1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những yếu tố tác động đến việc làm và thu nhập của nhóm người đồng tính luyến ái đang sinh hoạt tại bình dương hiện nay

190 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tua de

  • 2. Loi ngo, danh muc, muc luc

  • 3. Ket qua nc

  • 4. Tai lieu tham khao dcnc

  • 5. Phu luc

Nội dung

Về năng lực, họ có thể làm mọi công việc; về sở thích, thích được làm những công việc được thể hiện bản thân và việc “nhẹ nhàng” Tuy nhiên, các rào cản đối với cơ hội việc làm của người

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu cụ thể

y ếu tố tác động đến việc l àm và thu nh ập của nhóm người đồng tí nh luy ến ái đang sinh hoạt tại tỉnh B ình D ương hiện nay”

2.1 Mục tiêu chung Đề tài tập trung tìm hiểu thực trạng việc làm và thu nhập của nhóm người ĐT đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương và những yếu tố tác động đến thực trạng đó Nhằm mục đích giúp xã hội hiểu được những khó khăn trong việc tìm kiếm và lựa chọn công việc, nâng cao thu nhập của họ Từ đó có thể đưa ra những định hướng về giải pháp giúp nhóm người ĐT có điều kiện học tập, nâng cao trình độ, nhận được sự quan tâm hỗ trợ của chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội khác

Bên cạnh đó đề tài cũng hướng đến mục tiêu giảm bớt sự phân biệt đối xử đối với nhóm người ĐT; giúp họ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm việc làm, có được việc làm ổn định, phù hợp, nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống của mình

- Mô tả thực trạng việc làm và thu nhập của nhóm người ĐT đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương; Tìm hiểu những mặt hạn chế, tiêu cực trong việc lựa chọn công việc và chi tiêu của họ; Bên cạnh đó đề tài tìm hiểu những yếu tố tác động đến thực trạng việc làm và thu nhập của nhóm lao động này

- Tìm hiểu những khó khăn mà nhóm người ĐT đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương gặp phải liên quan đến vấn đề việc làm

- Tìm hiểu những mong muốn và đề xuất của nhóm người ĐT đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương liên quan tới vấn đề việc làm và thu nhập của mình

- Đề xuất các giải pháp mang tính chất khuyến nghị nhằm giúp nhóm người ĐT đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương có điều kiện thuận lợi hơn trong việc tìm được việc làm ổn định, phù hợp, nâng cao thu nhập.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Với những mục tiêu nghiên cứu như đã nêu trên, đề tài hướng đến thực hiện các nhiệm vụ sau: Thứ nhất, tìm hiểu thực trạng việc làm và thu nhập của nhóm người đồng tính đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương (Thực trạng việc làm: ngành nghề lao động, vị thế việc làm, vị trí nơi làm việc, tính chất công việc, lý do tìm được việc, môi trường làm việc, tính gắn bó với công việc, tính ổn định, bền vững của công việc, việc làm trái pháp luật…; Thực trạng thu nhập: thu nhập, chi tiêu, tiết kiệm, mức độ hài lòng về thu nhập…); Thứ hai, tìm hiểu những yếu tố tác động đến thực trạng việc làm và thu nhập để thấy được những khó khăn mà nhóm lao động này đang gặp phải liên quan đến vấn đề việc làm và thu nhập (Yếu tố chủ quan: xuất phát từ chính bản thân những người đồng tính; Yếu tố khách quan: sự tác động từ phía gia đình, họ hàng – hàng xóm, nhà trường, bạn bè, chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể xã hội, Trung tâm giới thiệu việc làm…)

Từ những nhiệm vụ nghiên cứu đó, đề tài hướng đến việc tìm hiểu những mong muốn và đề xuất của nhóm người đồng tính luyến ái đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương liên quan tới vấn đề việc làm và thu nhập của mình để từ đó đề xuất các giải pháp mang tính chất khuyến nghị nhằm giúp họ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc tìm được việc làm ổn định, phù hợp, nâng cao thu nhập.

Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Những yếu tố tác động đến việc làm và thu nhập của nhóm người đồng tính luyến ái đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương hiện nay, không phân biệt nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của họ.

Khách thể nghiên cứu

Những người ĐT đang sinh hoạt trong nhóm với nhau phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong đề tài là phương pháp nghiên cứu định lượng Thông qua việc thu thập, xử lý và phân tích các thông tin định lượng, cũng như các dữ liệu thống kê sẵn có, đề tài sẽ mô tả thực trạng và những yếu tố tác động đến thực trạng việc làm và thu nhập của nhóm người ĐTLA đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương hiện nay Từ đó, có cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu và dự báo một số yếu tố tích cực lẫn hạn chế trong tương lai

Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để phân tích một cách thấu đáo nguyên nhân, điều kiện, hệ quả và nhu cầu của khách thể đối với vấn đề việc làm và thu nhập Từ đó, đưa ra những đánh giá sát thực về những khó khăn, hạn chế và những yếu tố tích cực lẫn hạn chế liên quan đến vấn đề việc làm của nhóm người ĐTLA đang sinh hoạt tại địa bàn nghiên cứu; đề xuất những định hướng giải pháp mang tính phù hợp.

Kỹ thuật nghiên cứu

6.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

Thu thập thông tin định lượng: đề tài sử dụng phương pháp phỏng vấn bảng hỏi (bảng hỏi cấu trúc) đối với các hộ ở địa bàn khảo sát Bảng hỏi gồm 3 phần: Phần 1 - Thực trạng việc làm và thu nhập Phần 2 – Các yếu tố tác động Phần 3 – Những khó khăn, mong muốn và đề xuất của nhóm người ĐTLA đang sinh hoạt tại

Bình Dương liên quan đến vấn đề việc làm và thu nhập Phần 4 - Đặc điểm cá nhân và những thông tin liên quan

Thu thập thông tin định tính: sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc

6.2.2 Phương pháp chọn mẫu Để thu thập thông tin định lượng: tác giả sử dụng kỹ thuật khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc Đề tài sẽ điều tra một mẫu với dung lượng là 160 trường hợp Khách thể là những người ĐTLA đang sinh hoạt tại phường Lái Thiêu, thị xã Thuận

