Dòng ý thức, độc thoại nội tâm, không gian, thời gian tâm tưởng là ba đặc điểm chính của khuynh hướng văn học này đã được thể hiện thành công trong hai tác phẩm.. Tư duy duy lý của văn h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.01.21
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 1 NĂM 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
GVHDKH: PGS.TS NGUYỄN HỮU HIẾU
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.01.21
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 1 NĂM 2015
Trang 3công việc bận rộn Nhưng nhờ có sự động viên của cha mẹ, thầy cô và bạn bè, tôi đã
cố gắng hoàn thành bài nghiên cứu của mình Đặc biệt, nhờ vào sự quan tâm, hướng dẫn tận tâm của thầy hướng dẫn, PGS.TS Nguyễn Hữu Hiếu, tôi đã hoàn thành luận văn Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến thầy, cảm ơn cha mẹ, thầy cô và bạn bè luôn động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu, thông tin và kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nghiên cứu hay kênh thông tin nào khác
Học viên
NGUYỄN THỊ KIM ÁNH
Trang 5DẪN NHẬP 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của luận văn 8
6 Kết cấu của luận văn Chương 1 GIỚI THUYẾT VỀ VĂN HỌC NỘI QUAN 9
1.1 Khái niệm văn học nội quan 9
1.2 Quá trình hình thành 10
1.3 Đặc điểm của văn học nội quan 12
1.3.1 Màu sắc tự truyện 12
1.3.2 Dòng ý thức 14
1.3.3 Độc thoại nội tâm 16
1.3.4 Không gian, thời gian tâm trạng 21
1.4 Sự phổ biến của văn học nội quan trong nền văn học thế giới và Việt Nam ………24
1.5 Hiệu ứng nghệ thuật của khuynh hướng văn học nội quan trong sáng tạo tiểu thuyết……….29
Chương 2 ĐẶC TÍNH CỦA VĂN HỌC NỘI QUAN TRONG TÁC PHẨM NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH 32
2.1 Những yếu tố tự truyện 32
2.1.1 Tác giả và tác phẩm……… 32
2.1.2 Yếu tố tự truyện ……… 33
2.2 Những giấc mơ tỉnh – vô thức 40
2.2.1 Giấc mơ tỉnh 42
Trang 6Tiểu kết ……….69
Chương 3 ĐẶC TÍNH VĂN HỌC NỘI QUAN TRONG TÁC PHẨM CƠ HỘI CỦA CHÚA CỦA NGUYỄN VIỆT HÀ 70
3.1 Màu sắc tự truyện 70
3.1.1 Tác giả và tác phẩm 70
3.1.2 Yếu tố tự truyện 74
3.2.2 Thế giới nội tâm của nhân vật 77
3.3 Không gian, thời gian tâm lý 101
Tiểu kết ………108
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
A Sách, tạp chí tham khảo 114
B Các bài viết tham khảo trên internet 118
Trang 7DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Chịu sự ảnh hưởng từ triết học trực giác của Henry Bergson (1859 – 1941)
và triết học cơ năng của William James (1842 – 1910), một tư duy nghệ thuật mới
đã ra đời, tạo điều kiện cho sự hình thành của một khuynh hướng văn học mới,
khuynh hướng văn học nội quan hiện đại Với khuynh hướng này, nhà văn tập
trung đi vào tiếp cận, khai thác, thể hiện bề sâu con người trong khoảng không gian
rộng lớn, tự nhiên của đời sống nội tâm đa dạng, phong phú và chân thật Văn học
nội quan phát triển rực rỡ nhất là vào khoảng đầu thế kỷ XX, khẳng định được sự
thành công của một khuynh hướng sáng tác mới Nó đã tạo nên một bước ngoặt lớn trong việc cách tân nghệ thuật, đưa văn học thoát khỏi đường mòn của lối văn chương chuyên đi vào tái hiện bức tranh hiện thực đời sống xã hội bằng cái nhìn khách quan, bao quát ở các thế kỷ trước Văn học nội quan ra đời, phát triển rực rỡ
và có sự ảnh hưởng sâu rộng trên văn đàn thế giới, trong đó có Việt Nam
Sau năm 1975, văn học Việt Nam có những chuyển biến mới mẻ trong việc cách tân nội dung Khi đất nước bắt đầu bước vào giai đoạn hội nhập thì con người Việt Nam cũng dần bắt đầu thích nghi và cố gắng để đương đầu với những thử thách mà cuộc sống ập đến Tuy nhiên, những khó khăn của cuộc sống mưu sinh cùng với nỗi đau mà chiến tranh để lại đẩy con người rơi vào trạng thái cùng quẫn
về tinh thần, khát khao được thấu hiểu, đồng cảm và sẻ chia Sự ra đời các tác phẩm khai phá những mạch ngầm cảm xúc đó đã đáp ứng đòi hỏi bức thiết trong đời sống nội tâm con người Điều này đã tạo nên được sự mới mẻ, đa dạng của các tác phẩm văn học Việt Nam Tác phẩm đã tái hiện về cuộc đời, số phận và những
khát khao hạnh phúc của những người phụ nữ nơi làng Đông trong tác phẩm Bến
không chồng của Dương Hướng Hay đó là hình ảnh của một làng quê nông thôn
trong Mảnh đất lắm người nhiều ma khiến người đọc phải trầm ngâm suy nghĩ khi chợt nhận ra đằng sau cái dáng vẻ nông thôn yên bình kia “nếu chỉ nhìn nó ở lát
cắt ngang “đồng đại”, thì có vẻ như mọi sự đều xuôi chiều ổn thỏa, nhưng phải
Trang 8nhìn nó ở lát cắt dọc, “lịch đại” mới thấy bên dưới bề mặt phẳng lặng là những con sóng âm ỉ sôi sục” [82, tr.1183] Các tác phẩm đã thật sự thành công khi thu
hút được sự chú ý cũng như đem đến cho người đọc những cảm xúc mới mẻ với nhiều trăn trở, suy tư về cuộc sống, con người Tuy nhiên, dù đã cố gắng khai thác những tầng vỉa nội dung phong phú của đời sống nhưng tác phẩm vẫn chưa chạm được đến tầng sâu cùng của nội tâm con người Điều này đặt ra yêu cầu đối với nhà văn là phải có sự đổi mới trong phương pháp sáng tác để có thể tạo nên một cuộc cách tân thật sự cho tiểu thuyết Sự ảnh hưởng từ khuynh hướng văn học nội quan thế kỷ XX đã tạo ra bước ngoặt lớn cho văn học Việt Nam và đáp ứng được yêu cầu trên
Hòa trong tiến trình phát triển của văn học nội quan thế giới và thông qua sự
giao lưu, tiếp biến giữa các nền văn hóa, văn học Việt Nam cũng có bước tiến quan trọng với sự ra đời của các tác phẩm mang khuynh hướng nội quan Tiêu biểu cho
khuynh hướng văn học này có thể nói đến tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (1991) của Bảo Ninh và sau đó là Cơ hội của Chúa (1999) của Nguyễn Việt Hà Sự ra đời
của hai tác phẩm trên đã thu hút được sự chú ý của độc giả, các nhà nghiên cứu, phê bình với nhiều luồng ý kiến trái chiều, khen - chê khác nhau Ấn tượng chung
mà hai tác phẩm đem lại là tác giả đã “lấy tự ngã làm cốt lõi, lấy cuộc sống quanh
mình làm bán kính, sáng tác của họ tuy không phải là tiểu thuyết tự thuật nhưng họ chú trọng cái hình thức tư nhân hóa sáng tác, cuộc sống và tình cảm cá nhân đóng vai trò chủ chốt trong sáng tác của họ” [55, tr.188], làm nên những tác phẩm nội
quan tiêu biểu Thế giới nội tâm là trung tâm điểm được khai thác triệt để, thể hiện sâu sắc qua dòng ý thức, giấc mơ hay độc thoại nội tâm của nhân vật Đây cũng
chính là những đặc điểm chủ yếu của khuynh hướng văn học nội quan mà hai tác
phẩm đã thể hiện thành công, góp phần khẳng định được hướng đi mới trong nghệ
thuật tiểu thuyết Việt Nam thế kỷ XX Vì thế, với đề tài “Nghiên cứu tiểu thuyết
“Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh) và “Cơ hội của Chúa” (Nguyễn Việt Hà) từ góc nhìn đặc trưng tiểu thuyết nội quan hiện đại”, chúng tôi hi vọng sẽ hiểu sâu
Trang 9hơn những nét đặc trưng của VHNQ thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu hai tác phẩm trên
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khuynh hướng nội quan đã tạo ra một bước ngoặt lớn trong công cuộc cách tân nghệ thuật của văn học thế giới thế kỷ XX Khuynh hướng này có ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn học Việt Nam, mở ra một hướng đi mới trong nghệ thuật sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Từ sau những năm 80 của thế kỷ XX, văn học Việt Nam có những bước tiến quan trọng trong quá trình phát triển và cách tân nghệ thuật, đặc biệt là với thể loại tiểu thuyết Sự phong phú về nội dung thể hiện là một điều đáng ghi nhận của tiểu thuyết giai đoạn này Hiện thực đời sống với bao bộn
bề lo toan của những con người vừa bước ra khỏi chiến tranh trở thành chủ đề được khai thác và thể hiện thành công Đó không còn là bức tranh về xã hội, đất nước nói chung mà là bức tranh của hiện thực đời sống, tinh thần con người cá
nhân được thể hiện sâu sắc Sự xuất hiện của những tiểu thuyết như Mùa lá rụng
trong vườn, Thời xa vắng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bến không chồng, Ăn mày dĩ vãng… đã làm nên sự đa dạng về nội dung thể hiện của tiểu thuyết Việt
Nam giai đoạn này Có thể nói, tiểu thuyết đã thực hiện thành công vai trò của
mình trong việc “tái hiện với một quy mô lớn những bức tranh hiện thực đời sống,
của số phận con người, của lịch sử, triết học, văn hóa, đạo đức, phong tục…” [25,
tr.229] Tuy nhiên, những tiểu thuyết này chỉ mới đạt được sự thành công trong nội dung thể hiện với việc khai thác chất liệu đời thường ở những khía cạnh đặc sắc và khái quát nó bằng lối trần thuật khách quan Những đổi mới trong tư duy và lối viết
vẫn là một ẩn số chưa được khai mở Sự ra đời của Nỗi buồn chiến tranh đã làm
được cuộc cách mạng trong tư duy cũng như sự đổi mới về nghệ thuật Tác phẩm
có lối viết của “dòng ý thức, dòng chảy tâm trạng, hữu thức và vô thức, hiện tại,
quá khứ và cả dự định tương lai đan xen, lẫn lộn” [95] được thể hiện qua ““dòng
ý thức” của nhân vật Kiên, đảo lộn trình tự thời gian, chắp nối, đứt đoạn sự kiện, lồng “truyện trong truyện” [114] Cách viết này của Bảo Ninh, chúng ta dễ dàng
Trang 10nhận thấy trong tiểu thuyết của Marcel Proust, James Joyce với một chuỗi những
hồi ức đã “tạo ra một kiểu thời gian chồng chéo, đan cài vào nhau trong dòng chảy
gần như dòng ý thức triền miên” [46, tr.267], cùng với sự đồng hiện của không
