1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cội nguồn và ý nghĩa văn hóa của lớp từ chỉ phương vị trong tiếng việt (so sánh với tiếng hán hiện đại)

98 59 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 2,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử vấn đề Ở Việt Nam, lớp từ chỉ phương vị trước nay đã được khá nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa như Phan Khôi, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Đức

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÂM PHÚ ANH

CỘI NGUỒN VÀ Ý NGHĨA VĂN HÓA CỦA LỚP TỪ CHỈ PHƯƠNG VỊ TRONG TIẾNG VIỆT

(SO SÁNH VỚI TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ: 60.22.01

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÂM PHÚ ANH

CỘI NGUỒN VÀ Ý NGHĨA VĂN HÓA CỦA LỚP TỪ CHỈ PHƯƠNG VỊ TRONG TIẾNG VIỆT

(SO SÁNH VỚI TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ: 60.22.01

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN ĐÌNH PHỨC

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng trân trọng biết ơn tới TS Nguyễn Đình Phức – người Thầy đã giúp tôi thực hiện luận văn này với tất cả lòng nhiệt tình và sự chu đáo

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo khoa Văn học và Ngôn ngữ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh

đã trang bị cho tôi những kiến thức khoa học và kinh nghiệm nghiên cứu trong những năm học tại trường

Tôi gửi lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình tôi, bạn bè – những người đã không ngừng động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài này

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 01 năm 2015

Trang 4

MỤC LỤC

DẪN NHẬP 4

1 Lý do chọn và tính cấp thiết của đề tài 4

2 Lịch sử vấn đề 6

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 10

4 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu 11

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 12

6 Bố cục của luận văn 13

NỘI DUNG Chương 1: NGUỒN GỐC Ý NGHĨA VĂN HÓA CỦA LỚP TỪ CHỈ PHƯƠNG VỊ TRONG TIẾNG VIỆT 14

1.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 14

1.2 Ý nghĩa văn hóa của lớp từ chỉ phương vị trong tiếng Việt 19

1.2.1 Các phương hướng đông, tây, nam, bắc 19

1.2.2 Các từ chỉ vị trí thượng , trung , hạ ,tả , hữu 32

1.3 Ý nghĩa văn hóa của lớp từ chỉ phương vị trong tiếng Hán 34

1.3.1 Các phương hướng đông, tây, nam, bắc 34

1.3.2 Các từ định vị trí gồm các từ : thượng , hạ , trung ,tả , hữu 43

1.4 Cội nguồn của lớp từ chỉ phương vị trong tiếng Việt 49

1.5 Tiểu kết 50

Chương 2: THỰC TẾ SỬ DỤNG LỚP TỪ CHỈ PHƯƠNG VỊ TRONG TIẾNG VIỆT 52

2.1 Nhóm từ định rõ phương hướng 52

Trang 5

2.1.1 Nhóm từ mang từ tố “đông” 52

2.1.2 Nhóm từ mang từ tố “tây” 53

2.1.3 Nhóm từ mang từ tố “nam” 54

2.1.4 Nhóm từ mang từ tố “bắc” 56

2.2 Nhóm từ định rõ vị trí 57

2.2.1 Nhóm từ mang cặp từ tố thượng-trên 57

2.2.2 Nhóm từ mang từ tố trung-giữa 59

2.2.3 Nhóm từ mang từ tố hạ-dưới 62

2.2.4 Nhóm từ mang từ tố tả-trái 65

2.2.5.Nhóm từ mang từ tố hữu-phải 68

2.3 Tiểu kết 70

Chương 3: SO SÁNH Ý NGHĨA VĂN HÓA CỦA LỚP TỪ CHỈ PHƯƠNG VỊ TRONG TIẾNG VIỆT VỚI TIẾNG HÁN 72

3.1 Nhóm định rõ phương hướng 72

3.2 Nhóm định rõ vị trí 81

3.3 Tiểu kết 84

KẾT LUẬN 86

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 6

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn và tính cấp thiết của đề tài

Chúng ta đều biết, tri thức của con người về thế giới trước tiên khởi phát

từ nhận thức của họ về vị trí của chính mình, cũng như vị trí của các sự vật hiện tượng Nếu bỏ qua thời điểm xuất hiện tên gọi của các bộ phận cơ thể, có thể thấy rõ rằng, các từ ngữ chỉ khái niệm không gian trong ngôn ngữ nhân loại cũng được xem là lớp từ cổ nhất, cơ bản nhất, đồng thời cũng có vị trí hết sức quan trọng trong mọi ngôn ngữ

Không dừng lại ở đó, các từ ngữ chỉ không gian còn thường xuyên thông qua phương thức ẩn dụ, để từ một từ có nghĩa gốc gắn liền với không gian, phái sinh thành một từ với nghĩa mới, nhưng vẫn giữ mối liên quan mật thiết với không gian Đây cũng được xem là một trong những cách thức phái sinh

từ ngữ quan trọng của ngôn ngữ

Không gian trước nay luôn được xem là một trong những khái niệm cực

kỳ quan trọng của triết học Liên quan đến khái niệm này, tiếng Hán dùng hai

chữ “phương sở” ( 方所 ) để gọi tên Ở đây “phương” chỉ phương vị, còn

“sở” chỉ nơi chốn Cùng với hai loại từ khác danh từ thông thường (danh từ

chung) và danh từ chỉ thời gian, chúng được xem là hai loại từ quan trọng cấu thành nên hệ thống danh từ trong tiếng Hán

“Phương vị” chuyên chỉ phương hướng và vị trí, trong đó vị trí có thể chỉ

vị trí không gian của một sự vật cụ thể nào đó, cũng có thể chỉ mối quan hệ vị trí giữa các sự vật Luận văn này sở dĩ chọn đối tượng là cội nguồn và ý nghĩa văn hóa của lớp từ chỉ phương vị trong tiếng Việt, về cơ bản xuất phát từ một

số nguyên nhân sau đây:

Trang 7

Trước hết, trong đời sống sinh hoạt hàng ngày cũng như trong sách vở,

chúng ta thường xuyên nghe thấy, bắt gặp những từ như “đông phong”,

“đông quân”, “tây thị” (ả Tây), “tây phong”, “Tây Vương mẫu”, “Đông cung thái tử”, “rể đông sàng”, “Đông cung hoàng hậu”, “Tây cung hoàng hậu”, “thọ tỉ nam sơn, phúc như đông hải”, “nam tả nữ hữu”, “tả thừa tướng”, “hữu thừa tướng”, “tả bộc xạ”, “hữu bộc xạ”, “Hoàng đế ngồi quay mặt về phía nam để trị nước”, “Trung Quốc”, “Trung Châu”,… Thực tế, lớp

từ chỉ phương vị này cả trong tiếng Việt và tiếng Hán đều hết sức phong phú Vậy những từ này là sự kết hợp ngẫu nhiên hay hàm chứa ý nghĩa văn hóa? Nếu hàm chứa ý nghĩa văn hóa, thì cội nguồn văn hóa của nó xuất phát từ đâu?

Ngoài ra, trong quá trình vận dụng ngôn ngữ, tại sao người Việt gọi tên

đường phố là Đại lộ Bắc Nam, trong khi đối với người Trung Quốc chỉ có thể

là Đại lộ Nam Bắc? Tại sao người Việt chỉ sử dụng ngữ “trên trần nhà”, trong khi người Trung Quốc có thể dụng cả “trên trần nhà” lẫn “dưới trần

nhà”? Tại sao người thành phố Hồ Chí Minh chỉ có thể nói “lên Bình Dương”, “lên Lâm Đồng”, “xuống Cần Giờ”, “xuống miền Tây”,… hay

người Trung Quốc chỉ có thể nói “xuống Giang Nam”, “lên Kinh thành”,

“lên Trung ương”, “hạ (há) Giang Nam”, mà không thể ngược lại? Tất cả

những điều này đều mang đậm chất văn hóa vùng miền, quốc gia, dân tộc, được phản ánh vào ngôn ngữ

Việc đi sâu nghiên cứu những vấn đề trên, không chỉ giúp chúng ta thấy

rõ đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của lớp từ phương vị trong tiếng Việt, mà còn thấy rõ nguồn gốc khá phức tạp của lớp từ này Ngoài ra, luận văn sở dĩ chọn hướng nghiên cứu so sánh là vì, muốn hiểu rõ một ngôn ngữ cần thiết phải đem nó so sánh với một ngôn ngữ khác, dù ngôn ngữ đó cùng một loại hình, nhưng khác về cấu trúc ngôn ngữ và truyền thống văn hóa Từ thực tế

Trang 8

nghiên cứu, chúng tôi tin rằng sẽ có rất nhiều vấn đề thú vị được làm rõ, thể hiện cụ thể ở các khía cạnh như ngữ pháp, ngữ nghĩa, nguồn gốc được làm rõ Thế nhưng, theo phạm vi tiếp cận và khảo sát của chúng tôi, những vấn đề trên đây, hiện vẫn chưa được nghiên cứu và giải quyết một cách toàn diện từ tổng hòa nhiều góc độ Vậy nên, đây cũng là nguyên nhân chính để chúng tôi chọn thực hiện đề tài này

2 Lịch sử vấn đề

Ở Việt Nam, lớp từ chỉ phương vị trước nay đã được khá nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa như Phan Khôi, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Đức Tồn, Trần Ngọc Thêm, Phan Ngọc, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Lai, Lê Trung Hoa, Nguyễn Đức Dân, Trần Văn

Cơ, Lý Toàn Thắng ,… đề cập hoặc ít hoặc nhiều trong những giáo trình hoặc những công trình nghiên cứu chuyên biệt của tập thể và cá nhân Tiêu biểu có thể kể ra một số công trình sau:

Phan Khôi trong công trình Việt ngữ nghiên cứu, 178 trang, do Nxb Văn

Nghệ xuất bản tại Hà Nội năm 1955 [ 35 ], đã sơ bộ đề cập một số khía cạnh trong thói quen định phương hướng trong ngôn ngữ của người Việt

Tác giả Nguyễn Kim Thản trong Động từ trong tiếng Việt, 270 tr, do

Nxb Khoa học Xã hội xuất bản tại Hà Nội năm 1977 [ 44 ], đã đề cập khá

nhiều về các động từ chỉ phương hướng vận động như “lên”, “xuống”,

“vào”, “ra” trong mối quan hệ với cặp từ chỉ phương hướng “bắc”, “nam”

Cũng với đối tượng nghiên cứu tương tự, tác giả Nguyễn Lai trong một số

công trình nghiên cứu đã công bố như: “Một vài đặc điểm của nhóm từ chỉ

hướng được dùng ở dạng động từ trong tiếng Việt hiện đại” đăng trên Ngôn ngữ, số 3, năm 1977 [ 36 ]; Nhóm từ chỉ hướng vận động tiếng Việt hiện đại,

xuất bản năm 2001 tại Hà Nội , có phần chú ý hơn đến yếu tố tâm lý của các

Trang 9

từ chỉ không gian và thời gian Ông chỉ ra rằng: “Trên bình diện đồng đại, ta

có thể quy thành ba hướng đối ứng thuộc ba phạm trù nghĩa có phẩm chất khác nhau: phạm trù không gian, phạm trù thời gian và phạm trù tâm lý.”

