Những đặc điểm về địa lý, môi sinh, thổ nhưỡng trên đảo đã hình thành nên một lối cư trú đặc thù mà trong đó yếu tố biển chi phối mạnh mẽ từ đời sống kinh tế cho đến văn hóa… Qua đó thể
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MÃ SỐ: 60.31.70
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS PHAN THỊ YẾN TUYẾT
Trang 3Là một học viên gắn bó hơn hai năm với trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, được học tập, nâng cao trình
độ ở ngành mà mình yêu thích khiến tôi vô cùng phấn khởi và tự hào Để có được kết quả như ngày hôm nay tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
- Các thầy, cô trong Khoa Văn hóa học đã nhiệt tình giảng dạy, cung cấp kiến thức cho tôi trong những năm học vừa qua
- Phòng Sau Đại học, Khoa Văn hóa học đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này
- Người cô và cũng là người hướng dẫn hết sức tận tình của tôi, Phó giáo sư Tiến sĩ Phan Thị Yến Tuyết Trong suốt quá trình hoàn thành luận văn, cô đã luôn đồng hành để giảng giải, chỉ bảo và góp ý cho tôi
- Chân thành cảm ơn sự hỗ trợ nhiệt tình của các cán bộ công tác ở cơ quan Khánh Hòa: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Khánh Hòa, Viện hải dương học Nha Trang, Ban Quản lý vịnh Nha Trang
- Các tác giả của những tư liệu, bài báo, cũng như những hình ảnh mà tôi đã tham khảo và sử dụng trong luận văn
- Cảm ơn chân thành nhất đến ba mẹ, bạn bè và đồng nghiệp cơ quan, những người đã luôn động viên, giúp đỡ tôi về vật chất lẫn tinh thần trong những ngày tháng học tập vừa qua
Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng để hoàn thành luận văn nhưng chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của quý thầy cô, các bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm Học viên cao học: Trương Thị Quốc Ánh
Trang 4Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Những kết quả và số liệu trong luận văn chưa được ai công bố dưới bất cứ hình thức nào Nội dung luận văn
có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC - 1
DANH MỤC BẢNG - 4
DANH MỤC SƠ ĐỒ - 5
DANH MỤC HÌNH - 6
MỞ ĐẦU - 8
1 Lý do chọn đề tài - 8
2 Mục đích nghiên cứu - 9
3 Lịch sử vấn đề - 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 16
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn - 16
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu - 17
7 Bố cục luận văn - 19
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐẢO HÕN TRE, THÀNH PHỐ NHA TRANG - 20
1.1 Cơ sở lý luận - 20
1.1.1 Khái niệm đời sống văn hóa - 20
1.1.2 Lý thuyết tiếp cận - 23
1.2 Khái quát về đảo Hòn Tre - 27
1.2.1 Địa lý, tự nhiên đảo Hòn Tre - 27
1.2.2 Lịch sử đảo Hòn Tre - 32
1.2.3 Quá trình hình thành cộng đồng cư dân - 37
Tiểu kết - 42
Trang 6CHƯƠNG 2 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA CƯ DÂN
ĐẢO HÕN TRE - 43
2.1 Phương tiện đánh bắt và hoạt động khai thác thủy hải sản - 43
2.1.1.Nghề lưới - 44
2.1.2 Nghề lặn - 57
2.1.3 Nghề câu - 59
2.1.4 Nghề mành - 61
2.2 Nuôi trồng thủy hải sản - 67
2.3 Khai thác và nuôi trồng yến sào - 68
2.4 Nghề tiểu thủ công nghiệp - 70
2.4.1.Nghề vá lưới và lắp ráp lưới - 71
2.4.2 Nghề chế tác hàng thủ công mỹ nghệ - 71
2.4.3 Nghề chế biến thủy hải sản - 74
2.5 Hoạt động du lịch biển - 75
2.6 Văn hóa ẩm thực biển - 79
2.7 Phương tiện di chuyển - 82
Tiểu kết - 84
CHƯƠNG 3 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA CƯ DÂN ĐẢO HÕN TRE - 87
3.1 Hoạt động tín ngưỡng tôn giáo và lễ hội - 87
3.1.1.Tín ngưỡng thờ Thần Thành Hoàng và Tiền hiền - 88
3.1.2 Tín ngưỡng thờ Cá Ông và lễ hội cầu ngư - 92
3.1.3 Tín ngưỡng và lễ hội thờ Mẫu, Nữ thần biển - 101
3.1.4 Tín ngưỡng cúng cô hồn biển - 104
Trang 73.1.5 Các tín ngưỡng khác - 108
3.1.6 Phật giáo - 110
3.2 Phong tục tập quán liên quan đến biển - 113
3.2.1 Hôn nhân - 113
3.2.2 Tang ma - 115
3.3 Văn hóa – nghệ thuật - 117
3.3.1 Văn học dân gian - 117
3.3.2 Nghệ thuật diễn xướng - 127
3.4 Tri thức bản địa - 133
3.4.1 Tri thức bản địa về đánh bắt cá - 133
3.4.2 Tri thức bản địa về đoán thời tiết đi biển - 136
3.4.3 Kinh nghiệm tránh bão khi ghe tàu còn ở ngoài khơi - 138
Tiểu kết - 139
KẾT LUẬN - 141
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 145
PHỤ LỤC - -1-
Phụ lục 1: Biên bản phỏng vấn sâu -
Phụ lục 2: Hình ảnh - -90-
Trang 8
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các hình thức đánh bắt thủy sản tại đảo Hòn Tre - 44
Bảng 2.2 Phương tiện sử dụng trong nghề lưới đăng - 48
Bảng 2.3 Mùa vụ đánh bắt của các hình thức khai thác thủy sản ở đảo Hòn Tre - 64
Bảng 2.4 Các hình thức khai thác thủy sản ở đảo Hòn Tre - 66
Bảng 2.5 Đời sống văn hóa vật chất của cư dân đảo Hòn Tre - 84
Bảng 3.1 Hệ thống tín ngưỡng tôn giáo ở đảo Hòn Tre - 88
Bảng 3.2 Các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo và lễ hội ở đảo Hòn Tre - 112
Bảng 3.3 So sánh hôn nhân ở đảo Hòn Tre và đất liền Nha Trang - 115
Bảng 3.4 So sánh tang ma ở đảo Hòn Tre và đất liền Nha Trang - 117
Bảng 3.5 Đời sống văn hóa tinh thần của cư dân đảo Hòn Tre - 139
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢN ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Tổng thể văn hóa tộc người của X.A.Tokarev - 21
Sơ đồ 1.2 Tổng thể văn hóa tộc người của E.S.Markarian - 21
Sơ đồ 1.3 Những vấn đề nghiên cứu về đời sống văn hóa của cư dân đảo Hòn Tre - 23
Sơ đồ 1.4 Vịnh Nha Trang - 28
Sơ đồ 1.5 Phân bố cư dân trên đảo Hòn Tre - 38
Sơ đồ 1.6 Tổ chức trên tàu của nghề biển ở Hòn Tre - 41
Sơ đồ 2.1 Các đầm đăng xưa và nay trong vịnh Nha Trang - 45
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ mặt bằng đình Bích Đầm - 89
Bản đồ 1.1 Các khóm đảo có dân cư sinh sống trên đảo Hòn Tre - 29
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Làng Bích Đầm – đảo Hòn Tre - 35
Hình 1.2 Núi Giếng Môn - làng Bích Đầm - 35
Hình 1.3 Làng Đầm Bấy – đảo Hòn Tre - 36
Hình 1.4 Làng Vũng Ngán – đảo Hòn Tre - 36
Hình 1.5 Khu du lịch Vinpearl - 36
Hình 1.6 Khu du lịch Con Sẻ tre - 37
Hình 1.7 Bãi tắm KDL Con Sẻ tre - 37
Hình 2.1 Sơ đồ đặt giàn lưới đăng ở sở đầm - 50
Hình 2.2 Đánh bắt bằng lưới vây - 53
Hình 2.3 Ngư dân Hòn Tre đánh bắt lưới vây ngày - 54
Hình 2.4 Nghề trũ bờ ở Hòn Tre - 55
Hình 2.5 Ngư dân gỡ cá sau một đêm ngâm lưới - 57
Hình 2.6 Hoạt động đánh bắt của nghề mành đèn - 62
Hình 2.7 Lồng bè nuôi cá bóp của một hộ gia đình - 68
Hình 2.8 Ngư dân thu hoạch cá tại lồng bè - 68
Hình 2.9 Nhà ở của công nhân bảo vệ hang yến - 70
Hình 2.10 Chim yến làm tổ trên đảo Hòn Tre - 70
Hình 2.11 Nghề vá lưới ở Hòn Tre - 71
Hình 2.12 Nghề làm mành ốc ở Hòn Tre - 73
Hình 2.13 Sản phẩm thủ công mỹ nghệ ở Hòn Tre - 73
Hình 2.14 Lồng bè du lịch ở Vũng Ngán - 78
Hình 2.15 Du khách tham quan tại lồng bè Vũng Ngán - 78
Hình 3.1 Đình Bích Đầm - 89
Trang 11Hình 3.2 Chính điện đình Bích Đầm - 90
Hình 3.3 Bàn thờ Thần Thành Hoàng - 90
Hình 3.4 Bàn thờ Tiền hiền, Hậu hiền tại An Thanh Miếu - 91
Hình 3.5 Bàn thờ Ông Nam Hải - 95
Hình 3.6 Hầm đựng ngọc cốt Cá Ông - 95
Hình 3.7 Sắc phong của vua Đồng Khánh năm thứ 2 (1887) - 95
Hình 3.8 Kiệu dùng rước sắc phong - 95
Hình 3.9 Sắc phong của vua Duy Tân năm thứ 3 (1909) - 102
Hình 3.10 Sắc phong của vua Khải Định năm thứ 9 (1924) - 102
Hình 3.11 Bàn thờ Ngũ Hành Thần Nữ tại đình Bích Đầm - 103
Hình 3.12 Bàn thờ Chúa Thủy và Ngũ Hành Thần Nữ tại An Thanh Miếu - 104
Hình 3.13 Tượng Chúa Thủy - 104
Hình 3.14 Miếu thờ Cô Bác ở Hòn Tre - 106
Hình 3.15 Miếu thờ Thần Giám - 106
Hình 3.16 Dinh Ông Lớn - 109
Hình 3.17 Miếu Ông hướng Tây - 109
Hình 3.18 Miếu Ông hướng Nam - 109
Hình 3.19 Miếu thờ Ông Hổ - 110
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài 3.260 km, trong đó có nhiều đảo và quần đảo Từ xưa, biển đã giữ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của người Việt Không chỉ thế, biển còn là môi trường sống, môi trường giao tiếp văn hóa của người Việt Cùng với các không gian núi rừng và châu thổ, biển đã góp phần hợp thành, định diện truyền thống, bản sắc văn hóa, tư duy… của nhiều cộng đồng cư dân Việt Nam1 Vì vậy tìm hiểu văn hóa người Việt thì không thể không tìm hiểu về giá trị của biển
Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, với thiên nhiên đa dạng vừa
có đồng bằng, đồi núi lại vừa có biển Những yếu tố thiên nhiên này có ảnh hưởng rất lớn đến việc cư trú của con người, trong đó hình thái cư trú của cư dân trên đảo là một hình thức khá đặc biệt Những đặc điểm về địa lý, môi sinh, thổ nhưỡng trên đảo đã hình thành nên một lối cư trú đặc thù mà trong đó yếu tố biển chi phối mạnh mẽ từ đời sống kinh tế cho đến văn hóa… Qua đó thể hiện sự thích nghi của cư dân với điều kiện địa lý
Ở nước ta, những năm gần đây, văn hóa của cư dân vùng biển đã được nhiều người quan tâm, nghiên cứu Tuy nhiên các tài liệu về đời sống của cư dân trên đảo tại Khánh Hòa nói chung, thành phố Nha Trang nói riêng còn khá hiếm hoi
So với các tỉnh Nam Trung Bộ, Khánh Hòa là tỉnh có tỷ lệ đảo khá cao, bao gồm 200 đảo lớn, nhỏ Một số đảo có diện tích khá lớn và ổn định về mặt cấu trúc hình thái, điều kiện sinh sống tương đối tốt nên cư dân tập trung khá đông, nổi bật nhất là đảo Hòn Tre Đảo này được biết đến như là một địa điểm du lịch nổi tiếng Bên cạnh
đó, Hòn Tre còn là địa bàn cư trú lâu đời của cư dân địa phương với những nét văn hóa đặc thù Để hiểu rõ hơn về dạng thức cư trú trên đảo, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài
“Đời sống văn hóa của cư dân đảo Hòn Tre, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” Qua khảo sát, chúng tôi thấy được những ảnh hưởng của môi trường địa lý, yếu
tố thiên nhiên trong việc hình thành những đặc điểm kinh tế, văn hóa của cư dân
Trang 13Tác giả luận văn sinh sống và làm việc tại Nha Trang, sự hiểu biết về đời sống của cư dân trên đảo sẽ phục vụ cho công tác chuyên môn của cơ quan cũng như cho các ban ngành chức năng khác trong tỉnh Khánh Hòa nói riêng và vùng Nam Trung Bộ nói chung, đây cũng là lý do nghiên cứu đề tài này.
