Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện sâu sắc về các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó quan điểm về con người là một tư tưởng nhân văn đặc sắc, là sự kế thừa
Trang 1BÙI NGUYỄN BẢO TRÂM
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC HÀNG KHÔNG
VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
TP Hồ Chí Minh, năm 2013
BÙI NGUYỄN BẢO TRÂM
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC HÀNG KHÔNG
VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
TP Hồ Chí Minh, năm 2015
Trang 2
BÙI NGUYỄN BẢO TRÂM
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC HÀNG KHÔNG
VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hà Thiên Sơn Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên của công trình khoa học này
TP Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 01 năm 2015
Tác giả
Bùi Nguyễn Bảo Trâm
Trang 4
MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 7
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 10
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 10
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 11
6 Kết cấu của đề tài 11
NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI 12
1.1 NHỮNG CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI 12
1.1.1 Cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người 12
1.1.2 Cơ sở lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người 16
1.2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ ĐẶC ĐIỂM TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI 27
1.2.1 Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người 27
1.2.2 Đặc điểm chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người 50
Kết luận chương 1 58
Trang 5Chương 2 HÀNG KHÔNG VIỆT NAM VỚI VIỆC VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI ĐỂ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI 60 2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH HÀNG KHÔNG VIỆT NAM VÀ VẤN
ĐỀ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG NGÀNH HÀNG KHỒNG 60 2.1.1 Khái quát về ngành hàng không Việt Nam 60 2.1.2 Vấn đề nguồn nhân lực trong ngành hàng không Việt Nam 71 2.1.3 Những yêu cầu về nguồn nhân lực hàng không trong thời kỳ đổi mới 82 2.2 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI ĐỂ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC HÀNG KHÔNG TRONG THỜI
KỲ ĐỔI MỚI 88 2.2.1 Phát triển nguồn nhân lực hàng không theo tư tưởng Hồ Chí Minh 88 2.2.2 Một số kiến nghị để phát triển nguồn nhân lực hàng không 97 Kết luận chương 2 116 KẾT LUẬN 118 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
Trang 6BẢNG CHỮ VIẾT TẮT CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
HKDD : Hàng không dân dụng
HKVN : Hàng không Việt Nam
HKDDVN : Hàng không dân dụng Việt Nam
IATA : Hiệp hội Hàng không thế giới
ICAO : Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế FIR : Vùng thông báo bay ở phía Nam
SkyTeam : Liên minh hàng không lớn thứ hai thế giới Vietnam Airlines : Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh – Vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam
đã đi xa nhưng để lại muôn vàn tình yêu thương cho toàn Đảng, toàn dân Người đã cống hiến trọn đời mình vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập tự do, vì hạnh phúc muôn nhà, để lại cho chúng ta một kho tàng lý luận
vô giá, trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng và cách mạng Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện sâu sắc về các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó quan điểm về con người là một tư tưởng nhân văn đặc sắc, là sự
kế thừa kết tinh những giá trị quý báu của truyền thống dân tộc, là sự vận dụng sáng tạo quan điểm Mác – Lênin về con người vào điều kiện lịch
sử cụ thể của nước ta Thực tế lịch sử cho thấy, mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với việc phát huy có hiệu quả sức mạnh toàn diện của nguồn lực con người
Sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đang đi vào chiều sâu Nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn cấp thiết đang đặt ra đòi hỏi các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau phải nghiên cứu và giải quyết, trong đó có vấn đề thiết kế và xây dựng chiến lược về con người thật sự khoa học, phù hợp với hoàn cảnh nước ta, nhằm phục vụ cho việc phát triển nhanh và bền vững của đất nước Đây là công việc rất khó khăn, phức tạp, muốn hoàn thành nó trước hết phải có những định hướng đúng Trong thực tế, tư tưởng của Hồ Chí Minh về con người đã, đang và sẽ cho chúng ta những chỉ dẫn quý báu, sáng suốt để xây dựng thành công chiến lược con người nhằm đào tạo cho đất nước những con người mới, đủ tài, đức, sức khỏe, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội Do
đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn coi vấn đề
Trang 8con người là mục tiêu thiêng liêng, cao cả nhất, là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển kinh tế và bảo đảm quốc phòng –
an ninh
“Chủ động hội nhập quốc tế” là chủ trương sáng suốt và đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trước đòi hỏi tất yếu và cấp bách của toàn cầu hóa, quốc tế hóa ngày càng mạnh mẽ - quá trình này đang chi phối toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội của toàn thế giới Với bước đi quan trọng trong quá trình hội nhập quốc tế đã được chỉ đạo kịp thời và chặt chẽ của Đảng
và Nhà nước Việt Nam đã và đang nỗ lực tham gia vào các tổ chức và diễn đàn kinh tế khu vực, thế giới…
Hiện nay chúng ta đã là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cùng các khối liên kết kinh tế như AFTA, APEC… Bên cạnh những cơ hội mang lại cho quá trình phát triển kinh tế Việt Nam, chúng ta cũng phải đương đầu với rất nhiều khó khăn và thách thức trước
xu thế của thời đại Trong thời kỳ mở cửa và với tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam như hiện nay, việc hội nhập quốc tế, giao thương, hợp tác kinh tế với các nước trên thế giới được đặt ra vô cùng cấp thiết Cùng với
sự phát triển đó, giao thông bằng con đường hàng không đang là cánh cửa
mở ra một chân trời mới, giúp Việt Nam giữ một vị trí quan trọng trong lòng bạn bè quốc tế
Hàng không Việt Nam (HKVN) là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, không chỉ phục vụ cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, có nhiều đóng góp trong việc thúc đẩy kinh tế phát triển, tăng thu ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán Đồng thời còn đóng vai trò như chiếc cầu nối trong quan hệ hợp tác kinh tế, mở rộng trao đổi hàng hóa, giao lưu văn hóa, quảng
bá hình ảnh đất nước Việt Nam với các quốc gia, dân tộc trên thế giới Hoạt
Trang 9động hàng không dân dụng (HKDD) không chỉ mang tính chất kinh tế đơn thuần mà liên quan chặt chẽ đến an ninh, quốc phòng, kinh tế đối ngoại Ðến nay, ngành hàng không dân dụng Việt Nam (HKDDVN) đã có những bước tiến đáng mừng, có những đổi mới trên con đường hiện đại hoá Đảm bảo số lượng và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực hàng không nói chung luôn là mối quan tâm hàng đầu của cả các nhà quản lý và các nhà khoa học ở Việt Nam Trong thực tiễn, các chính sách đào tạo nguồn nhân lực hàng không ở Việt Nam chủ yếu mang tính rời rạc, manh mún, nặng về xử lý tình huống bằng các giải pháp tình thế Các chương trình đào tạo nguồn nhân lực hàng không chủ yếu do các doanh nghiệp vận tải hàng không tự xây dựng một cách tự phát, thiếu định hướng chiến lược chung và chủ yếu thực hiện ở nước ngoài bằng các nguồn ưu đãi của các tổ chức, các đối tác nước ngoài Cho đến nay, các chương trình đào tạo chuyên ngành hàng không ở Việt Nam chủ yếu mới chỉ dừng lại ở trình độ trung học chuyên nghiệp và nhân viên kỹ thuật nghiệp vụ Chương trình đào tạo cán bộ chuyên môn hàng không đang trong quá trình nghiên cứu soạn thảo kể từ khi cơ sở đào tạo chuyên ngành HKDD duy nhất ở Việt Nam được nâng cấp thành Học viện hàng không Quá trình nghiên cứu này đang gặp phải những khó khan do thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc để dựa vào đó mà triển khai