gian, thời gian tâm tưởng được tạo nên từ hoài niệm, sự ám ảnh, sợ hãi hiện thực trong quá khứ Bên cạnh đó, thế giới nội tâm của nhân vật được nhà văn thể hiện rất thành công, chân thực như tái hiện tâm trạng của chính nhà văn Sự độc đáo về
nghệ thuật trong Nỗi buồn chiến tranh đã được giới phê bình đánh giá cao bởi tác phẩm đã khẳng định được “con đường tìm tòi nghệ thuật: nhìn thẳng vào hiện thực
chiến tranh, bằng những trải nghiệm và cái nhìn cá nhân, tái hiện lại cái chiều kích đau thương và bộ mặt tàn khốc không thể quy giản của chiến tranh” [55,
tr.251] Bút pháp nghệ thuật trong Nỗi buồn chiến tranh đã trở thành một đề tài thú
vị để các nhà nghiên cứu, phê bình tìm hiểu, khai thác Luận văn cao học của Vũ
Thị Thúy Vân, trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội với đề tài “Thi
pháp tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh” Đây có thể là đề tài có
nhiều vấn đề gần với đề tài mà chúng tôi nghiên cứu khi khảo sát tác phẩm Nỗi
buồn chiến tranh Tuy nhiên, do điều kiện tìm kiếm tài liệu khó khăn, chúng tôi
vẫn chưa tham khảo được đề tài này Nhưng trong một chừng mực nào đó, với những luận án đã tìm được, chúng tôi hi vọng sẽ có được phần nào những hiểu biết
cơ bản để có thể nghiên cứu tác phẩm được tốt hơn Luận án tiến sĩ Ngữ văncủa
Nguyễn Thị Thanh với đề tài “Tiểu thuyết về chiến tranh trong văn học Việt Nam
sau 1975 – Những khuynh hướng và sự đổi mới nghệ thuật”, luận án tiến sĩ Ngữ
văn của Hoàng Thị Hồng Hà với đề tài “Những đặc điểm nghệ thuật của văn xuôi
Việt Nam cuối những năm 80 – đầu những năm 90” và đề tài luận án tiến sĩ Ngữ
văn“Những đổi mới trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 – 2000” của Trần Thị Mai
Nhân Trong đề tài nghiên cứu của mình, dường như Nguyễn Thị Thanh đã khái quát được gần như toàn bộ những đặc điểm nghệ thuật nổi bật làm nên thành công
của tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh Thông qua những dòng hồi ức
bất tận với những giấc mơ và trạng thái vô thức của nhân vật Kiên kết hợp với kiểu không gian, thời gian đồng hiện, lồng ghép đã làm nên một tác phẩm đặc sắc
Trang 11Trong đề tài luận án tiến sĩ Ngữ văn của Hoàng Thị Hồng Hà và Trần Thị Mai Nhân, cả hai tác giả cũng đã đề cập đến một số đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm này Trần Thị Mai Nhân chú ý đến kết cấu truyện lồng truyện, những giấc mơ và cách xử lý thời gian của Bảo Ninh trong tác phẩm Đó là khoảng thời gian quá khứ, hiện tại được đan cài vào nhau qua những kí ức không liền mạch của nhân vật
Truyện được kể “ở nhiều thời điểm, nhờ hoạt động của kí ức, các sự kiện thì “bị
làm rối” và lồng vào nhau” [68, tr.165] Đây cũng là điểm đặc biệt mà TS
Nguyễn Văn Kha đã nhắc đến khi nói về tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh Tác giả
đã khẳng định kiểu thời gian trong tác phẩm là thời gian của kí ức và không gian
tâm tưởng “Thời gian hiện tại và quá khứ đan cài vào nhau trong Kiên theo dòng
suy tưởng Trong dòng chảy của kí ức là không gian bên trong của nhân vật – không gian tâm tưởng” [51, tr.135-136] Còn TS Hoàng Thị Hồng Hà thì khảo sát
kết cấu dòng ý thức, “lấy diễn tiến tâm lý của con người làm trọng tâm, lấy nỗi ân
hận hay niềm hi vọng làm chủ đề” [29, tr.97] trong toàn bộ diễn biến của Nỗi buồn chiến tranh Kí ức cá nhân được khai thác đến tận cùng để con người tự đối diện
với chính mình nhằm giãi bày tất cả những tâm tư, tình cảm một cách chân thật nhất Hình thức độc thoại nội tâm cũng là một trong những đặc điểm quan trọng được chú ý ở tác phẩm này Theo TS Nguyễn Văn Kha thì độc thoại nội tâm trong tác phẩm chính là kiểu “đối thoại ngầm” mà ở đó nhà văn Kiên có sự phân thân
làm hai con người “Một con người ở trạng thái “vô thức” với những cơn hoảng
loạn, mê sảng và ác mộng, đối diện, đối thoại với con người “ý thức” tỉnh táo, sáng suốt” [51, tr.103] Thêm vào đó, những câu văn dài không được chấm phẩy
theo quy luật nhịp điệu văn xuôi cũng được TS Hoàng Thị Hồng Hà chú ý Bởi theo tác giả, những đoạn văn dài không có dấu chấm phẩy như chuỗi kí ức hay dòng suy tưởng đang tuôn chảy nhằm khắc sâu tâm trạng, cảm xúc của nhân vật
Tất cả những đặc điểm trên của Nỗi buồn chiến tranh đã góp phần hình thành nên
một tiểu thuyết nội quan tiêu biểu cho nền văn học Việt Nam thế kỷ XX
Văn học Việt Nam trong những năm 1986 – 1990, ở các thể loại thơ, văn xuôi đều sôi nổi và gây được sự chú ý của độc giả Đặc biệt, với thể loại văn xuôi, sự
Trang 12xuất hiện của những tác phẩm truyện ngắn và tiểu thuyết độc đáo về nội dung và cách thể hiện, tạo bầu không khí sôi nổi trên văn đàn và giới phê bình Những tên tuổi như Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Chu Lai, Bảo Ninh, Hồ Anh Thái Nhưng sau giai đoạn này thì không khí văn học đã nguội lạnh dần, rơi vào trạng thái tĩnh lặng Trạng thái ấy cũng không kéo dài lâu khi một
loạt tác phẩm ra đời, trong đó sự xuất hiện Cơ hội của Chúa (1999) của Nguyễn
Việt Hà được chú ý khá nhiều Nội dung không có gì mới nhưng hình thức thể hiện
lạ, độc đáo của Nguyễn Việt Hà gây được sự chú ý, tạo ra nhiều luồng dư luận Có
người cho rằng Cơ hội của Chúa chỉ thể hiện cái cách sính kiến thức, đầy tính triết
lý của Nguyễn Việt Hà, chỉ đem lại sự nhàm chán và “cái giọng trí thức bụi bình
dân cao cấp nhiều lắm cũng chỉ tạo nổi thứ văn chương hạng nhì” [105] Nội dung
tác phẩm là hiện thực với các góc khuất của xã hội, con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ở đó, những giá trị cơ bản của đạo đức con người đã
bị “thui chột” đi nhiều, con người phải vật lộn với đời sống trong sự quay cuồng của guồng máy kinh tế thị trường Tuy nhiên, cái hiện thực ấy trở nên độc đáo khi được
tái hiện bằng “lối viết túy quyền” (Nguyễn Huy Thiệp), “lối trần thuật nhiều điểm
nhìn, phi trung tâm, nhấn vào cảm thức hiện sinh” [127] và là những dòng nhật ký
chất chứa tâm trạng, suy nghĩ, hồi ức của các nhân vật Thủ pháp “tương chiếu”, sự đan cài các tuyến thời gian là những đặc điểm mà TS Trần Thị Mai Nhân đã đề cập
đến khi nói đến tác phẩm này Với thủ pháp này thì “nhân vật được chiếu sáng từ
nhiều mối quan hệ, quan hệ tương tác với các nhân vật khác (quan hệ từ bên ngoài), quan hệ với chính mình (từ bên trong)” [68, tr.139] Nhờ đó mà những diễn
biến tâm lý ở bề sâu của nhân vật được tái hiện một cách tự nhiên và sâu sắc Diễn biến tâm lý ấy đã làm thay đổi trật tự thời gian tuyến tính, tạo nên sự đan cài giữa
hiện tại - quá khứ - tương lai Điều này đã tạo nên “sự đứt gãy, chắp nối, tiến lùi
giữa các tuyến thời gian” [68, tr.166] Còn theo Nguyễn Chí Hoan thì “cái hiệu quả đáng kể nhất của cấu trúc các nhân vật phân thân trong cuốn tiểu thuyết này chính
là ở chỗ nó đã tạo ra một kiểu không gian ảo” [136] mà ở đó diễn biến tâm lý nhân
vật làm trung tâm tạo nên kiểu không gian, thời gian tâm tưởng
Trang 13Những đặc điểm nghệ thuật của Nỗi buồn chiến tranh và Cơ hội của Chúa mà
các nhà nghiên cứu, phê bình đã đề cập đến phần nào khẳng định được sự ảnh hưởng của khuynh hướng VHNQ trong văn học Việt Nam Dòng ý thức, độc thoại nội tâm, không gian, thời gian tâm tưởng là ba đặc điểm chính của khuynh hướng văn học này đã được thể hiện thành công trong hai tác phẩm Các đặc điểm này sẽ được chúng tôi trình bày cụ thể ở từng chương của luận văn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Sự ra đời và phát triển rực rỡ của khuynh hướng nội quan hiện đại trong văn học thế kỷ XX đã mang đến nhiều sự chuyển biến mới mẻ, độc đáo về nghệ thuật sáng tác Đặc biệt, trong thể loại tiểu thuyết thì khuynh hướng văn học này đã làm nên một cuộc cách mạng trong sáng tạo tác phẩm với nhiều điểm mới và đặc sắc
Vì thế, với mong muốn được hiểu sâu hơn về văn học nội quan, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi chính là những đặc điểm cơ bản của khuynh hướng văn học này được thể hiện trong nền văn học thế giới cũng như ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu được thể hiện chủ yếu trong tác phẩm Nỗi buồn chiến
tranh của Bảo Ninh và Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà Với việc khảo sát và
nghiên cứu về hai tác phẩm này, chúng tôi hi vọng sẽ khái quát được những đặc điểm cơ bản của khuynh hướng văn học nội quan trong tiểu thuyết Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để làm rõ những đặc điểm
của văn học nội quan trong nền văn học bằng việc tìm hiểu, phân tích các tác phẩm
nội quan và hai tác phẩm chính của đề tài
Phương pháp so sánh được dùng để đối chiếu, thể hiện sự khác biệt cơ bản
giữa văn học nội quan và ngoại quan Từ đó nhấn mạnh những đặc điểm và thành công của văn học nội quan trong thế kỷ XX Đặc biệt là so sánh hai tác phẩm Nỗi
buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà để tìm ra
những điểm khác biệt, độc đáo
5 Đóng góp của luận văn
Trang 14Trước hết, với đề tài “Nghiên cứu tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo
Ninh) và “Cơ hội của Chúa” (Nguyễn Việt Hà) từ góc nhìn đặc trưng tiểu thuyết nội quan hiện đại”, chúng tôi hi vọng sẽ giúp bạn đọc có cái nhìn khái quát hơn về
khuynh hướng văn học nội quan được thể hiện trong tiểu thuyết Việt Nam Đồng thời, chúng tôi cũng rất mong những vấn đề được trình bày trong luận văn có thể giúp các bạn hiểu sâu, có những đánh giá khách quan khi tìm hiểu hai tác phẩm