Trong điều kiện hiện nay, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại giúp đời sống vật chất con người được nâng cao nhưng tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, môi trường sống con người biến đổi nghiêm trọng, thiên tai xảy ra ngày càng nhiều Nghiên cứu đời sống của cư dân đảo Hòn Tre, thành phố Nha Trang qua đời sống kinh tế, văn hóa là một vấn đề quan trọng giúp nhận diện, phát triển đời sống của
cư dân
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích chủ yếu tìm hiểu tác động của môi trường sinh thái trong việc hình thành hình thái cư trú, đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân sinh sống trên đảo Đồng thời, thông qua những đặc điểm văn hóa lý giải sự thích nghi, hòa hợp và sáng tạo của cư dân trên đảo
Luận văn cũng vận dụng các lý thuyết nghiên cứu Văn hóa học và Nhân học để khảo sát đời sống văn hóa của cư dân đảo Hòn Tre, từ đó tìm ra những đặc trưng trong đời sống văn hóa cư dân
3 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về biển là đề tài được không ít các nhà khoa học và các học giả quan tâm Đã có nhiều kết quả đáng kể từ việc nghiên cứu liên quan đến biển dưới các khía cạnh khác nhau
Các công trình trong nước
Đầu tiên phải kể đến những nghiên cứu mang tính lý luận, các sách viết về biển
Trước thế kỷ XX có các công trình như: Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên Công trình đã đề cập đến biển trong mối quan hệ với người Việt; Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục; Gia Định thành thông chí của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng
đề cập đến vai trò biển Đông trong đời sống cư dân
Sang thế kỷ XX, vấn đề biển cả, cư dân ngư nghiệp và các tục lệ của họ đã thu
hút được sự quan tâm của nhiều tác giả Tác phẩm Việt Nam Văn hóa sử cương của
Trang 14Đào Duy Anh có đề cập đến mối quan hệ của người Việt với biển, khẳng định những ảnh hưởng của biển với đời sống văn hóa người Việt
Tục thờ cúng của ngư phủ lưới đăng Khánh Hòa (1970) của Lê Quang Nghiêm
được viết trên cơ sở khảo sát thực địa Đây là một công trình biên khảo về văn hóa biển không chỉ mang lại sự hiểu biết về giá trị đối với tục thờ cá Ông mà còn về tín ngưỡng ngư dân ở vùng biển Khánh Hòa nói chung
Tác phẩm Hải quân trong lịch sử chống ngoại xâm (1983) của nhóm tác giả
Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hùng nói đến tầm quan trọng của thủy quân Việt Nam trong sự nghiệp giữ nước
Biển với người Việt cổ (1996) của Viện Đông Nam Á nghiên cứu về biển dưới
cách tiếp cận khảo cổ học, khái quát lịch sử về biển nước ta từ thời tiền sử, sơ sử trong bối cảnh Đông Nam Á lục địa và hải đảo
Những năm gần đây, biển ngày càng được coi trọng và là nguồn tài nguyên quý giá để phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội, nghiên cứu về biển, cư dân ngư nghiệp và văn hóa của nhóm cư dân này được chú ý nhiều hơn Trong khoảng 10 năm trở lại đây,
có các công trình nghiên cứu về văn hóa biển có giá trị như:
Văn hóa dân gian làng ven biển (2000) của tập thể tác giả viện nghiên cứu Văn
hóa dân gian Tác phẩm đã đề cập đến khía cạnh lịch sử và văn hóa dân gian của cộng đồng cư dân ven biển của Việt Nam, chủ yếu các làng Bắc Bộ
Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam (2002) của Nguyễn Duy Thiệu là công trình
khoa học thể hiện những sắc thái mới về ngư dân, trong đó tác giả khảo sát một số làng chài với cơ cấu tổ chức xã hội truyền thống, thời kỳ hợp tác xã và thời kỳ hiện nay Đây được coi là công trình đầu tiên nghiên cứu về cộng đồng ngư dân ở Việt Nam với quy mô khá lớn và có chất lượng khoa học
Công trình Công cụ đánh bắt sông nước truyền thống ở Hội An (2002) của
nhóm tác giả Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An có đề cập đến những công cụ đánh bắt cá ở môi trường nước mặn
Trong tác phẩm Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm (2003), Trần Quốc
Vượng đã có lưu tâm về biển trong bài viết “Mấy nét khái quát lịch sử cổ xưa về cái nhìn biển của người Việt Nam” Bài viết bàn về huyền thoại, huyền tích và thực tiễn khảo cổ học tiền sử và sơ sử ở Việt Nam; quan hệ thương mại biển quốc tế và Việt
Trang 15Nam, người Việt trong mắt người nước ngoài; cái nhìn về biển của người Chăm và lịch sử quân sự Việt Nam trên biển
Môi trường và văn hóa cuối Pleistosen đầu Holosen ở Việt Nam (2004) của hai
tác giả Nguyễn Khắc Sử và Vũ Thế Long đã cho thấy cái nhìn về quá trình hình thành biển Việt Nam nói riêng và khu vực nói chung
Cộng đồng ngư dân Việt ở Nam bộ (2004) của Trần Hồng Liên đã bước đầu
nghiên cứu đối sánh qua trường hợp giữa hai làng biển ở Đông Nam Bộ và Tây Nam
Bộ
Lễ hội dân gian của ngư dân Bà Rịa – Vũng Tàu (2004) của Phan An, Đinh
Văn Hạnh Các tác giả đã nghiên cứu, miêu tả một số lễ hội dân gian của ngư dân địa phương tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong quá trình hình thành và phát triển
Trong công trình Tìm về Bản sắc Văn hóa Việt Nam (2004) của Trần Ngọc
Thêm có nói đến yếu tố biển trong đời sống văn hóa, biển đóng vai trò quan trọng và chi phối trong cơ cấu bữa ăn, giao thông của người Việt
Những điều cần biết về đất, biển, trời Việt Nam (2007) của Lưu Văn Lợi đã đề
cập đến mối quan hệ giữa con người đối với biển, những nhận thức về biển cũng như những ứng xử của con người với biển trong lĩnh vực môi trường và quốc phòng
Văn hóa biển Miền Trung và văn hóa biển Tây Nam Bộ (2008) của Hội văn
nghệ dân gian Việt Nam Tác phẩm là công trình tập hợp những bài tham luận phân tích vai trò của biển trong kinh tế, văn hóa, quân sự, du lịch… Mặc dù sách đề cập về miền Tây Nam Bộ nhưng nội dung sách giúp cho chúng tôi hiểu thêm về cách tiếp cận biển để chúng tôi khảo sát về biển ở miền Trung
Con người, môi trường và văn hóa (2009) của Nguyễn Xuân Kính cũng có một
bài viết về việc ứng xử của người Việt đối với nước Công trình mặc dù không đề cập nhiều đến biển nhưng ở mặt nào đó giúp độc giả nhận thức được vai trò của nước nói chung và biển nói riêng trong đời sống vật chất và tinh thần của con người
Người Việt với biển (2011) của nhóm nghiên cứu thương mại châu Á, tập hợp
các nhà nghiên cứu trẻ Từ cách tiếp cận liên ngành, chủ yếu là Khảo cổ học - Sử học - Quốc tế học các tác giả cố gắng làm sáng tỏ một số vấn đề, lĩnh vực truyền thống biển Việt Nam, qua đó giúp hiểu rõ hơn các giá trị văn hóa biển Việt Nam trong mối liên hệ với lịch sử
Trang 16Đề tài trọng điểm cấp Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Đời sống kinh
tế - văn hóa - xã hội của cư dân vùng biển, đảo Nam Bộ (2011) qua góc nhìn nhân học biển (Maritime anthropology) của Phan Thị Yến Tuyết đã cung cấp cho người đọc một
bức tranh vừa khái quát vừa cụ thể về đời sống kinh tế, văn hóa cùng những biến động
xã hội của các cư dân Nam Bộ trong sự tương tác, thích nghi, sáng tạo của con người đối với môi trường biển của Nam Bộ Qua đó, người đọc thấy được một số vấn đề bất cập trong thái độ ứng xử của con người đối với biển
Bên cạnh đó, nghiên cứu về biển, đảo cũng được nhiều tác giả chọn làm luận
án, luận văn Văn hóa dân gian của cư dân ven biển Quảng Ngãi (luận án Tiến sĩ lịch
sử 2003) của Nguyễn Đăng Vũ Công trình phản ánh bức tranh văn hóa dân gian của cộng đồng cư dân nơi đây: từ tín ngưỡng, lễ hội cho đến nghệ thuật diễn xướng dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian, ngữ văn dân gian
Biển trong văn hóa người Việt (luận văn Thạc sĩ 2006) của Nguyễn Thị Hải Lê
đã khái quát toàn bộ biển trong các lớp văn hóa của người Việt về không gian và thời gian, trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của người Việt Do đối tượng nghiên cứu rộng nên công trình chưa đi sâu nghiên cứu yếu tố biển của người Việt ở từng vùng miền, từng địa phương cụ thể
Yếu tố biển trong văn hóa Raglai (luận văn Thạc sĩ 2009) của Trần Kim Hoàng
đã nghiên cứu chuyên sâu về yếu tố biển trong văn hóa của cộng đồng dân tộc Raglai
ở Việt Nam
Văn hóa ứng xử với biển của người Việt miền Tây Nam Bộ (luận văn Thạc sĩ