Trước tiên, đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu phân suất (hay định ngạch) với tổng 160 trường hợp chia đều cho 04 dạng ĐT Trong đó mỗi dạng gồm

40 trường hợp, gồm ĐT nam, ĐT nữ, Song tính và Chuyển giới Sau đó, tác giả tìm và phỏng vấn những khách thể nghiên cứu có đặc tính theo yêu cầu và cũng là những người có sức ảnh hưởng lớn đối với nhóm ĐTLA tại địa bàn nghiên cứu Từ những người này, tác giả tìm ra những khách thể nghiên cứu khác để đưa vào mẫu

Vì vậy, phương pháp chọn mẫu được sử dụng để thu thập thông tin định lượng trong đề tài được xác định là phương pháp chọn mẫu phi xác suất, gồm 02 bước, bước 01 sử dụng cách chọn mẫu phân xuất và sau đó là cách chọn mẫu lũy tuyến Để thu thập thông tin định tính: tác giả đã sử dụng kỹ thuật phỏng vấn bằng bảng hỏi bán cấu trúc đối với các đối tượng là: 01 mẫu là Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh Bình Dương, 01 mẫu là Đoàn Thanh niên thị xã Lái Thiêu, 03 mẫu là Các cơ quan - công ty - doanh nghiệp - đơn vị có thực hiện tuyển dụng lao động và 04 mẫu là lao động thuộc nhóm ĐT là khách thể nghiên cứu của đề tài (Phân bố đều ca phỏng vấn cho 04 dạng ĐT)

Ngoài các phương pháp khảo sát xã hội học trên, tác giả còn sử dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia, thu thập, tóm tắt và phân tích những tài liệu sẵn có là các công trình nghiên cứu liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài nhằm có thêm thông tin và cơ sở lý luận cũng như dữ liệu phục vụ cho quá trình thực hiện đề tài Bên cạnh đó, tác giả kết hợp phương pháp quan sát tham dự và không tham dự, kết hợp phỏng vấn tự do, chụp hình để chuẩn bị xây dựng các công cụ bảng hỏi và phục vụ cho kết quả nghiên cứu của đề tài

6.2.3 Kỹ thuật xử lý và phân tích thông tin Đối với thông tin định lượng thu thập bằng kỹ thuật khảo sát thông qua bảng hỏi, dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 11.5 Thông tin chủ yếu được phân tích theo phương pháp mô tả thống kê, diễn dịch, tổng hợp và so sánh Đối với thông tin định tính, thu thập bằng kỹ thuật phỏng vấn sâu, các cuộc phỏng vấn sâu sẽ được ghi âm, gỡ băng và triển khai thành các biên bản phỏng vấn

Từ biên bản phỏng vấn sâu, tác giả thực hiện việc tóm tắt các trường hợp phỏng vấn và mã hóa thông tin Trong quá trình quan sát địa bàn và khách thể nghiên cứu, đề tài cũng thu thập thông tin thông qua một số hình ảnh về nơi làm việc và quá trình thực hiện công việc của nhóm người ĐTLA đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương hiện nay.

Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa lý luận

Trên thế giới và ở Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu về những người ĐT Các tổ chức hỗ trợ và tập hợp nhóm người này cũng được hình thành rất nhiều như: các tổ chức bảo vệ quyền lợi, các câu lạc bộ đội nhóm, diễn đàn sinh hoạt…Tuy nhiên, các nghiên cứu và tổ chức này dường như chỉ quan tâm đến mặt sinh học, các hoạt động vui chơi, giải trí, chia sẻ về vấn đề tình cảm gia đình, tình cảm yêu đương của người ĐT Mặc dù nhận biết được những người ĐTLA gặp phải rất nhiều khó khăn trong quá trình tìm việc và làm việc so với những người khác Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, có rất ít đề tài nghiên cứu tìm hiểu về việc làm và thu nhập của người ĐT

Tìm hiểu những yếu tố tác động đến việc làm và thu nhập của nhóm người ĐTLA đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương hiện nay, tác giả hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ về mặt lý luận trong việc chỉ ra mối liên hệ giữa xu hướng tìm việc, lựa chọn công việc và nhận thức vị trí xã hội của những người ĐT với nhiều yếu tố tác động khác nhau, trong đó đặc biệt là định kiến của xã hội Nghiên cứu sẽ giúp chúng ta thấy được nhận thức xã hội có ảnh hưởng như thế nào đối với vấn đề việc làm và thu nhập của những người ĐT hiện nay

Vì vậy, có thể nói rằng, đề tài đã góp phần xây dựng và bổ sung thêm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về vấn đề việc làm và thu nhập nói chung của những người ĐT không chỉ ở Bình Dương mà còn ở các khu vực khác trong cả nước Với các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu được sử dụng, đề tài sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học cho các nghiên cứu kế tiếp về các vấn đề có liên quan.

Ý nghĩa thực tiễn

Cũng là một cá thể trong xã hội, nhưng những người ĐT ở nước ta hiện nay vẫn còn bị xem là đối tượng “bệnh hoạn”, “khác người” Họ bị xa lánh và dường như bị đẩy ra khỏi hoạt động chung của xã hội Vì nhiều lý do khác nhau, những người ĐT đã và đang gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc thể hiện bản thân, giao tiếp với xã hội, thể hiện tình cảm yêu đương, trong quá trình học tập…và trong vấn đề việc làm – thu nhập

Bên cạnh những khó khăn chung mà lao động nước ta gặp phải như: trình độ thấp, thiếu việc, thất nghiệp, môi trường làm việc ô nhiễm, thu nhập chưa đảm bảo cho cuộc sống thì những người ĐT còn phải đối đầu với nhiều vấn đề khác, đặc biệt là định kiến xã hội

Nghiên cứu những yếu tố tác động đến việc làm và thu nhập của nhóm người ĐTLA đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương hiện nay ngoài việc mô tả khái quát thực trạng, tác giả hy vọng sẽ phát hiện được những vấn đề bất cập còn tồn tại làm ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của nhóm người này Từ đó, giúp xã hội hiểu được những khó khăn mà họ đang gặp phải để có sự hỗ trợ tích cực Đề tài còn mong muốn trở thành một kênh thông tin giúp mọi người có cách nhìn đúng hơn về những người ĐT trong xã hội; góp sức vào phong trào đòi quyền bình đẳng cho nhóm người này Ý nghĩa của đề tài không dừng lại ở đó mà còn thể hiện qua việc đưa ra những định hướng mang tính giải pháp giúp nhóm người ĐT có điều kiện học tập, nâng cao trình độ, nhận được sự quan tâm hỗ trợ của chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội khác; giúp họ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm việc làm, có được việc làm ổn định, phù hợp, nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống của mình

Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa Trong rất nhiều thách thức đặt ra cùng với quá trình ấy thì vấn đề lao động việc làm là một trong những thách thức to lớn mà chúng ta phải giải quyết để phát triển đất nước nhanh và bền vững Giải quyết được những khó khăn đối với vấn đề việc làm của người ĐT sẽ góp phần giải quyết những khó khăn chung mà lao động nước ta đang gặp phải.