Với vai trò đặc biệt quan trọng như vậy thì việc nghiên cứu, vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vào phát triển nguồn nhân lực hàng không trong quá trình hội nhập quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng và cần thiết
Trang 10Chính vì vậy, tác giả chọn vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con
người với việc phát triển nguồn lực hàng không Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề con người là vấn đề muôn thuở, trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, bởi thế giới xung quanh con người và bản thân con người luôn vận động, biến đổi Trong giai đoạn hiện nay, khi xã hội ngày càng phát triển, nhận thức của con người ngày càng sâu rộng thì những vấn đề con người đặt ra cũng ngày càng phức tạp, đa dạng hơn Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu về vấn đề con người, giải phóng con người là một trong những nhiệm vụ cấp thiết đặt ra
Tư tưởng về con người là nội dung trọng tâm chi phối toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp của chủ tịch Hồ Chí Minh Đó là ngọn đuốc soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, trở thành những giá trị bền vững của dân tộc Việt Nam và lan tỏa ra thế giới Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” và “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” – đã trở thành tư tưởng xuyên suốt toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng ta với tư cách là Đảng cầm quyền Trong sự nghiệp cách mạng từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người đã được đông đảo các nhà khoa học, nhà nghiên cứu lý luận quan tâm với một số lượng công trình lớn có giá trị thiết thực
Trước tiên phải kể đến là tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự
nghiệp xây dựng con người phát triển toàn diện” của PGS.TS Thành Duy,
Trang 11Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 Tác phẩm gồm sáu chương đề cập đến những quan điểm cơ bản về mối quan hệ giữa văn hóa với việc xây dựng con người phát triển toàn diện, nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người phát triển toàn diện, về đặc điểm và bản chất, quan điểm và giải pháp xây dựng con người phát triển toàn diện trong bối cảnh hiện nay
Tiếp theo là “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hoá mới
Việt Nam” của Đỗ Huy, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, 1999; Hoàng Trang
– Phạm Ngọc Anh (đồng chủ biên) “Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với
việc giáo dục cán bộ đảng viên hiện nay”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2004 Các tác phẩm đã tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề về
quyền con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh; cơ sở hình thành và những nội dung cơ bản tư tưởng của Người về văn hoá, về con người, xây dựng nền văn hoá mới, con người mới; về nhân tố con người và vận dụng nó trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay
Bên cạnh đó còn có đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người”
của TS Lê Quang Hoan, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2002 Tác giả đã tiến hành nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người với việc phát huy nhân tố con người, để từ đó vận dụng những giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh vào làm sáng tỏ một số vấn đề có quy luật nhằm phát huy nhân tố con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Trong luận án tiến sĩ triết học với đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
phát triển con người toàn diện”, Học viện Chính trị Quốc gia, 2001, tác giả
Nguyễn Hữu Công đã phân tích cơ sở lý luận, nội dung cơ bản của tư tưởng
Hồ Chí Minh về phát triển con người; những vấn đề đang đặt ra đối với
Trang 12thực tiễn phát triển con người hiện nay và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Về lĩnh vực hàng không các đề tài nghiên cứu tiếp cận nhiều góc độ khác nhau Liên quan đến nguồn nhân lực HKVN có thể kể đến các tài liệu
sau: Đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin nhằm tăng cường
công tác an ninh hàng không dân dụng Việt Nam” của TS Đào Thị Hồng
Hạnh, nghiên cứu xây dựng phương pháp phân tích đánh giá dữ liệu về an ninh hàng không, đề xuất các giải pháp triển khai thực hiện phần mền quản
lý dữ liệu an ninh hàng không
Đề tài “Nghiên cứu đề xuất hệ thống chính sách và xây dựng
chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành vận tải hàng không giai đoạn 2008 – 2015” của TS Dương Cao Thái Nguyên, nghiên cứu đề xuất
hệ thống chính sách và chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành vận tải hàng không giai đoạn 2008 – 2015
Đề tài “Chiến lược phát triển khoa học công nghệ ngành HKVN đến
năm 2010 và định hướng đến 2020” của Đào Mạnh Nhương, nghiên cứu đề
xuất những giải pháp cơ bản phát triển khoa học công nghệ ngành hàng không Việt Nam tầm nhìn đến 2020
Đề tài “Nghiên cứu phát triển và cơ chế thu hút nguồn nhân lực tại
Tổng công ty cảng hàng không Miền Trung” của Thạc sĩ Tống Quốc Long
đã đánh giá thực trạng phát triển và cơ chế thu hút nguồn nhân lực, chỉ rõ nguyên nhân đồng thời đề xuất giải pháp phát triển và cơ chế thu hút nguồn nhân lực tại Tổng công ty hàng không miền Trung
Ngoài ra còn nhiều đề tài khác như “Nghiên cứu nâng cao năng lực
thông qua cảng hàng không Việt Nam” của Ks Lê Hồng Quân, “Nghiên cứu phân loại vùng trời và phân công trách nhiệm điều hành bay trong
Trang 13vùng trời Việt Nam” của TS Nguyễn Đình Công, “Nghiên cứu mô hình quản lý chất lượng đào tạo tại trường hàng không Việt Nam” của Ks Ngô
Tuấn Anh…Các đề tài tiếp cận nhiều góc độ khác nhau nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu vấn đề vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào phát triển nguồn lực hàng không Việt Nam
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích
Mục đích của luận văn là làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và giải phóng con người, từ đó vận dụng vào việc phát triển nguồn nhân lực hàng không Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:
Thứ nhất, trình bày cơ sở hình thành và nội dung cơ bản của tư
tưởng Hồ Chí Minh về con người
Thứ hai, trên cơ sở làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về con
người, luận văn trình bày khái quát quá trình phát triển, đặc điểm, thực trạng, phương hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nguồn lực hàng không Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ nêu trên của luận văn, tác giả dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu, trình bày luận văn của mình Đồng thời tác giả còn sử dụng hệ thống các phương pháp như lịch sử
và logic, phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh để trình bày luận văn
Trang 145 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người với việc phát triển nguồn nhân lực hàng không Việt Nam trong thời kỳ đổi mới có ý nghĩa thực tiễn và lý luận sâu sắc
Về lý luận, luận văn góp phần trình bày một cách có hệ thống cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về đặc điểm, thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực hàng không Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Về thực tiễn, luận văn có thể dùng làm tài lệu tham khảo trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy hiện nay