2010) của Nguyễn Hữu Nghị Công trình nghiên cứu cách ứng xử của người Việt với biển ở một vùng cụ thể - Tây Nam Bộ
Lễ hội khao lề thế lính Hoàng Sa ở đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (luận văn
Thạc sĩ 2011) của Cao Nguyễn Ngọc Anh tìm hiểu về lễ hội khao lề thế lính Hoàng Sa
và ý nghĩa của nó trong đời sống cộng đồng người dân vùng biển đảo Lý Sơn
Nghi lễ vòng đời của người Việt ở đảo Phú Quý hiện nay (luận văn Thạc sĩ
2012) của Nguyễn Thị Thanh Xuân giới thiệu những phong tục tập quán đặc sắc liên quan đến nghi lễ vòng đời của người Việt trên đảo Phú Quý hiện nay
Ngoài ra, còn có các bài viết ngắn về văn hóa biển trên các báo, tạp chí, kỷ yếu hội thảo như: “Văn hóa dân gian các làng ven biển” của Vũ Quang Trọng trong tạp chí
Trang 17Văn hóa nghệ thuật (12/2004) khái quát về sáng tác văn học dân gian, những kinh
nghiệm, tri thức về biển, nghề biển, điêu khắc, kiến trúc dân gian, tôn giáo, tín
ngưỡng… tạo nên nét văn hóa đặc trưng của cư dân vùng biển “Việc tổ chức đời sống tín ngưỡng trong cộng đồng ngư dân Việt Nam” của Nguyễn Duy Thiệu trong tạp chí
Văn hóa dân gian (2000)
Bài viết “Nghiên cứu văn hóa biển Nam Bộ - tiếp cận nhân học và văn hóa dân gian” của tác giả Phan Thị Yến Tuyết trong kỷ yếu hội thảo Văn hóa, du lịch biển đảo miền Tây Nam Bộ (2007) Bài viết đã khái quát tương đối lịch sử nghiên cứu văn hóa biển Việt Nam nói chung và văn hóa biển Tây Nam Bộ nói riêng Nội dung bài viết đề cập đến các vấn đề về nhân học sinh thái biển, thiết chế văn hóa xã hội tại các làng chài, các loại hình khai thác hải sản, các tôn giáo, tín ngưỡng xã hội, văn hóa dân gian
và văn hóa du lịch
Tác giả Phan Thị Yến Tuyết còn có bài viết “Sắc thái văn hóa biển của huyện Kiên Hải” in trong kỷ yếu hội thảo về Văn hóa biển, Kiên Giang (2008) và “Tín ngưỡng thờ Mẫu và nữ thần từ chiều kích văn hóa biển của vùng biển đảo Kiên Hải, Kiên Giang” in trong tạp chí Khoa học xã hội (2010)
Bài viết “Nghiên cứu đặc điểm cư dân và văn hóa vùng ven biển và hải đảo: Một số lý luận cơ bản” của Tô Duy Hợp và Đặng Vũ Cảnh Linh tại hội thảo cơ sở lý
luận và phương pháp luận nghiên cứu văn hóa và con người Việt Nam hiện nay (2008)
đã đưa ra những lý luận giải thích các khái niệm về văn hóa học như “đặc điểm cư dân”, “con người và văn hóa”
Nghiên cứu biển đảo Khánh Hòa cũng được quan tâm nghiên cứu, song số lượng công trình, bài viết còn ít, có thể kể đến một số tác phẩm như:
Về khảo cổ học, qua các đợt khai quật di chỉ khảo cổ học tại các làng ven biển -
đảo ở Khánh Hòa, một số tác giả trong các cuốn sách Văn hóa phi vật thể Khánh Hòa; Tìm hiểu giá trị lịch sử và văn hóa truyền thống Khánh Hòa 350 năm đã có những
nhận định khái quát về lịch sử văn hóa biển, đảo
Đáng chú ý nhất là bài viết Khánh Hòa một cái nhìn địa – văn hóa của Trần
Quốc Vượng Tác giả đã nêu lên đặc trưng các nền văn hóa ven biển miền Trung thời tiền sử - sơ sử (đá mới – sơ kỳ kim khí) là văn hóa cồn bàu Trong đó, có văn hóa Xóm
Trang 18Cồn với khóm đảo Bích Đầm, đảo Hòn Tre của Khánh Hòa; văn hóa Gò Ốc (Phú Yên)
Ngoài ra còn có các bài viết của các tác giả trong và ngoài nước tại hội thảo
quốc tế Khảo cổ học tiền sơ sử Khánh Hòa được tổ chức vào tháng 8-2010 tại Khánh
Hòa
Về văn hóa dân gian có các công trình như: Lễ hội Cầu ngư ở Khánh Hòa (1999) do Nguyễn Văn Khánh chủ biên và Lễ hội Cầu ngư ở Khánh Hòa (2005) của
nhóm tác giả đã khảo tả và đưa ra nhận xét chung về các lễ hội diễn ra tại các đình,
lăng ven biển Các công trình đã làm rõ những nghi lễ, tục thờ, tín ngưỡng của cộng
đồng cư dân ven biển, đảo ở Khánh Hòa
Về nghề truyền thống, bài viết Nghề truyền thống ở Khánh Hòa (2001) của tác
giả Nguyễn Viết Trung đã đề cập đến các nghề khai thác, đánh bắt, chế biến tài nguyên biển ở địa phương như nghề lưới đăng, nghề lưới quây, nghề làm nước mắm, nghề làm muối, nghề khai thác yến…
Về kiến trúc, điêu khắc dân gian có 2 bài viết Lăng Tân Mỹ và tục thờ cúng Ông Nam Hải của Võ Khoa Châu và Lăng Nam Hải ở Bình Ba của Hoàng Quý Hai
bài viết khái quát lịch sử hình thành, kiến trúc xây dựng, mục đích, ý nghĩa và vai trò của lăng Ông trong đời sống văn hóa cư dân ven biển và đảo ở Khánh Hòa
Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na ở
Khánh Hòa cũng phản ánh yếu tố biển trong đời sống cư dân Công trình Tìm hiểu giá trị lịch sử và văn hóa truyền thống Khánh Hòa 350 năm (2003) do Nguyễn Văn Khánh
chủ biên đã tập hợp nhiều bài viết của các nhà khoa học và những nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Khánh Hòa, trong đó có bài viết khái quát về tín ngưỡng thờ Thiên Y A
Na trong đời sống văn hóa Khánh Hòa của nhà nghiên cứu văn hóa Chăm Ngô Văn
Doanh Công trình Non nước Khánh Hòa (2003) của Nguyễn Đình Tư có nhắc đến tín
ngưỡng này trong phần phong tục tập quán
Gần đây nhất là tập sách Văn hóa Biển đảo ở Khánh Hòa (2011) Đây là công
trình tổng hợp những bài nghiên cứu, ý kiến của các nhà khoa học tham dự Hội thảo khoa học toàn quốc Văn hóa biển đảo ở Khánh Hòa được tổ chức vào ngày 15 tháng
06 năm 2011 tại thành phố Nha Trang Tập sách giới thiệu về những tiềm năng, thế mạnh và thực trạng khai thác biển đảo ở Xứ trầm hương Nhiều bài viết đã khẳng định
Trang 19Khánh Hòa là địa phương có nhiều giá trị đặc sắc, đặc trưng của văn hóa biển đảo như: tục thờ Cá Ông, thờ Mẫu Thiên Y A Na cùng các lễ hội Cầu ngư, Hò bá trạo
Ngoài ra còn có một số bài báo, phóng sự trên truyền hình về biển và cuộc sống của người dân với biển đã phản ánh phần nào về biển và văn hóa biển Việt Nam
Các công trình nước ngoài
Các công trình nghiên cứu về biển của các học giả nước ngoài, có thể kể đến
như: công trình The sea around us của Rachel L.Carson, xuất bản năm 1951 tại New
York Theo công trình thì những hoạt động nghiên cứu, khám phá về biển được bắt đầu vào thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai, khi người ta nhận ra thủy triều và biển có thể khai thác trong quân sự, nó ảnh hưởng rất lớn đến thành công hoặc thất bại trong quân sự
Công trình Địa đàng ở Phương Đông của Oppenheimer Tác giả đã đưa ra
những giả thuyết rằng cái nôi của nền văn minh Đông Nam Á chính là biển Đông, bao gồm cả vịnh Bắc Bộ và khu vực biển Đông Việt Nam Công trình này đã nói đến các thời kỳ biển dâng, quá trình hình thành biển và ảnh hưởng của nó đến quá trình di cư
và văn hóa của cư dân Đông Nam Á
Như vậy cho đến nay hầu hết các công trình nghiên cứu về biển của các học giả trong và ngoài nước chỉ tìm hiểu một số vấn đề cụ thể trong phạm vi hẹp hoặc đưa ra cái nhìn tổng quát hoặc nghiên cứu về văn hóa ứng xử của người Việt ở một vùng
Những công trình ở Khánh Hòa đa phần nghiên cứu ở phạm vi hẹp như khảo tả
sơ lược các lễ hội, tín ngưỡng, nghệ thuật biểu diễn, nghề truyền thống Công trình nghiên cứu về đời sống văn hóa của cư dân trên các đảo ở Khánh Hòa còn khá hiếm hoi, nghiên cứu chuyên về đời sống của cư dân trên đảo Hòn Tre dưới góc độ văn hóa học chúng tôi chưa đọc được nguồn tài liệu nào
Nhìn chung nội dung những công trình nghiên cứu biển ở trong nước đã giúp chúng tôi có được những hiểu biết, kiến thức nhất định để phục vụ cho quá trình thực hiện luận văn cao học
Với đề tài của mình, chúng tôi buộc phải tìm hiểu nhiều hơn và hy vọng công trình sẽ mang lại nguồn tài liệu cần thiết cho những người quan tâm Chúng tôi đã trải qua hơn 5 tháng để nghiên cứu thực địa tại đảo Hòn Tre, thu thập được khá nhiều tài
Trang 20liệu qua 43 cuộc phỏng vấn và nhiều cuộc nói chuyện nhỏ Mỗi thông tin thể hiện trong luận văn này chủ yếu là tài liệu điền dã của chúng tôi
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu được xác định như trên, đối tượng nghiên cứu của luận văn là đời sống của cư dân đảo Hòn Tre qua khía cạnh đời sống văn hóa vật chất và tinh thần Qua đó tìm hiểu những ảnh hưởng của môi trường sinh thái đảo tác động đến đời sống sinh hoạt của cư dân nơi đây