Hạn chế của luận văn

Tuy đề tài chưa được triển khai thực hiện nhưng tác giả nhận thức được một số hạn chế và khó khăn sẽ gặp phải trong quá trình thực hiện như:

- Thứ nhất: Các nghiên cứu về những người ĐT có rất nhiều nhưng chỉ xoay quanh các yếu tố về mặt sinh học và tâm lý Trong khả năng tìm hiểu của mình, tác giả phát hiện có 02 nghiên cứu tìm hiểu đến vấn đề việc làm và thu nhập của những người chuyển giới Do đó, nguồn dữ liệu thứ cấp phục vụ cho đề tài còn hạn chế

- Thứ hai: Nhóm người ĐT đang sinh hoạt tại phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã được kết nhóm từ rất lâu, nhưng họ không có thời gian sinh hoạt ổn định Sự hiện diện của các thành viên trong các buổi họp nhóm, làm thêm là không đầy đủ Do đó, việc tiếp cận với mẫu nghiên cứu cần phải có thời gian và tốn nhiều công sức

- Thứ ba: Như đã đề cập ở phần đầu, những người ĐT ở nước ta còn là đối tượng mang tính “nhạy cảm” Họ không dễ dàng thể hiện mình do sợ bị phân biệt đối xử Tính cách, tâm lý và những thói quen sinh hoạt của nhóm người này cũng có những đặc trưng khác cần phải tìm hiểu Vì vậy, việc tiếp cận để thu thập thông tin sẽ gặp nhiều khó khăn Thông tin thu thập được có nguy cơ không xác thực Những điều đó đòi hỏi tác giả phải tìm được phương pháp và kỹ thuật thu thập thông tin thích hợp nhất

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nhằm có thêm thông tin và cơ sở lý luận cũng như dữ liệu phục vụ cho quá trình thực hiện đề tài, nâng cao tính xác thực của đối tượng nghiên cứu, tác giả đưa ra một số nghiên cứu tiêu biểu, có liên quan đến vấn đề lao động – việc làm, thu nhập, và những nghiên cứu về những người đồng tính trong xã hội như sau:

1.1.1 Những nghiên cứu về lao động – việc làm và thu nhập

Lao động – việc làm và thu nhập là một phạm trù tổng hợp, vì vậy nó thu hút sự quan tâm của nhiều lĩnh vực như triết học, dân số học, kinh tế học … Ở nước ta có nhiều nghiên cứu về khía cạnh biến đổi của lao động, việc làm, về nghề nghiệp, nhất là ở nông thôn Bởi vấn đề lao động, việc làm và thu nhập góp phần vào việc hoạch định chính sách xã hội, vào việc đẩy mạnh và hoàn thành nhanh chóng công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Tầm quan trọng của vấn đề lao động việc làm và thu nhập được Đảng và Nhà nước ta đặt lên hàng đầu Nghị quyết Đại quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XI của Đảng cộng sản Việt Nam đề ra mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm

2011 – 2015 với 5 nhiệm vụ chủ yếu, trong đó có nhiệm vụ: “Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức Tập trung giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội….” [9]

Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương đường lối thiết thực, hiệu quả nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao động đáp ứng nhu cầu của quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, tạo nhiều việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân, xây dựng xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [18]

Bên cạnh những nghiên cứu, đánh giá về tình hình lao động Việt Nam hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu đề cập đến lực lượng lao động nữ trong xã hội, cùng với các đối tượng lao động gặp nhiều khó khăn khác như thanh niên, bộ đội, người khuyết tật

Trước hết, có thể kể đến công trình nghiên cứu của GS Lê Thi vào năm 1991: “Vấn đề tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao địa vị người phụ nữ hiện nay” Kết quả nghiên cứu cho thấy có đến 51,34% lao động ở nước ta là lao động nữ Mặc dù trình độ học vấn lao động nữ ở nước ta không thấp so với các nước trong khu vực nhưng trình độ chuyên môn kỹ thuật lại hết sức thấp, chiếm đến 93,3% lao động nữ Điều đó khiến phụ nữ phải lao động trong những công việc mang tính giản đơn, lao động chân tay, nặng nhọc, không có kỹ thuật và thu nhập ít ỏi Nếu như trong cơ quan, xí nghiệp nhà nước có giảm biên chế thì trong những người nghỉ việc số đông rơi vào phụ nữ Đa số phụ nữ hoạt động trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và một số khâu các ngành nghề khác như: làm đường, dọn vệ sinh công cộng, bao bì…Nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân của thực trạng đó là do phụ nữ dành nhiều công sức và thời gian chi phí cho công việc gia đình đã ảnh hưởng lớn đến việc học tập văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, nâng cao chất lượng lao động, cả về mặt sức khỏe bản thân, theo đó, họ có quá ít lượng thông tin về việc làm và quan hệ giao tiếp ngoài xã hội Đứng trước thực trạng đó, tác giả đã đưa ra rất nhiều giải pháp căn bản nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao địa vị người phụ nữ Trong đó chú ý đến mặt nâng cao trình độ học vấn, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho lao động nữ và đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất

Theo Naila Kabeer và Trần Thị Vân Anh trong văn kiện đối thoại chính sách UNDP tháng 2 năm 2006: “Toàn cầu hóa, vấn đề giới và việc làm trong nền kinh tế chuyển đổi – trường hợp Việt Nam” cho rằng, trình độ học vấn ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc làm của lao động nữ, những phụ nữ có trình độ học vấn ít nhất là trung học thì vào làm trong các ngành công nghiệp xuất khẩu, trong khi những người có trình độ học vấn thấp hơn thì đi làm thuê dưới nhiều hình thức và tự làm việc, chủ yếu trong nền kinh tế phi chính thức thành thị Nghiên cứu còn chỉ ra rằng, vị thế của những người phụ nữ, cụ thể ở đây là những người phụ nữ đi làm ngành may có tiền lương thấp và điều kiện làm việc không tốt Họ làm việc trong tư thế ngồi trong thời gian dài,thực hiện các nhiệm vụ đơn điệu, lặp đi lặp lại Chính vì vậy mà một số hình thức tự làm việc sẽ là phương án đưa lại các cơ hội thay thế tốt hơn [2]

Tổng quan nghiên cứu “Giới, việc làm và đời sống gia đình” của Viện khoa học xã hội vùng Nam Bộ năm 2007 cũng đã đưa ra nhiều vấn đề về lao động nữ trong giai đoạn hiện nay Nghiên cứu của PGS Bùi thị Kim Quỳ về “Suy nghĩ về một số giải pháp nhằm nâng cao vị thế cho lao động nữ tại các doanh nghiệp” đề cập đến 3 yếu tố chính cần xem xét và giả quyết để nâng cao vị thế lao động nữ trong giai đoạn hiện nay bao gồm: Ở tầm vĩ mô trước hết là các chủ trương, chế độ, chính sách Nhà nước đối với lao động nữ; Thứ hai là ý thức, thái độ của Ban quản lý các doanh nghiệp, Ban điều hành, Ban chấp hành công đoàn cơ sở có thực sự mong muốn lao động nữ tại doanh nghiệp mình được phấn khởi, phát huy tính sáng tạo trong lao động sản xuất và được nâng cao vị thế lao động hay không; Thứ ba là bản thân lao động nữ - một nguồn lực bất tận, có muốn nâng cao vị thế của mình hay không Theo kết quả điều tra đó, tác giả đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm mục đích nâng cao vị thế của lao động nữ

NCVCC Nguyễn Quang Vinh trong công trình nghiên cứu này cũng đặt ra vấn đề “Khắc phục các mâu thuẫn và trở ngại để mở rộng cơ cấu năng lực của lao động nữ” Tác giả chỉ ra mâu thuẫn đầu tiên dễ dàng nhận thấy trong vấn đề lao động – việc làm của phụ nữ ở độ tuổi từ 28 – 35 là mâu thuẫn giữa năng lực sản xuất vốn có của họ với đòi hỏi cao của địa bàn lao động mới, chiếm 40% Mâu thuẫn thứ hai nằm trong ý thức và cách định hướng giá trị của bản thân nữ lao động trẻ Nghiên cứu mối quan tâm của của lao động nữ về “nâng cao tay nghề” cho thấy họ có mong muốn khá mờ nhạt trong kết cấu các định hướng giá trị và kế hoạch đời sống của mình Trở ngại tiếp theo ngăn cản sự hình thành và vận hành các cơ chế xã hội đảm bảo tiến bộ xã hội trên lĩnh vực mở rộng cơ cấu lao động nữ hiện nay nằm ở cách tiếp cận không đầy đủ ở các định chế xã hội có liên quan Ban giám đốc, chủ xí nghiệp, các đơn vị tuyển dụng lao động…chỉ xem lao động nữ là những lao động mang tính tức thời, chú ý về mặt số lượng sản phẩm và cường độ lao động của họ Ban chấp hành công đoàn cơ sở được tổ chức còn mỏng, chưa quan tâm thấu đáo đến nguồn lực lao động nữ [4]

Một trong những nghiên cứu gần đây (năm 2009) của Bộ Lao động – Thương Binh và Xã hội có liên quan đến đề tài là công trình “Lao động, việc làm trong thời kỳ hội nhập” Kết quả nghiên cứu đánh giá rằng: “Những bất lợi đầu tiên của quá trình hội nhập tới nhóm lao động bị “hạn chế” về năng lực cạnh tranh như lao động nữ, nguyên nhân là do: Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ đang làm việc còn thấp hơn so với nam, định kiến giới trong việc làm, trong tuyển dụng vẫn còn tồn tại, như tình trạng thích tuyển lao động nam hơn, chỉ tuyển lao động nữ ở những ngành nghề mà nam không thích làm Lao động nữ chủ yếu làm việc ở nhóm lao động giản đơn Tỷ lệ việc làm ở khu vực tự tạo việc làm, việc làm tại nhà không hưởng lương cũng rất cao và xu thế giảm chậm Quá trình hội nhập không những chưa cải thiện được tiền lương cho người phụ nữ mà còn làm tăng khoảng cách giới về tiền lương Các ngành hội nhập càng nhiều thì khoảng cách giới về tiền lương càng lớn và có xu hướng gia tăng trong giai đoạn

Cũng trong năm 2009, TS Dương Tự Đam cũng nghiên cứu vấn đề “Thanh niên với việc làm hướng nghiệp và phát triển tài năng” Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố tác động đến việc làm của thanh niên chủ yếu là: quy mô và tốc độ tăng trưởng dân số, các yếu tố kinh tế - văn hóa xã hội, trình độ phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ…Bên cạnh đó, tác giả cũng đề ra một số biện pháp chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề việc làm của thanh niên hiện nay, trong đó tăng cường các biện pháp vay vốn phát triển sản xuất, nâng cao hệ thống học nghề và dạy nghề phù hợp với nhu cầu thị trường, nâng cao vai trò của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trong việc tham gia giải quyết việc làm cho thanh niên kết hợp với phương pháp giáo dục trong gia đình, nhà trường và vai trò của các Trung tâm tư vấn hướng nghiệp [8]