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 2 chương, 4 tiết
Trang 15Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động Từ nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Hầu hết các nước châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh đã trở thành thuộc địa hoặc phụ thuộc của một số nước đế quốc lớn như Anh, Pháp, Mỹ, Tây Ban Nha, Ý, Bồ Đào Nha, Nhật Cuộc sống của nhân dân các nước thuộc địa bị bóc lột thậm tệ, quyền con người bị xâm phạm thô bạo Cùng với mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản đó là mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc đã làm sản sinh một mâu thuẫn mới ngày càng phát triển là mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc, thực dân
Mặt khác, chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã khoét sâu thêm mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa và làm cho chủ nghĩa tư bản bị suy yếu, tạo điều kiện cho Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga 1917
Trang 16do V.I.Lênin và đảng Bôn sê vích lãnh đạo giành được thắng lợi Tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập, Lênin và Quốc tế Cộng sản chủ trương phong trào cộng sản thế giới cần phải giúp đỡ một cách thiết thực các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc trong cuộc đấu tranh đòi độc lập của họ Vì vậy, thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản đã tạo ra những tiền đề và điều kiện thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc ở các nước phát triển mạnh mẽ trong đó có Việt Nam Việt Nam là một nước có lịch sử và nền văn hiến lâu đời, có truyền thống chống giặc ngoại xâm vô cùng oanh liệt Tuy nhiên, cũng như nhiều nước phong kiến phương Đông khác, bước sang thế kỷ XIX, Việt Nam vẫn ở trong tình trạng trì trệ kém phát triển Năm 1858 trước sự suy yếu của chế độ phong kiến nhà Nguyễn, thực dân Pháp đã tiến hành xâm lược và đặt ách thống trị ở nước ta, biến nước ta thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Từ khi thực dân Pháp căn bản hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam về mặt quân sự, chúng đã bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa ở Việt Nam nói riêng và ở Đông Dương nói chung với quy mô ngày càng lớn
Bên cạnh việc tổ chức bộ máy khai thác thuộc địa, chính quyền thực dân Pháp còn dùng thủ đoạn độc quyền về kinh tế như độc quyền kinh doanh một số ngành công nghiệp nặng, nắm phương tiện giao thông vận tải, khai thác những mỏ khoáng sản có trữ lượng lớn, chiếm đất lập đồn điền cây công nghiệp, độc quyền xuất nhập khẩu,… Ngoài ra, thực dân Pháp còn thiết lập hệ thống ngân hàng, độc quyền phát hành giấy bạc và cho vay nặng lãi Ngân hàng Đông Dương là một tập đoàn tư bản tài chính
có thế lực nhất chi phối mọi ngành kinh tế ở Đông Dương Chính quyền thực dân không từ bỏ bất kỳ chính sách bóc lột nào kể cả những hình thức bóc lột kinh tế thời Trung cổ Đó là chế độ thuế khóa nặng nề và hết sức vô
Trang 17lý như thuế thân, thuế chợ, thuế đò, thuế vỉa hè, thuế xe, thuế lưu trú, nộp thuế cho ngân sách Đông Dương, thuế nộp cho ngân sách xứ, cho tính phần trăm nộp cho quan lại, kỳ hào trong thôn xã cùng hàng trăm thứ thuế khác Thuế má đè nặng oằn lưng và luôn luôn thay đổi có lợi cho thực dân và phong kiến tay sai Hậu quả của chính sách độc quyền về kinh tế và chính sách thuế nặng nề làm cho đa số nông dân mất dần ruộng đất Dưới thời thuộc Pháp, ước tính khoảng 50% nông dân Việt Nam không có ruộng đất
Cùng với sự bóc lột nặng nề về mặt kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách khắc nghiệt trên lĩnh vực chính trị, văn hóa Theo sắc lệnh
17 tháng 10 năm 1887, thực dân Pháp thành lập liên bang Đông Dương, lúc
đó mới bao gồm có Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ và Campuchia, trực thuộc
bộ Hải quân và thuộc địa Pháp Ngày 20 tháng 03 năm 1984, Pháp thành lập Bộ thuộc địa và Đông Dương trực thuộc Bộ này Ngày 19 tháng 4 năm
1899, Tổng thống Pháp ra sắc lênh sát nhập Lào vào liên bang Đông Dương Để đảm bảo thu được lợi nhuận, thực dân Pháp thực hiện chính sách chuyên chế về chính trị Chúng cai trị trực tiếp và thẳng tay đàn áp, không cho dân ta một chút quyền tự do dân chủ nào Mọi quyền hành không chỉ tập trung trong tay những viên quan cai trị người Pháp mà chúng còn dùng cả quân đội, cảnh sát, mật thám, tòa án để đàn áp, bắt bớ xét hỏi Đồng thời chúng còn sử dụng cả giai cấp địa chủ phong kiến và tầng lớp tư sản mại bản để làm cơ sở xã hội và chỗ dựa cho chế độ cai trị thuộc địa của thực dân Pháp Thực dân Pháp thực hiện chính sách chia để trị nhằm làm suy yếu lực lượng dân tộc Việt Nam Chúng chia nước ta ra làm ba kỳ: Bắc
kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau Bắc kỳ và Trung
kỳ là hai xứ bảo hộ vẫn giữ lại chính quyền phong kiến về mặt hình thức, Nam kỳ là thuộc địa do Pháp trực tiếp nắm Bên cạnh đó, thực dân Pháp ra sức ngăn chặn mọi ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ tiến bộ Pháp vào
Trang 18Việt Nam, đem văn hóa phản động trụy lạc nhồi vào đầu nhân dân ta Nhân dân không được đi học vì trường học thiếu một cách nghiêm trọng
Do hậu quả của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất gây ra cho nước Pháp, chính quyền thực dân Đông Dương lúc bấy giờ đã phải điều chỉnh chính sách cai trị của chúng nhằm huy động tối đa sức người và tài nguyên của thuộc địa cung cấp cho chính quốc Chính sách đó đã thúc đẩy quá trình chuyển biến nền kinh tế Việt Nam nhanh hơn, có lợi cho thực dân Pháp khai thác Một số ngành kinh tế Việt Nam trước kia bị nhà nước thực dân hạn chế, nay có điều kiện phát triển Trong quá trình đó, các lực lượng
tư sản dân tộc và tiểu tư sản có điều kiện tập hợp ngày càng đông đảo Tuy nhiên do bị thực dân Pháp bóc lột, vơ vét thậm tệ, đại bộ phận nhân dân lao động Việt Nam bị lâm vào cảnh cùng quẫn Dưới sự thống trị dã man của thực dân Pháp, nhân dân ta không ngừng đứng lên đấu tranh đòi độc lập, phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở Việt Nam thời kỳ này nổ
ra mạnh mẽ Phong trào yêu nước diễn ra khắp toàn quốc, từ thành thị đến nông thôn, từ miền núi đến đồng bằng, cả miền Nam và miền Bắc, nhưng hầu hết các phong trào kháng chiến đều bị dìm trong bể máu Sau thất bại của phong trào Cần Vương và những cuộc vận động cứu nước theo khuynh hướng tư sản đầu thế kỷ XX, nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng Nguyên nhân trước hết là các cuộc khởi nghĩa đều nổ ra một cách tự phát, lẻ tẻ nên thực dân Pháp dễ dàng tập trung lực lượng đàn áp Những người lãnh đạo phong trào là binh lính, nông dân, mặc dù có lòng yêu nước nồng nàn, có tinh thần quả cảm, có sức chiến đấu dẻo dai nhưng thiếu bộ máy lãnh đạo có khả năng thống nhất các cuộc nổi dậy riêng lẻ của từng vùng của các dân tộc thành phong trào chung Đứng trước tình hình này, nhân dân Việt Nam đang chờ đợi một con đường cứu nước mới phù hợp với xu thế lịch sử và khai thác một tiềm lực phong phú
Trang 19mạnh mẽ của quần chúng nhân dân để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh
vì độc lập tự do
Như vậy, thực tiễn của thế giới và Việt Nam vào đầu thế kỷ XX đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc giải phóng con người Sứ mệnh lịch sử đặt ra cho cả dân tộc, cho mỗi người Việt Nam lúc bấy giờ là phải tìm ra con đường để cứu nước, cứu dân thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và tay sai Trong bối cảnh lịch sử đó, Hồ Chi Minh và tư tưởng của Người đã xuất hiện đáp ứng kịp thời đòi hỏi bức thiết của dân tộc và thời đại Sau nhiều năm bôn ba trên khắp thế giới, thông qua hoạt động thực tiễn và khảo cứu lý luận chủ nghĩ Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã trở thành người cộng sản đáp ứng được yêu cầu tất yếu của lịch sử và nguyện vọng của nhân dân ta Năm 1924, Người về Quảng Châu (Trung Quốc) tiến hành các hoạt động cần thiết, tìm mọi cách để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin về nước, xây dựng đường lối cách mạng phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam
1.1.2 Cơ sở lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
Truyền thống văn hóa dân tộc, truyền thống quê hương gia đình đối với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người trước hết được bắt nguồn từ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của quê hương và gia đình Dân tộc Việt Nam trải qua bao biến cố thăng trầm với hơn bốn ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã hun đúc nên những truyền thống quý báu, trong đó chủ nghĩa yêu nước giữ vị trí hàng đầu, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình lịch sử dân tộc, là tiền đề xuất phát của sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 20Chủ nghĩa yêu nước và ý chí kiên cường, bất khuất trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, đó chính là nhà dòng chủ lưu chảy xuyên suốt trường kỳ lịch sử Việt Nam, là chuẩn mực cao nhất đứng đầu bảng giá trị văn hóa – tinh thần Việt Nam Mọi học thuyết đạo đức, tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào nước ta đều được tiếp nhận khúc xạ qua lăng kính yêu nước đó Chủ nghĩa yêu nước chính là ý thức bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc, không để bị sai nhịp, đồng hóa; là tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, kiên quyết chống ngoại xâm, lấy yếu thắng mạnh, lấy nhân nghĩa thắng hung tàn; là tư tưởng hiếu sinh Tư tưởng yêu nước Việt Nam gắn liền với dân, với nước Thời chiến thì thương người, thương dân, dựa vào sức dân để chiến đấu giành độc lập, bảo vệ nước nhà; thời bình thì kế giữ nước hay nhất là nuôi dưỡng sức dân, làm cho dân không còn tiếng oán hờn, ai ai cũng được an cư lạc nghiệp Những giá trị truyền thống quí báu
đó đã được Hồ Chí Minh tiếp thu và phát triển Người thường trích dẫn tục ngữ, ca dao để diễn đạt, nhất là nêu những tấm gương lịch sử, những chuyện người tốt, việc tốt, rất phong phú trong cuộc sống đời thường để giáo dục lòng yêu nước, thương dân Người viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả bè lũ bán nước và cướp nước Chúng ta có quyền tự hào
vì những trang sử vẻ vang thời đại như Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung Chúng ta phải nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng” [35, 171]
Cùng với đó tinh thần tương thân tương ái, lòng nhân nghĩa, ý thức
cố kết cộng đồng cũng hình thành từ đòi hỏi của cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm và sự khắc nghiệt của thiên nhiên Người Việt Nam có truyền
Trang 21thống thương yêu đùm bọc lẫn nhau, “lá lành đùm lá rách” trong hoạn nạn, khó khăn
Và một trong những nét nổi bật trong truyền thống dân tộc Việt Nam là tinh thần lạc quan yêu đời, trong khó khăn gian khổ, người Việt Nam vẫn động viên nhau “chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo” Tinh thần lạc quan đó có sơ sở từ niềm tin vào sức mạnh của bản thân mình, tin vào
sự tất thắng của chính nghĩa, chân lý, cho dù trước mắt còn muôn vàn khó khăn phải chịu đựng vượt qua Hồ Chí Minh chính là hiện thân của tinh thần lạc quan đó
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong sản xuất và chiến đấu và là một dân tộc ham học hỏi, không ngừng mở rộng cửa đón nhận tinh hoa văn hóa nhân loại Do điều kiện địa
lý có nhiều thuận lợi, từ rất sớm dân tộc Việt Nam đã giao lưu với các nền văn hóa lớn trên thế giới Nhân dân ta đã biết chọn lọc, tiếp thu, cải biến những cái hay, cái tốt, cái đẹp của người khác thành những giá trị riêng của mình
Quê hương và gia đình cũng là nhân tố góp phần hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Nghệ An, nơi sinh thành của Hồ Chí Minh là mảnh đất giàu truyền thống, đã sản sinh ra nhiều nhân tài lịch sử kiệt xuất trong suốt bốn ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước Thuở nhỏ, Cụ Nguyễn Sinh Sắc thường dẫn anh em Nguyễn Sinh Cung đến những nơi có di tích lịch sử hào hùng của quê hương để giáo dục truyền thống yêu nước, thương dân như: Núi Chung, nơi tú tài Vương Thúc Mậu họp nghĩa binh, cắt máu ăn thề, dựng cờ Cần Vương theo hịch Hàm Nghi Giếng Cóc, ngay trước nhà Nguyễn Sinh Cung, là nơi Pháp bắt lính tát cạn nước để tìm vũ khi của Chung nghĩa bình Ao làng Sen nằm bên đường cậu Cung đi học, là nơi anh hùng Vương Thúc Mậu tử tiết khi bị Pháp bao vây
Trang 22Cạnh nhà thờ họ Nguyễn Sinh là nhà của Nguyễn Sinh Quyền, một chiến sĩ Chung nghĩa quân, sau khi Vương Thúc Mậu tử tiết, đã dẫn quân vào núi
Vũ Quang với Phan Đình Phùng Đến khi Phan Đình Phùng chết, khởi nghĩa Hương Sơn thất bại, thì Nguyễn Sinh Quyền bị Pháp bắt đem về chém ngay tại làng Kim Liên Về phía tây cách núi Chung bảy cây số, là núi Đụn, còn gọi là núi Hùng Sơn, ở đó Mai Hắc Đế xây thành Vạn An sau khi đã đánh đuổi quân đô hộ nhà Đường Quê hương là nơi tập trung rất nhiều di tích lịch sử cứu nước, vì thế mà những người con sinh ra trên mảnh đất Nam Đàn này, sớm đã được nung nấu lòng yêu nước chống giặc
ngoại xâm
Cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Hồ Chí Minh, xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, nhưng rất hiếu học và chuyên cần Năm Người
11 tuổi, ông Nguyên Sinh Sắc đỗ phó bảng, được vua ban áo mão, cờ biển
và cho ngựa trạm đưa về tỉnh đường Nghệ An Dù đã đỗ phó bảng, gia đình ông Sắc vẫn sống cảnh đạm bạc gần gũi với dân làng như xưa “Ngày ngày ngoài việc tiếp đón bạn bè đến thăm, ông phó bảng cùng với các con làm vườn và lo liệu công việc nội trợ” [3, 26] Bằng tấm gương của chính mình, thân phụ và thân mẫu Người đã dạy những bài học đạo đức, nhân cách đầu tiên, đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển tư tưởng, nhân cách Hổ
Chi Minh về sau này
Quá trình hình thành và phát triển về vấn đề con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một quá trình lâu dài, phải trải qua nhiều giai đoạn khó khăn nhưng đầy ắp tinh thần tinh thần lạc quan cách mạng ở Người Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người không chỉ phản ánh những điều kiện kinh
tế - xã hội hiện thực mà còn chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các tư tưởng tiến
bộ trong lịch sử và đương thời Trước hết phải kể đến những tư tưởng tiến
bộ của các nhà Nho yêu nước như Vương Thúc Mậu, Phan Đình Phùng,
Trang 23Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu,… đều tác động mạnh mẽ đến ý chí đánh đuổi thực dân Pháp, cũng như tinh thần yêu nước của Hồ Chí Minh Một trong những người có ảnh hưởng lớn đến Hồ Chí Minh là cụ Phan Bội Châu Cụ là bạn thân của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Hồ Chí Minh Thuở nhỏ Người thường được nghe cụ Phan Bội Châu cùng các nhà Nho yêu nước đàm đạo chuyện đời, chuyện nước, ngâm thơ,… Chính qua các buổi gặp gỡ các nhà Nho yêu nước trong thời kỳ này mà Hồ Chí Minh học tập được tinh thần khẳng khái không chịu khuất phục trước kẻ thù, tinh thần yêu nước thương nòi,… Tuy nhiên trước những thất bại của các phong trào yêu nước, Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra được sự bế tắc trong các đường lối ấy
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người là biểu hiện sự kết tinh tư tưởng nhân văn của nhân loại
Kết hợp các giá trị truyền thống của văn hóa phương Đông với các thành tựu hiện đại của văn minh phương Tây - chính là nét đặc sắc trong quá trình hình thành nhân cách và văn hóa Hồ Chí Minh