Nỗi buồn chiến tranh và Cơ hội của Chúa
6 Kết cấu của luận văn
Trang 15Chương 1 GIỚI THUYẾT VỀ VĂN HỌC NỘI QUAN
1.1 Khái niệm văn học nội quan
“Nội quan” là cái nhìn hướng nội, hướng vào thế giới bên trong sự vật, con người Nó đối lập với cái nhìn hướng ngoại bên ngoài cuộc sống xã hội, con người
mà văn học ngoại quan thế kỷ XIX đã thể hiện Văn học nội quan là một xu hướng thẩm mỹ hướng đến sự quan sát thế giới nội tâm của con người với những diễn biến tâm lý đa dạng và sâu sắc Nó thể hiện quá trình con người tự kiểm bản thân trong không gian tâm lý phức tạp
Để có thể sáng tạo nên một tác phẩm nội quan thành công, đòi hỏi nhà văn phải am tường quá trình vận động trong đời sống tâm lý, đi sâu vào từng ngóc ngách thầm kín của tâm hồn con người Có khi những diễn biến nội tâm của nhân vật lại chính là những suy tư, cật vấn trong chính nhà văn Đồng thời, nhà văn phải
“cởi bỏ” quan điểm sáng tác dựa trên tư duy duy lý và sự quan sát khách quan, phải hướng nội, đi sâu thể hiện chiều sâu tâm lý nhân vật bằng trực giác sinh động Quan điểm sáng tác này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tư tưởng triết học về chủ nghĩa trực giác của Henry Bergson (1859 – 1941), đặc biệt là phân tâm học của
Sigmund Freud Henry chủ trương nhà văn phải “từ trực giác cảm tính chủ quan
và tâm linh sâu thẳm của con người để đi tìm cái động lực cội nguồn của nghệ thuật” [58, tr.199] Tư duy duy lý của văn học ngoại quan thế kỷ XIX chỉ đem lại
cho người đọc một thế giới tồn tại trong sự tiếp diễn không ngừng của chuỗi thời gian vật lý mà ở đó những hoạt động của con người luôn được quan sát và tái hiện một cách cụ thể và chân thật Chuỗi hành động trong văn học ngoại quan đã được thay thế bằng những trạng thái tâm lý phức tạp, sâu sắc trong văn học nội quan Trực giác đưa con người rời khỏi sự quan sát thuần túy bên ngoài đối tượng miêu
tả mà đi sâu vào những rung động tinh tế lẩn khuất trong tâm hồn Cái nhìn trực giác của văn học nội quan đem đến cho người đọc một bức tranh đời sống nội tâm trong những diễn tiến của thời gian và không gian tâm lý phức tạp Ở đó, tính chất đồng hiện của quá khứ và hiện tại luôn đan cài vào nhau tạo nên một bức tranh
Trang 16hiện thực về đời sống con người sâu sắc Nó được lồng ghép vào những dòng suy
tư của nhân vật một cách tự nhiên, chân thực Và mỗi tác phẩm văn học nội quan là một quá trình sáng tạo độc đáo, bất ngờ bởi chúng ta không thể nào đoán biết được
diễn biến tiếp theo của từng sự kiện Bởi “mỗi một thoáng qua là một sự sáng tạo,
mà thoáng qua sắp đến chưa thể nào biết được Nghệ sĩ do đó không thể nào biết được kết quả cuối cùng của tác phẩm” [58, tr.196] Và cái thoáng qua ấy chính là
những khoảnh khắc của hoài niệm, cảm xúc, giấc mơ, dòng ý thức và cả sự vô thức
hiện hữu trong từng trang viết Điều này đã tạo nên sự cách tân trong sáng tạo văn học nghệ thuật cũng như lý luận phê bình thế kỷ XX Bên cạnh đó, sự ra đời của khuynh hướng văn học nội quan cũng đòi hỏi ở độc giả một sự thay đổi về cách đọc, khám phá và nhìn nhận tác phẩm Độc giả không thể đọc tác phẩm bằng tư duy logic mà phải cảm nhận nó bằng cái nhìn sinh động của tâm lý, khám phá tác phẩm ở bề sâu
Kinh nghiệm cá nhân cùng những trải nghiệm trong đời sống hiện thực của nhà văn cũng là một phương tiện góp phần vào việc thể hiện tác phẩm VHNQ Đó
có thể là kinh nghiệm trong việc nhìn nhận, khám phá bức tranh hiện thực về xã hội, con người bằng cái nhìn trực quan Đặc biệt là những trải nghiệm tinh thần phong phú, đa dạng của nhà văn được thể hiện trong từng trang viết Nhà văn như một nhà tâm lý đi sâu khai thác nội tâm bằng việc chú trọng tìm tòi, thể hiện những cung bậc cảm xúc, tâm trạng khác nhau của nhân vật
1.2 Quá trình hình thành
Văn học nội quan là một xu hướng, khuynh hướng, trào lưu văn học phát
triển rực rỡ từ đầu thế kỷ XX với sự xuất hiện của nhiều tác giả lớn (mở đầu là ở
Pháp với bộ tiểu thuyết Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust) tạo dấu ấn cho
sự hình thành và phát triển rực rỡ của văn học giai đoạn này Văn học nội quan ra đời như một tất yếu trong tiến trình phát triển văn học, đáp ứng nhu cầu của độc giả và khả năng sáng tạo nghệ thuật của tác giả thế kỷ XX Ở thế kỷ XIX, văn học chủ yếu đi vào tái hiện những vấn đề xã hội mang tính thời sự cùng bao khao khát
Trang 17tự do của con người bằng sự quan sát, miêu tả hiện thực khách quan với ngòi bút hiện thực đặc sắc Nhiệm vụ chủ yếu của văn học ngoại quan là tái hiện bức tranh
xã hội bằng nhãn quan của một người “thư kí trung thành” cũng như thể hiện khát khao vượt thoát khỏi sự bế tắc của thực tại qua những tác phẩm văn học lãng mạn Những tên tuổi nổi bật của khuynh hướng văn học này có thể kể đến các nhà văn Pháp tiêu biểu như Stendhal (1783 – 1842), Honoré de Balzac (1799 – 1850); Gustave Flaubert (1821 – 1880), Guy de Maupassant (1850 – 1893), hay ở Anh với tên tuổi của William Thackeray (1811 – 1863), còn ở Nga có thể kể đến Lev Nikolaevic Tolstoy (1828 – 1910), Anton Pavlovich Chekhov (1860 – 1904) cùng nhiều thế hệ nhà văn hiện thực khác Sự thành công của văn học hiện thực thế kỷ
XIX đã khẳng định được vị trí, nhiệm vụ “văn học là nhân học” mà văn học phải
thực hiện Tuy nhiên, bước sang thế kỷ XX, những thành công rực rỡ của khuynh hướng văn học ngoại quan bắt đầu chững lại như thể bị đóng băng khi không tạo được sự chú ý hay bước ngoặt lớn trong tiến trình phát triển Nội dung tư tưởng ở một giới hạn nào đó đã không vượt ra ngoài những gì mà các nhà văn ở giai đoạn trước phản ánh Hình thức thể hiện không có những chuyển biến mới mẻ Bên cạnh
đó, thực tại đời sống ở thế kỷ XX vô cùng đen tối Niềm tin vào tôn giáo, vào khoa học kĩ thuật đem đến một tương lai tươi sáng hơn cho con người đã không còn Tâm trạng lo âu, sự bấn loạn luôn hiện hữu trong tâm hồn con người Vì thế mà, văn học nội quan ra đời đã tập trung vào khai thác thế giới nội tâm, giải phóng con người khỏi hiện thực đời sống, hướng họ vào thực tại tinh thần của chính mình Văn học nội quan là một xu hướng thẩm mỹ với sự quan sát bên trong sự vật, con người thông qua tư duy trực giác Đó chính cái nhìn xuyên thấm đời sống tinh thần, trạng thái tâm lý cùng bao tâm tư của con người Đó cũng là nơi mà con người phải đối diện với thực tại tâm hồn mình khi những trải nghiệm, suy tư, hoài niệm của cái tôi cá nhân được soi rọi, phơi bày Khuynh hướng văn học nội quan được khai thác, thể hiện chủ yếu ở thể loại văn xuôi hay một bộ phận trong thơ (thơ tượng trưng - siêu thực) Với khuynh hướng này, văn học thế kỷ XX đã bước
Trang 18sang một trang mới trong cuộc hành trình tìm kiếm, thể nghiệm và phát triển những phương pháp mới trong sáng tác văn học nghệ thuật
1.3 Đặc điểm của văn học nội quan
1.3.1 Màu sắc tự truyện
Tự truyện “là tác phẩm nghệ thuật làm cho quá khứ được tái sinh Nhà văn
viết tự truyện như được sống lại một lần nữa đoạn đời đã qua của mình trong tính toàn vẹn, cụ thể - cảm tính, phù hợp với một lí tưởng xã hội – thẩm mỹ nhất định”
[39, tr.389] Viết tự truyện là cách để nhà văn tự bạch về cuộc đời mình, thể hiện suy nghĩ về cuộc đời, con người và chính bản thân mình trong những mối quan hệ
song song, phức tạp nhằm“thuật lại cuộc đời mình để qua đó phản ánh số phận
của dân tộc, cộng đồng và thời đại” [39, tr.389] Còn đối với văn học nội quan,
việc sử dụng một vài dữ kiện đời tư chỉ nhằm khơi dậy cảm hứng sáng tác, thể hiện thế giới nội tâm của nhân vật Viết tự truyện như một cách giải tỏa những khao khát, hoài niệm về quá khứ đời tư như Gabriel Garcia Marquez đã từng giải thích
trong cuốn tự truyện “Sống để kể lại” của mình “Tôi muốn lưu lại cái chất thơ
trong cái thế giới đặc biệt của thời niên thiếu thật buồn đã qua, với một đứa em gái
lạ thường chuyên bốc đất ăn, với người bà mê tín tự cho mình thấy trước được tương lai, và vô số người thân với tên gọi giống nhau nhưng không thể phân biệt
rõ ràng giữa hạnh phúc và bất hạnh” [62, tr.8] Tuy nhiên, tự truyện được kể lại
do ý thức của cái tôi về quá khứ như một cách để nhà văn tái tạo và sống lại cuộc đời mình ở một trang sử nào đó Những sắc màu tâm trạng như vui đùa, thích thú, hạnh phúc, đau khổ… là những trạng thái cảm xúc của tự truyện Ở tác phẩm tự truyện, hình thức đồng hiện của không gian, thời gian là điểm phổ biến Tuy nhiên, trong tác phẩm văn học nội quan thì yếu tố đời tư chỉ chiếm phần nhỏ trong toàn bộ dung lượng của tác phẩm Những chi tiết về cuộc đời chỉ như một “cỗ máy” đáp ứng quá trình quay ngược thời gian về quá khứ để nhà văn có thể tự do trong một khung trời riêng của những suy tư, hoài niệm và dòng ý thức tuôn chảy Đây là điểm tựa để các nhà văn thể hiện thế giới tâm trạng đầy suy tư, hoài niệm bằng cái
Trang 19nhìn trực giác sâu sắc Màu sắc tự thuật trong tác phẩm nội quan thể hiện điểm nhìn tự nhiên, chân thật và là môi trường tự do để những phút giây lãng đãng của hoài niệm được phát lộ Có thể khẳng định các chi tiết về cuộc đời hay những trải nghiệm trong cuộc đời nhà văn là chất xúc tác để bút lực tác giả được thăng hoa Tác phẩm tự thuật cũng như tác phẩm văn học nội quan, người kể chuyện (người dẫn dắt câu chuyện đến với người đọc) thường ở ngôi kể thứ nhất số ít xưng tôi.