[37 ; 57 ]

Tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong bài viết “Về việc dùng hai động từ

‘vào/ra’ để chỉ sự di chuyển đến một địa điểm ở phía Nam hay phía Bắc trong tiếng Việt hiện đại”, in trong Kỷ yếu hội nghị quốc tế lần V các nhà Đông

phương học các nước XHCN về những vấn đề lý thuyết của các ngôn ngữ Phi, tổ chức tại Praha năm 1989 [ 5 ], đã trình bày những kiến giải về nguồn

Á-gốc và đặc điểm của lối nói “vào (trong) Nam”, “ra (ngoài) Bắc” Theo tác

giả, lối nói này phải có từ khoảng đầu thế kỷ thứ XV trở về trước, khi đó lãnh thổ Đại Việt mới bao gồm vùng Bắc bộ và dải đất từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Một mặt, xét về địa hình thì so với vùng châu thổ sông Hồng (nơi người Việt tập trung sinh sống), dải đất Bắc Trung bộ có địa hình khá hẹp, lại

là vùng biên giới, nhiều nơi mới chiếm được còn man rợ, bí hiểm, cho nên từ

đây mới sinh ra cách định hướng từ nơi xuất phát Bắc bộ là “vào”, từ nơi xuất phát Trung bộ là “ra” trong sự di chuyển giữa hai vùng,… Rồi từ thế kỷ XV

cho đến nay, nhiều sự kiện lịch sử khác của công cuộc Nam tiến “mang gươm

đi mở cõi” với sự ra đời của những vùng địa lý hành chính và địa danh mới

như: những Lộ Nam giới, Quảng Nam thừa tuyên (đầu đời Lê), rồi Đàng

Trong – Đàng Ngoài hoặc Nam Hà – Bắc Hà (thời Trịnh – Nguyễn) và ba kỳ Bắc – Trung – Nam (triều Nguyễn),… đã ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức của

người Việt về thế đối lập Bắc – Nam trong cách định hướng RA – VÀO của

họ

Tác giả Trần Ngọc Thêm trong một loạt công trình liên quan đến văn hóa

Việt Nam như Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (1996) [ 47 ], Cơ sở văn hóa

Việt Nam (1997) [ 49 ],… tuy không thật tập trung, nhưng đều đã xét đến các

Trang 10

yếu tố âm dương, ngũ hành, phương hướng đông, tây, nam, bắc, tả, hữu,… trong mối quan hệ mật thiết với văn hóa Việt Nam

Ngôn ngữ học tri nhận là một trào lưu nghiên cứu mới mẻ, tuy lịch sử còn rất non trẻ, nhưng đầy tiềm năng và hiện đang rất thịnh hành trong nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại trên phạm vi thế giới Dưới ánh sáng của lý luận ngữ dụng học, ngôn ngữ học tri nhận, giới nghiên cứu ngôn ngữ bắt đầu chú ý tới đặc trưng ngữ dụng của từ chỉ hướng và mối quan hệ giữa nhóm từ này với

“điểm quy chiếu”, trong đó tiêu biểu nhất là công trình Ngôn ngữ học tri

nhận: Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt của tác giả Lý Toàn

Thắng do Nxb Phương Đông xuất bản năm 2009 [ 46 ] Theo tác giả, một

phần lớn nội dung của công trình này “được chuyển dịch (có sửa chữa, bổ

sung) từ chuyên khảo Mô hình không gian về thế giới: Tri nhận, văn hóa, tâm

lý dân tộc” của ông được in năm 1993, bằng tiếng Nga, theo quyết định của

Hội đồng Khoa học và lưu hành nội bộ tại Viện Ngôn ngữ học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga Ở phần lời nói đầu của sách, tác giả dẫn

lời Cố Giáo sư, Viện sĩ Nga A A Leontev viết: “Thực sự là một sự kiện đối

với ngành ngôn ngữ học – tâm lý – dân tộc (ethnopsycholinguistics), đó là việc xuất hiện chuyên khảo Mô hình không gian về thế giới (1993) của Lý Toàn Thắng, trong cuốn sách đó đặc thù về sự định vị định hướng không gian của cộng đồng ngôn ngữ - văn hóa Việt Nam trong sự so sánh với cộng đồng Nga đã được phân tích ở một trình độ lý thuyết cao.” Do một số nguyên nhân

nhất định, một số từ chỉ phương vị như đông, tây, nam, bắc, trên, dưới,… tuy

đã được tác giả nêu ra, nhưng hầu hết đều chưa xét tới ý nghĩa văn hóa của chúng

Tác giả Trần Văn Cơ trong Ngôn ngữ học tri nhận do Nxb Khoa học Xã hội xuất bản năm 2007 [ 11 ], từ góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận “dĩ nhân

vi trung” (lấy con người làm trung tâm), đã tiến hành mô tả, xây dựng bức

Trang 11

tranh ngôn ngữ về thế giới trong mối quan hệ mật thiết với các phạm trù

không gian như trước sau, trái phải, trên dưới,… Tuy nhiên trong công trình

này, tác giả chưa tập trung xét ý nghĩa văn hóa của lớp từ chỉ phương vị như

đông, tây, nam, bắc, trung, thượng hạ, tả hữu,… một trong những việc mà

ngôn ngữ học tri nhận nên làm

Nhìn chung, khi đề cập đến nhóm từ chỉ phương hướng trong tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học phần nhiều quan tâm đến một số vấn đề như: xác định

từ loại, mô tả đặc điểm ngữ pháp, chức vụ ngữ pháp, mô tả đặc điểm ngữ nghĩa, riêng nội hàm văn hóa của chúng hầu như vẫn chưa được quan tâm đúng mức, bao gồm cả các công trình tiếp cận từ góc độ của ngôn ngữ học tri nhận

Ở Trung Quốc, mặc dù ý nghĩa văn hóa của từ, bao gồm cả nhóm từ chỉ

phương vị đã được các nhà Hán ngữ học như Lã Thúc Tương (xem Ngữ văn

thường đàm, Tam Liên thư điếm, 1979) [ 73 ], Vương Lực (Hán ngữ sử cảo,

Khoa học xuất bản xã, 1958) [ 67 ], Chu Đức Hy (Chu Đức Hy văn tập, Thương vụ ấn thư quán, 1999) [ 64 ], Hình Phúc Nghĩa (Văn hóa ngữ ngôn

học, Hồ Bắc giáo dục xuất bản xã, 1990) [ 68 ] … đề cập từ rất sớm, thế

nhưng phải mãi đến đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, tức sau Đại cách mạng Văn hóa, trào lưu nghiên cứu lớp từ vựng văn hóa mới bùng phát, thành tựu thu được cũng rất khả quan, được xuất bản tập trung ở những năm cuối thập

niên 80, đầu thập niên 90, một số công trình tiêu biểu như Ngôn ngữ và văn

hóa (1989) của La Thường Bồi [ 57 ], Văn hóa ngữ ngôn học (1990) của Hình

Phúc Nghĩa [ 68 ], Văn hóa vùng và sự thay đổi ngôn ngữ (1991) của Thân Tiểu Long [ 66 ], Hán ngữ và văn hóa truyền thống Trung Quốc (1993) của Quách Cẩm Phù [ 69 ], Từ vựng tiếng Hán và văn hóa (1995) của Thường Kính Vũ [ 74 ], Hán ngữ từ vựng và văn hóa Hoa Hạ của Dương Lâm [65],…

Bước sang thế kỷ XXI, trào lưu này có phần lắng xuống, nhường chỗ cho trào

Trang 12

lưu nghiên cứu những vấn đề của ngôn ngữ học so sánh và gần đây là ngôn ngữ học tri nhận Cùng với xu hướng chuyển đổi này, những đặc điểm về mặt kết cấu, ngữ dụng, tri nhận của từ phương vị về cơ bản đã thay thế những quan tâm về ngữ nghĩa, nguồn gốc,… vốn là những điểm đặc biệt được xem trọng ở những giai đoạn trước

Nhìn lại tình hình nghiên cứu lớp từ chỉ phương vị ở Việt Nam, theo chúng tôi, vấn đề này không chỉ cần thiết phải nghiên cứu một cách có hệ thống, mà còn cần phải chỉ rõ cội nguồn ý nghĩa văn hóa hàm chứa trong các lớp từ này Ngoài ra với thực tế, văn hóa phương vị của người Việt Nam có quan hệ nguồn gốc, đồng thời từng học tập và kế thừa khá nhiều từ văn hóa phương vị của người Trung Hoa, cho nên, ở đây cũng cần thiết phải tiến hành

so sánh, chỉ ra những yếu tố bản địa, những điểm kế thừa và sáng tạo từ văn hóa Hán của người Việt

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài chủ yếu nghiên cứu ba vấn đề :

Trước nhất là, cội nguồn văn hóa của lớp từ chỉ phương vị trong tiếng Việt trong quan hệ so sánh với tiếng Hán

Kế tiếp là, xét thực tế vận dụng các lớp từ chỉ phương vị mang ý nghĩa văn hóa trong tiếng Việt, so sánh với tiếng Hán

Luận văn cũng, khảo sát thực tế vận dụng các lớp từ chỉ phương vị mang yếu tố văn hóa vào thực tế đời sống xã hội, văn học, chính trị ở Việt Nam, cũng như ở Trung Quốc