Vai trò của yếu tố văn hóa phương Đông có ảnh hưởng sâu sắc đến
tư tưởng của Hồ Chí Minh, trong đó có Nho giáo Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội, do Khổng Tử sáng lập vào thời kỳ Trung Quốc cổ đại Nội dung cơ bản nhất của học thuyết Nho giáo là chủ trương dùng “đức trị” để quản lý xã hội, dùng đức nhân để thu phục thiên hạ, thi hành rộng rãi phương pháp lễ trị nhằm khôi phục chế độ tông pháp nhà Chu, bảo vệ lợi ích cho giai cấp quý tộc chủ nô Nho giáo du nhập Việt Nam từ thời kỳ Bắc thuộc, gắn liền với sự xâm lược của các thế lực phong kiến phương Bắc Cùng với sự phát triển của các triều đại phong kiến Việt Nam, Nho giáo đã
có những ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến đời sống tinh thần ở nước ta
Trang 24Trong Nho giáo có những yếu tố duy tâm, lạc hậu như tư tưởng đẳng cấp, khinh lao động chân tay, khinh phụ nữ… nhưng Nho giáo cũng có những mặt tích cực: Đó là triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành động, giúp đời; đó là lý tưởng về một xã hội bình trị, tức là ước vọng về một xã hội an ninh, hòa mục, một “thế giới đại đồng”; là triết lý nhân sinh tu thân dưỡng tính, chủ trương từ thiên tử đến thứ dân ai cũng phải lấy tu thân làm Đặc biệt Nho giáo đề cao văn hoá, lễ giáo và tạo ra truyền thống hiếu học trong dân Đây là tư tưởng tiến bộ hơn hẳn so với các học thuyết cổ đại Hồ Chí Minh đã phê phán, bác bỏ những mặt hạn chế của Nho giáo đồng thời khai thác, lựa chọn những yếu tố tích cực, phù hợp để phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng
Xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học, Hồ Chí Minh sớm tiếp nhận được những nguyên tắc luân lý đạo đức trong tư tưởng Nho giáo như trung hiếu tiết nghĩa, tam cương, ngũ thường,… Hồ Chí Minh là một người am hiểu sâu sắc tư tưởng của Khổng giáo Những phạm trù mang tính nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức của Nho giáo như nhân, lễ, nghĩa, dũng được Hồ Chí Minh kế thừa và bổ sung những nội dung mới Hồ Chí Minh phát triển tư tưởng trung với vua, hiếu với cha mẹ trong học thuyết Nho giáo thành tư tưởng trung với nước, hiếu với dân Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến tư tưởng đại đồng trong tư tưởng Khổng Tử Khổng Tử vĩ đại khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản Học trò Khổng Tử là Mạnh Tử tiếp tục tư tưởng của thầy, thủ tiêu bất bình đẳng về hưởng thụ, hạnh phúc không phải cho một số đông mà cho tất cả mọi người Nhận xét
về vai trò của Nho giáo đối với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét rằng Hồ Chí Minh đã tiếp thu Khổng giáo, nhưng tiếp thu một cách có phê phán, chọn lấy cái tinh hoa, loại bỏ những yếu tố thủ cựu tiêu cực, biến đạo đức thủ cựu ấy thành đạo đức cách mạng
Trang 25Ngoài Nho giáo, Phật giáo là một bộ phận quan trọng trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo, phản ánh sâu sắc chế độ phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt và chế độ xã hội mang nặng tính gia trưởng của xã hội Ấn Độ cổ đại Phật giáo vào Việt Nam từ sớm và có ảnh hưởng rất mạnh đối với Việt Nam Phật giáo
có tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, đại từ, cứu khổ, cứu nạn, diệt trừ cái ác, giải thoát con người,… Phật giáo có tư tưởng bình đẳng, dân chủ hơn so với Nho giáo Phật giáo cũng đề cao nếp sống đạo đức, trong sạch, chăm làm điều thiện, coi trọng lao động Đạo Phật được truyền vào Việt Nam đến nay đã hơn 2000 năm, có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng và lối sống của người Việt Phật giáo vào Việt Nam kết hợp với chủ nghĩa yêu nước sống gắn bó với dân, hoà vào cộng đồng chống kẻ thù chung của dân tộc là chủ nghĩa thực dân Đánh giá tư tưởng Phật giáo, Hồ Chí Minh nhận xét rằng Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn Hồ Chí Minh nhận thức mục đích của đạo Phật là nhằm xây dựng cuộc đời thuần
mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và ấm no Rộng hơn nữa, Hồ Chí Minh kế thừa và đánh giá cao vai trò, ảnh hưởng của văn hóa, triết học, nghệ thuật của nước Ấn Độ Theo Hồ Chí Minh thì văn hóa, triết học và nghệ thuật của nước Ấn Độ đã phát triển rực rỡ và có những cống hiến to lớn cho loài người; nền tảng và truyền thống của triết học Ấn Độ là lý tưởng hòa bình, bác ái
Hồ Chí Minh cũng hết sức chú ý nghiên cứu thực tiễn cách mạng Trung Quốc và những tư tưởng cách mạng của Tôn Trung Sơn Tôn Trung Sơn là nhà dân tộc dân chủ vĩ đại của nhân dân Trung Quốc Ông là người
có công lớn trong việc lật đổ chế độ phong kiến Trung Quốc hàng ngàn năm, lập nên Trung Hoa Dân Quốc (1911) Tư tưởng cách mạng của Ông thể hiện trong chủ nghĩa Tam dân: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh
Trang 26phúc Hồ Chí Minh đánh giá cao tư tưởng của Tôn Trung Sơn và cho rằng chính sách của Tôn Trung Sơn có thể phù hợp với điều kiện ở nước ta
Bên cạnh đó văn hóa phương Tây cũng có vai trò, ảnh hưởng quan trọng đối với sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Người chịu ảnh hưởng sâu rộng của nền văn hoá dân chủ và cách mạng phương Tây như: tư tưởng tự do, bình đẳng trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Đại cách mạng Pháp 1791, tư tưởng dân chủ,
về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776 Trước khi ra nước ngoài, Bác đã nghe thấy ba từ Pháp: Tự do, bình đẳng, bác ái Lần đầu sang Pháp, Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh, nhân cách phẩm chất cao thượng, tư duy độc lập tự chủ Người đã nhìn thấy mặt trái của “lý tưởng” tự do, bình đẳng, bác ái Người cũng tiếp thu tư tưởng của những nhà Khai sáng Pháp như Voltaire, Rousso, Montesquieu Cùng với đó, Thiên chúa giáo cũng tác động không nhỏ đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh Điểm tích cực nhất của Thiên chúa giáo là lòng nhân ái Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc tư tưởng văn hoá Đông - Tây để phục vụ cho cách mạng Việt Nam Người dẫn lời của Lênin: “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những hiểu biết quý báu của các đời trước để lại” [35, 46]
Chủ nghĩa Mác – Lênin nguồn gốc trực tiếp của sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận trong tư tưởng của Người
Từ chủ nghĩa yêu nước, tiếp thu văn hóa phương Đông, phương Tây, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin như một tất yếu lịch sử Đây là bước ngoặc cơ bản trong quá trình tìm đường cứu nước và quá trình phát triển tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh Chủ nghĩa Mác – Lênin
Trang 27là Cơ sở lý luận, tạo bước ngoặt đối với tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người có ý nghĩa sâu sắc đến việc hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin,
Hồ Chí Minh đã tìm thấy kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh đã hình thành những chủ trương, đường lối, giải pháp cách mạng phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam
Hồ Chí Minh đã coi chủ nghĩa Mác - Lênin như “cẩm nang” thần
kỳ, là kim chỉ nam cho con đường giải phóng của dân tộc và đi đến chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản Người viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách
mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” [31, 268] “Chỉ có giải phóng giai cấp vô
sản thì mới giải phóng được dân lộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể
là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới” [30, 416]
Hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp, trong Ọuốc tế cộng sản và phong trào cộng sản công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc được tiếp xúc với các văn kiện Quốc tế cộng sản, được trực tiếp đọc các tác phẩm của Mác, Ăngghen, Lênin, tham gia các lớp học
