1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề mâu thuẫn trong triết học mác lênin và sự vận dụng của đảng cộng sản việt nam giai đoạn 1954 1975

148 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề mâu thuẫn trong triết học mác - lênin và sự vận dụng của đảng cộng sản việt nam giai đoạn 1954 - 1975
Tác giả Nguyễn Thị Ái Vân
Người hướng dẫn PGS,TS. Nguyễn Thế Nghĩa
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.BIA-

  • 2.CAM DOAN

  • 3.SUA LV SAU KHI BV

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài

Mâu thuẫn đã được các nhà triết học quan tâm từ sớm, nhưng trước Mác, các nghiên cứu về vấn đề này còn hạn chế do ảnh hưởng của thời đại và lập trường giai cấp Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, dựa trên tư tưởng biện chứng, đã phát triển học thuyết về mâu thuẫn, khẳng định rằng mâu thuẫn là hiện tượng tự thân, tồn tại khách quan và phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy Mâu thuẫn không chỉ là nguồn gốc mà còn là động lực cho mọi sự vận động và phát triển Quan điểm về mâu thuẫn của triết học Mác - Lênin trở thành vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh thực hiện lý tưởng của người cộng sản.

Mâu thuẫn là một hiện tượng phổ biến và khách quan, đóng vai trò là nguồn gốc và động lực cho sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới Quan điểm này, được rút ra từ triết học mácxít, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận thức và giải quyết mâu thuẫn để thúc đẩy sự tiến bộ xã hội Việc nắm vững quy luật mâu thuẫn và các nguyên tắc biện chứng trong giải quyết mâu thuẫn là nền tảng thiết yếu để xây dựng các phương pháp thực tiễn hiệu quả.

Trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn áp dụng tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là phương pháp nhận thức và giải quyết mâu thuẫn Đảng đã sáng tạo và linh hoạt vận dụng quan điểm này để giải quyết các mâu thuẫn cụ thể trong từng bối cảnh thời gian và không gian, từ đó giúp cách mạng Việt Nam tiến bước vững chắc và giành được thắng lợi.

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước hiện nay, nhiều mâu thuẫn phức tạp xuất hiện trên các lĩnh vực xã hội, đặc biệt là kinh tế Để đáp ứng yêu cầu mới của thời đại, việc tìm kiếm và lựa chọn phương pháp giải quyết mâu thuẫn phù hợp với từng giai đoạn cụ thể trở thành một vấn đề cấp bách.

Chúng ta đang đối mặt với nhiều mâu thuẫn trong các lĩnh vực khác nhau, đòi hỏi hiểu biết sâu sắc về lý luận mácxít để lựa chọn phương thức giải quyết hợp lý và hiệu quả Việc này rất quan trọng cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.

Vấn đề giải quyết mâu thuẫn của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn

Giai đoạn 1954 – 1975 có vai trò quan trọng trong việc nhận thức và giải quyết các mâu thuẫn xã hội trong quá trình chuyển đổi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay Nghiên cứu vấn đề này không chỉ làm nổi bật giá trị thực tiễn của phép biện chứng duy vật mà còn khẳng định vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng trong tiến trình cách mạng Việt Nam Do đó, việc tìm hiểu quá trình nhận thức và giải quyết mâu thuẫn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn này vừa có ý nghĩa thực tiễn để rút ra bài học lịch sử, vừa mang lại phương pháp luận sâu sắc.

Chúng tôi đã chọn đề tài “Vấn đề mâu thuẫn trong triết học Mác - Lênin và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975” để nghiên cứu sâu hơn, nhằm hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sĩ triết học.

Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Quy luật mâu thuẫn đã thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả, dẫn đến việc nghiên cứu trên nhiều phương diện và mức độ khác nhau Các công trình nghiên cứu về vấn đề mâu thuẫn có thể được phân loại thành ba hướng chính.

Nghiên cứu lý luận về mâu thuẫn là một hướng nghiên cứu quan trọng, nổi bật với các tác phẩm như "Giáo trình triết học Mác - Lênin" (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006) và "Từ điển triết học" Những công trình này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các vấn đề lý luận chung liên quan đến mâu thuẫn.

Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến các tài liệu quan trọng liên quan đến biện chứng học và quy luật mâu thuẫn Đầu tiên, cuốn "Lịch sử phép biện chứng tập IV" do Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô xuất bản vào năm 1998, cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của biện chứng học Tiếp theo, Lê Đức Quảng (2000) trong tác phẩm "Biện chứng về mâu thuẫn Nhận thức mới về quy luật mâu thuẫn" đã đưa ra những nhận định mới mẻ về vấn đề này Cuối cùng, Nguyễn Thế Nghĩa cũng góp phần làm sáng tỏ thêm các khía cạnh của biện chứng học trong nghiên cứu của mình.

Bài viết này tổng hợp các tài liệu triết học quan trọng, bao gồm "Những chuyên đề triết học" (2007) do Nxb Khoa học xã hội xuất bản tại Hà Nội, cùng với công trình của Nguyễn Ngọc Hà về nhận thức quy luật và mâu thuẫn (1998) và nghiên cứu của Trần Đắc Hiến (2004) về mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng, được đăng trên Tạp chí Triết học, số 2 Những tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các vấn đề triết học cơ bản liên quan đến mâu thuẫn trong xã hội.

Nghĩa (1994), “Tìm hiểu “mâu thuẫn biện chứng” trong triết học mácxít”, Tạp chí Triết học, (số 3)

Nghiên cứu về mâu thuẫn và sự vận dụng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay đang thu hút sự quan tâm Một công trình tiêu biểu trong lĩnh vực này là cuốn sách “Về mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và cách giải quyết trên con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” của GS.TS Phạm Ngọc Quang, được xuất bản bởi Nxb Chính trị quốc gia tại Hà Nội.

Tác giả đã chỉ ra những mâu thuẫn cơ bản trong các lĩnh vực đời sống xã hội và đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm giải quyết những mâu thuẫn này, từ đó thúc đẩy sự phát triển của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong bài viết "Thử vận dụng lý luận về mâu thuẫn vào thời kỳ quá độ ở nước ta" của tác giả Phạm Ngọc Quang, xuất bản năm 1991, tác giả đã phân tích mâu thuẫn xã hội như một phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật Ông xác định các mâu thuẫn cơ bản và tiến hành phân tích những mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Từ đó, tác giả đề xuất những biện pháp nhằm giải quyết các mâu thuẫn này.

Bài viết "Mâu thuẫn - một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của TS Nguyễn Tấn Hùng (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005) trình bày rõ ràng nội dung cơ bản về mâu thuẫn và chỉ ra các mâu thuẫn quan trọng trong xã hội Tác giả cũng đề xuất các phương pháp giải quyết mâu thuẫn trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Vấn đề này đã được thảo luận trong các tạp chí triết học, điển hình là bài viết của Phạm Ngọc Quang (2005) mang tên “Công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay nhìn từ giác độ mâu thuẫn của quá trình phát triển”, đăng trên Tạp chí Triết học (Số 10).

Trong tác phẩm của Tá (2003) về triết học Mác - Lênin, tác giả nhấn mạnh mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, điều này được xuất bản bởi Nxb Chính trị Quốc gia tại Hà Nội Bên cạnh đó, Trần Đắc Hiến (2006) đã phân tích nghệ thuật giải quyết mâu thuẫn xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh và cách Đảng ta vận dụng những nguyên lý này vào thực tiễn.

Tạp chí Triết học, (Số 5)

Nghiên cứu về các phương pháp giải quyết mâu thuẫn đã thu hút sự chú ý của nhiều tác giả, trong đó nổi bật là Nguyễn Tấn Hùng với bài viết “Vài suy nghĩ về vấn đề giải quyết mâu thuẫn” đăng trên Tạp chí Triết học năm 1996, cùng với tác phẩm của Lê Duẩn, “Chủ nghĩa Lênin và cách mạng Việt Nam” năm 1981 Những nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về lý thuyết mà còn áp dụng vào thực tiễn giải quyết mâu thuẫn trong xã hội.

Nxb Sự thật, Hà Nội; Trần Đắc Hiến (2006) đã trình bày về “Nghệ thuật giải quyết mâu thuẫn xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng ta” trên Tạp chí Triết học, số 9 Ngoài ra, Trần Thành (2004) cũng đã đề cập đến “Sự kết hợp các mặt đối lập trong giải quyết mâu thuẫn xã hội” trong Tạp chí Triết học, số 1 Những nghiên cứu này góp phần làm sáng tỏ cách tiếp cận và phương pháp giải quyết mâu thuẫn xã hội trong bối cảnh tư tưởng Hồ Chí Minh.