Phạm vi không gian, luận văn nghiên cứu đảo Hòn Tre, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Ngoài ra, trong quá trình triển khai, chúng tôi cũng tìm hiểu và trình bày những thông tin liên quan đến các cộng đồng cư dân cư trú trên đảo ở một số vùng lân cận nhằm so sánh làm rõ nét đặc trưng trong đời sống cư dân đảo Hòn Tre
Về thời gian, luận văn nghiên cứu chủ yếu từ sau năm 1975 đến nay vì hầu hết
tư liệu chúng tôi thu thập được tập trung vào khoảng thời gian này Tuy nhiên, chúng tôi cũng sẽ ngược dòng thời gian để vận dụng các tài liệu trước 1975 để làm rõ hơn nội dung
Về đời sống văn hóa vật chất, chúng tôi khảo sát phương tiện và công cụ đánh bắt cũng như nuôi trồng thủy hải sản, nghề tiểu thủ công, du lịch biển, ẩm thực và phương tiện vận chuyển Về đời sống văn hóa tinh thần, chúng tôi tìm hiểu hoạt động tín ngưỡng tôn giáo và lễ hội, phong tục tập quán, văn hóa nghệ thuật và tri thức bản địa
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học:
Vận dụng các phương pháp nghiên cứu cần thiết, cách tiếp cận lý thuyết Văn hóa học để khảo sát và mô tả đời sống cư dân đảo Hòn Tre Đồng thời luận văn bước đầu khảo sát đời sống của cư dân đảo Hòn Tre để tìm ra những đặc trưng trong đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân trên đảo ngày hôm nay
Góp phần bổ sung thêm vào kết quả nghiên cứu về văn hóa biển, đảo Nam Trung Bộ nói chung và Khánh Hòa nói riêng
Đối với ngành Văn hóa học, việc nghiên cứu góp phần bổ sung tư liệu nghiên cứu sự tác động vào sinh thái của cư dân đang sống trong vùng đó Ngoài ra, góp phần
Trang 21cung cấp nguồn tài liệu học tập, nghiên cứu cũng như đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về biển và đảo
- Ý nghĩa thực tiễn:
Góp phần làm rõ những thành tựu và nêu lên những bất cập trong đời sống cư dân vùng đảo, bước đầu cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ quan, ban ngành chức năng tại Khánh Hòa
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Với đối tượng và phạm vi nghiên cứu nêu trên, để tiến hành nghiên cứu chúng tôi chủ yếu dùng phương pháp nghiên cứu định tính, thực hiện nhiều cuộc khảo sát điền dã cùng các phương pháp như: quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, phỏng vấn hồi cố…
- Phương pháp nghiên cứu định tính (Qualitative research):
Nghiên cứu định tính là một hoạt động có vị trí định vị người quan sát trong xã hội Nó bao gồm một loạt các cách thực hành diễn giải làm người ta hiểu rõ xã hội, bao gồm: các ghi chép ở thực địa (fieldnotes), quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, hội thoại, thảo luận nhóm, các hình ảnh, băng ghi âm, hồi ký… nhằm mô tả, diễn giải, giải thích chủ thể Ở mức độ này, nghiên cứu định tính có cách tiếp cận xã hội theo cách diễn giải và tự nhiên chủ nghĩa
Chúng tôi áp dụng phương pháp này qua một số cuộc phỏng vấn sâu và phỏng vấn hồi cố các thành phần cư dân liên quan đến đề tài Những biên bản phỏng vấn sâu
và phỏng vấn hồi cố giúp chúng tôi tìm hiểu ký ức cuộc sống người dân cũng như cuộc sống hiện tại Đây là nguồn tài liệu chủ yếu để chúng tôi thực hiện luận văn vì thông tin thu thập được qua phỏng vấn này có giá trị là tiếng nói của người trong cuộc, của đối tượng nghiên cứu chứ không phải chỉ có ý kiến chủ quan của tác giả
- Phương pháp phỏng vấn sâu (In-depth interviewing):
Là phương pháp tiếp cận các đối tượng nghiên cứu để hỏi và nghe họ trả lời về vấn đề nhà nghiên cứu quan tâm Trong phương pháp này chúng tôi đã tiến hành hỏi khá kỹ về những vấn đề khác nhau, có khi phải hỏi nhiều lần, vào những nơi hoặc thời điểm khác nhau Các đối tượng nghiên cứu mà chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu tại địa bàn chia thành 2 đối tượng: các cơ quan quản lý trực tiếp và cư dân địa phương (chủ yếu) Về phía các cơ quan quản lý: chúng tôi trực tiếp hỏi cán bộ quản lý từ cấp
Trang 22địa phương đến cấp tỉnh Về phía cư dân, chúng tôi đã có những cuộc tiếp xúc, phỏng vấn sâu hơn 40 người về những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn hồi cố (Oral history):
Là phương pháp phỏng vấn lịch sử theo lời kể Nó thể hiện những trải nghiệm, bộc lộ những cảm nhận mà cá nhân từng sống qua và họ kể lại Áp dụng phương pháp
này, chúng tôi đã nghiên cứu từ lời kể (narrative research) của một số người sinh sống
lâu đời để tìm hiểu về cuộc sống, những sự kiện diễn ra trên đảo xưa và nay
Chúng tôi đã có 4 đợt khảo sát thực tế tại đảo Hòn Tre và thực hiện phỏng vấn sâu, phỏng vấn hồi cố tại các khóm đảo có cư dân sinh sống ở Hòn Tre (Bích Đầm, Đầm Bấy, Vũng Ngán) về những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm 43 biên bản gỡ băng và trên 100 tấm ảnh minh họa
- Phương pháp quan sát tham dự (Participant and observation):
Trong phương pháp này, người nghiên cứu phải tham gia trực tiếp vào trong đời sống cộng đồng mà mình khảo sát, cùng dấn thân để thấu hiểu đối tượng nghiên cứu Trên cơ sở những ghi chép về các hoạt động này, người nghiên cứu tổng hợp thành nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu
Áp dụng phương pháp này, chúng tôi tiến hành trực tiếp quan sát tham dự vùng đảo Hòn Tre để thu thập thông tin.Trong chừng mực những điều kiện cho phép, chúng tôi đã tổ chức đến cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với người dân Chúng tôi đã quan sát, tham dự một số hoạt động của cư dân địa phương ở các làng Bích Đầm, Vũng Ngán, Đầm Bấy… như: cùng những ngư dân đi ghe ra khơi để tìm hiểu việc đánh bắt; cùng thức đêm để đón ghe cá về; cùng lội trong bùn để bắt nghêu, sò; cùng tham dự các lễ hội của ngư dân và các hoạt động sinh hoạt kinh tế, xã hội khác của cư dân
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành (Inter-disciplinary)
Phương pháp nghiên cứu liên ngành giúp liên kết sự đa dạng của những hiện tượng văn hóa vốn được các ngành khoa học khác nghiên cứu một cách biệt lập, tổng hợp kết quả nghiên cứu của các ngành khoa học khác nhau nhằm giải thích một cách toàn diện bản chất của văn hóa, nghiên cứu có hiệu quả các biểu hiện đa dạng, đa chiều kích của văn hóa Nó giúp cho việc tích hợp kiến thức từ các ngành khoa học khác nhau để xử lý một cách toàn diện và đồng bộ các hiện tượng thuộc về đời sống văn hóa của cư dân
Trang 23Trong phương pháp nghiên cứu liên ngành áp dụng vào luận văn, chúng tôi lấy Văn hóa học là ngành chính, cùng các ngành khác là Nhân học, Địa lý, Lịch sử… dưới góc nhìn Văn hóa học để tiếp cận, giải quyết vấn đề
Để thực hiện luận văn, chúng tôi tiến hành tập hợp tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau Trước hết là tham khảo các tài liệu lý luận của ngành Văn hóa học và nguồn tài liệu của các học giả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài đã được công bố Các niên giám, số liệu thống kê, tài liệu (sách báo) liên quan đến đề tài từ các thư viện, trang web Từ đó chúng tôi chọn lọc để sử dụng làm minh chứng trong luận văn Ngoài ra, đề tài còn sử dụng nguồn tư liệu từ những quan sát thực tế và thực tiễn cuộc sống của cư dân nơi đây trong quá trình điền dã
sử và cộng đồng cư dân đảo Hòn Tre
+ Chương 2: Đời sống văn hóa vật chất của cư dân đảo Hòn Tre Trên cơ sở lý luận của chương một, chương hai sẽ đi vào nghiên cứu đời sống văn hóa vật chất của cư dân đảo Hòn Tre Trong chương khảo sát phương tiện và công cụ đánh bắt cũng như nuôi trồng thủy hải sản, khai thác và nuôi trồng yến sào, nghề tiểu thủ công, hoạt động
du lịch biển, văn hóa ẩm thực biển và phương tiện vận chuyển
+ Chương 3: Đời sống văn hóa tinh thần của cư dân đảo Hòn Tre Chương ba nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần của cư dân đảo Hòn Tre với 5 hoạt động chính yếu:
hoạt động tín ngưỡng tôn giáo và lễ hội, phong tục tập quán, văn hóa - nghệ thuật và tri thức bản địa
- Kết luận
- Phụ lục
+ Phụ lục 1: Biên bản phỏng vấn sâu
+ Phụ lục 2: Hình ảnh
Trang 24CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐẢO HÒN TRE, THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÕA
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm đời sống văn hóa
Tương tự như định nghĩa về văn hóa, cho đến nay đã có nhiều cách định nghĩa