lý luận của Quốc tế cộng sản Nhờ vậy, Người nhận thức sâu sắc hơn về bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là lý luận về con người, về vấn đề dân tộc, chủ nghĩa quốc tế vô sản, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản
Dựa trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã đánh giá, so sánh, lựa chọn, tổng hợp những tư tưởng về con người, mà Người đã tiếp thu được, và từng bước hình thành nên hệ thống những luận điểm về con người một cách triệt để Có thể nói chủ nghĩa Mác
Trang 28– Lênin là một trong những nguồn gốc chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhân cách Hồ Chí Minh được bổ sung, phát triển, hoàn thiện từ hoạt động thực tiễn hết sức rộng lớn và sinh động Hồ Chí Minh có 30 năm hoạt động ở nước ngoài, đã sống, làm việc và đặt chân lên khoảng 26 nước, phải hoạt động trong điều kiện hết sức khó khăn, nguy hiểm, phải nhiều lần thay tên đổi họ với hơn 160 bí danh, bút danh, phải làm nhiều nghề lao động tay chân đế kiếm sống, thông thạo nhiều ngoại ngữ và nói được nhiều thổ ngữ Là người giữ nhiều cương vị, phụ trách nhiều công việc và nhiều năm đứng đầu Đảng và nhà nước, có quan hệ quốc tế rộng rãi Hồ Chí Minh thường đến thăm và tiếp xúc với mọi thành phần dân cư ở nông thôn, thành thị, miền núi, trung du, hải đảo Chính thực tiễn phong phú và sinh
Trang 29động đó đã đem lại cho Người vốn sống, vốn hiểu biết về con người vô cùng sắc sảo, phong phú và đầy tính nhân văn
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả của quá trình kế thừa biện chứng và phát triển giá trị tinh hoa tư tưởng, văn hóa của dân tộc Việt Nam và của nhân loại; hướng đến những giá trị phổ biến là mưu cầu hạnh phúc cho con người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội.Theo Hồ Chí Minh thì học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Tôn giáo của Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả Chủ nghĩa Mác – Lênin có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta
Tư tưởng và hành động của Hồ Chí Minh là sự dung hợp những giá trị tư tưởng nhân văn cao cả, trên nền tảng của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa cộng sản, vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng con người Để đạt được sự dung hợp như vậy, trước hết là do tố chất thông minh, sáng tạo, ham học hỏi và nghị lực phi thường của Hồ Chí Minh Kế đến, chính những yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam và quá trình rèn luyện, bôn ba đi tìm đường cứu nước đã giúp Hồ Chí Minh có điều kiện tiếp cận những tri thức tiến bộ của nhân loại Dựa vào thế giới quan của chủ nghĩa Mác –Lênin, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những tư tưởng tiến bộ đó, vận dụng sáng tạo vào điều kiện lịch sử ở Việt Nam, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người hình thành và phát triển dựa trên những tiền đề lịch sử cụ thể, phản ánh và đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn cách mạng Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm thấy con
Trang 30đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp cần lao trên thế giới Chính
sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể ở nước
ta, sự kết hợp tinh hoa văn hóa nhân loại với giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã làm nên tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người nói riêng
1.2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ ĐẶC ĐIỂM TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI
1.2.1 Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Ngay từ những ngày đầu bôn ba tìm đường cứu nước cho đến khi là lãnh tụ của công cuộc kháng chiến kiến quốc, cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều thể hiện một tư tưởng nhất quán là giải phóng dân tộc, đem lại tự do, hạnh phúc cho mỗi con người và tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện Vì con người, do con người và cho con người, là trung tâm,
là mục tiêu của mọi hoạt động yêu nước và cách mạng của Hồ Chí Minh
Tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh là một hệ thống với những nội dung rất đa dạng, phong phú, trong đó nổi lên những nội dung
cơ bản sau đây
Thứ nhất, quan niệm về con người
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, vấn đề con người luôn luôn là chủ
đề trung tâm Dưới góc nhìn thế giới quan khác nhau, có nhiều cách hiểu khác nhau về con người, nhưng nhìn chung các nhà triết học phương Đông
và phương Tây trước C.Mác đều xem xét con người một cách trừu tượng, tuyệt đối hóa mặt tinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đối hóa mặt tự nhiên – sinh học mà không thấy mặt xã hội trong đời sống con người Hêghen, nhà triết học cổ điển Đức nổi tiếng, với cách nhìn của một nhà duy tâm khách quan, đã cho rằng, con người là hiện thân của “ý niệm tuyệt
Trang 31đối” Nhà duy vật Phoiơbắc thì khẳng định con người do sự vận động của thế giới vật chất tạo nên, con người và tự nhiên là thống nhất, không thể tách rời Nhưng hạn chế của ông là không thấy được bản chất xã hội trong đời sống con người, tách con người ra khỏi những điều kiện lịch sử cụ thể,
do vậy, con người của Phoiơbắc mang tính phi lịch sử, phi giai cấp và trừu tượng
Kế thừa và phát triển tư tưởng về con người trong lịch sử triết học, C.Mác khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội C.Mác cho rằng nhận thức bản chất con người xuất phát từ đời sống xã hội hiện thực, cụ thể của họ xem xét con người trong quá trình phát triển hiện thực và đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ Theo C.Mác: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ
xã hội” [12, 11] Điều đó cũng có nghĩa là không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội, mà chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình Khẳng định bản chất xã hội, không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người, trái lại, Mác chỉ muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người và thế giới động vật trước hết là ở bản chất xã hội, và đấy cũng là để khắc phục hạn chế của nhiều nhà triết học trước Mác
Kế thừa tinh hoa tư tưởng văn hoá dân tộc và nhân loại, tiếp thu, vận dụng, phát triển một cách sáng tạo học thuyết Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng về con người lên một tầm cao mới, hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh Tuy không có một tác phẩm nào bàn riêng về con người, nhưng tư tưởng về con người lại được hiểu thật đa dạng, phong phú, trở thành một tư tưởng xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống
Trang 32tư tưởng Hồ Chí Minh Vấn đề con người luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng, cao cả nhất của sự nghiệp cách mạng mà Người theo đuổi Nó trở thành mục tiêu, lý tưởng, được toả sáng trong từng suy nghĩ, cử chỉ, hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Quan niệm con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất đa dạng, phong phú, tùy hoàn cảnh, điều kiện, nội dung mà Người đề cập Đối với
Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại với tư cách cá nhân, vừa là thành viên
của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài hòa, phong phú Trong bài viết đăng trên báo Cứu Quốc năm 1949, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm về chữ Người: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng nữa
là cả loài người” Với cách hiểu này, con người có tính xã hội, là con người