Trong tiểu thuyết Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust, vài chi tiết trong cuộc
đời tác giả được sống lại qua “lớp áo” kí ức và nỗi nhớ da diết quá khứ đã khơi dậy quá trình sáng tạo của nhà văn Con người đau yếu của tác giả được phản chiếu ở
bóng dáng nhân vật tôi Ngay cả những chi tiết nhỏ nhặt cũng được tác giả đưa vào
tác phẩm như một “chứng nhân lịch sử” như chi tiết vườn hoa Élysée – khu vườn được xem là nguyên nhân gây ra căn bệnh hen suyễn của ông từ nhỏ cũng được đưa vào tác phẩm Hầu như các chi tiết, hình ảnh gắn liền với cuộc đời của tác giả được biến tấu và trở nên sinh động, giàu cảm xúc hơn Chẳng hạn như: hình ảnh khu vườn Élysée khi được đưa vào tác phẩm đã trở thành nơi ghi dấu kỉ niệm đáng nhớ của những lần hẹn hò giữa “tôi” và nàng Gilberte Hình ảnh bà người hầu Francoise là một sự tái hiện sinh động của Celeste – người giúp việc, người thư ký trung thành của Proust Đặc biệt là hình ảnh của bà, của mẹ giàu tình cảm và lòng thương yêu điểm tựa tinh thần vững chắc khơi gợi quá trình tìm kiếm, trở về với khoảng thời gian tươi đẹp của kí ức mà theo Proust, mất đi quãng đời ấy khiến
“cuộc đời tôi nay đã mất đi mục đích duy nhất, sự ngọt ngào duy nhất, tình yêu duy nhất, sự an ủi duy nhất” [46, tr.118] Mỗi một chi tiết về cuộc đời lại đem đến
cho Proust những rung động khó quên khi được sống lại quá khứ, được là chính mình trong những khoảng không ngắn ngủi nhưng hạnh phúc và được phiêu lưu
cùng nhân vật trong một thế giới mới Trong tác phẩm Chân dung chàng nghệ sĩ
trẻ của James Joyce, các chi tiết về cuộc đời tác giả lại được khắc họa nhiều Hình
ảnh tác giả của thời niên thiếu sống trong môi trường khắc nghiệt, bất công của nhà thờ Thiên chúa (nơi tác giả đã từng theo học) được đưa vào tác phẩm nhằm thể
hiện tiếng nói lên án phê phán bằng việc “tác giả phủ nhận tính cách chính thống
Trang 20của Thiên chúa giáo, tín ngưỡng lâu đời của gia đình” [50, tr.14] và hình ảnh cha
mẹ luôn gay gắt đối lập về tôn giáo Hình ảnh gia đình cùng những giai đoạn thăng trầm của cuộc sống cũng được tái hiện trong tác phẩm Đó là những suy nghĩ, khao khát và ý thức văn chương của chàng trai từ khi tốt nghiệp đại học Đó là sự từ bỏ tôn giáo, ngẫm nghĩ về chính trị, gia đình cùng những trách nhiệm với gia đình để rồi tìm thấy niềm đam mê, sự giải phóng từ những trang văn Tất cả được tái hiện
trong Chân dung chàng nghệ sĩ trẻ như một tiểu thuyết “bán tự truyện” (lời
Nguyễn Thế Vinh) Các chi tiết tự truyện trong tác phẩm đóng vai trò thúc đẩy những cảm xúc, khơi dậy hoài niệm để tác giả được sống lại một thời đã qua và
như một phương tiện cho dòng ý thức tuôn chảy, giúp khám phá sự đa dạng và
phức tạp của đời sống tâm lý con người
Các nhà văn thế kỷ XX sáng tác theo xu hướng nội quan thường để cảm xúc chiếm lĩnh và nhìn nhận mọi vật bằng sự liên tưởng tạt ngang của những kỉ niệm,
“mỗi ngày tôi đều nhận ra rõ ràng hơn rằng chỉ có ở bên ngoài trí năng nhà văn mới có thể nắm lại được đôi điều từ những ấn tượng, nghĩa là đạt tới được đôi điều
từ chính nó và đạt tới được cái phương tiện duy nhất của nghệ thuật” [46, tr.127]
Có thể nói, các yếu tố đời tư cũng như những trải nghiệm trong cuộc sống của tác giả đã góp phần thể hiện được sự thành công của một tác phẩm văn học nội quan
tuôn trào, không có sự gò bó của các chi tiết, hình ảnh theo trình tự tuyến tính
Dòng ý thức xuất phát và chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ chủ nghĩa trực giác của
Trang 21Henry Bergson, bên cạnh đó là triết học cơ năng của William James Nhờ trực giác, chúng ta sẽ khám phá được thế giới muôn màu sắc của tâm hồn ẩn chứa ở tầng sâu thẳm của ý thức con người Và trực giác là một phương tiện nghe, nhìn và
cảm khác xa “lối phân tích thuần túy chỉ dừng lại ở bên ngoài đối tượng Trực
giác sẽ làm cho người ta thâm nhập được vào sự xung động, trong “thời biến” của cuộc sống, tiếp xúc trực tiếp được với toàn bộ tính liên tục từ bên trong của chính
sự vận động để lý giải nó” [58, tr.190] Theo đó thì tâm lý của mỗi con người là
một chuỗi dài các suy tư nối tiếp nhau và luôn chất chứa những trạng thái khác
nhau bởi “mọi ý thức đều là trí nhớ - sự bảo tồn và sự tích tụ của quá khứ trong
tương lai” [64, tr.44] Sự xáo trộn, lắp ghép từng mảnh kí ức là sự khơi gợi của trí
nhớ, của hoài niệm khi con người nắm bắt một cách sâu sắc thế giới nội tâm của chính mình Các chi tiết, hình ảnh luôn được soi chiếu qua những suy tư cùng các
trạng thái tâm lý khác nhau của nhân vật chứ “không phải lấy sự tiến triển của
hành động nhân vật nối liền với nhau” [99] và hành động được xem “như những tín hiệu của một trạng thái tâm hồn” [20, tr.43] Qua lăng kính xúc cảm của nhân
vật, hiện thực tư tưởng, tình cảm được tái hiện một cách rất tự nhiên, chân thật
Trong văn học ngoại quan, hiện thực được tái hiện một cách khô khan qua những đoạn miêu tả trực tiếp của tác giả với một hệ thống các chi tiết, hình ảnh theo trật tự không gian, thời gian tuyến tính Còn trong văn học nội quan, hiện thực được tạo nên bởi trục liên tưởng thú vị của trí nhớ, cảm xúc và hoài niệm của chính nhân vật Sự liên tưởng cùng với mạch ngầm cảm xúc đã khắc họa một bức tranh đồng hiện của quá khứ - hiện tại theo những tạt ngang mang màu sắc tâm trạng Đó
là khoảng không gian, thời gian tâm lý đặc sắc, đối lập hoàn toàn với không gian,
thời gian của tư duy logic Với phương pháp dòng ý thức thì “khả năng nhận thức
tâm lý, trực giác, hiểu biết sâu sắc của nhà văn về tâm trí nhân vật, chiều sâu của tâm trí ấy, những dấy động, ngăn cấm, dồn ép tâm lý bị chôn vùi nơi tiềm thức”
[50, tr.21] được tái hiện rất thành công Trong tác phẩm Đi tìm thời gian đã mất,
Chân dung chàng nghệ sĩ trẻ hay Âm thanh và cuồng nộ, các trạng thái tâm lý và
diễn biến phức tạp của hiện thực tinh thần nhân vật được tái hiện bằng dòng chảy
Trang 22của ý thức và cõi vô thức xuyên suốt tác phẩm Trong cõi vô thức ấy, con người rơi vào trạng thái hư vô, không kiểm soát được những suy nghĩ, luôn bị ức chế bởi những khát khao không được thực hiện cũng như luôn tìm cách để giải tỏa trạng thái ấy Vô thức tác động đến tư duy và tình cảm của con người Cõi vô thức luôn
“hiện hữu trong tâm hồn, cách xa ý thức nhưng có tác động đến ý thức” [93, tr.21]
và thể hiện qua “việc khẳng định sự tồn tại của mình thông qua các hành vi sai
lạc” [30, tr.40] Trong tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ, trạng thái vô thức của con
người được thể hiện qua chuỗi kí ức của anh chàng Benjy tội nghiệp không được bình thường về tinh thần.Từng chi tiết, hình ảnh của nhân vật này cũng như nhân vật Quentin đều gắn liền với hình ảnh Caddy Đó là hình ảnh ghi dấu kỉ niệm, gắn liền với những khao khát không được thỏa mãn của nhân vật và là hình ảnh chủ
đạo ở từng kí ức được lật giở trong tâm trí Benjy Có thể nói, dòng ý thức đã đưa
nhân vật thoát khỏi những khuôn khổ của tư duy duy lý, nhận thức sâu sắc đời sống nội tâm của chính mình và miên man trong dòng chảy của tâm trạng, cảm xúc được khơi dậy trong kí ức
1.3.3 Độc thoại nội tâm
Độc thoại là lời nhân vật nói với chính mình nhằm bộc lộ tâm trạng, cảm
xúc, suy nghĩ của bản thân Độc thoại nội tâm là ngôn ngữ trực tiếp nhưng không thoát lên thành lời của nhân vật nhằm “thể hiện trực tiếp quá trình tâm lý nội tâm,
mô phỏng hoạt động cảm xúc, suy nghĩ của con người” [39, tr.122] ĐTNT được
xem là một trong những đặc điểm tạo nên tính hướng nội của văn học Không chỉ đến thế kỷ XX tính chất này mới được chú ý mà ngay từ thời Phục hưng đã được vận dụng nhằm đem đến một thế giới tinh thần chân thật về con người Một trong những tác gia tiêu biểu thể hiện thành công độc thoại nội tâm của nhân vật là
William Shakespeare (1564 – 1616) Trong vở kịch Hamlet, Shakespear để nhân
vật Hamlet tự bộc lộ tính cách, tâm lý và suy nghĩ của mình qua những đoạn độc thoại nội tâm sâu sắc Qua đó, chúng ta cảm nhận được ở tính chất “hai mảnh” của một con người hành động nhưng lại đầy suy tư trong nhân vật Khi mọi người đang chúc tụng hân hoan trong ngày cưới của vua và hoàng hậu thì Hamlet lại vô cùng
Trang 23đau khổ, chán chường thì chàng lại suy tư, đau khổ khi nghĩ về cuộc đời Có khi
chàng tự xỉ vả, lên án chính bản thân mình “Ôi, ta thật là một kẻ vô lại, một tên nô
lệ đớn hèn! Không, không thể để như thế đối với một Đức vua mà cả giang sơn,
cả cuộc đời thân yêu bị cướp đoạt một cách bỉ ổi Ta có phải là một thằng hèn không? Kẻ nào dám gọi ta là đồ đê tiện? Kẻ nào dám quật vào đầu ta, vặt râu ta vứt vào mặt, bóp mũi ta? [79, tr 69] Những câu hỏi xoáy sâu tâm trạng nhân vật
đã khắc họa tâm trạng dằn vặt, đau đớn đến tột cùng của Hamlet Shakespear cũng như nhiều nhà văn trước thế kỷ XX không chỉ tái hiện bức tranh hiện thực thành công mà còn thể hiện những diễn biến tâm lý nhân vật sâu sắc Tuy nhiên, các trạng thái tâm lý ấy thường chịu sự tác động từ bên ngoài và mang tính xã hội chứ không hoàn toàn là tâm lý cá nhân Khi nghe Tanbo nói về việc sẽ trừng phạt người thi sĩ lớn nhất của thời đại một nghìn equy và nhốt vào ngục tối để thi sĩ ấy chết
trong bóng tối, trong lòng Julien dấy lên sự căm phẫn “Chà, quân độc ác! Julien
kêu lên hơi to, và những giọt nước mắt hào hiệp rưng rưng trên mắt anh Chà, thằng nhãi con khốn nạn! Anh nghĩ thầm, rồi ta sẽ đáp trả cho mày lời ăn nói đó”
[80, tập 2, tr.54] Trong tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoi (1828
– 1910), tác giả cũng thể hiện khá sâu sắc nội tâm của nhân vật qua những đoạn đối thoại Chẳng hạn như đoạn miêu tả nội tâm của Pie khi anh nghĩ về việc mình đã giết chết người tình nhân của vợ Một loạt những câu hỏi xoáy sâu tâm trí anh