Về phạm vi nghiên cứu, do số lượng từ chỉ phương vị trong tiếng Việt cũng như tiếng Hán có, phạm vi bao quát khá rộng, cho nên với phạm vi một

luận văn, chúng tôi chỉ dừng lại xét ý nghĩa văn hóa của hai nhóm, đó là:

nhóm chỉ phương hướng, bao gồm bốn hướng đông, tây, nam, bắc và nhóm

Trang 13

định vị trí, bao gồm thượng (trên), trung (giữa), hạ (dưới), tả (trái), hữu (phải)

4 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu so sánh đối chiếu, nhưng chủ yếu dừng ở mức

độ đối chiếu nghĩa của từ

- Phương pháp nghiên cứu của ngành ngôn ngữ học tri nhận, tức chúng tôi cho rằng, tất cả mọi ý nghĩa của từ đều có mối quan hệ chặt chẽ với quá trình tri nhận của cộng đồng hoặc cá nhân, đồng thời chúng còn chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố khác nhau, như tâm lý cá nhân, tâm lý xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, triết học,…

- Phương pháp nghiên cứu của ký hiệu học, tức xác định các ý nghĩa của

từ trên cơ sở phân tích cái biểu đạt và cái được biểu đạt

Dựa trên các phương pháp chủ yếu trên đây, trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi chủ yếu sử dụng một số thao tác sau đây:

- Thống kê nguồn ngữ liệu có liên quan đến lớp từ chỉ phương vị thuộc hai hệ thống tiếng Việt và tiếng Hán

- Trên cơ sở nguồn ngữ liệu đã thống kê, tiến hành phân tích, so sánh, rút

ra những điểm giống và khác nhau giữa hai hệ thống

Tư liệu nghiên cứu

Hệ thống tư liệu mà luận văn sử dụng, chủ yếu đến từ các nguồn sau: Các sách, báo, tạp chí, luận văn có nội dung liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài

Trang 14

Các tác phẩm văn học thuộc hai hệ thống ngôn ngữ Việt và Hán được xuất bản chính thức

Những quan sát của cá nhân về những điểm giống và khác nhau trong quá trình vận dụng lớp từ chỉ phương vị mang ý nghĩa văn hóa trong tiếng Việt và tiếng Hán

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Những kết quả mà luận văn này đạt được, có thể coi là những thành quả bước đầu trong công tác nghiên cứu so sánh yếu tố văn hóa trong các lớp từ tiếng Việt và tiếng Hán, đồng thời đây cũng sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho ngành ngữ học so sánh, đặc biệt là so sánh tiếng Việt và tiếng Hán

Ý nghĩa thực tiễn

Cung cấp những hiểu biết cụ thể cũng như những điểm giống và khác nhau trong quá trình vận dụng lớp từ chỉ phương vị mang ý nghĩa văn hóa trong tiếng Việt và tiếng Hán, việc làm này không chỉ giúp ích cho quá trình giao tiếp hàng ngày, xây dựng chiến lược dạy và học tiếng (bao hàm cả tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại) một cách hiệu quả và tiết kiệm hơn, mà còn ở phạm vi xa hơn, thúc đẩy tiến trình tiếp xúc ngôn ngữ và giao lưu văn hoá giữa hai dân tộc, hai quốc gia

Trang 15

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương :

Chương 1: NGUỒN GỐC Ý NGHĨA VĂN HÓA CỦA LỚP TỪ CHỈ PHƯƠNG VỊ TRONG TIẾNG VIỆT

Chương 2: THỰC TẾ SỬ DỤNG LỚP TỪ CHỈ PHƯƠNG VỊ TRONG TIẾNG VIỆT

Chương 3: SO SÁNH Ý NGHĨA VĂN HÓA CỦA LỚP TỪ CHỈ PHƯƠNG VỊ TRONG TIẾNG VIỆT VỚI TIẾNG HÁN

KẾT LUẬN

THƯ MỤC THAM KHẢO

Trang 16

Chương 1 NGUỒN GỐC Ý NGHĨA VĂN HÓA CỦA LỚP TỪ CHỈ PHƯƠNG VỊ TRONG TIẾNG VIỆT

1.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa

Ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ hết sức mật thiết Nhà nhân loại học

nổi tiếng người Mỹ là Leslie A White (1900-1975) từng nói rằng: “Toàn bộ

văn hóa (văn minh) nhân loại đều phải dựa vào hệ thống ký hiệu Chính bởi khả năng sản sinh và vận dụng của ký hiệu mà văn hóa không ngừng tồn tại

và sản sinh; chính bởi ký hiệu luôn được sử dụng mới khiến văn hóa vĩnh viễn tồn tại Nếu không có hệ thống ký hiệu, con người sẽ mãi mãi chỉ là con vật, vĩnh viễn không thể trở thành con người.” (Xem Khoa học dữ văn hóa, Chiết

Giang Nhân dân xuất bản xã, 1988, tr.31-32) [ 75 ]

Với tư cách là một hệ thống ký hiệu đặc biệt, ngôn ngữ chính là phương tiện để chuyển tải văn hóa, và văn hóa lại chính là nội hàm của ngôn ngữ Ngôn ngữ của bất kỳ dân tộc nào đều làm nhiệm vụ chuyển tải toàn bộ hệ thống văn hóa của dân tộc ấy Chính từ khía cạnh này, tác giả Trung Quốc là

La Thường Bồi có lý khi ông đưa ra kết luận rằng: “Ngôn ngữ văn tự chính là

kết tinh văn hóa của một dân tộc Văn hóa trong quá khứ của một dân tộc muốn lưu truyền phải dựa vào chúng, văn hóa trong tương lai của một dân tộc muốn lưu truyền cũng phải dựa vào chúng.” (Xem Thường Kính Vũ, Hán ngữ từ vựng dữ văn hóa, Bắc Kinh đại học xuất bản xã, 1995, tr.1) [ 74 ] Văn

hóa của các dân tộc khác nhau không chỉ khiến ngôn ngữ hình thành những ý nghĩa đặc thù, mà còn có ảnh hưởng sâu sắc đến mô hình cấu từ, tạo câu của ngôn ngữ Hoàn toàn có thể nói, ngôn ngữ của bất kỳ dân tộc nào cũng luôn là

Trang 17

tấm gương soi chiếu văn hóa của dân tộc ấy, nói cách khác, ngôn ngữ chính là

“hóa thạch” của lịch sử và văn hóa

Nhìn chung, đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc trải qua quá trình lịch sử lâu dài sẽ không ngừng tích tụ và kết tinh trong hệ thống từ vựng Vậy nên, hệ thống từ vựng của một dân tộc thường có khả năng phản ánh một cách trực tiếp, trung thực và chính xác nhất về giá trị cũng như xu hướng văn hóa của dân tộc ấy Điều này đúng như quan điểm của hai nhà ngôn ngữ học xã hội

người Mỹ là Carol R Ember và Melvin Ember viết trong công trình Sự thay

đổi của văn hóa (Cultural Anthropology) rằng: “Ngôn ngữ của một xã hội có khả năng phản ánh toàn bộ hệ thống văn hóa của xã hội ấy, một trong những phương thức phản ánh của nó chính được biểu hiện ở nội dung của từ vựng, hoặc rộng hơn là toàn bộ hệ thống từ vựng.” [ 76 ]

Mặt khác, yếu tố văn hóa thường ảnh hưởng, thậm chí khống chế mọi mặt của đời sống sinh hoạt của một dân tộc, dấu ấn mà nó để lại trên hệ thống từ vựng thường đặc biệt sâu sắc Nhà tâm lý học nổi tiếng người Đức là Wilhelm

Maximilian Wundt (1832 - 1920) từng chỉ ra rằng: “Bản thân hệ thống từ

vựng của một dân tộc có khả năng thể hiện rõ tố chất tâm lý của dân tộc.”

(Xem Thường Kính Vũ, Hán ngữ từ vựng dữ văn hóa, Bắc Kinh đại học xuất

bản xã, 1995, tr.1-2) [ 74 ] Như vậy, có thể nói, hệ thống từ vựng trong ngôn ngữ của bất kỳ dân tộc nào, đều chịu ảnh hưởng sâu đậm, thậm chí bị đặt trong mối quan hệ bị chi phối bởi các yếu tố văn hóa của dân tộc đó

Chúng ta đều biết, ngôn ngữ không phải chỉ là âm thanh hay chữ viết đơn thuần, mà nó cần phải được hiểu là những đơn vị âm thanh, chữ viết có nghĩa Một điều ai cũng phải công nhận là, ý nghĩa của ngôn ngữ hoàn toàn không tồn tại cứng nhắc, vô hồn như các ý nghĩa được phân định rõ ràng trong các

bộ tự điển, từ điển, mà chúng luôn gắn liền với hệ thống ngữ cảnh hoặc lời nói cụ thể, ở đó người nói, người viết hoặc người nghe, người đọc sẽ truyền

Trang 18

đạt và nắm bắt những thông tin trao đổi theo những mục đích nhất định Xuất

phát từ khía cạnh này, tác giả Dell Hymes trong cuốn Functions of Language

in the Classroom từng đưa ra nhận định: “Chìa khóa để hiểu ngôn ngữ trong ngữ cảnh không phải bắt đầu với ngôn ngữ mà là với ngữ cảnh ” [ 77 ] Như

vậy, hệ thống ngữ cảnh chính là đối tượng chuyển tải âm thanh, chữ viết cũng như ý nghĩa của ngôn ngữ, vậy nên nếu hiểu theo nghĩa rộng, ngữ cảnh chính ứng với ngôn ngữ, đây đồng thời cũng là nguyên do cơ bản để không ít học giả từng cho rằng ngôn ngữ chính là văn hóa

Thực ra trong so sánh với ngôn ngữ, phạm vi của văn hóa luôn rộng và phức tạp hơn rất nhiều Dẫu rằng mọi người ai ai cũng dễ nhận ra mối quan hệ hữu cơ mật thiết giữa văn hóa và ngôn ngữ, thế nhưng sẽ không bao giờ có hiện tượng mệnh đề ngôn ngữ là văn hóa được diễn tả ngược lại là văn hóa là ngôn ngữ Nói cho cùng, ngôn ngữ chỉ là một bộ phận của văn hóa, bên cạnh nhiều bộ phận khác, từ tín ngưỡng đến các hình thái nghệ thuật hay các phong tục và lễ hội dân gian,