Một lần nữa tác giả Quang Dương trong công trình “Tư vấn hướng nghiệp” vào năm 2010 cũng đã nhấn mạnh vai trò tác động của tổ chức, các ban ngành Đoàn thể trong việc hướng nghiệp, tạo việc làm cho người dân Tác giả cho rằng, việc hỗ trợ cho mọi người (chủ yếu là giới trẻ) trong quá trình hướng nghiệp không chỉ là trách nhiệm của nhà trường cả ngành giáo dục Đây còn là sứ mệnh chung của toàn xã hội – của mọi ban ngành và các đoàn thể, của mọi gia đình và mọi phụ huynh…Bởi lẽ đơn giản, bất cứ tổ chức và cơ cấu lao động nào trong xã hội cũng phải cân nhắc đến con người trong đó, mà con người là sản phẩm tổng hòa của toàn xã hội chứ không chỉ là sản phẩm đơn nhất của mỗi gia đình [7]

Bên cạnh những công trình nghiên cứu về việc làm, thu nhập, tạo việc làm cho lao động nữ, tác giả Quảng Văn cũng đưa ra tác phẩm nghiên cứu về “Tủ sách hướng nghiệp cho bộ đội xuất ngũ” vào năm 2010 Bên cạnh việc dự báo tình trạng lao động Việt Nam đang ở tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu thì tác giả đánh giá số lượng các giao dịch lao động được thực hiện trên thị trường, nhất là giao dịch qua các kênh chính quy như các trung tâm giới thiệu việc làm, các hội chợ lao động…hiện còn quá thấp so với nhu cầu về giao dịch lao động trong xã hội Theo thống kê của Bộ lao động thương binh – xã hội bình quân mỗi hội chợ việc làm có

72 đơn vị, 39.000 lượt người tham gia, 15.000 lượt người đăng ký tìm việc làm, 2.000 người được tuyển dụng và 3.000 người đăng ký học nghề Thêm nữa, hầu hết các trung tâm giới thiệu việc làm, các hội chợ việc làm đều được tổ chức và tập trung ở các đô thị lớn, trong khi đó, tại các vùng ngoại thành và nông thôn là những nơi có nhiều người thất nghiệp và thiếu việc làm lại không có các dịch vụ này Cho đến hiện nay, hình thức này vẫn chưa có những đóng góp như mong muốn vào việc thúc đẩy hoạt động của thị trường lao động, nhất là trong việc giải quyết việc làm cho lao động nông thôn

Phương pháp luận nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên nền tảng phương pháp luận của phép duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử theo quan điểm Marx Theo đó, các sự vật, hiện tượng liên quan đến vấn đề nghiên cứu sẽ được xem xét trong mối liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau, trong mâu thuẫn và vận động, phát triển không ngừng của xã hội mà cụ thể trong nghiên cứu này là vấn đề việc làm và thu nhập của nhóm người ĐT bị tác động bởi rất nhiều yếu tố khác Trong đó có sự mâu thuẫn giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng, giữa nhu cầu phát triển về mặt kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của những người ĐT với dư luận xã hội, định kiến xã hội; giữa nhu cầu về việc làm, thu nhập với sự hỗ trợ của cơ quan địa phương, các tổ chức xã hội

Chính những mâu thuẫn đó đã khiến những người ĐT gặp nhiều khó khăn, thiệt thòi trong quá trình tìm việc, chọn việc và làm việc Tuy nhiên, hoàn cảnh khó khăn ấy cũng thúc đẩy họ nổ lực tự tạo việc cho bản thân và bươn chãi để nâng cao thu nhập Xã hội cần nhận thức được yếu tố chủ yếu nào tác động, gây khó khăn cho những người ĐT, yếu tố nào là lạc hậu, lỗi thời để đấu tranh giải quyết mâu thuẫn Bằng cách đó, vấn đề việc làm và thu nhập của nhóm người ĐT sẽ được giải quyết một cách thỏa đáng và tích cực Cách lí giải này được lập luận theo quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập theo phép duy vật biện chứng của Marx.

Cách tiếp cận và lý thuyết ứng dụng

1.3.1.1 Cách ti ếp cận hệ thống

Hệ thống ở đây được hiểu là tổng hòa các thành tố, thành phần, bộ phận và các mối quan hệ giữa chúng theo một kiểu nào đó tạo thành một cấu thể toàn vẹn và hoàn chỉnh

Dù xét ở góc độ vi mô hay vĩ mô, xã hội bao giờ cũng tồn tại một cách toàn vẹn và hoàn chỉnh theo một cấu trúc của nó Mỗi sự kiện, hiện tượng hay quá trình xã hội của chủ thể xã hội, cấu thành nên hệ thống xã hội đều nằm trong sự phụ thuộc lẫn nhau một cách chặt chẽ Mỗi yếu tố riêng lẻ chỉ có ý nghĩa khi đặt nó trong một tổng thể Tương tự như vậy, các mối quan hệ tương tác cơ cấu và trạng thái của hệ thống, cũng phải được đặt trong một tổng thể nếu như chúng ta muốn hiểu rõ các mối quan hệ này [12]

Hệ thống được đề cập trong đề tài chính là những yếu tố mang tính bẩm sinh, di truyền của môi trường tự nhiên và xã hội; Là hệ thống tổ chức các cơ quan chính quyền, các tổ chức xã hội và hệ thống giáo dục; Là hệ thống các yếu tố tác động hình thành nên xu hướng tâm lý, niềm tin cá nhân, trách nhiệm, ý chí, hoài bão, ước mơ; Là hệ thống các yếu tố hình thành năng lực, phẩm chất…của nhóm người ĐT trong xã hội

Khi tìm hiểu đề tài, cần phải xem xét tất cả những yếu tố đó đã tác động như thế nào đến việc làm và thu nhập của nhóm người ĐTLA đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương hiện nay

1.3.1.2 Cách ti ếp cận lối sống

Lối sống được xem như một bức tranh toàn vẹn về cuộc sống của các cá nhân trong từng điều kiện cụ thể, nhất định Lối sống được xem như một phạm trù thống nhất bao gồm các nhân tố chủ quan và khách quan của điều kiện sống Nhân tố khách quan bao gồm điều kiện tự nhiên (địa lý, khí hậu, sinh học, sinh thái…) và điều kiện xã hội (kinh tế - xã hội, chính trị - xã hội, văn hóa – xã hội), những nhân tố chủ quan bao gồm những nhân tố thuộc về tình cảm, nhu cầu, động cơ, định hướng giá trị của con người…