về đời sống văn hóa Nội hàm của định nghĩa này được xác định tùy theo cách tiếp cận
mà mỗi nhà nghiên cứu áp dụng
Khi nêu vấn đề xã hội hóa văn hóa ở nước ta thời gian qua, Huỳnh Quốc Thắng
đã có quan điểm về đời sống văn hóa như sau: “Đời sống văn hóa được xem là “mặt cắt ngang” của đời sống xã hội bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động mà mỗi lĩnh vực như thế đều “cần” và “phải” có “chất” văn hóa Cái “cần” cái “phải” đó cũng chính là những yêu cầu tất yếu, khách quan của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới, con người mới, chế độ mới ở nước ta ” [Huỳnh Quốc Thắng 2005: 1]
Đời sống văn hóa chính là toàn bộ cách thức mà con người thỏa mãn sáu hệ thống nhu cầu cơ bản (nhu cầu kinh tế, chính trị, xã hội hóa, lưu truyền huyết thống, tín ngưỡng và giải trí)
Đề cập đời sống văn hóa ở cơ sở, Phạm Đình Đảng quan niệm: “Đời sống văn hóa là toàn thể các hoạt động sống của con người nhằm làm thỏa mãn nhu cầu văn hóa, hướng con người đến các giá trị chân – thiện – mỹ, con người nhân văn”2
Hà Văn Tăng cho rằng: “Đời sống văn hóa là tất cả nội dung và cách thức, hình thức hoạt động văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và phát triển của con người trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Đó cũng là quá trình hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa vì sự phát triển của con người và cộng đồng Đời sống văn hóa ở ngay trong cuộc sống hằng ngày, trong mỗi con người, mỗi gia đình và cộng đồng nhất định”3
Trang 25X.A.Tokarev phân chia văn hóa thành hai thành tố vật chất, tinh thần và xã hội hay vật chất và tinh thần Tuy nhiên việc phân chia này chỉ có ý nghĩa tương đối vì giữa các thành tố này không thể có sự phân chia ranh giới rạch ròi mà thành tố này là tiền đề, là hình thức tồn tại của thành tố kia, chúng bổ sung và có mối liên hệ hỗ tương
lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau để tạo thành tổng thể văn hóa tộc người Muốn
hiểu văn hóa của một dân tộc, một cộng đồng cư dân nào cần phải tìm hiểu văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần (bao gồm văn hóa xã hội)4
Văn hóa vật chất là tổng hòa tất cả sản phẩm vật chất, hữu hình do lao động sáng tạo của con người tạo nên trong một xã hội nhất định, ví dụ: công cụ sản xuất, ẩm thực, phương tiện di chuyển…
Văn hóa tinh thần hội tụ những khía cạnh thuộc về lĩnh vực học thuật, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán, văn học, nghệ thuật…
Sơ đồ 1.1 Tổng thể văn hóa tộc người của X.A.Tokarev
(Vẽ sơ đồ: Phan Thị Yến Tuyết, 2012)
E.S.Markarian phân chia văn hóa thành hai bộ phận, bộ phận thứ nhất gồm văn hóa sản xuất ban đầu và văn hóa đảm bảo đời sống (tương đồng với văn hóa vật chất)
và bộ phận thứ hai gồm văn hóa định chuẩn xã hội và văn hóa nhân văn (tương đồng với văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội) Giữa hai bộ phận và các thành tố trong hai bộ phận ấy đều có mối quan hệ hỗ tương tác động qua lại lẫn nhau, không thể phân chia rạch ròi5
Văn hóa sản xuất ban đầu Văn hóa định chuẩn xã hội
Văn hóa đảm bảo đời sống Văn hóa nhân văn
Sơ đồ 2.2 Tổng thể văn hóa tộc người của E.S.Markarian
(Vẽ sơ đồ: Phan Thị Yến Tuyết, 2012)
4 Nhiều tác giả 2013: Nhân học đại cương Nxb Đại học quốc gia Tp.Hồ Chí Minh, tr.169
5
Phan Thị Yến Tuyết 2012: Giáo trình điện tử Văn hóa đảm bảo đời sống Khoa Việt Nam học, trường Đại học
KHXH & NV, Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh
Trang 26Có thể hiểu rằng, đời sống văn hóa bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động văn hóa trong đời sống con người Đời sống là trung tâm, là nơi biểu hiện những giá trị văn hóa đặc trưng của mỗi nền văn hóa Đời sống thể hiện từ cách thức làm ăn, sinh hoạt vật chất (ăn, ở, mặc, đi lại ), sinh hoạt tinh thần (học tập, vui chơi giải trí, tín ngưỡng ), giao tiếp xã hội Như vậy, đời sống văn hóa tựu trung được thể hiện qua đời sống văn hóa vật chất, đời sống văn hóa tinh thần của con người Đời sống văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo các sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người
Trải qua thời gian dài hình thành và phát triển, các đảo ở nước ta đã tạo nên cho mình một diện mạo văn hóa đặc trưng so với các làng trên đất liền Tuy nhiên cho đến nay, chưa có nhiều quan điểm cụ thể đề cập về đời sống văn hóa của cư dân đảo
Một cách khái quát, đời sống văn hóa của cư dân ở đảo do chính cư dân – vừa đóng vai trò là người sáng tạo, vừa là người thụ hưởng các giá trị văn hóa đó Nó bao hàm mọi sáng tạo mà chính họ đã tạo nên để thích ứng với môi trường sống đặc biệt của mình Theo cách phân loại ở trên gồm hai thành tố: đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần Nghiên cứu đời sống văn hóa của cư dân đảo Hòn Tre phải tìm hiểu toàn bộ tổng thể văn hóa tộc người Tuy nhiên, do khuôn khổ bài viết có hạn nên không thể trình bày hết các vấn đề về đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần Vì vậy, chúng tôi tập trung vào các yếu tố văn hóa nổi bật sau:
Đời sống văn hóa vật chất thể hiện qua hoạt động phương tiện đi lại, phương tiện và công cụ đánh bắt thủy sản, nuôi trồng thủy hải sản, tiểu thủ công nghiệp, ẩm thực
Đời sống văn hóa tinh thần thể hiện qua hoạt động tín ngưỡng tôn giáo và lễ hội, phong tục tập quán, văn hóa nghệ thuật, tri thức bản địa
Nghiên cứu đời sống văn hóa vật chất và tinh thần không chỉ tập trung trở về quá khứ, những yếu tố cổ truyền mà còn cả những yếu tố hiện đại tiếp nối trên nền văn hóa truyền thống để thấy được những sắc thái mới nảy sinh trên nền văn hóa cũ
Trang 27Những yếu tố văn hóa này phản ảnh sự thích nghi với thiên nhiên, môi trường sinh thái cũng như phản ánh sự giao lưu tiếp biến văn hóa giữa các dân tộc
Tuy nhiên việc phân chia này chỉ mang tính chất tương đối, các thành tố cấu thành nền văn hóa nói chung và văn hóa đảo nói riêng bao giờ cũng có sự đan xen lẫn nhau Giữa văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần luôn có mối quan hệ hỗ tương, tác động qua lại đa chiều – thể hiện tổng thể văn hóa của tộc người
Sơ đồ 1.3 Những vấn đề nghiên cứu về đời sống văn hóa
của cư dân đảo Hòn Tre
(Vẽ sơ đồ: Trương Thị Quốc Ánh, tháng 4 - 2014) 1.1.2 Lý thuyết tiếp cận
Để tìm hiểu về đời sống văn hóa của cư dân trên đảo Hòn Tre, thấy được những ảnh hưởng của môi trường sinh thái trong việc hình thành đặc trưng văn hóa chúng tôi dựa trên các lý thuyết sau:
* Sinh thái văn hóa (Cultural ecology)
Việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên của mỗi tộc người đều liên quan chặt chẽ với đặc điểm địa lý từng vùng Con người đã biết dựa vào điều kiện tự nhiên để sinh tồn và phát triển Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên luôn là lĩnh vực nghiên cứu không thể bỏ qua Việc tìm hiểu và lý giải giữa văn hóa với môi trường sinh thái trong quá trình phát triển xã hội của con người dựa trên lý thuyết nhân học sinh thái là cách
Văn hóa tinh thần
Trang 28tiếp cận quan trọng trong công trình nghiên cứu Môi trường sinh thái dù có tốt hay xấu đều tác động đến khả năng thích ứng của con người, tạo nên một đặc trưng văn hóa vùng miền Với khả năng thích ứng của hệ sinh thái, con người có thể làm thay đổi
hệ sinh thái tự nhiên
Julian Steward (1902 – 1972) cho rằng: “Nhân học sinh thái là sự tương tác
giữa tự nhiên và văn hóa Nghiên cứu sinh thái văn hóa là phân tích mối quan hệ giữa
một nền văn hóa và môi trường của nó Mục đích là để tìm hiểu những biến đổi xã hội bên trong mang tính chất tiến hóa bắt đầu từ sự thích nghi với môi trường để biến thành một nền văn hóa Vận dụng lý thuyết này để nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa với môi trường, trong đó thể hiện sự tương tác của môi trường văn hóa và sự tác động ngược lại của văn hóa với cách con người tác động đến môi trường tự nhiên” [Bộ
Sinh thái văn hóa là quá trình một tộc người thích nghi với môi trường tự nhiên xung quanh, cùng với môi trường xã hội Sinh thái văn hóa của một tộc người còn là