“Chuyện gì đã xảy ra thế! – chàng tự hỏi, - Ta đã giết gã tình nhân, phải, ta đã giết tình nhân của vợ ta Phải việc đó đã xảy ra Tại sao? Làm sao ta lại đến nông nỗi ấy?” – Vì mày đã lấy nàng làm vợ” – một tiếng nói đâu ở bên trong đáp lại chàng… “Nhưng như thế thì ta đã có lỗi gì?” – chàng hỏi” [89, tập 2, tr.45]
Pie không phải đối thoại với một nhân vật thứ hai mà anh đang đối thoại với chính tâm hồn mình trong sự dằn vặt, đau đớn Từ những phân tích trên, chúng ta có thể thấy rằng, độc thoại nội tâm của nhân vật trong các tác phẩm văn học VHNGQ thường là nội tâm mang tính xã hội chung và được khơi gợi theo những diễn biến trình tự của các sự kiện hay những tổn thương tinh thần vừa diễn ra trong cuộc đời
Trang 24Văn học hiện sinh thế kỷ XX cũng rất thành công trong việc tái hiện thế giới nội tâm của nhân vật Tuy nhiên, cũng như văn học các giai đoạn trước, hiện thực tinh thần mà nó thể hiện cũng không nằm ngoài những suy tư về cuộc đời, số phận
của con người trong xã hội Chẳng hạn như tâm trạng của Rio trong Dịch hạch của
Albert Camus Nội tâm của anh ta được thể hiện qua những suy nghĩ, tâm trạng khi nhìn số phận của con người đang sống trong một hoàn cảnh phi lý được đặt trong
hoàn cảnh dịch hạch lan tràn khắp thành phố Còn Roquetin trong Buồn nôn của
Jean – Paul – Sartre thì nhìn nhận cuộc đời qua cái nhìn bề sâu để rồi khám phá ra chính mình, khám phá sự hiện hữu của sự vật qua cái nhìn hiện hữu, lần tìm trở về
với chính con người mình để soi xét “Tôi đã ngồi đó, người hơi khom, đầu cuối
thấp, cô đơn đối diện với cái khối đen đủi, sần sùi, hoàn toàn thô lậu và gây cho tôi một nỗi sợ hãi kia Và rồi, trí óc tôi bừng ngộ” [78, tr.314-315] Tuy nhiên, trong
văn học hiện sinh, những đoạn độc thoại hay tái hiện nội tâm của tôi là nghệ thuật miêu tả điêu luyện, đặc sắc, “đôi khi tả chân quá – nhưng chủ ý của họ không phải
gì khác cho bằng vạch cho ta thấy vẻ buồn nôn của người tầm thường, hòng thức tỉnh con người trỗi dậy, bỏ cách sống của sự vật để khai mạc một đời sống nhân vị, nhân vị cao cả của con người tự do” [22, tr.36] Cách viết của nhà văn hiện sinh là
cách viết “vén màn sự thật” như Sartre đã nói Điều này một lần nữa đã khẳng định độc thoại nội tâm trong văn học thời kỳ trước được thể hiện trong sự mạch lạc, sáng rõ của các trạng thái tâm lý nhân vật
Văn học nội quan thế kỷ XX lại mở ra một con đường mới trong việc thể hiện những đoạn độc thoại nội tâm của nhân vật Những tâm tư thầm kín nhất của nhân vật được thể hiện một cách tự nhiên, sâu sắc Độc thoại nội tâm trong văn học nội quan thường là những mảnh tâm trạng, những lời tự bạch được lắp ghép, pha trộn phức tạp không theo một trật tự logic nào Kí ức là chất xúc tác thúc đẩy những đoạn độc thoại nội tâm của nhân vật phát triển Những đoạn độc thoại cứ thế diễn ra trong sự vô thức để nhân vật soi rọi khám phá, bộc lộ những góc khuất trong tâm hồn mình qua những kỉ niệm luôn ẩn hiện trong trí nhớ Trong tác phẩm
Dưới bóng những cô gái tuổi hoa, cả một quãng đời tươi đẹp được tái hiện qua
Trang 25những hồi ức, khơi gợi nỗi nhớ da diết để nhân vật tự phân tích, lý giải và thể hiện tâm trạng mình một cách tự nhiên Đó là cảm xúc, tâm trạng hoan hỉ khi được xem Berna biểu diễn và những xáo trộn trong đánh giá về diễn viên này Đó còn là cảm giác của một chàng trai với những cảm xúc yêu đương, rung động, nhớ nhung luôn ngập tràn và tâm trí thường trực hình ảnh người yêu Tất cả trở nên đẹp, thơ mộng
biết mấy trong mắt tôi khi “tôi có thể nối lại tình thân với Gilberte như ở buổi khai
thiên lập địa chưa hề biết tới dĩ vãng và xóa nhòa mọi nỗi thất vọng thỉnh thoảng nàng gây nên cho tôi: lòng ao ước khát khao tình yêu của Gilberte” [75, tr.73]
Đồng thời, nhân vật cũng cảm nhận thấy mình “thường sống với quá khứ nhiều
hơn với hiện tại, thường sống lại những ngày tôi từng yêu Gilberte (vì dòng đời đâu có luôn luôn tuân theo trật tự trước sau; và lăn theo bánh xe thời gian, có biết bao sự lẫn lộn về tháng ngày xen kẽ nhau)” [75, tr.239] Thế giới nội tâm của tôi
trong tác phẩm Chân dung chàng nghệ sĩ trẻ cũng được tái hiện một cách sâu sắc
qua từng những dòng hồi ức miên man Đó là niềm vui thích thú khi nghe một bài hát quen thuộc, tâm trạng sợ hãi đầy nghi ngờ, thắc mắc khi thấy những người bạn
của mình uống rượu “Nó cảm thấy yếu đuối vì một nỗi mệt mỏi sợ hãi vật vờ Tại
sao bọn chúng có thể làm điều đó nhỉ?” [50, tr.87] Đó còn là sự suy tư, day dứt về
bản thân cũng như những suy nghĩ khi gia đình nó bị sa sút phải chuyển đến ở
Dublin “Nó thấy tức giận với chính mình vì hiện còn nhỏ tuổi và đang là mồi ngon
cho những xung động rồ dại không ngừng; nó cũng tức giận vì sự đổi thay trong mệnh vận đã biến dạng cái thế giới quanh nó trở thành một ảnh tượng đầy nhơ nhớp và dối lừa” [50, tr.134] Mọi kí ức trong tâm trí nhân vật đã tạo nên một thế
giới đa sắc màu của cảm xúc, tâm trạng Khi kí ức trở thành nỗi ám ảnh sẽ đưa con người vào trạng thái vô thức, khơi gợi bao hoài niệm Chẳng hạn như nội tâm của
Benjy trong Âm thanh và cuồng nộ Thế giới mùi và âm thanh trong cảm nhận của
một kẻ đần độn lại sâu sắc vô cùng Tâm hồn chiếm giữ lý trí, nhân vật trải lòng mình trong một thế giới hỗn độn, không đầu không cuối, nhưng rồi cũng toát lên được hai điểm chính đánh dấu những đổi thay trong cuộc đời nhân vật đó là sự kiện chị Caddy lấy chồng và việc bà nội mất Dù chỉ là một mớ hỗn độn những
Trang 26trạng thái mơ hồ của một kẻ vô tri nhưng tất cả lại hiện lên khá rõ nét qua những
âm thanh và hình ảnh đánh dấu những kỉ niệm khó phai trong kí ức của Benjy
“Tôi nhìn thấy các cửa sổ, nơi cây cối rì rầm Rồi bóng tối bắt đầu biến thành những hình thể êm ả, sáng ngời, như nó luôn thế, ngay cả khi Caddy nói rằng chị ngủ rồi” [27, tr.116] Đặc biệt trong tác phẩm này, âm thanh luôn giữ vai trò chủ
đạo làm xao động và gợi dậy những hồi ức trong lòng nhân vật Chẳng hạn như âm thanh của tiếng đồng hồ đã khơi gợi bao kỉ niệm về gia đình và đặc biệt là hình ảnh
cô em gái Caddy Tiếng chuông thôi thúc Quentin trong từng phút giây khiến tâm trạng rối bời, dằn vặt đau khổ nhưng cũng có cả những kỉ niệm vui Có thể nói, những kí ức vô tận đã khơi dậy bao cảm xúc, thúc đẩy thế giới nội tâm của nhân vật được thể hiện một cách tự nhiên và chân thực
Thế giới nội tâm của nhân vật còn được thể hiện sâu sắc bằng những đoạn đối thoại Đó không phải là sự đối thoại với một nhân vật thứ hai nào đó mà nhân vật đang đối thoại với chính mình Một trong những nhà văn sử dụng thành công phương pháp đối thoại này trong việc thể hiện thế giới nội tâm của nhân vật là tác giả Ernest Hemingway, một nhà văn Mỹ của thế kỷ XX Với việc đề ra lý thuyết
“tảng băng trôi” mà “bảy phần tám chìm dưới nước, chỉ có một phần nổi lên trên cho mọi người nhìn thấy” [20, tr.722], Hemingway đã thật sự thành công trong
việc tái hiện bức tranh tâm lý của nhân vật Cũng như Marcel Proust và James Joyce, Hemingway để nhân vật tự bộc lộ tâm tư mình qua một trường đoạn đối thoại Khi đọc tác phẩm của ông, ta có cảm giác tác giả đang ngồi ở một nơi nào đó
và bật máy ghi âm lên, ghi lại tất cả những lời đối thoại của nhân vật Ông già và biển cả là tác phẩm thể hiện thành công tâm lý nhân vật qua những cuộc đối thoại
tự thân (đối thoại với chính mình) Xuyên suốt tác phẩm là những lời đối thoại một mình của ông lão và xen kẽ là những suy nghĩ, tâm trạng của nhân vật qua cách
nhân vật xưng “mình” với lời thuyết minh kèm theo của tác giả thông qua cách dẫn dắt “lão nghĩ”, “lão nói” Đó là tâm trạng cô đơn, lạc lõng, bất lực và mệt mỏi
nhưng ẩn đằng sau lời của ông lão là một tinh thần đầy lạc quan với niềm tin dai
dẳng Khi thì lão đối thoại với cánh tay: “Mày cảm thấy thế nào rồi hả tay”… “Vì
Trang 27mày, tao sẽ cố ăn thêm một ít.”… “Hãy kiên nhẫn, tay à”, lão nói… [102, chương
5] Khi lại đối thoại với cá kiếm: “Cá này, nếu mày không mỏi mệt”, lão nói lớn…
“Thì mày quả thật đúng là dị thường”… “Hãy bình tĩnh và giữ sức, lão già ạ”, lão nói” [102, chương 5] Từ việc phân tích những đặc điểm trong cách thể hiện thế
thế giới nội tâm của nhân vật, chúng ta có thể thấy rằng, mỗi nhà văn có cách tiếp cận và khai thác thế giới tinh thần của nhân vật theo những cách khác nhau nhưng tất cả đều cùng một mục đích là để nhân vật tự phân tích, tự thể hiện những chiều sâu tâm lý, tính cách mình một cách tự nhiên không cần những lời diễn thuyết minh họa của tác giả Để làm được điều này đòi hỏi tác giả phải có một quá trình
và sự am hiểu chiều sâu tâm lý sâu sắc
Về hình thức, trong nhiều tác phẩm văn học nội quan, cấu trúc câu thông thường bị phá vỡ, thêm vào đó là việc sử dụng nhiều loại dấu câu Chẳng hạn trong
tác phẩm Chân dung chàng nghệ sĩ trẻ cũng có khá nhiều những phá cách trong
cách sử dụng các dấu câu và hàng loạt những dấu chấm hỏi, dấu hai chấm, dấu chấm phẩy ở các trang như 35, 37, 60, 95, 97, 321, 329, 331… Những câu văn dài
không đứt quãng ở các trang 24, 57, 60, 76, 121… trong tác phẩm Dưới bóng
những cô gái tuổi hoa Đặc biệt, từ trang 249 – 257 của tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ là những dòng độc thoại nội tâm của nhân vật Quentin trải dài miên man,
vô tân mà không hề có một dấu chấm câu nào Ngoài ra, những câu văn ngắn cũng được sử dụng nhằm tái hiện mạch cảm xúc đứt gãy, không liền mạch trong thế giới
nội tâm của nhân Trong tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ, xuyên suốt chương một
là những câu ngắn và cực ngắn thể hiện tâm trạng, suy nghĩ của anh chàng Benjy
Đó là những chi tiết, hình ảnh và ý nghĩ rời rạc, chắp vá được thể hiện không theo một trình tự nào Từ những khảo sát trên, chúng tôi nhận thấy rằng những yếu tố về hình thức câu hay dấu câu cũng góp phần thể hiện thế giới nội tâm của nhân vật