(1994), “Về mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn dân tộc và cách giải quyết chúng trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Triết học, (số 2); Nguyễn Tấn Hùng

Trong các bài viết từ năm 1999 đến 2002, như “Giải quyết mâu thuẫn nhằm thực hiện tốt việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta” (Tạp chí Triết học, Số 5) và “Để góp phần giải quyết mâu thuẫn chủ yếu ở nước ta hiện nay” (Tạp chí Triết học, Số 4), nhiều tác giả đã thảo luận về các vấn đề mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam Các bài viết này cũng xuất hiện trên Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Lịch sử Đảng và Tạp chí Lý luận chính trị, góp phần nâng cao nhận thức về việc tìm kiếm giải pháp cho những thách thức hiện tại.

Các công trình này mang lại giá trị khoa học đáng kể, cả về lý luận lẫn thực tiễn, và là nguồn tư liệu quý báu giúp chúng tôi kế thừa, phát triển và hoàn thiện luận văn của mình.

Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Mục đích của luận văn:

Bài viết này tập trung vào việc phân tích cách Đảng Cộng sản Việt Nam áp dụng lý luận mâu thuẫn của triết học Mác - Lênin để xác định và giải quyết các mâu thuẫn cơ bản trong quá trình cách mạng Việt Nam Việc này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tư duy lý luận của Đảng mà còn làm nổi bật vai trò của lý luận triết học trong việc định hướng và thúc đẩy cách mạng.

* Nhiệm vụ của luận văn:

- Trình bày và phân tích lý luận mâu thuẫn của triết học Mác – Lênin

- Phân tích quá trình xác định các mâu thuẫn cơ bản và phương pháp giải quyết mâu thuẫn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn cách mạng 1954 - 1975

* Phạm vi nghiên cứu của luận văn:

Trong luận văn thạc sĩ triết học này, chúng tôi nghiên cứu quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về mâu thuẫn, cũng như sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xác định và giải quyết các mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử từ 1954 đến 1975.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Luận văn này được xây dựng dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, với trọng tâm là phân tích quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mâu thuẫn.

Phương pháp nghiên cứu trong luận văn kết hợp các nguyên tắc nhận thức biện chứng với các phương pháp cụ thể như lôgíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp, so sánh và đối chiếu, quy nạp và diễn dịch.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn trình bày hệ thống lý luận mácxít về mâu thuẫn từ góc độ triết học, đồng thời làm rõ việc Đảng Cộng sản Việt Nam áp dụng lý luận này trong việc giải quyết các mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Nghiên cứu quá trình phân tích và giải quyết mâu thuẫn của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1954 đến 1975 mang lại ý nghĩa quan trọng trong việc hiểu và xử lý các mâu thuẫn xã hội hiện nay trong giai đoạn chuyển tiếp lên Chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam.

Luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo trong việc học tập, nghiên cứu và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn.

Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 2 chương, 5 tiết

LÝ LUẬN MÂU THUẪN TRONG TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

1.1.1 Quan điểm của triết học Mác – Lênin về mặt đối lập

Tư tưởng mâu thuẫn đã xuất hiện từ thời cổ đại, với những phỏng đoán thiên tài về sự tác động qua lại của các mặt đối lập, được coi là cơ sở vận động của thế giới Các triết gia cổ đại, cả ở phương Đông và phương Tây, đều nhận định rằng vận động phát sinh từ sự hình thành của những mặt đối lập, và chính những mặt đối lập này cũng luôn trong trạng thái vận động.

Học thuyết Âm - Dương khẳng định rằng mọi vật tồn tại và phát triển nhờ sự vận động của hai khí Âm và Dương, vốn tồn tại vĩnh hằng trong vũ trụ Dương biểu trưng cho ánh sáng, trong khi Âm đại diện cho bóng tối Hai khái niệm này được xem là hai thế lực căn bản của vũ trụ, hiện diện trong mọi sự vật, hiện tượng, từ lớn đến nhỏ, từ vô hình đến hữu hình Sự tương tác giữa Âm và Dương tạo ra sự biến hóa không ngừng của vũ trụ và là nguồn gốc sinh ra trời đất, bốn mùa cùng các yếu tố cơ bản của thế giới.