Butenco đã từng nói: “Lối sống là tổng hòa các phương thức hoạt động của cá nhân, nhóm xã hội hoặc toàn thể xã hội được quy định trước hết bởi phương thức sản xuất, mức sống, tổng hòa các điều kiện địa lý, tự nhiên, lịch sử xã hội hay các định hướng giá trị”….Lối sống cho chúng ta biết con người sống như thế nào, làm gì và làm vì mục đích gì? [24]

Theo tiến sĩ M.N Rút Kê Vích: “Lối sống là một tổng thể, một hệ thống những đặc điểm, chủ yếu nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế xã hội mà cụ thể ở đây là điều kiện sống, môi trường xã hội, đô thị trong tiến trình phát triển xã hội hiện nay”

Khi lý giải về lối sống, người ta thường dựa trẹn việc tìm hiểu các lĩnh vực hoạt động sống của cá nhân, các nhóm xã hội, các dân tộc…để có thể làm nổi bật lên những đặc trưng trong lối sống của họ, và các hoạt động sống đó được xem là nền tảng cho cơ cấu của lối sống đó Nó bao gồm lĩnh vực sinh hoạt, học tập, lao động, các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…[21]

Cách tiếp cận này định hướng cho tác giả nghiên cứu khía cạnh việc làm và thu nhập của nhóm người ĐTLA đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương đặt trong mối tương quan với các yếu tố chủ quan và khách quan như: sự hỗ trợ của gia đình, nhà trường, các cơ quan chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội, xu hướng tâm lý và mong muốn của khách thể nghiên cứu, đặc điểm về trình độ học vấn, dạng ĐT

Nhóm người ĐTLA có những xu hướng chung trong việc tìm việc và chọn việc cho mình cũng như có những mục đích chi tiêu đặc trưng của nhóm Cách tiếp cận về lối sống giúp tác giả tìm hiểu rõ hơn những vấn đề đó

1.3.1.3 Cách ti ếp cận mô tả trong nghi ên c ứu dư luận x ã h ội

Tiếp cận mô tả trong nghiên cứu dư luận xã hội thường được sử dụng khi chúng ta muốn biết quan điểm của một nhóm đặc thù nào đó trong cơ cấu xã hội, hoặc khi chúng ta muốn so sánh quan điểm của các nhóm khách nhau Cách tiếp cận này cho phép tác giả khảo sát phỏng vấn sâu đối với các đối tượng đại diện các Phòng Lao động thương binh xã hội, Trung tâm hỗ trợ việc làm, các cơ quan, công ty, doanh nghiệp, đơn vị có thực hiện tuyển dụng lao động, người dân địa phương…để tìm hiểu thái độ của những tổ chức, cá nhân này như thế nào đối với những người ĐT trong xã hội nói chung và đối với vấn đề việc làm, thu nhập của nhóm lao động này nói riêng [20]

1.3.1.4 Cách tiếp cận về giới

Mặc dù ở nước ta, luật pháp không có những quy định hà khắc hay vi phạm đến nhân quyền của những người ĐT (Ngoài việc Luật Hôn nhân gia đình nghiêm cấm kết hôn với người đồng giới), tuy nhiên xã hội vẫn còn có cái nhìn rất khắt khe đối với những người này Xét về góc độ nào đó, những người ĐT cũng đã và đang gặp phải vấn đề định kiến về giới – thậm chí không được công nhận là người “bình thường” Chính vì lý do đó, tác giải liên hệ và đặt cách tiếp cận đề tài nghiên cứu của mình dưới quan điểm về giới Mặc dù trong quan điểm về giới chỉ bao gồm giới nam và giới nữ, không đề cập gì đến “giới thứ ba” Nhưng tiếp cận ở góc độ này cho phép tác giả tìm hiểu rõ hơn về các vấn đề:

- Sự tác động khác nhau của các chính sách, chương trình, dự án và luật pháp hiện hành hay đang được đề xuất đối với những người ĐT nói chung và đối với vấn đề việc làm, thu nhập của nhóm người này nói riêng

- Sự phân tích giới có thể giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về những người ĐT trong xã hội; về vai trò, về mối liên kết và sự mất cân đối cũng như về những tác động đối với công việc và vị trí của những người ĐT so với người dị tính

1.3.2.1 Lý thuy ết cấu trúc chức năng

Lý thuyết cấu trúc chức năng về sự phân tầng xã hội của David More cho rằng sự phân tầng xã hội vừa có tính chung nhất vừa có tính tất yếu Chưa có một xã hội nào mà không phân tầng hoặc hoàn toàn phi giai cấp Sự phân tầng là tất yếu mang tính chức năng, mỗi xã hội đều có một hệ thống như thế và nhu cầu này đưa tới một hệ thống phân tầng Một hệ thống mà đúng hơn là hệ thống của các vị trí

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Dựa vào mục đích nghiên cứu, đề tài đưa ra ba câu hỏi nghiên cứu như sau:

- Thực trạng việc làm và thu nhập của nhóm người ĐT đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương hiện nay như thế nào?

- Những yếu tố chủ yếu nào tác động đến thực trạng việc làm và thu nhập của nhóm người ĐT đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương hiện nay?

- Nhóm người này đang phải đối đầu với những khó khăn nào đối với vấn đề việc làm và thu nhập? Họ có mong muốn, nguyện vọng gì liên quan đến vấn đề này

1.4.2 Giả thuyết nghiên cứu Để trả lời ba câu hỏi nghiên cứu trên, đề tài đưa ra các giả thuyết nghiên cứu như sau:

- Lao động thuộc nhóm người ĐT đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương hiện nay chủ yếu làm những công việc mang tính chất lao động chân tay và lao động tự do Những người chuyển giới thường làm trong hoạt động thẩm mĩ và nghệ thuật Công việc họ làm có vị thế xã hội thấp, không ổn định và thu nhập theo đó cũng thấp và không ổn định