sự nhận thức về thế giới quan, phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt, cấu trúc
xã hội, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán Trong đó con người phải thích nghi với môi trường sinh thái tự nhiên, bao gồm đất đai, sông suối, ao hồ, rừng rậm, biển cả cùng với hệ thống động thực vật, điều kiện khí hậu và các nguồn tài nguyên tự nhiên khác Thông qua sự nhận thức hợp lý về môi trường sinh thái tự nhiên, con người quyết định phương thức sản xuất và lựa chọn hình thức cư trú, hành vi ứng xử
và khế ước nhất định với thế giới tự nhiên [Phan Thị Yến Tuyết 2010: 32]
Nhà nhân học Mỹ Emilio F Moran chỉ ra phương pháp nghiên cứu nhân học sinh thái là giải quyết vấn đề con người với môi trường tự nhiên trên phạm vi rộng, định chế xã hội và cách thức giải quyết vấn đề môi trường trước đây, không chỉ nghiên
6
Trang 29cứu cơ chế “thích ứng”7
của con người với môi trường mà còn dùng những nghiên cứu
định tính để trả lời những vấn đề: “Con người làm thế nào để điều tiết bản thân thích ứng với sự biến đổi môi trường”8
Chúng tôi vận dụng lý thuyết sinh thái văn hóa để tìm hiểu sự thích nghi, thích ứng của cộng đồng cư dân trong môi trường sinh thái tự nhiên đảo Hòn Tre, thành phố Nha Trang cũng như việc sáng tạo nên những sắc thái văn hóa đặc trưng
* Lý thuyết chức năng (Functionalism)
Lý thuyết chức năng chủ yếu nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định Thuyết chức năng xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XX, gắn liền với tên tuổi của Bronislaw Malinowski (1884-1942) và Arthur Reginald Radcliffe-Brown (1881-1995) Quan điểm của hai ông là không xem những tập tục của các xã hội có quy mô nhỏ như
là tàn dư của một thời kì trước đó, mà phải giải thích theo chức năng hiện thời của chúng
B.Malinowski thuộc chức năng về tâm lý, cho rằng chức năng của các tập tục là
để thỏa mãn những nhu cầu sinh học chủ yếu của cá nhân thông qua phương tiện văn hóa Theo ông, để giải thích các tập tục phải dựa vào chức năng hiện có của chúng và điều này sẽ làm cho việc kiểm chứng được dễ dàng và khoa học hơn Ông đưa ra ví dụ người dân đảo Trobriand, trong những trường hợp được xem là nguy hiểm như khi đóng thuyền đi biển, trong quá trình hoàn tất chiếc thuyền, người thợ thường đọc những “thần chú” hoặc khi đi đánh bắt ngoài biển khơi, họ luôn thực hiện những nghi
lễ “bùa phép” Giải thích cho hai trường hợp này, B.Malinowski cho rằng, việc “đọc thần chú” và “làm bùa phép” là nhằm trấn an tâm lý của con người, giúp cho người thợ
có sự tự tin để hoàn thành con thuyền và người đánh cá sẽ an tâm hơn khi đối mặt với biển cả Do đó, những tập tục xuất hiện trong đời sống cộng đồng đều gắn liền với một
Emilio F Moran (2000): Tính thích ứng của con người – Dẫn luận nhân học sinh thái (Human Adaptability:
An introduction to ecological Anthropology)
Trang 30chức năng nào đó vào mặt tâm lý của con người và những tập tục xuất hiện theo nguyên tắc của nó9
Theo B.Malinowski, môi trường xã hội càng bất trắc, nguy hiểm thì con người càng cần đến bùa chú, cúng kiếng Chức năng tâm lý của tôn giáo là làm dịu đi lo lắng
về những điều nguy hiểm trong đời sống mà con người thường phải đối mặt Khi cuộc sống con người còn khó khăn, nhiều hiện tượng thiên nhiên chưa lý giải được, trình độ khoa học kỹ thuật hạn chế thì họ càng tin rằng cúng kiếng sẽ giúp ngăn ngừa các thế lực đe dọa cuộc sống của mình Khác với B.Malinowski, Radcliffe-Brown quan tâm đến chức năng văn hóa theo hướng cấu trúc, khi ông cho rằng chức năng của mỗi tập tục là vai trò mà nó nắm giữ trong việc duy trì sự toàn vẹn của hệ thống xã hội Bất kỳ một hệ thống nào cũng được xác định bằng các đơn vị (yếu tố) cấu thành nó và các quan hệ giữa chúng Do đó, chức năng của một tập tục là sự đóng góp của nó vào đời sống liên tục của “cơ chế xã hội” Radcliffe-Brown định nghĩa sự thống nhất chức năng là “một tình trạng trong đó tất cả mọi thành phần của một hệ thống xã hội cùng làm việc với nhau ở một mức độ hài hòa hoặc thống nhất nội bộ (để tiếp tục như một
hệ thống), tức là không tạo ra những xung đột kéo dài mà không giải quyết hoặc điều chỉnh được” [Robert, Layton 1997: 37] Ông cũng nhận định khi cơ cấu của một cơ thể động vật hiển thị một cách trực tiếp thì cơ cấu xã hội không thể thấy trực tiếp được mà phải suy luận từ việc quan sát những điều lặp đi lặp lại trong các hành động của những người tham dự Theo ông, trong một hệ thống xã hội, một tập tục hay thể chế có thể được thay thế bởi một cái khác mà chính hệ thống xã hội không bị tan vỡ Các xã hội
có thể thay đổi theo cách mà các cơ thể động vật thường không thay đổi được [A.R.Radcliffe-Brown (Đinh Hồng Phúc dịch), 2010]10
Trong đề tài luận văn này, chúng tôi vận dụng thuyết chức năng vì nó có giá trị dùng để giải thích cho nhu cầu thực hiện các nghi lễ, phong tục và chức năng của mỗi nghi lễ trong đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng cư dân tại đảo Hòn Tre
Trang 31Tóm lại, khi nghiên cứu về đời sống văn hóa của cư dân đảo Hòn Tre là nghiên cứu cách thích nghi và ứng phó, bảo vệ và nuôi dưỡng môi trường sống của họ như thế nào Để thực hiện các chức năng khai thác hay ứng phó ấy họ có những thiết chế xã hội, những cấu trúc ra sao Qua quá trình sinh sống và ứng xử với môi trường sống của mình, họ có sự ảnh hưởng hay giao lưu văn hóa, sự chấp nhận, biến đổi văn hóa Với những biển đổi của điều kiện tự nhiên hiện nay thì họ có sự thay đổi ra sao trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên nói chung, biển nói riêng Trong quá trình nghiên cứu,
hệ thống lý thuyết trên cùng các phương pháp ứng dụng giúp chúng tôi tìm hiểu đời sống văn hóa của cư dân đảo Hòn Tre
1.2 Khái quát đảo Hòn Tre
1.2.1 Địa lý, tự nhiên đảo Hòn Tre
Khánh Hòa là một tỉnh ven biển Nam Trung Bộ Việt Nam Đặc điểm địa hình Khánh Hòa đa dạng gồm vùng núi bán sơn địa, đồng bằng duyên hải, sông, biển, đảo
và quần đảo nên có thể nói Khánh Hòa là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam với
“những đặc trưng của văn hóa rừng núi, văn hóa đồng bằng và văn hóa biển đảo, vừa
có nét chung của nền văn hóa Việt Nam, vừa mang bản sắc riêng biệt, độc đáo của một vùng đất” [Nguyễn Văn Khánh 2002: 6, tập 4]
Khánh Hòa có đường bờ biển dài 385km (chưa kể các đảo ở quần đảo Trường Sa), vùng thềm lục địa phản ánh sự tiếp nối của cấu trúc địa hình trên đất liền Do núi lấn ra biển nên đây là nơi đất liền vươn ra biển Đông xa nhất của Tổ quốc và rất gần với vùng nước đại dương Các nhánh núi Trường Sơn đâm ra biển trong quá khứ địa chất như dãy Phước Hà Sơn, núi Hòn Khô, dãy Hoàng Ngưu không chỉ dừng lại ở bờ biển để tạo thành các mũi Hòn Thị, mũi Khe Gà (Con Rùa), mũi Đông Ba mà còn tiếp tục phát triển rất xa về phía biển mà ngày nay đã bị nước biển phủ kín Vì vậy, dưới đáy biển phần thềm lục địa cũng có những dãy núi ngầm mà các đỉnh cao của nó nhô lên khỏi mặt nước hình thành các hòn đảo như hòn Tre, hòn Miễu, hòn Mun Xen giữa các đảo nổi, đảo ngầm là những vùng trũng tương đối bằng phẳng gọi là các đồng bằng biển, đó chính là đáy các vũng, vịnh như vịnh Vân Phong, vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh Biển nơi đây kết hợp các dòng hải lưu nóng lạnh thích hợp cho sự phát triển của các loài thực vật, sinh vật phù du, trở thành nguồn thức ăn dồi dào, hấp dẫn các loài cá khơi tới sát vùng bờ Với điều kiện có bóng núi và giàu thức ăn như vậy,
Trang 32Khánh Hòa chính là địa điểm lý tưởng cho các đàn cá tập trung và cũng là nơi thích hợp cho hoạt động đánh bắt đặc biệt là nghề đầm đăng [Hội văn nghệ dân gian Việt Nam 2012: 13]
Sơ đồ 1.4 Vịnh Nha Trang
(Nguồn: http://www.dulichnhatrang.net/ban-do-du-lich-nha-trang/)
Đảo Hòn Tre được cư dân địa phương cho rằng tên đúng phải là Hòn Che bởi đảo có vị trí án ngữ dông bão, che chắn cho thành phố Nha Trang [Theo lời ông VVL,
Trang 33trong 19 hòn đảo nằm trong vịnh Nha Trang Vịnh Nha Trang có tọa độ địa lý trong khoảng từ 12013’ - 12032’ vĩ độ Bắc, 109018’- 109037’ kinh độ Đông; diện tích 507