xã hội, và thành viên của một cộng đồng xã hội Nói cách khác, Hồ Chí Minh đã xem xét con người trong các quan hệ xã hội của nó Trong tư tưởng Hồ Chí Minh không có con người chung chung trừu tượng, bao giờ Người cũng nói đến con người cụ thể lịch sử Do vậy, Người dùng rất nhiều khái niệm khác nhau để chỉ “con người” trong những mối quan hệ xã hội và lịch sử Chẳng hạn, trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước, hoạt động trong phong trào giải phóng dân tộc, trong phong trào công nhân quốc tế, Người thường dùng các khái niệm: “người bản xứ”, “người lao động bản xứ”, “người da vàng”, “người da đen”, “người bị bóc lột”, “người
vô sản ở thuộc địa”, “người vô sản ở chính quốc”, “người cùng khổ”,… Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh thường sử dụng các khái niệm “nhân dân”, “quốc dân”, “đồng bào”, “dân”, để chỉ con người Việt Nam tự do của một quốc gia độc lập Như vậy, quan niệm về con người của Hồ Chí Minh vừa thể hiện rõ tính chất giai cấp, tính chất lịch sử của khái niệm đó, lại vừa hướng vào những giá trị chung của con người
Trang 33vươn tới cái chân – thiện – mỹ Nếu xét theo một khía cạnh nào đó, nó đã khắc phục được những hạn chế về tính giai cấp, tính lịch sử, để hướng đến những giá trị phổ quát của con người, làm cơ sở cho sự đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế vì sự nghiệp chung là giải phóng con người Hồ Chí Minh nói về con người thường được biểu hiện qua những khái niệm: Quần chúng, nhân dân, đồng bào và ngược lại, khi nói về quần chúng, nhân dân, đồng bào cũng là đang nói về con người Đây chính là sự sáng tạo và cũng
là biểu hiện của một nhân cách đạo đức cao thượng và biện chứng nhất trong quan niệm về con người
Hồ Chí Minh quan tâm trước tiên là những quan hệ xã hội đã gắn
bó con người với cộng đồng xã hội từ nhỏ đến lớn, từ hẹp đến rộng Đối với con người Việt Nam, những cộng đồng gia đình – họ - tộc– làng xã – dân tộc, đã gắn bó bền vững hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, nên đã hình thành truyền thống yêu nước, truyền thống dân tộc chân chính mà Hồ Chí Minh có khi coi là “động lực vĩ đại” thúc đẩy sự phát triển của đất nước
Hồ Chí Minh quan niệm con người là một chỉnh thể thống nhất về thể lực, tâm lực và hoạt động Mỗi yếu tố đó có vai trò khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng, tác động và là điều kiện của nhau Người còn cho rằng, con người là sự thống nhất của hai mặt đối lập: Ai cũng có chỗ
dở, chỗ tốt chỗ xấu, có tính thiện, tính ác,… các mặt đối lập đó không đơn thuần có nguồn gốc từ xã hội mà còn có căn nguyên từ yếu tố sinh vật của con người Do vậy, khi đánh giá giá trị việc loại trừ yếu tố sinh vật sẽ dẫn đến sự phiến diện, thiếu cơ sở khoa học “Hồ Chí Minh vừa thấy được cái căn nguyên sinh vật, vừa thấy được cái căn nguyên xã hội ảnh hưởng tới hành vi và đời sống con người Đây chính là một sự kết hợp sáng tạo, khi đòi hỏi quá trình cải tạo xã hội, phải đồng thời và trước hết là cải tạo bản
Trang 34thân mỗi con người, hai quá trình này vừa là điều kiện, vừa là kết quả của nhau” [43, 19 – 20]
Ảnh hưởng bởi chủ nghĩa yêu nước, truyền thống nhân ái của dân tộc và triết học phương Đông, Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của nhân
tố tinh thần, nội tâm của con người “Con người dù có xấu, tốt, văn minh hay dã man đều có chữ tình” Chữ tình phải hiểu theo nghĩa rộng là tình người, tình quốc gia, dân tộc “Phải hy sinh cái nhỏ cho cái lớn Phải hy sinh cái riêng cho cái chung… Giữa lợi ích riêng và lợi ích chung phải chọn lấy một Mà phải chọn cái chung” [36, 60 – 61] Người cho rằng, phát huy cái “tình” sẽ động viên được tinh thần yêu nước tiềm ẩn bên trong mỗi con người, sẽ tạo được sự đoàn kết dân tộc – một động lực của cách mạng
Vì vậy, Hồ Chí Minh kêu gọi các tầng lớp nhân dân, từ các bậc phú hào yêu nước đến các bạn công, nông, binh, thanh niên, phụ nữ, công chức, tiểu thương phải đặt quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, phải đoàn kết để đánh đổ bọn đế quốc, việt gian…
Từ nhận thức các quan hệ xã hội không phải là bất biến, bản chất của con người cũng biến đổi cùng với sự biến đổi của các quan hệ xã hội,
Hồ Chí Minh rất coi trọng việc cải tạo con người cũ, xây dựng con người mới trong điều kiện đất nước đã giành được độc lập, tự do Trong đó, yếu
tố tự cải tạo “chính tâm tu thân” có vị trí đặc biệt quan trọng
Trên quan điểm duy vật mácxít, Hồ Chí Minh khẳng định bản chất con người mang tính lịch sử - xã hội, con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của lịch sử, con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển xã hội Muốn nhận thức đúng về con người thì phải nhận thức đúng những điều kiện xã hội mà họ đang sống Muốn giải phóng con người cũng phải trên cơ sở giải quyết những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội
Trang 35Giải phóng con người theo Hồ Chí Minh phải gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một chỉnh thể thống nhất về thể lực, tâm lực, trí lực và hoạt động, mang tính bản chất xã hội – lịch sử, là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ các giá trị vật chất, tinh thần trong xã hội
Thứ hai, con người là vốn quý nhất, động lực quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
“Con người – vốn quý nhất”, là nội dung bao trùm trong tư tưởng
về con người của Hồ Chí Minh Bởi đó là tư tưởng chủ đạo, xuất phát điểm của mọi suy nghĩ và hành động cách mạng của Người Theo Hồ Chí Minh,
“trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới này không có
gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [34, 698] Vì vậy, “vô luận việc gì đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa đều thế cả” [34, 241] Người cho rằng “việc dễ mấy không có dân cũng chịu, việc khó mấy có dân liệu cũng xong” Nhân dân là người sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần, dân ta là tài năng và trí tuệ, sáng tạo, họ biết “giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra” [34, 344] Hồ Chí Minh có niềm tin vững chắc rằng với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội
ta, chẳng những chúng ta có thể thắng lợi, mà chúng ta nhất định thắng lợi Nhân dân là yếu tố quyết định thành công của cách mạng Lòng yêu nước
và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi
Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho và có vốn “mười năm đèn sách” theo nho học, Hồ Chí Minh thấm nhuần tư tưởng “nhân nghĩa” của
Trang 36Khổng Tử, thuyết “kiêm ái” của Mặc Tử, tư tưởng “lấy dân làm quý” của Mạnh Tử… Ở Người, từ tác phẩm cho đến phong cách sống chúng ta dễ cảm nhận dấu ấn nào đó của Nho giáo, Lão giáo…
Quan niệm “con lạc cháu Hồng”, “thương người như thể thương thân” được Người kế thừa và vận dụng trên cơ sở khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, khi xem xét con người với tư cách là chủ thể sáng tạo ra lịch
sử, xem xét vai trò của quần chúng nhân dân trong mối quan hệ với cá nhân lãnh tụ Khác với quan niệm “dân” của Nho giáo là để chỉ lê dân, tiện dân, thứ dân, là đẳng cấp dưới, là đối tượng để cai trị, quan niệm con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh là cùng nghĩa với khái niệm quần chúng, nhân dân, dân… theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin Dân trong tư tưởng
Hồ Chí Minh là vốn quý nhất, là biểu tượng của sức mạnh
Tư tưởng con người là vốn quý của Hồ Chí Minh là sự kết nối, phát triển những giá trị nhân ái của dân tộc với các giá trị phương Đông – phương Tây Và cũng chính quá trình bôn ba trong đời sống phong trào công nhân và nhân dân lao động càng giúp Người nhận rõ giá trị, khát vọng sống và sức mạnh cải tạo của quần chúng lao động
Cái đặc sắc trong quan niệm con người là vốn quý nhất cuả Hồ Chí Minh chính là ở chỗ Người có lòng yêu thương, tin tưởng con người vô hạn; ý thức cao độ về tiết kiệm sức người và có cách sử dụng con người,
mà có thể phát huy cao độ tiềm năng của họ cho sự nghiệp cách mạng