1.3.4 Không gian, thời gian tâm trạng
Không gian, thời gian đồng hiện cũng là đặc điểm của VHNQ Tính chất đồng hiện này chịu ảnh hưởng từ trong nghệ thuật điện ảnh thông qua kĩ thuật lắp ghép hình ảnh Cái đồng hiện của không gian, thời gian trong văn học nội quan được tạo
Trang 28ra và gắn liền với diễn biến tâm lý của nhân vật bằng chuỗi kí ức Kí ức giữ vai trò
chủ đạo trong mọi diễn biến tâm trạng của nhân vật và nó “được quan niệm như
một cách thức, một con đường nhận thức và biểu hiện thực tại” [84, tr.408] Đồng
thời, nó có thể dẫn dắt nhân vật trở về với những khoảng thời gian xung động phức
tạp trong tâm lý bởi “kí ức là “chất keo” làm dính kết quá khứ với hiện tại, soi
sáng hiện tại Vì thế nhân vật tuy sống bằng máu thịt của hiện tại nhưng vẫn nhờ
“dưỡng khí tinh thần” của quá khứ” [84, tr.408] Không gian, thời gian tâm lý có
khi được gói gọn trong thời gian ngắn, không gian hẹp Chẳng hạn như thời gian
một ngày trong tác phẩm Ulysses của James Joyce hay ba này ba đêm trong Ông
già và biển cả của Hemingway
Nếu sân khấu là đất diễn của diễn viên kịch thì trong văn học không gian và thời gian là môi trường sinh tồn với các sự kiện của cuộc đời và là khoảng không tâm lý của nhân vật Trong văn học ngoại quan, mọi chi tiết được diễn biến theo chiều tuyến tính của các sự kiện Các hình ảnh và từng thời điểm diễn ra các sự kiện luôn được miêu tả theo chiều dọc, không có sự nhảy cóc, đan cài hay chắp vá
Trong tác phẩm Eugénie Grandé của Balzac, không gian, thời gian được xác định
cụ thể Đó là không gian nơi thị trấn Saumur với một ngôi nhà ủ dột, tẻ vắng nằm ở cuối đường phố mà lão Grandé đang sinh sống Thời gian được kể lại bắt đầu từ
nam 1789, khi lão Grandé chỉ là “một bác phó cả đóng thùng làm ăn khá giả, biết
đọc, biết viết, biết tính” [3, tr.29] Câu chuyện cứ thế tiếp diễn cho đến khi kết thúc
cuộc đời nhân vật theo dòng chảy của thời gian tuyến tính Những điểm mốc không gian, thời gian trong văn học ngoại quan là khoảng thời gian vật lý, được đong đếm bằng những chi tiết, hình ảnh hay dấu ấn cuộc đời qua cái nhìn khách quan bên ngoài bằng tư duy duy lý Nó diễn ra liền mạch, kế tiếp nhau thông qua lời kể và sự quan sát khách quan của tác giả Đến thế kỷ XX, không gian, thời gian trong văn học nội quan có sự đổi mới một cách sáng tạo Đó không còn là thời gian vật lý, diễn ra theo từng diễn biến hành động nhân vật hay tình tiết câu chuyện nữa mà là không gian, thời gian trực cảm thông qua những cảm nhận khác nhau của con người Sự liên tưởng cùng những hồi ức của nhân vật là sợi dây kết nối đưa nhân
Trang 29vật “nhảy cóc” từ quá khứ đến hiện tại và ngược lại hay có khi là sự tồn tại song
song Thêm vào đó, trong tư duy vô thức của nhân vật, không gian, thời gian
“không phục tùng trình tự thời gian, cũng không phục tùng sự hợp lý” [93, tr.36]
đã tạo nên những mạch thời gian đứt gãy Trong tiểu thuyết Âm thanh và cuồng nộ,
sự nhảy cóc, xáo trộn về thời gian, không gian là một điển hình Đang ở hiện tại vào đúng dịp sinh nhật ba mươi ba tuổi của mình, Benjy cùng với Luster chơi
ngoài vườn thì âm thanh “caddie” đã đánh thức bao kỉ niệm trong lòng Benjy, đưa
cậu trở về quá khứ với những kỉ niệm thân thương cùng người chị yêu quý Caddy của mình Thế nhưng, quá khứ ấy lại đột ngột bị cắt ngang với sự kiện Luster làm mất đồng 25 xu Benjy và Luster đã chui qua hàng rào để tìm đồng xu thì Benjy bị vướng vào rào Chi tiết này đã đẩy hồi ức của Benjy về với kỉ niệm cùng chị Caddy
đi đưa thư cho cậu Maury Cứ thế Benjy lại được đắm mình trong quá khứ khi 7
tuổi, lúc lại là kỉ niệm khi 13 tuổi “Bây giờ cậu đã là thiếu niên Mười ba tuổi
đầu Đủ lớn để ngủ một mình trong phòng ông Maury được rồi” [27, tr.70] Mỗi
chi tiết của quá khứ lại đan xen những hình ảnh của hiện tại thông qua trạng thái vô
thức của nhân vật Chính sự “phân tích tỉ mỉ tường tận những chỗ thầm kín nhất
của con người thường bị che lấp đằng sau ý thức “khuôn sáo” và lý trí “giả tạo”
[90, tr.203] đã làm cho “những ranh giới tương đối giữa quá khứ, hiện tại và tương
lai đã bị hoàn toàn phá bỏ và thay thế bằng “thời gian con người”, thời gian tâm trạng” [92, tr.203] Không gian, thời gian trong văn học nội quan chảy dài theo
mạch ngầm cảm xúc và sự liên tưởng của nhân vật nên không bị giới hạn trong một khuôn khổ chung của không gian, thời gian lịch sử, xã hội Nó luôn vận động để có
thể khơi gợi cảm xúc và khắc sâu tâm trạng nhân vật Ở chương 2 của tác phẩm Âm
thanh và cuồng nộ, qua chuỗi kí ức và độc thoại nội tâm của nhân vật Quentin, thời
gian của quá khứ - hiện tại sóng đôi cùng nhau Hoài niệm về những kí ức đẹp của khoảng thời gian khi được bên cạnh người em gái là niềm hạnh phúc nhưng nó cũng dấy lên cảm giác tội lỗi, sự đau khổ, dằn vặt trong lòng Quentin bởi tình cảm
loạn luân luôn hiện hữu Hay trong tác phẩm Dưới bóng những cô gái tuổi hoa, qua những liên tưởng của nhân vật tôi, sự “nhảy cóc” giữa quá khứ, hiện tại và
Trang 30tương lai được tái hiện một cách tự nhiên Cảnh vật hiện ra trong buổi đi dạo với
bà de Villeparisis giữa những hàng cây tươi mát ở Combray, kí ức ùa về đưa tôi đến không gian của Paris vào“tháng năm năm sau” khi “tôi có nhiều dịp mua một
cành táo ở hàng hoa và đêm đêm ngủ trước những bông hoa táo lấp lánh một thứ phấn màu kem rắc lên những lá non mới nhú” [73, tr.302 – 303] Các điểm không
gian, thời gian luôn vận động, thay đổi và có sự xáo trộn theo những trạng thái tâm
lý khác nhau cùng sự liên tưởng của các nhân vật
Không gian, thời gian trong văn học nội quan được tái hiện bằng kí ức, sự liên tưởng cùng những trạng thái tâm lý phức tạp của nhân vật, tạo nên một khoảng KGTG mở và luôn có sự chuyển động không ngừng Đó là không gian, thời gian trực cảm, tâm lý luôn có sự đan cài, chắp nối giữa quá khứ và hiện tại Kiểu không gian, thời gian như trên có tác dụng khắc sâu thế giới nội tâm của nhân vật cũng như mở rộng chủ đề tác phẩm và chiều sâu những suy tư về cuộc sống, con người
và xã hội Không gian, thời gian cùng với các yếu tố tự truyện, dòng ý thức và độc thoại nội tâm của nhân vật là những đặc điểm hình thành một tác phẩm văn học nội quan hiện đại
1.4 Sự phổ biến của văn học nội quan trong nền văn học thế giới và Việt Nam
Văn học hiện thực thế kỷ XIX ra đời đáp ứng sự mong đợi của công chúng khi con người xác định không thể trốn tránh mãi hiện thực bằng cách phủ nhận, tìm đến một thế giới trong mộng mà phải đối diện và sống với nó Hiện thực khách quan cũng như đời sống con người được các nhà văn hiện thực xâu chuỗi và thể hiện một cách chi tiết, sâu sắc Từng hành động, diễn biến tâm lý được nhà văn quan sát, thể hiện một cách khách quan, độc đáo Hiện thực mà nó hướng đến là hiện
thực xã hội rộng lớn với các vấn đề về “chiến tranh và hòa bình”, về xã hội tư bản
với sự thống trị của đồng tiền Đồng tiền như một cỗ máy vạn năng có khả năng điều khiển, xoay chuyển con người vào guồng máy của nó Con người trở nên mềm yếu, nhu nhược không còn khả năng phản kháng, mọi khát khao tự do hạnh phúc bị bủa vây bởi một xã hội có quá nhiều những luật lệ đè nén một cách ngột
Trang 31ngạt Đó có thể là xã hội Pháp thu nhỏ mà chúng ta có thể nhìn thấy trong bộ tiểu thuyết nổi tiếng của văn hào Honoré de Balzac Một nước Pháp với đủ các hạng
người cùng bức tranh xã hội đen tối nhất được tái hiện trong bộ Tấn trò đời và nhiều tiểu thuyết khác của Balzac Đó là một xã hội mà “một chú ngựa rất đẹp
đóng vào một trong những chiếc xe lộng lẫy phô trương cuộc sống xa hoa phóng túng, có vẻ đó như là một thói quen trở thành niềm hạnh phúc của người Paris” [4,
tr.73] và một thế giới người mà “cô con dâu xấc láo với ông bố chồng khi ông ta
dành tất cả mọi thứ cho con trai mình Và kia, cậu con trai đuổi mẹ vợ mình ra khỏi cửa” [4, tr.102] Hay đó là một xã hội Anh thu nhỏ được phơi bày trong Hội chợ phù hoa của William Makepeace Thackeray Xã hội Anh thế kỷ XIX là bức
tranh của hai mặt đồng tiền và danh vọng song song tồn tại Con người lao vào sự phù phiếm xa hoa, sống trong sự che đậy giả tạo để có thể đạt đến sự phù hoa sang trọng bất chấp tất cả Ở nơi đó giá trị con người bị bán rẻ Những gì tốt đẹp nhất của con người như đạo đức, nhân phẩm, tình người cuối cùng chẳng khác nào một
sự khôi hài bị đưa ra làm trò hề và trong xã hội “đồng tiền làm thức tỉnh nơi họ
bao tình cảm mặn mà đối với người có của đáng yêu” [83, T1, tr 386] Cũng có
thể là xã hội mà con người được đặt trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt ở Nga
mà L Tolstoy đã tái hiện trong bộ tiểu thuyết nổi tiếng Chiến tranh và hòa bình
Có thể thấy rằng, mỗi nhà văn đem đến cho độc giả một bức tranh hiện thực sinh động với nhiều màu sắc Tuy nhiên, hiện thực phũ phàng, đen tối ấy của thế kỷ XIX lại quá vĩ mô mà bỏ quên đi cái hiện thực vi mô, hiện thực tâm lý của chính những con người tồn tại trong xã hội đó Những trạng thái tâm lý phức tạp, sâu sắc trong tâm hồn con người đã trở thành một nhu cầu bức thiết cần được giải bày Vì thế, đời sống tâm lý ấy đã trở thành cảm hứng, đối tượng cho sáng tạo nghệ thuật văn học
Vẫn hướng ngòi bút vào đời sống hiện thực nhưng cái hiện thực mà văn học nội quan hướng đến là hiện thực tinh thần của con người Con người được phóng
thích khỏi sự bức bách, hỗn loạn về tinh thần khi “lòng tin tưởng tôn giáo đã mất,
lòng tin tưởng khoa học cứu thế đã đem lại ảo tưởng cho con người suốt một thế kỷ
Trang 32nay cũng không còn; tư tưởng mới chưa cấu thành, đó chỉ mới là một ước vọng mờ mịt” [1, tr.13] Đó là hậu qủa của sự khủng hoảng kinh tế những năm 30 của thế kỷ