- Yếu tố tác động đến thực trạng việc làm và thu nhập của nhóm lao động là người ĐT đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương hiện nay gồm: Trình độ học vấn của nhóm lao động này còn thấp; dạng đồng tính là người chuyển giới thể hiện bản dạng giới ra bên ngoài nhiều người biết đến; vai trò hỗ trợ của gia đình– bà con hàng xóm, bạn bè, nhà trường, địa phương - các tổ chức đoàn thể xã hội và trung tâm giới thiệu việc làm là chưa mạnh mẽ; bản thân những người ĐT chưa cố gắng phấn đấu học tập và rèn luyện bản thân để có được công việc tốt trong tương lai Yếu tố tác động mạnh mẽ nhất là định kiến của xã hội đối với người ĐT

- Nhóm người ĐT gặp những khó khăn chủ yếu liên quan đến vấn đề việc làm và thu nhập như: chưa định hướng được việc làm trong tương lai; khó xin được việc làm phù hợp với năng lực, sở thích của bản thân; công việc không ổn định và vất vả; Thu nhập theo đó cũng thấp và không ổn định

- Lao động thuộc nhóm người ĐT có nhu cầu được hỗ trợ học tập, nâng cao trình độ học vấn và chuyên môn nghiệp vụ; Mong được tiếp cận một cách có hiệu quả từ các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm và được tuyển dụng công bằng như những người khác trong xã hội Họ đề xuất xã hội có cách nhìn công bằng với cộng đồng người ĐT trong thời gian tới.

Mô hình phân tích

Các yếu tố tác động đến vấn đề việc làm và thu nhập

Thực trạng việc làm và thu nhập của nhóm người ĐTLA đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương hiện nay

Sợ cố gắng trong học tập, ý chí, niềm tin đối với việc làm trong tương lai

Các yếu tố thuộc về đặc điểm bản thân:

HV, tôn giáo, kỹ năng, thành phần gia đình…

Năng lực, sở thích bản thân Cơ quan địa phương

Trung tâm giới thiệu việc làm

Bà con họ hàng, họ xóm

Các tổ chức Đoàn thể -

1.6 Khái niệm sử dụng trong đề tài

1.6.1 Lao động - việc làm, giải quyết việc làm

Lao động - việc làm: Theo Điều 13, chương II, Bộ luật Lao động nước ta ghi rõ: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” Cho đến nay, việc làm được nhận thức khá thống nhất:

“Việc làm là những hoạt động lao động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, tạo thu nhập hoặc có lợi ích cho bản thân, gia đình người lao động hoặc cho một cộng đồng nào đó” Việc làm chính (nghề nghiệp) được tìm hiểu trong nghiên cứu này là các hoạt động của nhóm người ĐT đang làm trong các lĩnh vực khác nhau, ngoài ra nghiên cứu cũng quan tâm đến các công việc làm thêm của nhóm người này bên cạnh nghề nghiệp chính

Giải quyết việc làm: Là quá trình tạo ra điều kiện và môi trường bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội làm việc với chất lượng việc làm ngày càng cao Nhóm người ĐT gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm việc, chọn việc và làm việc phù hợp với khả năng, trong tình hình đó thì “giải quyết việc làm” là một trong những vấn đề cấp bách và hết sức cần thiết

1.6.2 Thu nhập và chi tiêu

Thu nhập: Bao gồm các khoản thu từ hoạt động lao động trong các ngành nghề của nhóm người ĐT và các khoản thu khác từ công việc làm thêm, các khoản hỗ trợ, vay mượn, hay được cho, tặng

Chi tiêu: Bao gồm các khoản chi trung bình cho gia đình, người thân, sinh hoạt vật chất, mua sắm, ăn uống, giáo dục, sức khỏe, vui chơi – giải trí…

1.6.3 Định hướng và định hướng nghề nghiệp: Định hướng là phương hướng phát triển theo ý muốn chủ quan của con người với những yêu cầu mục tiêu ở tầm chiến lược vĩ mô.Định hướng nghề nghiệp là việc hình thành trong con người một hứng thú đối với một hoạt động lao động nhất định, việc chọn cho con người một nghề nghiệp thích hợp nhất có chú ý tới đặc điểm tâm sinh lý, lợi ích cá nhân của người đó và cả nhu cầu của nền kinh tế về sức lao động thuộc những ngành nghề tương ứng

1.6.4 Nhóm: Bao gồm tập hợp những cá nhân có những mối liên hệ khá rõ ràng giữa các thành viên hợp thành Nhóm phải có riêng những giá trị của nó và cùng hướng tới mục tiêu chung

Các cá nhân ở nông thôn trong quá trình hoạt động của mình liên kết với nhau thành từng nhóm xã hội tạo thành những kiểu loại nhóm khác nhau ( nhóm chính thức, không chính thức, nhóm sơ cấp, nhóm thứ cấp…) hoặc nhóm được phân theo:

- Nhóm theo nghề nghiệp: Nhóm thuần nông, nhóm phi nông nghiệp…

- Nhóm theo giới tính: Nhóm phụ nữ, nhóm nam…

- Nhóm theo độ tuổi: Nhóm thanh niên, nhóm đồng niên, nhóm người cao tuổi…

Nhóm sơ cấp Nhóm thứ cấp

Nhận thức chủ quan của mối quan hệ

Ví dụ điển hình Định hướng cá nhân Thường là dài hạn

Rộng, thường gồm nhiều hoạt động

Bản thân như một mục đích

Gia đình, làng xã, họ hàng Định hướng mục đích

Khả biến, thường ngắn hạn

Hẹp, thường bao gồm một vài hoạt động

Như phương tiện dẫn đến mục đích

Bạn làm chung, tổ chức chính trị

Dựa vào khái niệm này thì nhóm ĐTLA đang sinh hoạt tại tỉnh Bình Dương được xem là nhóm sơ cấp

Một khái niệm bao gồm giới tính sinh học (có cơ thể là nam hay nữ), bản dạng giới (cảm nhận mình là nam hay nữ), thể hiện giới (thể hiện là nam tính hay nữ tính) Tính dục khác với tình dục [36]