Hồ Chí Minh rất quý trọng và thương yêu con người Tất nhiên, đó
là những người lao động, người mất nước, người bị bóc lột, bị thống trị những người biết đứng lên đấu tranh vì lẽ phải, công bằng, vì quyền lợi cơ bản của chính con người, không phân biệt màu da, dân tộc Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn : “Ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được
Trang 37hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm
ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [33, 161] Hầu như bất cứ khi nào khi nói đến cách mạng, nói đến mục tiêu chủ nghĩa xã hội, Người cũng nhấn mạnh đến sự chăm lo cho con người, mà trước tiên là những người lao động “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa gì” [33, 56] Ở Hồ Chí Minh, chúng ta luôn thấy sự nhất quán về mục tiêu cách mạng vì sự nghiệp giải phóng con người, tất cả cho con người do con người Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội cũng chính là để thực hiện mục tiêu cao cả đó
Không chỉ thương yêu con người, Hồ Chí Minh còn có lòng tin tuyệt đối ở con người Lòng tin đó dựa trên sự hiểu biết sâu sắc truyền thống lịch sử của dân tộc và con người Việt Nam : “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là một truyền thống quí báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước” [35, 171] Người khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, có dân thì có tất cả, không dựa vào dân thì không thể làm được việc gì Hồ Chí Minh còn nhìn thấy và tin tưởng vào sức mạnh, khả năng tiềm ẩn của con người “Đằng sau
sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến” [42, 111-112]
Mặt khác, Người cũng thấy rằng, sức mạnh ấy chỉ có thể phát huy được một khi được dân tin Khổng Tử từng nói: “Nhà cầm quyền cần ba điều, lương thực dồi dào, binh lực mạnh mẽ và lòng tin của dân” Trong ba điều đó lòng tin của dân có vị trí quyết định nhất “dân mà không tin nhà cầm quyền, thì chính phủ phải đổ” [16,185] Để dân tin, theo Người “không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến” [33,
Trang 3848], mà cái chính là “việc gì, cũng vì lợi ích của dân mà làm”, mỗi cán bộ, đảng viên phải là “công bộc”, là “người đầy tớ trung thành của nhân dân” Một khi dân đã tin Đảng, chính phủ rồi thì không có việc gì khó mà không làm được Trong tư tưởng Hồ Chi Minh, tin dân là điều kiện để dân tin
Hồ Chí Minh luôn luôn chủ trương phải biết tiết kiệm sức người Bởi đó là một tiêu chí để đánh giá sự hưng thịnh hay tiêu vong tất yếu của một triều đại hay thể chế chính trị Hơn nữa, nó còn là một chính sách trị nước tích cực của mọi thời đại Để tiết kiệm sức người, sức của, Hồ Chí Minh kêu gọi mọi chủ trương, chính sách, mọi công việc phải có sự chuẩn
bị chu đáo, phải có trọng tâm, phải được hướng dẫn, phải biết tổ chức thực hiện, tránh tình trạng làm đi làm lại, hao tốn sức lực, tiền của mà không đạt hiệu quả Người còn chỉ ra một trong những nguyên nhân của sự lãng phí chính là sự quan liêu, tham ô và gọi ba kẻ thù này “là một thứ giặc ở trong lòng” Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình [35, 495]
Trong quá trình lãnh đạo công cuộc kháng chiến, kiến quốc, Hồ Chí Minh kêu gọi “toàn dân canh tác, bốn mùa canh tác, thi đua tiết kiệm, tránh xa xỉ, phí phạm, để dành lương thực cho bộ đội hoặc cho những lúc túng thiếu” [35, 18] Trong chiến tranh, Đảng ta cũng luôn chỉ đạo, “đánh chắc thắng”, “đánh chắc, tiến chắc” để tiết kiệm sinh mạng và bảo toàn lực lượng Trong lịch sử nhân loại, vấn đề sử dụng con người luôn luôn được coi là hệ trọng, bởi nó có thể dẫn đến sự thành – bại của một công việc, thậm chí đến sự tồn vong của một quốc gia Khác với việc dùng người của giai cấp thống trị phong kiến nhằm phục vụ cho giai cấp phong kiến, trên cương vị người đứng đầu Đảng, nhà nước, Hồ Chí Minh đặc biệt xem trọng việc dùng người để phục vụ cho cách mạng, phục vụ nhân dân, phục vụ người cần lao Người có phương thức dùng người một cách khoa học, khéo
Trang 39léo, vừa phát huy hết tiềm năng của con người nhưng vẫn thể hiện tấm lòng nhân đạo, bao dung của người lãnh đạo
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh đã viết nhiều bài báo đề cập đến việc dùng người và cách dùng người Trong
bài Thiếu óc tổ chức – một khuyết điểm lớn trong các ủy ban nhân dân,
Người vạch ra nguyên nhân yếu kém chính là thiếu óc tổ chức, phân công công việc không đúng với khả năng cán bộ “người nói giỏi lại cho vào việc khéo chân tay, người viết giỏi lại cho làm việc về lao động thì nhất định sẽ không bao giờ thành công được” Về cách dùng người, Hồ Chí Minh khuyên không nên quá khắt khe, “miễn là không phản lại quyền lợi của quần chúng, không là Việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với Tổ quốc là có thể dùng được Tài to ta dùng vào việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì ta đặt ngay vào việc ấy Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ” Hồ Chí Minh quan niệm sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là “sự nghiệp chung” của mọi người Việt Nam Như vậy, dùng người của Hồ Chí Minh không bị bó hẹp trong khuôn khổ giai cấp, đoàn thể mà được mở rộng cho tất cả mọi người, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, không chỉ người trong Đảng mà còn sử dụng người tài đức ngoài Đảng, chỉ cần họ
“trung thành với Tổ quốc”, “vì lợi ích của đồng bào”, với tinh thần đoàn kết vì sự nghiệp chung, Hồ Chí Minh đã quy tụ nhiều người tài đức có tên tuổi như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Phan Anh, Phạm Bá Trực,… cùng nhau gánh vác việc chung Mặt trận Việt Minh được thành lập, lôi cuốn tất cả các lực lượng yêu nước làm cuộc cách mạng toàn dân thắng lợi, cũng xuất phát từ việc dùng người ấy
Trong bài Tìm người tài đức, Hồ Chí Minh viết ngày 20/11/1946,
“nước nhà cần phải kiến thiết, kiến thiết cần phải có nhân tài Trong số 20
Trang 40triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức E vì chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi các bậc tài đức không thể xuất thân Khuyết điểm ấy tôi xin thừa nhận” [6, 451] Chính sách “chiêu hiền đãi sĩ” của Hồ Chí Minh, thể hiện một tầm nhìn xa rộng, một chiến lược tôn vinh
và sử dụng người tài, vì tầm quan trọng của “nguyên khí” đến vận mệnh đất nước, một bài học mà muôn đời sau vẫn giữ nguyên giá trị
Thuật “dùng người” của Hồ Chí Minh được thể hiện sâu sắc nhất
trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), với những nội dung cơ bản sau:
Một là “hiểu đúng cán bộ”, Hồ Chí Minh cho rằng muốn dùng
người cho đúng, trước tiên phải hiểu đúng, đánh giá đúng con người, mà muốn hiểu đúng, đánh giá đúng con người thì trước tiên “ phải biết đúng sự phải trái ở mình” Nói cách khác, người lãnh đạo tự thân mình phải
“chính”, nghĩa là phải gương mẫu, phải khách quan, vô tư, công bằng, thẳng thắn, không định kiến, không thiên vị, có vậy mới phân biệt được đâu
là đúng, đâu là sai Người cũng chỉ ra những chứng bệnh mà con người thường phạm phải là “tự cao tự đại”, “ưa người ta xua nịnh”, “do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người”, “đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lấp vào tất cả mọi người khác nhau” Chỉ cần phạm vào bốn điều đó thì không thể nhìn đúng, hiểu đúng người được Muốn hiểu đúng, đánh giá đúng con người thì phải nhìn đúng toàn diện, lịch sử cụ thể: “Không chỉ xem ngoài mặt, mà phải xem tính chất của họ Không chỉ xem một việc, một lúc mà phải xem toàn diện cả lịch sử, toàn cả công việc của họ” bởi vì
“thế giới cái gì cũng biến hóa, tư tưởng con người cũng biến hóa” [47, 70]
Hồ Chí Minh cho rằng, đánh giá con người là một quá trình, phải nguyên cứu đến “cội rễ”, phân tích rõ ràng rồi mới quyết định