Tư tưởng của Lão Tử, một nhà biện chứng lỗi lạc trong triết học Phương Đông, nhấn mạnh rằng toàn bộ vũ trụ và vạn vật đều bị chi phối bởi “Đạo” và luôn trong trạng thái vận động, biến hóa không ngừng Ông chỉ ra hai quy luật cơ bản của “Đạo” là luật quân bình và luật phản phục Luật quân bình, có nguồn gốc từ Dịch học, biểu thị trạng thái cân bằng tự nhiên giữa trời và đất, không có sự thái quá hay bất cập Bên cạnh đó, luật phản phục cho rằng khi một sự vật phát triển đến tột đỉnh, nó sẽ trở thành đối lập với chính nó, dẫn đến sự chuyển hóa các tính chất thành tính chất tương phản.

Theo quan niệm của Phật giáo, vạn pháp đều trải qua một quá trình thành

Sinh ra và lớn lên, mọi sự vật đều trải qua quá trình trụ lại, hư hoại và cuối cùng là mất đi, tức là không tồn tại nữa Đối với những sự vật vô tình, quá trình này thể hiện qua sinh - trụ - dị - diệt Trong khi đó, ở sự vật hữu tình, bao gồm cả con người, chuỗi này được diễn tả qua sinh - lão - bệnh.

Sự vật mang trong mình mâu thuẫn nội tại, bởi ngay từ khi hình thành, chúng đã bắt đầu quá trình hướng tới diệt vong Ví dụ, con người từ lúc sinh ra đã chứa đựng sự già đi, đau ốm và cái chết Sống và chết, còn và mất là hai yếu tố đối lập nhưng lại thống nhất trong mỗi sự vật và mỗi con người.

Phật giáo cho rằng nhận thức của con người là một mâu thuẫn, dẫn đến khổ đau Theo Phật giáo, con người và vạn vật vốn vô ngã và vô thường, nhưng do vô minh, con người nhầm lẫn cho rằng mọi thứ là của riêng mình và tồn tại vĩnh viễn Điều này khiến con người cố gắng nắm giữ những gì họ không thể kiểm soát, dẫn đến mâu thuẫn và thất vọng Phật giáo nhìn nhận thế giới trong sự vận động và chỉ ra rằng nguồn gốc của sự vận động là do những mâu thuẫn nội tại của nó.

Tư tưởng biện chứng về mâu thuẫn đã được phát triển rõ rệt trong triết học Hy Lạp cổ đại, đặc biệt qua tư tưởng của Hêraclít Ông cho rằng mọi vật đều tồn tại và không tồn tại đồng thời, vì chúng luôn trong trạng thái thay đổi và phát triển Hêraclít nhấn mạnh rằng các sự vật và hiện tượng chứa đựng những mặt đối lập, tác động qua lại và thống nhất với nhau, tạo thành tiền đề cho sự tồn tại của nhau Sự thống nhất này là sự hòa hợp giữa cái đa dạng và các mặt đối lập, bởi không có mặt này thì sẽ không có mặt khác Một chỉnh thể thống nhất luôn tồn tại cùng với các mặt đối lập, như sức khỏe không thể được quý trọng nếu không có bệnh tật, và cái ác luôn tồn tại song song với cái thiện, làm cho cái thiện trở nên cao cả hơn.

Triết học cổ điển Đức nổi bật với sự phát triển vượt bậc về khái quát và tư duy trừu tượng so với các nền triết học trước đó, đặc biệt là trong tư tưởng về mâu thuẫn Hai đại biểu tiêu biểu của triết học này là Immanuel Kant và Georg Wilhelm Friedrich Hegel.

Kant đã chỉ ra bốn mâu thuẫn dưới dạng các antinomia, mỗi antinomia bao gồm hai luận đề đối lập: chính đề và phản đề Những mâu thuẫn này không thể khắc phục, vì chúng tồn tại ngay trong bản chất của lý tính con người Một trong những antinomia mà Kant đề cập là việc vũ trụ có khởi đầu hay không, và có hạn hay vô hạn trong không gian Ông không thể giải quyết vấn đề này vì không thể xác định phán đoán nào là chân thực hay giả dối Trong tổng thể, vũ trụ được coi là vô hạn, nhưng khi xem xét từng sự vật cụ thể, nó lại có giới hạn Các thuộc tính hữu hạn hay vô hạn đều phải được nhìn nhận từ một góc độ tổng thể Việc chứng minh vũ trụ có hạn dẫn đến phi lý, trong khi giả định nó vô hạn cũng rơi vào sự phi lý tương tự.

Theo Kant, các antinomia xuất hiện khi con người vượt qua quá trình tư duy kinh nghiệm Ở giai đoạn nhận thức này, ông coi các mặt đối lập là những đối lập về chất thông qua các antinomia Tuy nhiên, Kant đã không thể giải quyết vấn đề về các antinomi, dẫn đến việc ông từ bỏ việc thừa nhận các mâu thuẫn khách quan Ông cho rằng sự tồn tại của mâu thuẫn chứng tỏ sự bất lực của con người trong việc nhận thức thế giới.