XX Đặc biệt là sự khủng hoảng tinh thần sau hai cuộc đại chiến, con người rơi vào trạng thái bi quan, nhìn cuộc đời phi lý với đầy những sự suy đồi đổ nát về vật chất lẫn tinh thần Chính vì thế mà những nhà văn thời kỳ này đã phát hiện ra rằng con người không thể sống với thế giới vật chất mãi mà phải tìm về một thế giới khác,
thế giới phi vật chất, thế giới của “lòng nhiệt tình bản năng, tình cảm, đức tin” [1,
tr.12] Tuy nhiên, đức tin vào chúa, xem thượng đế như một thực thể hiện hữu có khả năng cứu rỗi linh hồn con người như quan niệm của những nhà hiện sinh hữu thần thể kỷ XX cũng không thể giải thoát con người Không còn con đường giải phóng nào khác, con người chỉ có thể quay về với bản thể của chính mình Các văn nghệ sĩ đã nhận ra và hướng ngòi bút của mình vào việc khám phá cái “cuộc sống linh động” ẩn chứa bên trong tâm hồn con người Tuy nhiên, để khám phá thành công thế giới tinh thần bên trong ấy đòi hỏi văn nghệ sĩ không thể dùng lý trí mà phải tìm hiểu nó bằng chính những trải nghiệm của bản thân, bằng trực giác sâu lắng khi khám phá thế giới tinh thần của con người Đặc biệt, nhà văn không còn tin vào bất kỳ điều gì và tưởng chừng như bế tắc trong nghệ thuật sáng tác Vì thế,
họ quay về với mục đích phục vụ cho những khát khao, tâm trạng đang trỗi dậy trong tâm hồn mình Nhà văn có thể tái hiện những trải nghiệm về cuộc sống mà mình đã từng dấn thân để rồi tự mổ xẻ, phân tích mình dưới cái nhìn bản thể Đời sống tâm lý đa dạng, phức tạp cùng bao suy tư thầm kín của con người được nhà văn khai thác như một chất liệu sáng tác chủ yếu và xuyên suốt tác phẩm
Cái hiện thực của văn học nội quan là hiện thực tự thân biểu hiện chứ không phải qua sự “biết tuốt” của nhà văn như trong văn học ngoại quan Chính sự thỏa mãn về tinh thần mà văn học nội quan đã nắm bắt và thể hiện được trong từng trang văn đã đem đến nguồn sinh khí mới cho văn học thế giới Nhà văn đã khơi dậy sức sống cho tác phẩm, lôi cuốn người đọc vào việc khám phá và cảm nhận sự mới mẻ của một xu hướng văn học mới Khuynh hướng văn học nội quan đã đạt
đến đỉnh cao trong văn học Pháp với bộ tiểu thuyết Đi tìm thời gian đã mất của
Trang 33Marcel Proust Tiểu thuyết này được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1913 với
những “thử nghiệm của cách viết mới, tìm cách vượt ra khỏi quy luật của thời gian
để thông qua nghệ thuật nắm bắt được bản chất của hiện thực ẩn giấu trong thế giới vô thức và được “tái tạo lại bởi suy nghĩ” [85, tr.39] Những thử nghiệm ấy đã
khẳng định được tên tuổi của ông trên văn đàn Pháp và thế giới cũng như nhận được sự đón nhận nồng nhiệt của độc giả Ở Anh, với tác phẩm của James Joyce, ta lại tiếp tục được trải nghiệm một thế giới nghệ thuật độc đáo với sự xuất hiện của thủ pháp dòng ý thức Dù không phải là người sáng tạo ra dòng ý thức nhưng ông
lại là đại diện xuất sắc cho “hành động đặt trọng tâm của tiểu thuyết hiện đại lên
cái nhìn hướng nội của chính bản thân nhân vật” [7, tr.149] James Joyce được
biết đến như một tiểu thuyết gia nổi tiếng với các tiểu thuyết như Chân dung chàng
nghệ sĩ trẻ (Portrait of the artist as a Young man 1916), Ulysses (1922) và Finnegans thức giấc (Finnegans Wake, 1939) Đặc biệt, kỹ thuật dòng ý thức còn
được William Faulkner, một nhà văn người Mỹ sử dụng khá thành công, tạo nên
tác phẩm nội quan đặc sắc với Âm thanh và cuồng nộ (The Sound and the Fury),
được xuất bản năm 1929 Bên cạnh đó thì trong các sáng tác của Ernest Hemingway cũng là một trong những tác giả tiêu biểu cho khuynh hướng văn học nội quan Đối thoại, độc thoại nội tâm thâu tóm các giá trị ngầm ẩn chứa bên trong tâm hồn con người theo thuyết “tảng băng trôi” do ông đề ra là một trong những đặc điểm nổi bật Đưa ra một vài tác giả và tác phẩm tiêu biểu, chúng tôi chỉ muốn
đi vào khẳng định hiệu quả nghệ thuật cũng như khả năng ảnh hưởng của khuynh hướng này trong nền văn học thế giới nói chung Điều này lại càng chứng minh sự
ra đời của nó là một tất yếu có khả năng giải tỏa những ẩn ức tinh thần luôn trỗi dậy trong tâm hồn
Sự giao lưu, ảnh hưởng và tiếp biến về kinh tế xã hội, văn học nghệ thuật đã tạo điều kiện thuận lợi để khuynh hướng văn học nội quan hình thành ở Việt Nam Trong những năm đất nước trải qua hai cuộc kháng chiến trường kì, gian khổ, văn học chủ yếu tập trung vào việc thể hiện hình ảnh những con người, vùng đất anh hùng, kiên trung trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc với âm hưởng anh
Trang 34hùng ca sôi nổi Hòa bình lập lại, hình ảnh con người mới và công cuộc dựng xây đất nước cũng trở thành nguồn cảm hứng cho văn học Tuy nhiên, âm hưởng ngợi
ca mãi rồi cũng phải lắng xuống khi đời sống tinh thần con người ngày càng phức tạp mà văn học không thể đáp ứng được Vì thế trong một thời gian dài, đặc biệt là những năm sau khi hòa bình lập lại, văn học Việt Nam dường như chững lại khi không có nhiều tác phẩm tạo được dấu ấn đặc sắc, thu hút sự chú ý của độc giả Cái tôi cá nhân hòa vào cái chung của xã hội trong không khí đại đồng ở văn học
đã trở nên quá quen thuộc, không còn khơi dậy được nhiều sự sáng tạo độc đáo ở mỗi nhà văn Tuy nhiên, ở những giai đoạn sau, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, văn học đã có những chuyển biến quan trọng Số phận, đời sống tinh thần của con người được các nhà văn tập trung khai thác và thể hiện sâu sắc hơn Thông qua bức tranh tâm trạng của nhân vật, từng chi tiết, sự kiện được tái hiện một cách tự nhiên, chân thật bằng độc thoại nội tâm, dòng ý thức, gợi nên khoảng không gian, thời gian tâm tưởng in hằn trong kí ức Đây chính là những đặc điểm của một tác
phẩm được sáng tác theo khuynh hướng văn học nội quan hiện đại thế kỷ XX Nỗi
buồn chiến tranh của Bảo Ninh có thể được xem là cuốn tiểu thuyết đầu tiên được
viết theo khuynh hướng nội quan sâu sắc nhất Sự thành công của tác phẩm này đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng, mở đường cho một khuynh hướng văn học, một
trào lưu phê bình mới được hình thành Đến năm 1999, tiểu thuyết Cơ hội của
Chúa của Nguyễn Việt Hà xuất hiện đã một lần nữa đã làm trỗi dậy sức sống, sự
sôi nổi của nền văn học Những đặc điểm của khuynh hướng nội quan được thể
hiện một cách đa dạng, độc đáo trong từng tác phẩm Nếu xem Nỗi buồn chiến
tranh là tiểu thuyết đánh dấu sự hình thành của khuynh hướng VHNQ thì Cơ hội của Chúa sẽ là tác phẩm thể hiện sự mở rộng khuynh hướng này trong nền văn học
Việt Nam Ngoài hai tiểu thuyết trên thì các tác phẩm của Chu Lai, Hồ Anh Thái, Thuận… cũng mang một số đặc điểm nội quan hiện đại đáng chú ý
Bên cạnh tiểu thuyết thì khuynh hướng văn học nội quan còn được thể hiện trong thơ tượng trưng - siêu thực ở giai đoạn đầu thế kỷ XX Trong thơ, sự sáng tạo của các thi sĩ như một chuỗi vô thức được tuôn ra qua những câu thơ dài ngắn khác
Trang 35nhau khá lộn xộn hay có khi không có cả những dấu câu Nhà thơ chú ý đến thế giới thầm kín có chiều sâu bí ẩn và những linh động nằm ngoài vòng kiểm soát của trí năng, thay vào đó là sự nhìn nhận vạn vật bằng trực giác và trạng thái vô thức
Có như vậy nhà thơ mới có thể nhìn thế giới ở hai mặt và chiều sâu liên tưởng tuyệt vời Những tác phẩm tiêu biểu cho thể loại thơ này có thể kể đến thơ siêu thực André Breton, Baudelaire, Valéry, Edgar Allan Poe… Ở Việt Nam, chúng ta chú ý đến thơ của Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên và một số nhà thơ trong nhóm Xuân Thu Nhã Tập
Khuynh hướng văn học nội quan ngày càng khẳng định được sự phát triển của mình cũng như tạo ra một bước ngoặt lớn trong quá trình hình thành một khuynh hướng phê bình mới Sự xuất hiện của khuynh hướng văn học mới này đóng vai trò quan trọng trong việc cách tân nghệ thuật tiểu thuyết Việt Nam và tạo nên nguồn cảm hứng mới trong sáng tạo của các nhà văn
1.5 Hiệu ứng nghệ thuật của khuynh hướng văn học nội quan trong sáng
tạo tiểu thuyết
Khuynh hướng văn học nội quan xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XIX và phát triển mạnh vào đầu thế kỷ XX đã đem đến cho văn học thế giới một bước tiến quan trọng, mới mẻ Đặc biệt, khuynh hướng này thật sự thành công đối với thể loại tiểu thuyết khi mở ra một hướng đi mới bằng phương pháp sáng tác mới Đó là phương pháp hướng nội bằng kí ức và liên tưởng có tính trực giác, tập trung khắc họa đời sống nội tâm nhân vật qua những hồi ức, hoài niệm và dòng ý thức len lỏi vào từng diễn biến tâm lý Tiểu thuyết nội quan hướng vào hiện thực nội tâm mà ở
đó “con người tôi nồng nhiệt, dâm đãng, hiếu động, trầm tư, thận trọng, dối trá và
thành thực một cách quỷ quái” [47, tr.19] được bộc lộ một cách chân thực Dù vậy,
nội dung phản ánh của tiểu thuyết nội quan cũng không nằm ngoài hiện thực đời sống Tuy nhiên, hiện thực mà văn học nội quan phản ánh không phải là những câu chuyện của quá khứ được được kể lại mà câu chuyện ấy vẫn đang diễn ra, đang hình thành qua lớp kính mờ của kí ức Đó là chất hiện thực, là triết lý hay suy nghĩ
Trang 36lẩn khuất ở bề sâu tư tưởng và được thể hiện một cách tự nhiên, chân thực qua lớp màn tâm lý của nhân vật Điều này tạo nên điểm khác biệt và mới mẻ so với văn học của các thế kỷ trước Đó không còn là hiện thực đã qua được kể lại bằng lối trần thuật khách nữa Các chi tiết, sự kiện trong tác phẩm hiện lên không theo trình
tự logic có sẵn mà theo từng diễn biến tâm lý và những liên tưởng bất tận của nhân vật Không – thời gian trong tác phẩm không bị đóng khung trong không gian, thời gian lịch sử và mang tính cố định mà luôn không ngừng biến đổi Đó là không gian, thời gian đồng hiện hay đan cài vào nhau giữa quá khứ, hiện tại và có khi là tương lai Trong những khoảng không gian, thời gian mở của VHNQ, tác giả có thể phát triển, mở rộng, tạo nên sự đa dạng về chủ đề cho tác phẩm Chủ đề phong phú