Về biểu hiện cụ thể của mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, theo tác

giả J.A Fishman (1991) The influence of language on culture and thought [ 79 ] , mối quan hệ ấy có thể được nhìn nhận ở ba phương diện sau:

Thứ nhất, ngôn ngữ là một phần của văn hóa

Thứ hai, ngôn ngữ là một chỉ số của văn hóa, tức hiểu theo nghĩa nó tiết

lộ cách suy nghĩ và tổ chức kinh nghiệm của một cộng đồng

Thứ ba, ngôn ngữ là biểu trưng của văn hóa

Còn theo tác giả Claire Kramsch (1998) “Language and Culture” [ 78 ],

mối quan hệ ấy cũng có thể biểu đạt ở ba khía cạnh chính như sau:

Một là, ngôn ngữ diễn tả thực tại văn hóa, thông thường các từ ngữ con người sử dụng, để có thể hiểu được, bao giờ cũng liên hệ đến những kinh

Trang 19

nghiệm chung và những kho kiến thức mà một cộng đồng đã tích lũy và chia

Từ những nhận định và quan điểm trên, chúng ta có thể thấy mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa thường được nhìn nhận từ một số góc độ sau đây: Trước hết, ngôn ngữ là kho lưu trữ và đồng thời là biểu hiện của ký ức tập thể hoặc ký ức văn hóa của cả một cộng đồng Ở cấp độ vi mô, mỗi từ, với tính chất liên văn bản của nó, đều liên hệ đến những từ khác và những văn bản khác, tất cả đều gắn liền với những kinh nghiệm chung mà cả cộng đồng

cùng chia sẻ Chiếc cầu là hình ảnh thân thuộc, gần gủi trong đời sống sinh hoạt, lao động, tình cảm của người dân Việt Cầu là nhịp nối, nối liền hai đầu

xa cách, là nơi hẹn hò của đôi lứa :

“Ước gì sông rộng một gang,

Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi ”

( Ca dao)

Trong văn học Trung Quốc cũng như trong văn học Việt Nam, trăng là

một hình tượng nghệ thuật độc đáo, là nguồn cảm hứng muôn đời của thi sĩ, văn nhân Ánh trăng dịu dàng , tạo nên một không gian êm đềm, thơ mộng cho những đôi lứa yêu nhau :

“ Sáng trăng trải chiếu hai hàng ,

Cho anh đọc sách , cho nàng quay tơ ”

( Ca dao )

Trang 20

Trăng cũng là chứng nhận cho những cảnh chia ly , những nỗi nhớ

thương , khắc khoải :

“ Vầng trăng ai xẻ làm đôi ,

Nửa in gối chiếc , nửa soi dặm trường ”

( Truyện Kiều) Mặt khác , ngôn ngữ là một trong những phương tiện chính để lưu truyền văn hóa Chúng ta học những bài học đầu tiên về các biểu tượng, niềm tin và giá trị, vốn là những cốt lõi của văn hóa truyền thống từ gia đình, trường học

và xã hội, ở những nơi này, phương tiện truyền đạt chính vẫn là qua ngôn ngữ Từ đây có thể dễ dàng thấy rõ vai trò quan trọng của ngôn ngữ trong việc duy trì và nuôi dưỡng văn hóa

Ngoài việc sử dụng ngôn ngữ dù ở dưới hình thức nói hoặc viết, bao giờ cũng là một quá trình lựa chọn và kết hợp Thực tế của quá trình này trước tiên chính là bước lựa chọn giữa một loạt những từ ngữ khác nhau, nhằm biểu đạt mục đích của người viết hoặc người nói; tiếp đó họ phải kết hợp những từ

đó theo một trật tự cú pháp nhất định Ví dụ, trong ngôn ngữ Trung Quốc

cũng như Việt Nam, những từ biểu đạt hành động “ ăn”, từ xưa đến nay trong

những trường hợp khác nhau, tùy theo trạng thái yêu ghét, tôn giáo khác nhau

mà chúng ta có hàng loạt những từ như : thọ trai , thọ thực , ăn , xơi , dùng bữa , dùng cơm , ngốn , ngoạm , tọng , xực, v.v Đồng thời trong số những

từ khác nhau ấy, người nói hoặc viết sẽ chỉ có thể chọn một từ để sử dụng

Từ cơ sở những điều chúng tôi trình bày trên đây, có thể thấy rõ mối quan

hệ cực kỳ mật thiết giữa văn hóa và ngôn ngữ, trong bất kỳ tình huống nào, cả hai cũng không thể tách rời và tồn tại độc lập

Trang 21

1.2 Ý nghĩa văn hóa của lớp từ chỉ phương vị trong tiếng Việt

1.2.1 Các phương hướng đông, tây, nam, bắc

1.2.1.1 Hướng đông

Trong bốn phương hướng tự nhiên cơ bản, theo quan niệm dễ thấy của

người Việt từ xưa đến nay, hướng đông luôn được xác định là hướng mặt trời

mọc, hướng có rất nhiều ưu điểm như có ánh sáng, ấm áp, vạn vật sinh sôi

nảy nở, nên hướng đông đối với người Việt là hướng “chủ sinh”, gắn với

mùa xuân, mùa của vạn vật sinh sôi nảy nở

Trong tiếng Việt, có rất nhiều từ ngữ có mối quan hệ mật thiết với hàm

nghĩa văn hóa “chủ sinh” của “đông” Ví dụ, gió đông thường thổi vào mùa

xuân, vì gió này mang khí ấm từ đại dương, khiến cho vạn vật cùng con người bừng tỉnh sau một mùa đông rét mướt, cho nên nói đến gió đông cũng đồng nghĩa với gió xuân Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu từng viết rằng:

Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông, Chúa xuân đâu hỡi có hay không!

(Xúc cảnh)

Ở đây hai chữ “gió đông” ngoài nghĩa gốc chỉ gió đông, tất nhiên còn

hàm chứa nhiều ý nghĩa khác thuộc ngữ cảnh văn bản, nhưng cho dù là ý nghĩa nào, ví như sự ấm áp, sự cứu rỗi, đem đến cơ hội sống, cơ hội sinh sôi,… thì tất cả những nghĩa ấy đều phải gắn liền, hoặc có quan hệ mật thiết,

sản sinh trên cơ sở ý nghĩa “chủ sinh” của gió đông Vị thần cai quản gió đông còn được người ta gọi là Đông Quân ( 東君 ), Đông Đế ( 東帝 ) hoặc Đông

xuân cũng được gọi là “chúa xuân” Nguyễn Gia Thiều, tác giả Cung oán

ngâm khúc từng viết:

Trang 22

Đông Quân sao khéo bất tình, Cành hoa tàn nguyệt bực mình hoài xuân

Ở đây Đông Quân ngoài ý nghĩa là chúa xuân, cai quản mùa xuân, tuổi

trẻ và hạnh phúc của con người, nó còn đồng thời ám chỉ quân vương Nàng cung nữ hoài xuân không ngừng trách cứ Đông Quân phụ bạc

Hướng đông chủ về sinh, thuộc dương, cho nên hướng đông, chữ đông

luôn có mối quan hệ mật thiết với nam giới Trong các tài liệu cổ của Việt Nam, đặc biệt là các tác phẩm văn học, các tác giả thường xuyên dùng các từ

như Đông cung, Đông sàng để chỉ ngôi vị thái tử hoặc rể quý Theo lễ chế

xưa, cung thất của các Hoàng tử được chọn lựa để nối ngôi thường được xây

dựng ở phía đông trong tương quan với cung điện của vua Hai từ Đông sàng hay sàng đông trong tiếng Việt vốn đều có liên quan đến điển cố “Đông sàng

thản phúc”, chuyên dùng chỉ rể quý Tất nhiên, đông phần nhiều vẫn nối kết

với nam giới Ví dụ trong Truyện Kiều, Nguyễn Du từng viết:

Phong lưu rất mực hồng quần, Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê

Êm đềm trướng rủ màn che, Tường đông ong bướm đi về mặc ai

Tường đông ở đây vốn là thực chỉ, tức bức tường phía đông, nhưng ở đây

nó đã phái sinh thêm nghĩa hư chỉ, tức chỉ nơi ở của nam giới Từ hai chữ

tường đông, tính cách đoan trang, hiền thục của chị em Thúy Kiều được khắc

họa một cách hết sức rõ nét Cả hai đều thuộc loại khuê môn thục nữ, nên đã

bỏ ngoài tai lời ong tiếng ve, tức chuyện nam nữ yêu đương

Không dừng lại ở đó, theo quan niệm của người xưa, hướng đông còn là hướng tôn quý, cho nên muốn thể hiện sự giàu nghèo, sang hèn, chữ đông luôn được lựa chọn để phân biệt Ví dụ Đông Kinh, Đông Đô, Đông Quan từ

thời Lê trở về trước thường dùng để chỉ Thăng Long (Hà Nội) Hoặc:

Trang 23

Đông gia theo với mười người, Mang đầy tâm trạng chốn nơi địa tù

(Phạm công tân truyện)

Đông gia vốn dùng chỉ chủ nhà giàu sang, quyền quý, nhưng trong

trường hợp này nó được dùng để chỉ nhà vua Ngoài ra, từ hàm nghĩa văn hóa tốt đẹp nêu trên, không ít trí thức Việt Nam thời xưa khi chọn tên tự, tên hiệu

của mình, rất thích lấy chữ đông, ví dụ tên hiệu của Phạm Đình Hổ

(1766-1839) là Đông Dã Tiều, tên tự của Phạm Văn Thụ (1857-1930) là Đông Bạch phái, tên hiệu của Nguyễn Năng Tĩnh (?-?) là Đông Hiên, tên hiệu của Nguyễn Văn Lý là Đông Khê, của Hoàng Cao Khải là Đông Minh, của Nguyễn Miên Định là Đông Trì,…