km2 Trong vịnh, Hòn Tre là đảo lớn nhất, diện tích 3.250 ha, cách thành phố Nha Trang 5 km về phía Đông và cách cảng Cầu Đá 3,5 km Cư dân sinh sống chủ yếu là ngư dân và khách du lịch Các khóm đảo có cư dân sinh sống gồm: Bãi Trũ - Vũng
Me, Vũng Ngán, Đầm Bấy, Bích Đầm; các khu du lịch lớn là Vinpearl land, Con Sẻ tre và Đầm Bấy [Ban Quản lý khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, 2002]
Bản đồ 1.1 Các khóm đảo có dân cư sinh sống trên đảo Hòn Tre
(Nguồn: Ban quản lý KBTB vịnh Nha Trang 2002)
Đáy biển khu vực đảo hòn Tre nhiều cát hơn bùn, nước trong, nằm trong vịnh kín gió và liền kề nhiều đảo khác của vịnh Nha Trang nên có vị trí thích hợp cho hoạt động du lịch cũng như đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Các bãi tắm trên đảo (Bãi Trũ, Đầm Bấy, Bãi Rạn ) sóng thường không lớn vì hướng về đất liền, phía sau là núi Đàm Mông cao 482m như bức tường thành sừng sững ngăn sóng gió đại dương [Ban quản lý khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, 2002]
Cũng như các đảo khác trong vịnh Nha Trang, đảo Hòn Tre có khí hậu hai mùa
rõ rệt: mùa khô, ít gió kéo dài từ tháng giêng đến tháng 8 và mùa mưa, gió nhiều từ tháng 9 đến tháng 12 Đảo có nhiệt độ tương đối cao và ổn định, tháng nóng nhất thường vào tháng 6, nhiệt độ bình quân hàng năm là 260C, nóng nhất 390C, lạnh nhất
Trang 3414,40C Mùa mưa thường không ổn định; bắt đầu và kết thúc sớm hơn 1 tháng (từ tháng 9 đến tháng 12) so với các tỉnh miền Trung từ đèo Cả trở ra [Nhiều tác giả 2003: 36]
Về chế độ gió, Hòn Tre ít gió mạnh Một số dạng gió đặc trưng như gió đất, gió biển Gió đất thổi từ nửa đêm đến 10 giờ sáng, theo hướng Tây hoặc Tây Bắc; gió biển thổi từ 11 giờ đến 16 giờ Gió đất, gió biển có tác dụng điều hòa thời tiết ven biển làm ban đêm mát mẻ, ban ngày đỡ nóng Dân địa phương lợi dụng gió đất, gió biển để căng buồm đi đánh cá [Nhiều tác giả 2003: 39]
Về mặt sinh thái, Hòn Tre nói riêng và vịnh Nha Trang nói chung là một trong những hình mẫu tự nhiên hiếm có của hệ thống đảo, vũng, vịnh bởi nơi đây có hầu hết các hệ sinh thái điển hình, quý hiếm của vùng biển nhiệt đới Hòn Tre thuộc hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, có hệ sinh thái đảo biển,
hệ sinh thái bãi cát ven bờ với nhiều chức năng sinh thái quý giá như bảo vệ môi trường, là nơi cư trú sinh sản của các thủy sinh vật; là giá đỡ và kè biển tự nhiên phòng chống bão lũ, xói lỡ, bồi tụ đường bờ [Nhiều tác giả 2003: 48]
Hệ thực vật ở Hòn Tre cũng rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này do tập trung tìm hiểu về biển nên tác giả chỉ giới thiệu về hệ sinh thái rừng ngập mặn và thảm cỏ biển nơi đây
Trong 9 đảo (hòn Miễu, hòn Tằm, hòn Một, hòn Mun, hòn Rơm, hòn Nọc, hòn Tre, hòn Vung, hòn Cau) thuộc Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang thì chỉ Hòn Tre là đảo có rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn là thuật ngữ mô tả hệ sinh thái thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, được tạo thành trên các thực vật vùng triều với tổ hợp động thực vật đặc trưng Hiện nay, diện tích rừng ngập mặn trên đảo hòn Tre đã bị thu hẹp nhanh chóng
từ khoảng 500 ha ở cuối năm 1990 xuống còn khoảng 20 ha sau năm 1999 Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang cũng đã khôi phục lại 5 ha rừng ngập mặn ở Đầm Bấy gồm các loài: Rhizophora mucroata, Avicenia officinalis và Lumnitzera racemosa [Ban quản lý khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, 2002]
Mặc dù diện tích rừng ngập mặn chỉ chiếm diện tích nhỏ trong vịnh, song nó đóng vai trò vô cùng quan trọng trong vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học và sinh thái
Trang 35biển ở vịnh Nha Trang Rừng ngập mặn có vai trò sống còn trong việc nuôi sống và trong chu trình sống của nhiều loài thủy sản có giá trị
Cỏ biển là nhóm thực vật có hoa, sống dưới nước vùng nhiệt đới và ôn đới Chúng phát triển mạnh ở vùng nước nông, có khả năng thích nghi với môi trường nước mặn, chịu được sóng gió và có khả năng hấp thụ phấn nhờ nước Các thảm cỏ biển bao phủ một số vùng rộng lớn ở dải ven bờ với nhiều chức năng sinh lý – sinh học và tạo nên một hệ sinh thái đặc thù Đây là nơi kiếm ăn và sinh sống quan trọng cho nhiều loài động vật Tại Hòn Tre, cỏ biển phát triển mạnh nhất trên các lớp cát bùn quanh đảo Ngoài ra, vịnh Nha Trang nói chung và đảo Hòn Tre nói riêng còn là nơi tập trung nhiều loài tảo biển và các thực vật phù du [Ban quản lý khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, 2002]
Tính đa dạng của hệ động vật ở đây cũng rất cao Các nhà khoa học đã phát hiện được trên 26 loài cá có giá trị thương mại, trên 200 loài cá sống ở đáy, 30 loài cá sống nổi ven bờ, 33 loài cá sống ở cửa sông và 220 loài cá sống ở các rạn san hô quanh đảo hòn Mun Trong đó, hệ sinh thái rạn san hô có giá trị nhất [Dẫn theo Nguyễn Văn Hoàng 2007: 35]
Rạn san hô cứng có khoảng 350 loài đã được phát hiện trong vịnh Nha Trang (chiếm hơn 40% các loài san hô tạo rạn trên thế giới), ghi nhận trên 100 loài mới trong
đó 40 loài mới đối với Việt Nam Mặc dù hệ sinh thái rạn san hô rất đa dạng nhưng diện tích phân bố của chúng tương đối nhỏ Ở Hòn Tre, san hô chỉ phân bố ở phía Đông Bắc đảo và ở một số đảo khác như: Hòn Mun, Hòn Vung và Hòn Cau Đa số các rạn san hô ở bãi biển Nam Hòn Tre đã bị hủy hoại nghiêm trọng qua nhiều thập kỷ trước bởi việc đánh bắt bằng chất độc, thuốc nổ và hệ thống sông suối đổ ra biển, các dòng nước lạnh bị xáo trộn cục bộ, do bão biển và các quá trình sinh học khác [Ban quản lý khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, 2002]
Như vậy, có thể thấy rằng với những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho hoạt động ngư nghiệp mà đảo Hòn Tre từ xa xưa đã thu hút cư dân đến sinh sống và lập nghiệp Trải qua thời gian, xóm làng ngày một phát triển và họ đã cùng nhau xây dựng nên văn hóa riêng của cư dân vùng biển Nha Trang, Khánh Hòa Bên cạnh đó, những đặc điểm
về địa hình (vũng, đầm, gành đảo ) cũng như khí hậu và thời tiết cũng ảnh hưởng đến tập quán nghề nghiệp của người dân nơi đây, đặc biển là nghề đi biển, đánh cá
Trang 361.2.2 Lịch sử đảo Hòn Tre
Giai đoạn buổi đầu khai hoang (trước 1653), với một vùng đất không rộng lắm, điều kiện tự nhiên phong phú thuận lợi cho phát triển các hoạt động về ngư nghiệp, các nhóm người cổ đã sớm có mặt và sinh sống ở Hòn Tre trong một khoảng thời gian dài Các nhà khảo cổ đã phát hiện ra nhiều công cụ bằng đá tại Hòn Tre [Nguyễn Công Bằng 2000: 10]
Sang thời đại kim khí, ở Khánh Hòa đã phát hiện nền văn hóa Xóm Cồn, có niên đại khoảng 4.000 năm cách ngày nay và có trước nền văn hóa Sa Huỳnh Năm
1989, trong cuộc khai quật do Viện khảo cổ học phối hợp với Bảo tàng Khánh Hòa tại Bích Đầm, các nhà khoa học đã tiến hành khai quật và phát hiện hàng ngàn phiên bản gốm có hoa văn và không có hoa văn, hàng chục rìu đá các loại cùng nhiều đồ trang sức bằng đá, vỏ ốc,… Về khảo cổ học, các di chỉ này thuộc nền văn hóa Xóm Cồn Do
đó, khác với khu vực Bắc Bộ và Nam Bộ, dường như đã có sự chiếm lĩnh “ngược” đồng bằng của những người cổ trong khu vực Nam Trung Bộ “Các cư dân thời kỳ trước quen sống trong các cồn cát hay bãi thềm ven biển đã tiến dần dần vào các miền đồng bằng đang được bồi đắp sau lưng để bổ sung cho mình các thứ cần thiết mà biển không thể cho họ là lương thực và rau xanh Nó thể hiện ở việc phát hiện một số lượng lớn di tích khảo cổ có niên đại muộn ở trong vùng đồng bằng mới được bồi tụ” [Nguyễn Quang Miên 2009, dẫn theo Trần Quý Thịnh, Nguyễn Ngọc Quý 2012: 104]
Nằm trong địa bàn phân bố của nền văn hóa Sa Huỳnh, Khánh Hòa có nhiều di tích khảo cổ học: Diên Sơn (huyện Diên Khánh), Bình Tân, Hòn Tre (thành phố Nha Trang), Ninh Thân, Hòn Thị (huyện Ninh Hòa) Các nhóm người cổ nêu trên dù sống trên đất liền hay trên đảo đều chọn những nơi kín gió, có nguồn nước ngọt, là nơi tập trung các hệ động thực vật phong phú thuận lợi cho cuộc sống Với khối lượng các loại