sẽ thu hút được sự tìm tòi, khám phá cũng như tạo ra những cảm xúc mới mẻ cho người đọc Tuy nhiên, sự dàn trải nhiều chủ đề đôi khi cũng gây cảm giác rườm rà, rối rắm và khó khăn cho người đọc trong việc tiếp nhận tác phẩm
Lối văn trần thuật thông qua người kể chuyện ngôi thứ ba trong văn học đã được thay thế bằng lối trần thuật theo ngôi thứ nhất do chính nhân vật đảm nhận
Lối trần thuật này kết hợp với phương pháp dòng ý thức và độc thoại nội tâm của
nhân vật đã tạo cho tác phẩm một sức sống mới, gợi nhiều cảm xúc mới mẻ cho người đọc Tiểu thuyết nội quan đã phá vỡ quy luật thẩm mỹ truyền thống với tư duy duy lý bằng trực giác cảm tính chủ quan và nội tâm con người qua dòng chảy của ý thức, sự hoài niệm Sự thay đổi này đã hình thành nên lối viết mới – lối viết tâm lý trong sáng tạo tiểu thuyết của nhà văn Với phương pháp sáng tác mới, tiểu thuyết nội quan đã khẳng định được sự tồn tại và thành công của thể loại trường thiên nhưng giảm đi nhiều sự nhám chán, bởi nó là “tiểu thuyết động” được tạo ra
từ sự đa dạng của cảm xúc, sự phức tạp của đời sống tâm lý nhân vật Đó không phải là tâm lý chung gắn liền với những suy nghĩ, trách nhiệm đối với xã hội trong các tác phẩm văn học thế kỷ trước Đó là tâm lý cá nhân của nhân vật, là trải nghiệm trong cuộc sống qua từng cung bậc cảm xúc với sự suy tư và chiêm nghiệm được thể hiện chủ yếu trong từng trang tiểu thuyết Ngay cả những chi tiết tưởng
Trang 37rất nhỏ nhặt trong đời sống, tâm trạng con người cá nhân cũng được thể hiện một cách cụ thể, độc đáo tạo nên sự chân thực và gần gũi giữa độc giả và tác phẩm
Hiệu quả nghệ thuật của văn học nội quan lần đầu tiên được thể hiện thành
công ở bộ tiểu thuyết đồ sộ gồm bảy tập Đi tìm thời gian đã mất của Marcel
Proust Nhà nghiên cứu người Pháp Bernard Rafalli đánh giá khá cao về tác phẩm
của Proust khi nhận xét rằng: “toàn bộ nền văn học Pháp sẽ được đọc trước hoặc
sau Proust” [46, tr.115] Năm 1919, Dưới bóng những cô gái tuổi hoa được tặng
giải thưởng Goncourt đã thật sự khẳng định tên tuổi của ông trên văn đàn Pháp và thế giới Sau Proust thì tiểu thuyết của James Joyce, nhà văn người Anh với các tác
phẩm như: Chân dung chàng nghệ sĩ trẻ (1916), Ulysses (1922) và Finnegans thức
giấc (1939) cũng đã đem đến một chân dung mới cho văn học Anh Sự xuất hiện
Âm thanh và cuồng nộ của William Fauklner vào năm 1929 đã đem đến một làn
sóng mới cho văn học Mỹ thế kỷ XX Thành công của các tác phẩm trên đã khẳng định được sự ảnh hưởng sâu rộng, sự phát triển nhanh của văn học nội quan trên thế giới
Ở Việt Nam, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh xuất hiện lần đầu là vào năm 1990 với tên gọi Thân phận tình yêu , đến năm 1991 được đổi tên thành Nỗi
buồn chiến tranh Sự xuất hiện của tác phẩm này đã tạo nên diện mạo mới cho văn
học Việt Nam thế kỷ XX Tác phẩm này được dịch ra 19 thứ tiếng trên thế giới Năm 1999, Nguyễn Việt Hà đã gây được sự chú ý của người đọc với tiểu thuyết
Cơ hội của Chúa Tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà là hai tác phẩm tiêu biểu cho sự ảnh hưởng của khuynh
hướng văn học nội quan trong văn học Việt Nam Ngoài ra, tiểu thuyết của Chu Lai, Nguyễn Bình Phương, Thuận cũng chịu sự ảnh hưởng từ khuynh hướng văn học này Khuynh hướng văn học nội quan đã tạo ra một trào lưu sáng tác, phê bình văn học mới và khẳng định được sự thành công của nó trên văn đàn Việt Nam
Trang 38Chương 2 ĐẶC TÍNH CỦA VĂN HỌC NỘI QUAN TRONG TÁC PHẨM NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH
2.1 Những yếu tố tự truyện
2.1.1 Tác giả và tác phẩm
Bảo Ninh tên khai sinh là Hoàng Ấu Phương, sinh ngày 18 tháng 10 năm
1952 Ông là con trai của GS Hoàng Tuệ, nguyên Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học, một người có đóng góp lớn cho nền ngôn ngữ Việt Nam Khi đọc những tác phẩm của Bảo Ninh ta sẽ ngỡ ngàng khi nhận ra rằng trái với vẻ ngoài lầm lì và ăn nói có phần không được trôi chảy nhưng lối văn của ông thì khá trơn tru, giàu cảm xúc Bảo Ninh từng là người lính tham gia kháng chiến từ năm 1969 ở mặt trận B3 Tây Nguyên, tại tiểu đoàn 5, trung đoàn 24, sư đoàn 10 và tham gia chiến đấu trong cuộc tấn công giải phóng Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975 Đến năm 1975 thì ông giải ngũ và học đại học Hà Nội từ năm 1976 – 1981, sau đó làm việc tại Viện Khoa học Việt Nam Ông từng học trường viết văn Nguyễn Du khóa năm
1984 – 1986 và trở thành hội viên Hội nhà văn Việt Nam năm 1997 và hiện đang làm việc tại báo Văn nghệ trẻ Trong một buổi trò chuyện trên báo Tuổi trẻ online,
nhà văn Bảo Ninh đã nói rằng “cái thực bao giờ cũng có sức quyến rũ hơn sự giả
tạo” [118] Có lẽ, cái tư tưởng sự thật quyến rũ ấy thêm với những ám ảnh một
thời của cuộc đời người lính trong tác giả đã khiến Bảo Ninh tạo nên một cơn bão
“nỗi buồn chiến tranh” Xuyên suốt tác phẩm là hành trình của cái tôi chìm ngập
trong những hồi ức của quá khứ hiện về tươi mới Dù chiến tranh đã ngưng đọng
“nhưng tâm hồn tôi thì đã ngưng bước lại ở những ngày tháng ấy chứ không tài nào mà đổi đời nổi như là bản thân đời sống của tôi” [69, tr.43] Trở về với cuộc
sống bình thường, bom đạn đã bị đẩy lùi ở phía sau nhưng “khói lửa” trong lòng những người lính như Kiên, Bảo Ninh thì vẫn cháy mãi khôn nguôi bởi nó được
Trang 39kết tinh bởi “kỉ niệm bi thảm, bao nhiêu là nỗi đau mà từ lâu lòng đã nhủ lòng
phải gắng cho qua đi” [69, tr.43]
Tác phẩm đầu tay của Bảo Ninh là tập truyện ngắn Trại bảy chú lùn (1987)
đã mang hơi hướng chiến tranh phả vào từng trang viết Tuy nhiên, độc giả thật sự
ấn tượng về ông khi Thân phận tình yêu được xuất bản lần đầu năm 1990, đến năm
1991 tác phẩm được tái bản, đổi tên thành Nỗi buồn chiến tranh và nhận giải
thưởng Hội nhà văn Việt Nam Tiểu thuyết này đã đánh dấu thành công của nhà văn với đề tài cũ nhưng bằng phương pháp sáng tác mới, đi sâu khai thác đời sống tinh thần con người Tác phẩm đem đến luồng không khí tươi mới cho làng văn lúc
bấy giờ Mặc dù vậy, Nỗi buồn chiến tranh cũng để lại không ít những điều tiếng,
tranh luận suốt một quãng thời gian dài từ khi nó ra đời Sau sự thành công của tiểu
thuyết này, một loạt truyện ngắn của ông ra đời như Chuyện xưa kết đi được chưa?
(2009), rồi tuyển tập Bảo Ninh – tác phẩm chọn lọc (2011), và mới đây nhất là tổng tập Bảo Ninh – Những truyện ngắn (10/2013) Khi đọc truyện ngắn của ông, người đọc không khỏi ngậm ngùi về những vấn đề về chiến tranh, con người và cuộc sống thời hậu chiến đắng lòng hiển hiện trước mắt Dù rằng “chuyện xưa kết đi” nhưng làm sao kết được hoàn toàn bởi nỗi đau còn in dấu mãi trong kí ức, để
rồi vẫn hiện về trong mỗi chặng đường đời của con người hôm nay trong Mắc cạn,
Cũ xưa, Chuyện xưa kết đi được chưa?, La mác – xây – e, Trại Bảy chú lùn…
Dường như mỗi tác phẩm là một thứ “vật liệu” để tạo nên “chiếc cầu” Nỗi buồn
chiến tranh hoàn chỉnh và đặc sắc Truyện ngắn của Bảo Ninh như “những mảnh
vỡ của tiểu thuyết hoặc phản chiếu, hoặc soi sáng thế giới của tiểu thuyết” [70,
tr.478] của Nỗi buồn chiến tranh Đó là tiểu thuyết được viết nên từ nỗi lòng thầm
kín của một người lính bước ra từ chiến tranh, từ cuộc chiến ác liệt ở mặt trận Tây Nguyên Những ám ảnh của một thời bom đạn vẫn hằn in trong trí nhớ nhà văn như một phần máu thịt không bao giờ rũ bỏ được Thế nên, có người khi đọc tiểu
thuyết Nỗi buồn chiến tranh đã cho rằng nó là một “tiểu thuyết tự truyện bất
thành” hay bán tự truyện
2.1.2 Yếu tố tự truyện
Trang 40Nhiều người cho rằng Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là một tác phẩm bán tự truyện Mà tự truyện là “tác phẩm nghệ thuật làm cho quá khứ được tái
sinh” [39, tr.389] và ở đó nhà văn được sống dậy với khoảng thời gian của hoài
niệm đầy khao khát đã được chúng tôi trình bày ở chương 1 Và theo nhà văn Mỹ
Thomas Wolf thì: “Mọi tác phẩm nghiêm túc suy đến cùng đều có tính chất tự
truyện, một người nếu muốn sáng tác một cái gì chân thực và có giá trị thì phải sử dụng kinh nghiệm và tài liệu trong cuộc sống của mình” [119] Cùng với ý kiến
trên, nhà văn Nguyễn Đình Thi trong tiểu luận Tiếng nói của văn nghệ viết năm
1948, cũng khẳng định rằng: “Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng
những vật liệu ở thực tại Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh” [73, tr.12 - 13]
Vì thế, khi đọc bất kỳ một tác phẩm nào, ta cũng cảm nhận được hiện thực đời sống hiển hiện và có khi là những điểm nhấn trong cuộc đời nhà văn phần nào
được tái hiện Chẳng hạn, khi đọc Gia đình bé mọn hay Con chó và vụ ly hôn của
Dạ Ngân ta cảm nhận được những vấp ngã trong đời tư đã “dính” vào trang viết đầy suy ngẫm của nhà văn về hạnh phúc gia đình, về người phụ nữ trong xã hội
Và khi đọc Ngược chiều cái chết, Lạc rừng hay Lính trận, người đọc cũng cảm nhận được cái tôi nhà văn đậm chất lính của Trung Trung Đỉnh thấp thoáng trong
từng trang văn Tuy nhiên, chúng ta không thể khẳng định đó là những tác phẩm
tự truyện Bởi tác giả chỉ đưa vào một vài chi tiết liên quan đến cuộc đời mình như
sự khơi nguồn cảm xúc cho tác phẩm Có thể nói đó là những tác phẩm mang màu sắc tự truyện nhưng không phải là tác phẩm tự truyện Những yếu tố tự thuật trong tác phẩm nội quan tạo mạch ngầm dẫn dắt tác giả trở về với quá khứ để được một lần nữa sống lại trong tâm hồn sự khao khát, day dứt về kỉ niệm Từ một đĩa bánh
và tách trà mà tâm trí Marcel Proust như được sống dậy cả một quãng đời đã qua Với Bảo Ninh, một nhà văn bước ra từ mặt trận thì kỉ niệm của những ngày lửa đạn làm sao có thể bị xóa sạch mà không bị “đánh động” Đó là nỗi nhớ khôn nguôi, là
sự ám ảnh đến da diết trong kí ức nhà văn Thế nên, khi viết một tác phẩm về đề tài