Nói tóm lại, từ ý nghĩa chỉ thực, chỉ cụ thể, đi cùng quá trình sống và vận dụng ngôn ngữ, đông đã phái sinh khá nhiều nghĩa khác mang giá trị văn hóa sâu sắc, những nghĩa này được các nhà ngôn ngữ học gọi là ý nghĩa văn hóa hoặc hàm nghĩa văn hóa của từ vựng

1.2.1.2 Hướng tây

Trái ngược với hướng đông, với người Việt, hướng tây là hướng mặt trời

lặn, nơi sản sinh u tối lạnh lẽo, nên thường có ý nghĩa tử vong, không lành, gắn với chốn u minh của người chết Không phải ngẫu nhiên các làng của người Việt xưa, các nghĩa trang nơi chôn người chết thường, bao gồm cả hai giai đoạn trước và sau sang cát (bốc mộ, thu nhặt xương người chết) đều được

đặt ở phía tây trong tương quan với vị trí địa lý của làng Trong Truyện Kiều,

Nguyễn Du sau khi viết:

Tà tà bóng ngả về tây, Chị em thơ thẩn dan tay nhau về

Liền viết ngay đến nấm mồ vô chủ tột cùng lạnh lẽo, ảm đạm giữa không khí thanh minh người người đi tảo mộ của Đạm Tiên:

Trang 24

Sè sè nắm đất bên đường, Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

Mặt trời xế bóng gắn với khí âm bao trùm, khí âm bao trùm gắn liền với

không gian mồ mả, nơi chôn người chết Ở đây rõ ràng do đối sánh với hướng

đông (chữ đông) dương tính, hướng tây (chữ tây) thường phái sinh ra những ý

nghĩa văn hóa mang sắc thái âm tính Điều này có thể thấy rõ trong một loạt các tác phẩm thuộc mảng văn học giai đoạn cổ trung đại của Việt Nam Ví dụ,

truyện Nôm Bích câu kỳ ngộ có câu:

Tuy rằng cách trở đông tây, Dẫu xa, xa cũng có ngày gần nơi

Ở đây đông tây chỉ sự xa cách giữa nam và nữ, trong đó đông chỉ không gian, nơi ở của người nam, ngược lại, tây chỉ không gian, nơi ở của người nữ

Sở dĩ có thể viết như vậy là bởi, như trên đã nói, khi mặt trời lặn về tây, bóng đêm sinh ra, một khi gió tây thổi thì dương khí sẽ ẩn đi, như vậy rõ ràng

hướng tây và khí âm là có liên quan, và tây cũng có mối quan hệ nội tại với

nữ giới Trong văn học Việt Nam, đi liền với nữ giới luôn luôn là hướng Tây

Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều có câu:

Vườn Tây Uyển khúc trùng thanh dạ,

Tây Uyển là vườn, nhưng quan trọng hơn nơi ấy là nơi ở của các Quý phi, hoặc nơi ở của các cung nhân được Hoàng đế sủng ái Nói tóm lại, đó là

nơi ở của nữ nhân Truyện Nôm Phạm công tân truyện có câu:

Có nàng công chúa lầu tây, Trẫm gả cho Trạng phen này kết duyên

Hay trong bài hát nói Giai nhân nan tái đắc, Cao Bá Quát viết:

Giai nhân nan tái đắc!

Trót yêu hoa nên dan díu mấy tình

Mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh, Rầu rĩ bấy xuân về oanh nhớ

Trang 25

Trong những ví dụ trên đây, “tây” tuy gắn liền với nữ giới hoặc chỗ ở của

nữ giới, thế nhưng nghĩa của nó phần lớn đều phiếm chỉ, không dùng trong các trường hợp trực chỉ, tức chỉ cụ thể

Trong triết học phương Đông, xét từ khía cạnh bốn mùa, mùa thu thuộc hành kim, chủ ở phương tây, thuộc màu trắng (bạch sắc), gió mùa thu thổi giống như ngọn lửa đang không ngừng thiêu đốt sinh linh, cho nên đây là mùa của sự khô cằn, héo úa, vạn vật tiến gần đến cái chết Bởi thế trong văn học cổ

Việt Nam khi nhắc đến gió thu, ngoài thu phong, người ta còn thường xuyên dùng các từ như tây phong, kim phong Nguyễn Du trong bài thơ Ngẫu hứng

viết:

Minh nguyệt mãn thiên hà cố cố,

Tây phong xuy ngã chính thê thê

Thương tàn vật tính bi phù hĩnh,

Khắc lạc thiên chân thất mã đề

(Trăng sáng đầy trời sao mãi thế,

Gió tây thổi vào ta lạnh ngắt

Làm hại tính tự nhiên của vạn vật, ái ngại chân con la dài ra,

Xuyên tạc chân tính thiên nhiên làm mất cả ý nghĩa của thiên mã đề.)

Những câu thơ vừa trích trên được sáng tác trong khoảng “mười năm gió

những đau khổ dằn vặt về việc làm quan của mình, hoài niệm về những ngày

ẩn dật và tự cho mình là làm trái tính tự nhiên như câu chuyện “Cắt ngắn

chân con la” vậy Trong không khí ấy, sự xuất hiện của ngữ liệu Tây phong

càng tăng thêm sự bi đát cho tâm trạng tác giả Sắc thái âm tính của câu thơ

đã rõ, vì thế ta có thể khẳng định ý nghĩa nội tại của những ngữ liệu ấy đã chuyển sang ý nghĩa tử vong, tàn tạ, héo úa của vạn vật trong quy luật và tâm thức của con người Mùa thu đã mang những đặc trưng đó, nên gió thu còn

được gọi là Tây phong, Kim phong hay gióTây cũng là điều dễ lý giải

Nhìn chung, Tây hoàn toàn trái ngược với Đông, sắc thái âm tính của nó biểu hiện rõ nét trong từng hàm nghĩa cụ thể Tuy nhiên trong quá trình sáng

Trang 26

tác, các tác giả văn học đã vận dụng nó như những tín hiệu thẩm mỹ nhằm chuyển tải nội dung tư tưởng, xây dựng hính tượng không thời gian và nhân vật Không khí bi ai, buồn bã, trống trải, thê lương hay nhớ nhung sầu muộn

là đặc trưng của ngữ liệu này, cho nên những hiểu biết nhất định về hàm

nghĩa văn hoá của chữ Tây sẽ giúp cho người đọc có thể hiểu sâu hơn và đi

vào bản chất nghệ thuật của những tác phẩm văn học trong quá khứ

Như vậy, nghiên cứu, so sánh, lý giải nguồn gốc của hai chữ Đông – Tây

trong ngôn ngữ và văn học dưới góc độ từ vựng học đã làm nổi bật những ý nghĩa văn hoá ẩn tàng trong nó Để tạo tính cô đúc, ý vị, thanh nhã và thuyết phục cho tác phẩm, các thi nhân đã sử dụng những ngữ liệu này một cách thần tình, linh động, đích đáng, thích hợp, tự nhiên, nhuần nhuyễn và biến hoá Thủ pháp nghệ thuật trên đã hỗ trợ đắc lực, góp phần tạo ra giá trị biểu cảm, sắc thái tu từ cho ngôn ngữ văn học Ý nghĩa liên hội của chúng càng làm cho trường liên tưởng trong tác phẩm được mở rộng mà mỗi độc giả tuỳ theo bề dày văn hoá của mình mà có thể thẩm thấu được

Nhìn chung, Tây hoàn toàn trái ngược với Đông, sắc thái âm tính của nó biểu hiện rõ nét trong từng hàm nghĩa cụ thể Tuy nhiên trong quá trình sáng tác, các tác giả văn học đã vận dụng nó như những tín hiệu thẩm mỹ nhằm chuyển tải nội dung tư tưởng, xây dựng hình tượng không thời gian và nhân vật Không khí bi ai, buồn bã, trống trải, thê lương hay nhớ nhung sầu muộn

là đặc trưng của ngữ liệu này, cho nên những hiểu biết nhất định về hàm

nghĩa văn hoá của chữ Tây sẽ giúp cho người đọc có thể hiểu sâu hơn và đi

vào bản chất nghệ thuật của những tác phẩm văn học trong quá khứ

Như vậy, nghiên cứu, so sánh, lý giải nguồn gốc của hai chữ Đông – Tây

trong ngôn ngữ và văn học dưới góc độ từ vựng học đã làm nổi bật những ý nghĩa văn hoá ẩn tàng trong nó Để tạo tính cô đúc, ý vị, thanh nhã và thuyết phục cho tác phẩm, các thi nhân đã sử dụng những ngữ liệu này một cách thần tình, linh động, đích đáng, thích hợp, tự nhiên, nhuần nhuyễn và biến hoá Thủ pháp nghệ thuật trên đã hỗ trợ đắc lực, góp phần tạo ra giá trị biểu cảm, sắc thái tu từ cho ngôn ngữ văn học Ý nghĩa liên hội của chúng càng làm cho

Trang 27

trường liên tưởng trong tác phẩm được mở rộng mà mỗi độc giả tuỳ theo bề dày văn hoá của mình mà có thể thẩm thấu được

1.2.1.3 Hướng nam

Chữ Nam với nghĩa đầu tiên là chỉ về phương Nam, hướng Nam trong

tương quan với 3 phương hướng Đông, Tây, Bắc còn lại đã xuất hiện rất nhiều trong các tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam Truyện Kiều của Nguyễn Du

(Cành nam nở hết,

Xuân sang chẳng biết.)

Theo người Việt, hướng Nam là hướng đón ánh nắng mặt trời, là nơi nuôi

lớn của trời đất, muôn vật được nuôi dưỡng, đem lại sức sống cho vạn vật nên

người xưa luôn quan niệm gió Nam, gió Nồm (Nam phong 南 風) mang đến

một tương lai tốt lành, yên bình, hạnh phúc

Ôi, gió Nam tốt thay!

Thổi mát lòng dân tộc

Ôi gió Nam ơn thay!

Xoa dịu buồn dân gian

Gió Nam thổi đúng lúc thay!

Khiến quốc dân phú cường

(“Bài ca gió Nam”, trích tạp chí Nam phong)

Hay trong dân gian Việt Nam có câu:

Lạy trời cho cả gió Nồm,

Để cho chúa Nguyễn thẳng buồm dong ra

Trang 28

(Ca dao)

Trong bài thơ “Hiểu quá Hương giang”(Buổi sáng vượt sông Hương)của

Cao Bá Quát cũng có câu:

Kiều đầu xa mã phi ngô sự, Phả ái Nam phong giác chẩm biền

(Đầu cầu xe ngựa ta nào tưởng, Tưởng trận Nam phong quạt giấc nồng.)