ốc biển thu được trong các di chỉ cho thấy đời sống kinh tế của cư dân nơi đây dựa vào
tự nhiên là chủ yếu Với lịch sử cả ngàn năm của các nhóm cư dân cổ nói trên chắc chắn tài liệu khảo cổ học về nền văn hóa của họ có những đóng góp quan trọng cho diễn trình văn hóa, lịch sử trong giai đoạn về sau, cụ thể là nền văn hóa Chăm pa [Nguyễn Công Bằng 2000: 20]
Theo thư tịch cổ, khoảng thế kỷ 2-3 sau CN đến giữa thế kỷ XVII, vùng đất
Trang 37thánh đô của vương quốc với khu đền tháp thờ Bà Mẹ Xứ Sở đáng kính của dân tộc Chăm: Nữ thần Pô Inư Negara, được gọi là Tháp Bà Ponagar [Nguyễn Văn Khánh 2002: 7]
Từ đời Hậu Lê trở về trước, vùng đảo Hòn Tre là lãnh thổ của người Chăm Ở Bãi Suốt qua Đầm Già (Hòn Tre) còn thành quách Chăm Chợ cây Xoài ở Vũng Ngán còn có tên gọi là chợ Bảy Xã (có lẽ 7 xóm dân ngày nay là: Vũng Me, Bãi Trũ, Vũng Ngán, Hòn Một, Đầm Bấy, Đầm Tre, Bích Đầm) [Nguyễn Âu Hồng 1999: 281]
Từ giữa thế kỷ XVII, vùng đất Khánh Hòa ngày nay trở thành một phần lãnh thổ nước ta Chính sử11
chép: “Năm Quý Tỵ thứ 5 (1653) đời chúa Nguyễn Phúc Tần, vua nước Chiêm Thành là Bà Tấm12
xâm lấn đất Phú Yên Phúc Tần sai cai cơ Hùng Lộc (không rõ họ) làm thống binh, sai Minh Võ (không rõ họ) làm tham mưu, đem 3.000 quân đi đánh Nhân đêm, quân bất ngờ vượt qua đèo Hồ Dương núi Thạch Bi thẳng đến trại Bà Tấm phóng lửa đốt phá Bà Tấm thua chạy, sai con là Xác Bà Ân nộp lễ xin hàng Phúc Tần chia địa giới từ phía Tây sông Phan Rang trở vào Nam vẫn
là đất Chiêm Thành, phần đất từ phía Đông sông Phan Rang đến địa giới Phú Yên đặt làm 2 dinh là Thái Khang và Diên Ninh, dưới quyền cai quản của Thái Khang do Hùng Lộc trấn giữ Sự ra đời của dinh Thái Khang với tư cách là một đơn vị hành chính vào năm 1653 là cột mốc đánh dấu việc thiết lập chủ quyền của người Việt trên vùng đất này”
Kể từ thời gian này, công cuộc khai hoang lập làng của người Việt cũng bắt đầu
và được tiến hành qua nhiều giai đoạn Chúa Nguyễn đã thi hành một số chính sách khá cởi mở với nhiều ưu đãi cho những người đến định cư ở đây Mặt khác, Chúa cũng cho những người Việt giàu có chiêu mộ dân nghèo từ các tỉnh Quảng Nam đến Phú Yên vào khai khẩn đất hoang Lớp người thứ hai là những người bị tù tội, bị lưu đày, trốn thuế hoặc những người trốn tránh binh dịch trong chiến tranh Trịnh – Nguyễn Công cuộc khai hoang lập làng được xúc tiến mạnh mẽ kể từ khi chiến tranh Trịnh – Nguyễn được chấm dứt vào cuối thế kỷ XVIII [Li Tana 1999: 28]
Thực chất, cuộc di cư của người Việt từ phía Bắc vào chủ yếu là để mưu sinh hoặc để thoát khỏi ách áp bức bóc lột của dòng họ phong kiến chúa Trịnh Vì vậy,
11
Quốc sử quán Triều Nguyễn: Đại Nam thực lục tiền biên, bản dịch của Nxb Sử học, Hà Nội, 1962
12 Bà Tấm, có sách phiên là Bà Bật, tên Chăm là Pô Nư Rốp
Trang 38trong quá trình khai khẩn và định cư, cư dân Việt đã sống xen kẽ với cư dân bản địa
một cách hòa hợp, tiếp nhận văn hóa của nhau tạo thành một nền văn hóa mới; “ người Việt đã bị chi phối rất nhiều bởi phong tục của người Chàm Sống trong vòng ảnh hưởng của bùa, phép, thư, ếm rất linh ứng, người Việt tự bắt buộc phải theo các tục lệ hoặc phương thức thờ cúng của người Chiêm Thành” 13 Cùng với quá trình di
dân, khẩn hoang lập nghiệp là sự hình thành các cộng đồng làng xã Đến đầu thế kỷ XIX, ở Khánh Hòa đã xác lập được 2 phủ, 5 huyện, 18 tổng và 290 làng [Nguyễn Đình Đầu 1997: 86] Theo tài liệu này, các làng (thôn) trên đảo Hòn Tre bấy giờ thuộc địa phận tổng Xương Hà, huyện Vĩnh Xương, phủ Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa
Căn cứ theo một số tài liệu thành văn được lưu giữ tại làng và qua ký ức các cụ cao niên trong làng, chúng tôi phác họa vài nét đại cương về quá trình tụ cư, lịch sử lập làng nơi đây Một văn bản năm Gia Long thứ 7 (1809)14
ghi rằng, cụ Tổ đời thứ 2 của dòng họ là ông Trương Văn Cỏi và mẹ là Nguyễn Thị Mau quê quán ở Hưng Thạnh, Bình Định đã di cư vào sinh sống tại thôn Phường Củi tỉnh Khánh Hòa Gia đình ông sinh sống chủ yếu bằng nghề biển Khi đánh bắt tại Hòn Tre, thấy đây là địa bàn thuận lợi cho nghề đầm đăng, nên ông Cỏi đã cùng với vợ là bà Phạm Thị Vơi ra định cư tại đảo - lúc bấy giờ còn tên tục là xứ Đầm Môn Bãi Tre Đến năm Thiệu Trị thứ 6, làng mới đổi tên thành thôn Bích Đầm (thuộc tổng Xương Hà, huyện Vĩnh Xương, phủ Diên Khánh) Hiện nay, nơi này là tổ dân phố Bích Đầm, phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang [Nguyễn Viết Trung 2001: 12-13] Theo chân những vị khai canh này, cư dân làm nghề chài lưới kéo tới ngày một đông; làng xóm được hình thành Dần dần những vị khai canh ấy trở thành các vị Tiền hiền của làng Hiện tại, trong một khu vực khá rộng lớn trên góc đảo Bích Đầm về phía gần ngọn hải đăng là một khu mộ địa của dòng họ Trương, trong đó có mộ thủy tổ là ông Trương Văn Cỏi
Theo lời kể của ông TT (chủ tàu)15, hơn 3 đời cư trú tại đảo Hòn Tre kể rằng: “Làng Bích Đầm có lịch sử hình thành cách ngày nay hơn 200 năm Theo đó, vào khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, dòng họ Trương từ Tam Quan, Bình Định di cư đến Khánh Hòa Khi
13 Lê Quang Nghiêm trong Tục thờ cúng của ngư phủ lưới đăng Khánh Hòa đã đề cập đến tục thờ cúng Lỗ
Lường như một hình thức tín ngưỡng mà người Việt ở Khánh Hòa tiếp thu từ người Chăm
14 Theo tài liệu gia phả dòng họ Trương - tiền hiền làng Bích Đầm
Trang 39đến Bích Đầm, nhìn thấy đây là nơi quy tụ cá về, họ định cư và tạo ra nghề lưới đăng” [Theo lời ông TT, trích BBPV số 5]
Cụ PVT (78 tuổi), hiện cư trú tại Đầm Bấy thì kể rằng: “Thôn Bích Đầm xưa kia không ở vào
vị trí ngày nay mà ở Đầm Bấy Ở Đầm Bấy, hiện vẫn còn một địa điểm gọi là Bến Đình Đó là nơi cư dân Bích Đầm đã từng dựng đình Về sau, do nạn ông Rọ Cọp chuyên bắt người móc
cổ họng cho đến chết, làng mới dời ra vị trí ngày nay Nhưng đình làng thì xây trong Bến Đình
ở cuối đầm Khi người Pháp xây dựng ngọn hải đăng, đình làng Bích Đầm mới dời về vị trí ngày nay [Theo lời ông PVT, trích BBPV số 22]
Bích Đầm ngày nay là một làng chài ven biển, trước mặt có dãy núi Giếng Môn Ông TVB (68 tuổi – cựu quản lý đình Bích Đầm) kể rằng: “Địa danh Bích Đầm còn gọi là Đầm Bích, được hình thành do đặc thù vùng nước trong xanh nơi đây Dù mùa biển động đến đâu, nước biển lúc nào cũng xanh biếc như ngọc Đây là vùng biển nổi tiếng quy tụ nhiều cá nhất của Khánh Hòa Ngày xưa, cá về trong đầm nhiều đến nỗi từ ngọn hải đăng cao nhất trên đảo nhìn xuống có thể thấy từng luồng cá đi [Theo lời ông TVB, trích BBPV số 1]
từ Phú Yên di cư vào [Theo lời ông TT, trích BBPV số 5]
Làng chài Vũng Ngán nằm ở vũng nước tiếp giáp với đảo Hòn Tre, theo cách giải thích của ngư dân thì vùng này có nhiều loài nhuyễn thể là con Ngán Người dân nơi đây sống bằng nghề đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản nên làng có tên là làng chài Vũng Ngán [Theo lời ông HCV, trích BBPV số 28]
Trang 40Hình 1.3 Làng Đầm Bấy – đảo Hòn Tre
(Ảnh: Trương Thị Quốc Ánh, tháng 4 - 2014)
Hình 1.4 Làng Vũng Ngán – đảo Hòn Tre
(Ảnh: Trương Thị Quốc Ánh, tháng 4 - 2014)
Năm 2001, công ty Cổ phần Du lịch
Vinpearl (tiền thân là Công ty TNHH Đầu
tư Phát triển Du lịch, Thương mại và Dịch
vụ Hòn Tre) được thành lập Khu du lịch
tọa lạc tại Bãi Trũ thuộc đảo Hòn Tre Do
vậy, một số lượng lớn dân cư tại khu vực
Bãi Trũ lúc bấy giờ phải di dời tới Vũng
Me để sinh sống Hoạt động kinh doanh
chính của khu du lịch là khách sạn, khu du
lịch sinh thái, nhà hàng ăn uống, các dịch
vụ vui chơi giải trí, bán hàng bách hóa, vận chuyển hành khách, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống
Ngoài Vinpearl, trên đảo còn có khu du lịch Con Sẻ tre Khác với khu du lịch
Hòn Ngọc Việt được thiết kế theo phong cách hiện đại (đường bê tông trải nhựa, nhà
cao tầng, bể bơi, đèn cao áp cùng những dịch vụ cao cấp của khu du lịch 5 sao), Con
Sẻ tre được thiết kế theo phong cách cổ, dân dã, gần gũi với thiên nhiên Nét độc đáo ở
đây là toàn bộ hệ thống nhà cửa, nhà hàng, nhà vườn, cầu, bàn ghế, giường, cột điện đều làm bằng tre16