Chỉ một việc bị hấp dẫn về mặt tình dục hoặc tình cảm đối với nam, nữ hoặc cả hai Nó chỉ cảm xúc cá nhân hoặc nhận thực xã hội dựa trên những hấp dẫn đó, những hành vi thể hiện và sự tham gia vào một cộng đồng có những đặc điểm chung này Mặc dù thiên hướng tình dục thay đổi một cách liên tục từ hoàn toàn dị tính luyến ái cho đến hoàn toàn đồng tính luyến ái, thiên hướng tình dục thường được nói đến dưới ba dạng: dị tính luyến ái (bị hấp dẫn tình dục và tình cảm chủ yếu hoặc hoàn toàn bởi người khác giới), đồng tính luyến ái (bị hấp dẫn tình dục và tình cảm chủ yếu hoặc hoàn toàn bởi người cùng giới) và song tính luyến ái (bị hấp dẫn tình dục và tình cảm ở một mức độ đáng kể bởi cả nam và nữ) Thiên hướng tình dục là khác biệt với những yếu tố tạo nên giới tính và tình dục Những yếu tồ này bao gồm giới tính sinh học (đặc điểm giải phẫu, tâm lý và di truyền gắn liền với người nam hoặc người nữ), nhận thực giới tính (cảm giác của cá nhân rằng họ thực sự là nam hoặc nữ) và thể hiện giới tính (gắn liền với những chuẩn mực văn hóa qui định những hành vi nam tính và nữ tính) [36]

1.6.7 Đồng tính luyến ái, đồng tính, đồng tính nam, đồng tính nữ và các khái niệm thường sử dụng khác Đồng tính luyến ái hay đồng tính chỉ việc bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu hay tình dục hoặc việc yêu đương hay quan hệ tình dục giữa những người cùng giới tính với nhau trong hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài Đồng tính luyến ái cũng chỉ nhận thực của cá nhân dựa trên những hấp dẫn đó và sự tham gia vào một cộng đồng có chung điều này Gay (từ tiếng Anh) chỉ người đồng tính nam, lesbian hay đọc ngắn là les là chỉ người đồng tính nữ Đồng tính luyến ái được coi là một dạng trong thang liên tục của thiên hướng tình dục.[36]

Trong đề tài, từ Đồng tính luyến ái, Đồng tính hay cộng đồng LGBT (Từ viết tắt tiếng Anh của Lesbian, Gay, Bisexual, Transgender, lần lượt có nghĩa là Đồng tính nữ, Đồng tính nam, Song tính ái và Xuyên tính ái tại Việt Nam) được sử dụng là cách gọi chung cho khách thể nghiên cứu của đề tài thuộc 04 dạng: Đồng tính nam, đồng tính nữ, song tính và chuyển giới Về mặt lý thuyết từ Đồng tính luyến ái và Đồng tính không bao hàm hết 04 dạng vừa kể trên, tuy nhiên, trên thực tế giao tiếp hàng ngày trong xã hội và trên nhiều công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí, từ Đồng tính luyến ái và Đồng tính vẫn được dùng như một danh từ chung cho 04 dạng đồng tính nam – nữ, song tính và chuyển giới Đồng tính nam: Người nam có cảm giác hấp dẫn về tình cảm, thể chất với nam [26] Đồng tính nữ: Người nữ có cảm giác hấp dẫn về tình cảm, thể chất với nữ

Dị tính: Người có cảm giác hấp dẫn về tình cảm, thể chất với người khác giới [26]

Song tính: Người có cảm giác hấp dẫn về tình cảm, thể chất với cả hai giới

Chuyển giới: Là trạng thái khi một người có giới tính sinh học không trùng với bản dạng giới hay thể hiện giới của họ (ví dụ: có cơ thể là nam và nghĩ mình là nữ, hoặc bề ngoài như nữ) Người chuyển giới liên quan tới việc người đó nhận dạng hoặc thể hiện mình là nam hay nữ, trong khi người đồng tính lại liên quan tới việc người đó yêu người cùng giới hay khác giới.[26]

Công khai: Quá trình nhận diện và xu hướng tính dục hoặc bản dạng giới của chính mình và thể hiện, chia sẻ cho người khác biết Trong tiếng Anh từ tương đương là “come out/comeming out” như lộ diện, bộc lộ.[26]

1.6.8 Sinh hoạt: Trong đời sống có nhiều dạng sinh hoạt Có 2 dạng sinh hoạt cơ bản là sinh hoạt vật chất và sinh hoạt tinh thần Trong giới hạn của đề tài, cụm từ sinh hoạt được dùng để chỉ hoạt động kết nối bạn bè hướng tới mục đích giao lưu, vui chơi giải trí và chia sẽ các vấn đề trong cuộc sống của những người ĐT ở các tỉnh tụ tập về địa bàn nghiên cứu.[26]

Thao tác hoá các khái niệm

2.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Giới thiệu vị trí địa lý [40]

Tỉnh Bình Dương nằm ở tọa độ địa lý 10 o 51' 46" - 11 o 30' vĩ độ Bắc, 106 o 20'-

106 o 58' kinh độ Đông, Bình Dương tiếp giáp với các tỉnh, thành sau: Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước Phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh.(Nguồn: Sở Khoa học Công nghệ Bình Dương)

Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (gồm 8 tỉnh thành, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và tỉnh Tiền Giang), là một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phát triển công nghiệp năng động của cả nước Địa hình tỉnh Bình Dương tương đối bằng phẳng, hệ thống sông ngòi và tài nguyên thiên nhiên phong phú Diện tích tự nhiên 2.694.43km2 (chiếm khoảng 0,83% diện tích cả nước, khoảng 12% diện tích miền Đông Nam Bộ) Dân số 1.748.001người, mật độ dân số 649người/km 2 (Theo Niên giám thống kê tỉnh Bình

Dương, tháng 6 năm 2013) Gồm 9 đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó thành phố Thủ Dầu Một là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của tỉnh

Bình Dương là cửa ngõ giao thương với TP Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế

- văn hóa của cả nước, có các trục lộ giao thông huyết mạch của quốc gia chạy qua như quốc lộ 13, quốc lộ 14, đường Hồ Chí Minh, đường Xuyên Á,… cách sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và các cảng biển chỉ từ 10 - 15 Km… thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội toàn diện

Bình Dương là một trong những địa phương năng động trong kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài Với chủ trương tạo ra một môi trường đầu tư tốt nhất hiện nay tại Việt Nam, tính đến tháng 10/2006, tỉnh đã có 1.285 dự án FDI với tổng số vốn 6

NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA NHÓM ĐTLA ĐANG SINH HOẠT TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY

Ngày đăng: 04/05/2021, 07:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w