Nam thường mang ý nghĩa tốt đẹp Trong Truyện Lục Vân Tiên của

Nguyễn Đình Chiểu, khi Vân Tiên cùng Hỷ Đồng đến nhà Võ Công ra mắt,

Võ Công liếc coi tướng mạo chàng thấy “mày tằm, mắt phụng, môi son”, mang cốt cách của bậc tài hoa, đấng quân tử, nên đã cất lời khen ngợi Vân Tiên xứng đáng là con rể quý để kết duyên cùng Võ Thể Loan xinh đẹp, ngoan hiền, đúng mực là nàng dâu thảo:

Xem đà đẹp đẽ hòa hai, Kìa dâu Nam giản, nọ trai Đông sàng

(Truyện Lục Vân Tiên)

Ở đây Nguyễn Đình Chiểu đã dùng tích Nam giản trong Thi kinh để chỉ nàng dâu hiền thảo Nam giản vốn mang ý nghĩa là bờ suối phía nam, thơ văn

Việt Nam cổ trung đại thích dùng chỉ người đàn bà giỏi, nàng dâu đảm đang

Tích này xuất phát từ bài thơ “Thái tần” trong Thi kinh, bài thơ có đoạn:

Vu dĩ thái tần,

Nam giản chi tân

Vu dĩ thái tảo,

Vu bỉ hành lạo (“Thái tần”)

(Hái rau tần ở đâu? Hái rau tần ở bờ suối phía nam

Hái rau tảo ở đâu? Hái rau tảo ở chỗ nước lũ đang chảy.)

Nội dung bài thơ chủ yếu khen người vợ đảm đang việc nội trợ, lo liệu việc lễ bái, thành tâm đi tìm kiếm những thứ rau ngon mọc ở những chỗ thanh sạch, trong suốt

Hướng Nam chủ về sinh, Nam gắn với sự sống, trong văn học Việt Nam

xưa thường dùng những hình ảnh Nam Tào( 南 曹 ), Nam Tinh ( 南 星) vốn là

Trang 29

tên chòm sao để chỉ vị thần giữ sổ sinh tử của người trần Ví như Truyện Lục

Vân Tiên có câu:

Phải chi hỏi đặng Nam Tào, Đêm nay cho đến đêm nào gặp nhau

Hay trong Sơ kính tân trang (梳鏡新妝), sau khi phong trào Cần Vương

thất bại, vợ chồng Phạm Công lần lượt qua đời, Phạm Kim bày tỏ nỗi buồn

đau trước cảnh mất mát người thân, “Nam Tinh” là ngôi sao chỉ sự sống, quản

sự sống nay đã bị mây lồng cũng giống như sao Bắc Cực đã chìm mất:

Sương đỉnh dĩ, tuyết ngàn thông Sao chìm Bắc Cực, mây lồng Nam Tinh

(Sơ kính tân trang) Hàm nghĩa văn hóa của chữ Nam còn gắn liền ý nghĩa trường thọ, ẩn dật, tất nhiên ở đây cần xét “Nam” trong sự kết hợp với “sơn” Đây là một trong

những nghĩa thường thấy trong các điển cố văn học cổ điển Việt Nam Ví dụ

nhà thơ Nguyễn Công Trứ trong bài thơ “Vịnh nhàn” viết rằng:

Dưới giậu thu thấp thoáng bóng Nam sơn, Ngoảnh mặt lại cửu hoàn xem cũng nhỏ

Hai chữ “Nam sơn”( 南 山)ở đây được lấy ý từ trong thơ Đào Tiềm

Chùm thơ Ẩm tửu bài số 5 của Đào Tiềm có câu:

(Hái cúc dưới giậu đông,

Thản nhiên nhìn núi Nam.)

Qua câu thơ trên, dường như Nguyễn Công Trứ muốn nói lên tâm sự muốn được sống ẩn dật, an nhàn của bản thân, tức từ trong sâu thẳm trong lòng, ông muốn được tránh xa chốn quan trường xô bồ, bon chen, vui thú, hòa mình vào cảnh điền viên Tức từ sau Đào Tiềm, người ta chỉ cần nhắc đến

“Nam sơn”, người nghe lập tức liên tưởng đến cảnh giới ẩn dật.Nhà thơ Cao

Bá Quát trong bài thơ “Họa Uy Viễn thất thập tự thọ"cũng từng tâm sự:

Trang 30

Quần sơn Nam vọng độc chi di, 群山南望獨之夷,

(Đứng ngắm núi Nam chỉ một mình,

Nhớ ngày trai trẻ của tiên sinh.)

Cùng nỗi niềm tâm sự sâu kín ấy, thi sĩ Tố Như trong bài thơ “Lưu biệt

cựu khế Hoàng”cũng viết rằng:

(Về Nam mai mốt lân la,

Lục Đầu bến nước hỏi tra ngư tiều.)

Về khía cạnh trường thọ, trong bài thơ “Thơ họa mừng tiệc sinh nhật

Thanh Xuyên hầu”, Phạm Thái viết rằng:

Nam đài vâng nghĩ dâng thơ thọ,

Phận mọn, ơn sâu, nghĩ vắn dài…

Ở đây tác giả dùng điển Nam đài 南 台,một điển cố vốn xuất hiện trong

được sống lâu Với việc sử dụng thi liệu này, Phạm Thái vừa có ý ngầm khen Thanh Xuyên Hầu là bậc hiền nhân, vừa ngầm chúc ông được sống lâu trăm

tuổi

Ngoài ra, vì Nam chủ về sinh nên Nam thuộc dương và có mối liên hệ với con trai, cho nên phương mà người con trai ở ngoài Đông ra cũng thường gắn với Nam, những hoạt động của họ cũng gắn với Nam Trong văn học cổ

trung đại Việt Nam, ý nghĩa này cũng được các văn nhân sử dụng khá nhiều

Trong Chinh phụ ngâm, người chinh phụ sau nhiều năm xa chồng, nỗi nhớ

thương ngày càng chồng chất, choáng ngợp tâm hồn nàng Vì thế nàng ngồi hướng vọng theo phương chồng đi chinh chiến:

Trông bến nam bãi chia mặt nước,

Cỏ biếc um dâu mướt màu xanh

(Chinh phụ ngâm)

Trang 31

Cũng giống như hai chữ “Đông sàng”, “Nam lâu”( 南 樓) tức lầu ở phía

Nam, cũng ám chỉ nam giới hoặc nơi ở của con trai:

Cửa Trình thoắt đã gần gần, Nam lâu dưỡng tính, tây tân kén tài

(Sơ kính tân trang)

Hoặc như trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:

Xiết bao kể nỗi thảm sầu, Khắc canh đã gục Nam lâu mấy hồi

Tóm lại, chữ Nam, từ nghĩa ban đầu là chỉ về một trong bốn hướng của

trời đất, trong quá trình phát triển của văn hóa nhân loại nói chung và của văn hóa Việt Nam (phương đông) nói riêng đã phái sinh thêm khá nhiều nghĩa mới Điều dễ nhận thấy ở đây là những hàm nghĩa văn hóa mới này đều mang

ý nghĩa tốt đẹp, tích cực (bao gồm cả ý nghĩa ẩn dật, vì ẩn dật được hiểu là một cách phản ứng với những tiêu cực của xã hội) Trong những tác phẩm khi

có chữ Nam xuất hiện dường như đều mang lại những niềm vui, sự hạnh

phúc

1.2.1.4 Hướng bắc

Chữ Bắc là một phương vị từ trong bốn phương của trời đất,là một trong

những phương vị cơ bản của hệ thống định vị tứ phương của người Việt Nam:

Bấy lâu nam bắc đông tây, Bước chân xa cách, tấc lòng quặn đau

(Nhị độ mai) Thi hào Nguyễn Du trong tác phẩm Phản chiêu hồn cũng sử dụng từ này

trong sự kết hợp với ba hướng còn lại để miêu tả không gian của sự cô đơn, lạc lõng của nhà thơ Khuất Nguyên sau khi đắm mình xuống dòng Mịch La, cũng chính là tâm sự của bản thân tác giả về xã hội:

Trang 32

Hồn hề! Hồn hề! Hồ bất qui? 魂兮 ! 魂兮 ! 乎不歸 ?

(Hồn ơi, hồn ơi, sao chẳng về,

Đông tây nam bắc không tựa kề.)

(Phản chiêu hồn)

Do hướng Bắc là hướng gắn với u tối, lạnh lẽo, vì thế những câu thơ xuất hiện từ Bắc thường tạo nên âm hưởng hoang vắng, tàn tạ, lạnh lẽo Trong tâm

trạng nhớ nhung người chồng nơi chiến trận, người chinh phụ đã dõi mắt theo

hướng Bắc ngóng trông bóng chinh phu, thế nhưng nàng chỉ thấy phương đó

chỉ toàn những cảnh hoang vắng, lẻ tẻ vài chòm quán khách, giữa muôn trùng núi non, nghe tiếng địch trên lầu cao tê tái nỉ non:

Trông đường Bắc đôi chòm quán khách,

Rườm rà cây xanh ngắt núi non

Lúa thành thoi thóp bên cồn,

Nghe thôi ngọc địch véo von bên lầu

(Chinh phụ ngâm)

Để phác họa không khí chia xa, cách trở đôi đường trong một khung cảnh chia li, các nhà thơ Việt Nam thường thích sử dụng đối nghịch hai phương vị

từ Nam – Bắc Ví dụ thơ Nguyễn Đình Chiểu có câu:

Hai hàng lụy nhỏ ngọc sa, Trời Nam đất Bắc xót xa đoạn tràng

(Truyện Lục Vân Tiên) Trong truyện nôm Nhị Độ Mai, nàng Hạnh Nguyên từ biệt Mai Sinh khi

bị cống cho quân Sa Đà đã trao tặng chàng cành thoa để hẹn ước duyên về sau:

Trang 33

Rồi đây kẻ Bắc người Nam, Cành thoa xin tặng để làm duyên sau

Cụm từ “kẻ Bắc người Nam” vừa chỉ hiện thực rồi đây hai người đôi ngả, nàng về phương Bắc làm Yên Chi, còn chàng ở lại phương Nam, câu thơ như

có sự dự báo về cái chết của nàng, bởi lẽ trong cụm từ trên, chữ Bắc vừa thực

chỉ phương hướng nhưng cũng vừa hư chỉ sự chia ly, tang tóc Quả thật, ở phần sau của truyện Nôm, nàng đã trầm mình xuống đầm tự tử nhưng đã may mắn được Chiêu Quân cứu thoát Còn Mai Sinh (Mai Lương Ngọc) khi đến nhà họ Châu vì làm mất thoa nên mang bệnh nặng, thuốc thang không chữa

được, mới có lời rằng khi chết hãy chôn mình theo hướng Bắc để hàng ngày

được dõi theo bóng Hạnh Nguyên – người con gái mà chàng ngày đêm ngóng

trong đang bị cống cho giặc Hồ ở phương Bắc, đồng thời đó cũng chính là

hướng của người yêu mà chàng nghĩ là đã về thế giới bên kia:

Dù khi giải kết bao giờ, Phong phần chính Bắc xin nhờ nhớ cho

Hướng Bắc là nơi tối tăm, lạnh lẽo, mang ý nghĩa tử vong không tốt lành,

và đây là nơi trú ngụ của linh hồn người chết, cho nên truyện Nôm Phan Trần

đã dùng hình ảnh Bắc cực để nói về cái chết:

Sương đỉnh dĩ, tuyết ngàn thông Sao chìm Bắc cực, mây lồng Nam tinh

Cũng giống như Đông - Tây, Nam thuộc dương, gắn liền với nam giới,

Bắc thuộc về âm, chỉ về nữ giới, thường nơi ở của nữ giới nằm ở hướng Bắc

Ví dụ:

Lầu vàng đúc vành gương báu, Vành vạch châu trao chiếc lược hồng

Trang 34

(Sơ kính tân trang)

Bốn câu thơ nhắc lại nguyện ước cũ giữa hai nhà Trương - Phạm thuở xưa: họ Phạm trao cho nhà họ Trương chiếc lược (Sơ 梳) ngọc mà ở cửa Bắc

nàng Quỳnh Nương đang giữ: “thảo dĩ” tức là chỉ vật đính ước của nhà họ

Phạm: Thảo艹+ Dĩ 已 = Phạm 范 Còn họ Trương giao cho họ Phạm gương vàng (kim 金), và ở lầu Nam, chàng Phạm Kim luôn đeo vật đính ước của nhà

họ Trương bên mình, chữ Trường cung nghĩa là: Trường 長 + Cung 弓 = Trương 張

Như vậy, có thể thấy rõ, nếu Nam thiên về nghĩa sinh sôi, tốt đẹp thì Bắc

lại hàm chứa sự u buồn, lạnh lẽo và chết chóc Đối với những tác phẩm,

những câu thơ chứa đựng từ Bắc luôn gợi cho người đọc không khí u hoài, buồn bã, chia cách Việc sử dụng chữ Bắc và các hàm nghĩa văn hóa trong

văn chương không chỉ giúp cho sự diễn đạt sinh động hơn, làm cho các hình tượng văn học lấp lánh những giá trị biểu đạt mới, đồng thời khiến cho các câu văn, đoạn thơ trở nên gọn gàng, hàm súc và giàu sức thuyết phục hơn

1.2.2 Các từ chỉ vị trí

1.2.2.1 Thượng (trên), trung (giữa), hạ (dưới)

Nhóm từ thượng, trung, hạ tồn tại trong tiếng Việt, trước tiên là những từ

có nguồn gốc Hán Trong ba từ thượng, trung, hạ, ngoài việc sử dụng chúng

với nghĩa gốc, chúng thường xuyên được sử dụng với nghĩa văn hóa

Ví dụ, với “thượng” có một loạt các từ như: thượng cấp, hoàng thượng,

Thượng Đế, thượng đẳng, thượng giới, thượng hoàng, thượng khách, thượng lưu, thượng nghị sĩ, thượng sách, thượng sĩ, thượng tầng, thượng tầng kiến trúc, thượng thọ, thượng tọa, thượng tướng, thượng úy, thượng viện,…

Với “trung” có một loạt các từ như: trung châu, trung dung, trung đoàn,

trung hòa, trung nguyên, trung quân, trung sĩ, trung tá, trung tướng, trung úy, trung ương, trung vệ,…; chấp trung, cư trung,…

Trang 35

Với “hạ” cũng có một loạt các từ như : hạ cấp, hạ lưu (tầng lớp bị xem thấp kém trong xã hội), hạ nghị sĩ, hạ nghị viện, hạ sách, hạ sĩ, hạ sĩ quan, hạ

tầng (hạ tầng cơ sở), hạ thần, hạ thọ (mừng thọ 60 tuổi), hạ viện,…

Trong tương quan thượng, trung, hạ, do văn hóa Việt Nam giai đoạn cổ

trung đại chịu ảnh hưởng khá đậm, thậm chí có thể nói đậm nhất từ Nho gia,

mà triết học Nho gia đề cao nhất đạo Trung dung, cho nên xét về tôn ti, không phải mọi lúc mọi nơi, thượng luôn là vị trí được đề cao, theo quan sát của chúng tôi, có lẽ đối với cả người Trung Quốc lẫn Việt Nam, văn hóa trung dung mới là vị trí được xem trọng nhất

1.2.2.2 Tả (trái), hữu (phải)

Tác giả Trần Ngọc Thêm trong Cơ sở văn hóa Việt Nam [ 49 ; 179 ] có

viết rằng:

Với cái áo năm thân có vạt trái lớn hơn và nằm ngoài vạt phải, ta lại bắt gặp một biểu hiện đầy thú vị của triết lý coi trọng bên trái (bên đông) hơn bên phải (bên tây theo ngũ hành) Cùng ý nghĩa này, người Việt cổ còn có tục cài khuy bên trái (người Trung Hoa gọi là lối mặc cài khuy bên trái của ta là tả nhậm); về sau ở đàn ông, lối mặc này đã bị thay bằng lối mặc cài khuy bên phải của Trung Hoa

Khổng Tử trong thiên “Hiến vấn” sách Luận ngữ đã khen Quản Trọng,

người nước Tề, người có công khai thác mỏ sắt, chế dụng cụ bằng sắt, tổ chức

làm muối,… “Cho đến nay, dân chúng còn được hưởng ân đức của ông ấy

Không có Quản Trọng thì chúng ta phải gióc (bện) tóc và cài khuy áo bên tả rồi.”

Việc cài khuy áo bên tả, việc xem trọng bên trái phải chăng có nguồn gốc

từ văn hóa phương Nam, văn hóa Bách Việt, điều này rất khó có thể giải

quyết, chỉ có điều, cùng với sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, văn hóa

Trang 36

phương Tây, quan niệm xem trọng bên tả (bên trái) của người Việt Nam đã dần bị mai một Thế nhưng, những dấu ấn như áo cài khuy bên tả, “nam tả nữ

hữu”, vị trí tôn quý luôn được định ở phía tả, đều đã chứng minh, trong ngôn

ngữ, văn hóa Việt, trong so sánh giữa tả và hữu, tả luôn ở vị trí nổi trội, tôn

quý, tích cực và cách mạng

1.3 Ý nghĩa văn hóa của lớp từ chỉ phương vị trong tiếng Hán

1.3.1 Các phương hướng đông, tây, nam, bắc

1.3.1.1 Hướng đông

Người Trung Quốc xưa từ chỗ quan sát hiện tượng tự nhiên bắt gặp hàng ngày, nhận thấy rằng nơi mặt trời mọc cây cỏ tươi tốt, vạn vật sinh sôi phát

triển, họ đã xác định được hướng đầu tiên và đặt cho tên gọi là “đông” ( 東 )

Hướng đông và mặt trời có mối quan hệ mật thiết, điều này được phản ánh

trong bản thân văn tự, cụ thể chữ đông gồm có chữ “nhật” ( 日) và chữ

Hướng đông là hướng xuất phát của mặt trời, nơi có ánh sáng và sự ấm

áp, vì thế đông chủ về sinh Gió từ hướng đông thổi khiến muôn vật sinh sôi, nên vị thần chúa tể của mùa xuân được gọi là Đông hậu, Đông quân, Đông

hoàng hoặc Đông đế Mùa xuân cũng là thời điểm bắt đầu cho công việc của

nhà nông nên từ “đông” cũng hàm nghĩa việc canh nông, những từ như đông

tác, đông giao, đông cao, đông chuy, đều mang nghĩa chung chỉ việc nhà

nông

Với màu sắc, người Trung Quốc xưa thường dùng “thanh” thay thế cho

đông, ví như thanh đế, thanh cung Trong thực tế đời sống, ba từ đông, xuân, thanh thường xuyên có sự phối hợp và thay thế vị trí cho nhau

Hướng đông chủ về sinh, thuộc dương, nên đông cũng được dùng để chỉ nam giới Ví dụ chúng ta thường thấy người Trung Quốc dùng Đông hoàng

công để chỉ chúa xuân, dùng Đông cung để chỉ thái tử, dùng Đông sàng để chỉ

chàng rể và từ Đông phương kị để chỉ rể quý

Trang 37

Trong quan niệm của người Trung Quốc xưa, đông là hướng tôn quý, nên khi muốn đối lập sự giàu nghèo, sang hèn thì đông bao giờ cũng được dùng

để chỉ sự giàu sang phú quý Ví dụ họ dùng “đông đệ” để chỉ phủ đệ của những nhà giàu sang, dùng đông tự hoặc đông giao để chỉ đại học, còn tây tự hoặc ngu tường để chỉ tiểu học Ví dụ, sách Sử ký mục “Tư Mã Tương Như

truyện” có câu: “Vị vi Thông Hầu, cư liệt đông đệ”(Địa vị là Thông Hầu nên

ngồi ở đông đệ) Sách Hán thư mục “Công Tôn Hoành truyện” có câu: “Khai

đông các dĩ diên hiền nhân.”(Mở đông các để mời người hiền.)