Phép biện chứng trước Mác đạt đến đỉnh cao trong triết học Hêghen, đặc biệt được thể hiện qua tác phẩm “Khoa học lôgic” Hêghen nhấn mạnh rằng mâu thuẫn nội tại là động lực cho mọi sự phát triển Ông phê phán quan niệm siêu hình về các mặt đối lập cực đoan, khẳng định rằng các mặt đối lập không phải là tuyệt đối mà có tính tương đối, tồn tại trong mối liên hệ chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển.

Trong "Học thuyết về bản chất" của "Khoa học logic", Hêghen phát triển lược đồ mâu thuẫn với các yếu tố đồng nhất, khác nhau, đối lập và căn cứ, coi đây là quy luật nội tại của bản chất Ông khẳng định mâu thuẫn là bản chất của mọi sự vật, hiện tượng và khái niệm, cho rằng đồng nhất và khác biệt không tách rời mà gắn bó trong cùng một bản chất Hêghen phê phán quan điểm siêu hình về đồng nhất, cho rằng đó chỉ là sự đồng nhất trừu tượng và không chứa đựng chân lý, nhấn mạnh rằng mọi đồng nhất đều tiềm ẩn sự khác biệt và mâu thuẫn.

Nhận thức về mối quan hệ giữa đồng nhất và khác biệt cho thấy sự mâu thuẫn bên trong chính bản chất của chúng Theo Hêghen, đồng nhất luôn bao hàm sự khác biệt và mâu thuẫn, đồng thời chúng vừa thống nhất vừa đối lập với nhau Mỗi sự vật đều chứa đựng mâu thuẫn nội tại, và chính những mâu thuẫn này là điều kiện tồn tại của sự vật Hêghen đã chỉ ra rằng mâu thuẫn đóng vai trò quan trọng trong quá trình vận động và phát triển, khẳng định rằng “mâu thuẫn là nguồn gốc của mọi vận động và sức sống; chỉ khi một vật chứa đựng mâu thuẫn trong bản thân nó, nó mới có thể vận động và hoạt động.”

Tất cả mọi vật đều mang trong mình tính chất mâu thuẫn, và đây chính là nguyên lý của mọi sự vận động Vận động không chỉ đơn thuần là sự di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác, mà còn là sự hiện diện đồng thời của các trạng thái đối lập Điều này cho thấy rằng vận động chính là bản chất của mâu thuẫn, và một sự vật chỉ tồn tại khi nó chứa đựng mâu thuẫn trong chính nó.

Việc phát hiện và giải quyết mâu thuẫn là yếu tố then chốt giúp tạo ra cái mới, đồng thời loại bỏ những điều lỗi thời nhưng vẫn giữ lại những giá trị tích cực của cái cũ Mâu thuẫn không phải là rào cản, mà chính là nguồn động lực thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ.

LÝ LUẬN MÂU THUẪN TRONG TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG LÝ LUẬN MÂU THUẪN CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN ĐỂ GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1954 - 1975

Ngày đăng: 04/05/2021, 07:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc bộ chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước: thắng lợi và bài học, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước: thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc bộ chính trị
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Một số chuyên đề Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
4. Bộ Giáo dục và Đào tạ o (2005), Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác - Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạ o
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
5. Bộ Giáo dục Đào tạo (2009), Giáo trình những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênnin, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênnin
Tác giả: Bộ Giáo dục Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
6. Bộ Quốc phòng viện lịch sử quân sự Việt Nam (2013), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tập II , Nxb. Chính trị Quốc gia, Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tập II
Tác giả: Bộ Quốc phòng viện lịch sử quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
7. Lê Duẩn (1970), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb. Sự thật, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1970
8. Lê Duẩn (1970), Cách mạng miền Nam và chiến tranh nhân dân chống Mỹ cứu nước, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng miền Nam và chiến tranh nhân dân chống Mỹ cứu nước
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
Năm: 1970
9. Lê Duẩn (1976), Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb. Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb. Sự Thật
Năm: 1976
10. Lê Duẩn (1981), Chủ nghĩa Lênin và cách mạng Việt Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Lênin và cách mạng Việt Nam
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1981
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1977
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 18, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 19, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 22, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 25, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 27, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 37, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w