên, Bùi Giáng và một “thi sĩ” khá

đặc biệt: Trịnh Công Sơn!

Chủ nghĩa tượng trưng là thi phái ít xuất hiện nhất trong văn học miền Nam giai đoạn này, nhưng thấp thoáng đâu đó người ta vẫn có thể ngửi thấy hương hoa

ấy qua một số bài của thi sĩ Bùi Giáng, rõ nhất là tập Mưa nguồn (1962) [99] cũng như thấp thoáng trong những bài thơ rời và tập Hoa cô độc của nhà thơ Ngô Kha

Trang 40

Nếu những thi phái trên xuất hiện như một yếu tố thuộc về bút pháp thì với chủ nghĩa hiện sinh – một tư tưởng triết học, chủ nghĩa này đã đi vào văn học miền Nam như một tinh thần, như linh hồn, máu thịt Từ sau 1954, chủ nghĩa hiện sinh chi phối mạnh mẽ trên văn đàn, lan ra xã hội và trở thành một phong cách sống Ít thấy một tư tưởng triết học nào lại nhập vào quần chúng như chủ nghĩa hiện sinh Chính vì vậy, nó không chỉ là cái suy tư, cái tâm tình mang mang trong thơ mà còn trở thành một tấm áo thời thượng cho các cây bút văn xuôi khoác vào, từ đó biến tấu, kết hợp với những lý thuyết khác

Không viết về tình yêu, thi nhân xoay qua bày tỏ những trắc ẩn về phận người,

về cuộc đời Con người hiện diện giữa đời sống nhưng luôn tiềm ẩn nỗi hoang mang, ngờ vực không giống lý giải được, nên người bác sĩ mới nhắn nhủ với em bé trước cửa cuộc đời:

Khi em cất tiếng khóc chào đời

Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười

Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc

Trong cùng một cảnh ngộ nghe em

(Đỗ Nghê – Thƣ cho bé sơ sinh)

Nếu lĩnh vực thơ trong giai đoạn này có những vận động, đổi mới về mặt hình thức thì trong văn xuôi, điều này cũng không ngoại lệ mà có thể nói còn phong phú hơn Theo chiều hướng hiện đại, văn xuôi giai đoạn 1954-1975 chịu ảnh hưởng khá

rõ các xu hướng, trào lưu văn học phương Tây Thật ra ý thức hiện sinh trong văn học miền Nam không hoàn toàn phụ thuộc vào lý thuyết hiện sinh được giảng dạy trên giảng đường mà đó là tâm thức được sinh ra trong thời tao loạn Việc chủ nghĩa hiện sinh ra đời và trở thành một trào lưu triết học, phát triển mạnh mẽ sau thế chiến thứ hai trên thế giới cũng cho thấy nét tương đồng về mặt xã hội - chất dung môi nuôi dưỡng tư tưởng triết học này Hấp thụ cái vỏ hiện sinh nhưng tự trong tâm thức người viết lúc đó, hiện thực đất nước là mầm mống xúc tác quan trọng hơn Hầu hết những người cầm bút lúc bấy giờ không ai không chạm mặt với những đau khổ, bất công và phi lý của cuộc sống do chiến tranh gây ra Chính vì vậy, ngòi bút không còn hướng ngoại mà quay vào đào sâu nội tâm con người Những khám phá về đời sống tinh thần và bản chất cuộc sống trong chiến tranh là một bức tranh chung rộng

Ngày đăng: 04/05/2021, 07:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w