Trong truyện thần thoại Ngưu Lang – Chức Nữ, Chức Nữ là con gái của thiên đế, nàng xuất thân cao quý nên đã ở phía đông của thiên hà, còn Ngưu Lang xuất thân hèn kém nên ở phía tây của thiên hà Từ ý nghĩa cao quý,

đông luôn mang nghĩa chính, chủ yếu, chủ nhân, quan trọng Vì thế khi nói

đến quan hệ chủ khách thì đông bao giờ cũng được dùng để chỉ vị trí người chủ, ví như: đông gia, phòng đông, đông nhân Riêng người góp vốn, có cổ phần trong một công ty được gọi là cổ đông, một từ có phạm vi sử dụng hết

sức rộng rãi trong xã hội ngày nay Ngay cả vị trí của những thành viên trong

gia đình, chủ nhà cũng thường được sắp xếp ngồi ở hướng đông

Trong quan niệm của người Trung Quốc xưa, mỗi khi nói đến một

phương vị nào đó không cần xác định thì họ thích dùng từ đông Đông ở đây

rõ ràng không phải là thực chỉ mà chỉ là hư chỉ Ví dụ đông ly (hàng rào phía đông), đông hiên (hiên phía đông), đông viên (vườn phía đông), thậm chí cả những câu chúc thọ cũng “phúc như đông hải” Trong thơ văn Trung Quốc cổ trung đại, đông còn được sử dụng với tần suất cao hơn Ví dụ, thơ Đào Uyên

Minh có câu:

Thái cúc đông ly hạ,

Du nhiên hiện Nam sơn

(“Ẩm tửu”, bài số 5)

(Hái cúc nơi bờ giậu phía đông,

Thư thái ngước lên núi Nam đến soi vào tầm mắt.)

Trang 38

Thơ Lý Bạch có câu:

Đào hoa khai đông viên,

Hàm tiếu khoa bạch nhật (“Cổ phong”, bài số 47)

(Vườn đông hoa đào nở,

Chúm chím dưới ánh mặt trời.)

Tóm lại, trong văn hóa Trung Quốc, đông ngoài nghĩa gốc dùng để chỉ

phương hướng, nó còn thường xuyên được dùng với nghĩa bóng, nghĩa văn hóa, nhằm chuyển tải những vẫn đề trừu tượng phát sinh trong thực tế đời sống xã hội và tâm linh của người dân Trung Quốc

1.3.1.2 Hướng tây

Trái ngược với đông, tây là hướng mặt trời lặn Theo sách Thuyết văn

giải tự của Hứa Thận đời Đông Hán, tây thuộc loại chữ tượng hình, cụ thể: Điểu tại sào thượng, tượng hình Nhật tại tây phương nhi điểu thê, cố nhân dĩ vi đông tây chi tây

(Chim đậu ở trên tổ, chữ này thuộc loại chữ tượng hình Khi mặt trời lặn

về hướng tây, chim bay về tổ, cho nên người ta mới lấy đó làm chữ tây trong đông tây.)

Từ đây có thể thấy rõ, chữ tây ( 西) ban đầu vốn là chữ thê (棲,栖, đậu

lại) Khi mặt trời lặn sau ngọn núi phía tây và chim bay về tổ, cho nên từ

“tây” với nghĩa đậu lại, nghỉ ngơi đã dần được chuyển thành nghĩa hướng tây

Hướng tây thường được xem là nơi tối tăm lạnh lẽo, mang ý nghĩa tử vong không tốt lành Ở phía tây đồng thời còn có chòm sao Bạch hổ gồm 7 sao: Khuê ( 奎 ), Lâu ( 婁 ), Vị ( 胃 ), Mão ( 昴 ), Tất ( 畢 ), Tuy ( 觜 ), Sâm ( 參 ),

những sao này đều mang ý nghĩa tàn sát, thu gom, bén nhọn, vì thế tây thường quản về việc sát phạt Nếu đông chủ sinh, phối hợp với văn, thì tây chủ tử,

Trang 39

chết chóc sẽ phối hợp với võ; nên các quan văn trong triều được gọi là đông

ban, còn các quan võ được gọi là tây ban

Xét từ khía cạnh bốn mùa, tây và mùa thu có mối quan hệ hết sức mật thiết Với ngũ hành, hướng tây và hành kim cũng có mối quan hệ gắn kết

Mùa thu thông thường mang ý nghĩa tàn sát, chết chóc Sương lạnh cùng tiết

trời hanh khô tàn sát cây cỏ, động vật loài mạnh ăn thịt loài yếu, thú lớn săn bắt thú nhỏ Và cũng chính bởi ý nghĩa này nên chúng ta hiểu được rằng, tại

sao thời xưa mỗi năm cứ đến mùa thu, triều đình đều có những hành động

Còn cứ đến cuối thu lại phải:

Xúc ngục hình, vô lưu hữu tội.(Lã thị Xuân Thu)

(Tăng cường xem xét việc hình ngục, không lưu giữ người có tội.)

Vì là hướng gắn liền với nghĩa tử vong, nên “tây” có quan hệ với già yếu, đau buồn Ví dụ cho rằng người sắp mất là “nhật bạc tây sơn” ( 日薄西山 ,

mặt trời sắp khuất sau rặng núi phía tây) Không những thế, mượn hướng tây

để tô đậm tình cảm đau thương là hiện tượng thường thấy trong thơ văn cổ đại Trung Quốc Chính vì thế, hoàn toàn không phải ngẫu nhiên khi người Trung

Quốc sáng tạo ra chữ “sầu” ( 愁 ) đã để chữ “thu” ( 秋 ) trên chữ “tâm” ( 心 )

Tây và âm khí cũng có quan hệ nội tại, vì vậy nói đến giới nữ người Trung

Quốc xưa thường xuyên liên hệ đến từ “tây”, như Tây Vương Mẫu, Tây Thi, Ngày xưa gió tây còn được gọi là “thiếu nữ phong” ( 少女風 ), và với Tây

sương kí (西廂記), vở tạp kịch đời Nguyên kể về câu chuyện tình giữa nàng

Thôi Oanh Oanh và chàng Trương Quân Thuỵ, hai chữ “tây sương” ( 西廂 –

mái tây) cũng chính là phòng phía tây, nơi ở của Thôi Oanh Oanh

Trang 40

Không dừng lại ở đó, trong thơ văn Trung Quốc cổ trung đại, tây còn được sử dụng với tần suất cao hơn Ví dụ, bài thơ “Nghĩ minh nguyệt chiếu

cao lâu” của Lương Vũ Đế có câu:

Quân như đông phù cảnh,

Thiếp tự tây liễu yên

(Chàng như cảnh sắc nơi cây phù tang ở hướng đông,

Thiếp như làn khói trên nhành liễu ở hướng tây.)

Bài thơ “Nguyệt hạ hữu hoài” của Trần Tử Ngang đời Đường có câu:

Mĩ nhân hiệp Triệu sắt,

Vi nguyệt tại tây hiên

(Người đẹp ôm đàn Triệu,

Trăng non tại hiên tây.)

Có thể thấy rõ rằng, nếu như “đông” là biểu tượng gắn liền với nam giới, thì “tây” cũng chính là biểu tượng gắn liền với nữ giới

1.3.1.3 Hướng nam

Từ chỉ phương vị nam ( 南 ) là một chữ giả tá Xét từ góc độ từ nguyên thì

chữ “nam” chính từ chữ “nhâm” ( 妊 ) mà ra “Nhâm” là nuôi dưỡng vạn vật,

vì thế nam là phương muôn vật được nuôi dưỡng Sách Bạch Hổ thông mục

“Ngũ hành” chép rằng:

Nam phương giả, nhâm dưỡng chi phương, vạn vật hoài nhâm dã

(Phương nam là phương nuôi dưỡng, muôn vật đều được nuôi dưỡng từ đây vậy.)

Hướng nam cũng thuộc về dương, chủ về sinh, vì thế nên thiên tử phải

“nam diện” (ngồi quay mặt về hướng nam) để cai trị Không những thế bậc

tôn quý khi ngồi cũng chọn hướng quay mặt về hướng nam với ý nghĩa họ

Ngày đăng: 04/05/2021, 06:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2013), Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Hồng Đức, 390 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2013
2. Diệp Quang Ban (1998), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
3. Brown G. – Yule G. (2002), Phân tích diễn ngôn (Trần Thuần dịch), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn
Tác giả: Brown G. – Yule G
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
4. Phan Kế Bính (2005),Việt Nam phong tục, NXB Văn hóa Thông tin, 390 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
6. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1981
7. Đỗ Hữu Châu (1987), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1987
8. Đỗ Hữu Châu (2000), “Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ”, T/c Ngôn ngữ, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ”, "T/c Ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 2000
9. Nguyễn Văn Chiến (1982), Đối chiếu ngôn ngữ Đông Nam Á, Trường ĐHSP Ngoại ngữ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu ngôn ngữ Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Năm: 1982
10. Mai Ngọc Chừ (2009), Văn hóa và ngôn ngữ phương Đông, NXB Phương Đông, 545 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và ngôn ngữ phương Đông
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2009
11. Trần Văn Cơ (2007), Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ), NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2007
12. Đặng Trần Côn (1741), Chinh phụ ngâm khúc, dịch thơ Nôm Đoàn Thị Điểm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chinh phụ ngâm khúc
13. Nguyễn Đức Dân (1986), “Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ - sự vận dụng”, T/c Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ - sự vận dụng”, "T/c Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1986
14. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, Tập I, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1998
15. Trịnh Bá Dĩnh (2011), Chủ nghĩa cấu trúc trong Văn học, Công ty Truyền thông Hà Thế liên kết NXB Hội nhà văn, 460 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa cấu trúc trong Văn học
Tác giả: Trịnh Bá Dĩnh
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2011
16. Hữu Đạt (2000), Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2000
17. Ferdinand de Saussure (1973), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, NXB Khoa hoc xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học đại cương
Tác giả: Ferdinand de Saussure
Nhà XB: NXB Khoa hoc xã hội
Năm: 1973
18. Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng học tiếng Việt, NXB Đại học và THCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học và THCN
Năm: 1985
19. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ và nhận diện từ tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và nhận diện từ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
20. Nguyễn Thiện Giáp (1997), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
21. Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w