Nguyễn Duy Tạo (2000) đã nghiên cứu khá hệ thống nội dung cơ chế quản lý tài chính đối với các trƣờng đào tạo công lập, từ quy trình lập dự toán đến phân bổ chi tiêu, cơ chế giám sát…[r]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
NGUYỄN THỊ THANH GIANG
TỰ CHỦ TÀI CHÍNH
Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
NGUYỄN THỊ THANH GIANG
TỰ CHỦ TÀI CHÍNH
Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ TRUNG THÀNH
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT Error! Bookmark not defined
DANH MỤC CÁC BẢNG Error! Bookmark not defined
DANH MỤC HÌNH VẼ Error! Bookmark not defined
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐẠI HỌC 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 5
1.1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 6
1.2 Cơ sở lý luận về tự chủ tài chính đại học Error! Bookmark not defined
1.2.1 Khái niệm và vai trò của tự chủ tài chính đại họcError! Bookmark not defined 1.2.2 Nội dung của tự chủ tài chính đại học ở Việt NamError! Bookmark not defined
Kết luận chương 1 Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨUError! Bookmark not defined 2.1 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined
2.2 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu Error! Bookmark not defined
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu Error! Bookmark not defined
2.2.2 Thời gian thực hiện nghiên cứu Error! Bookmark not defined
2.3 Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu Error! Bookmark not defined
2.3.1 Giả thuyết nghiên cứu Error! Bookmark not defined
2.3.2 Khung lý thuyết Error! Bookmark not defined
2.3.3 Quy trình thực hiện nghiên cứu Error! Bookmark not defined
Kết luận chương 2 Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TỰ CHỦ TÀI CHÍNH Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ
NỘI Error! Bookmark not defined
3.1 Tổng quan về đại học Quốc gia Hà Nội Error! Bookmark not defined
Trang 43.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Error! Bookmark not defined
3.1.2 Cơ cấu tổ chức Error! Bookmark not defined
3.1.3 Cơ sở pháp lý cho tự chủ tài chính ở ĐHQGHNError! Bookmark not defined
3.2 Thực trạng tự chủ tài chính ở đại học Quốc gia Hà NộiError! Bookmark not defined
3.2.1 Những kết quả đạt được Error! Bookmark not defined
3.2.2 Những khó khăn, tồn tại, hạn chế Error! Bookmark not defined
Kết luận chương 3 Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH TỰ
CHỦ TÀI CHÍNH Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIError! Bookmark not defined
4.1 Quan điểm định hướng về tự chủ tài chính đại học ở đại học Quốc gia Hà NộiError! Bookmark not defined
4.1.1 Định hướng tự chủ tài chính đại học ở Việt NamError! Bookmark not defined
4.2.2 Định hướng tự chủ tài chính ở Đại học Quốc gia Hà NộiError! Bookmark not defined
4.2 Một số giải pháp đẩy mạnh tự chủ tài chính ở ĐHQGHNError! Bookmark not defined
4.2.1.Nhóm giải pháp về cơ chế tài chính đối với đại học:Error! Bookmark not defined
4.2.2 Nhóm giải pháp về phân bổ kinh phí Error! Bookmark not defined
4.2.3 Nhóm giải pháp về thực hiện cơ chế thí điểm về xã hội hóa các ngành
đào tạo theo hướng chất lượng đào tạo tương xứng với học phí.Error! Bookmark not defined
4.2.4 Nhóm giải pháp về cho phép ĐHQGHN thí điểm xây dựng cơ chế Quỹ
đối với vốn KHCN và khoán đối với vốn KHCN.Error! Bookmark not defined
4.2.5 Nhóm giải pháp về xây dựng quỹ phát triển sự nghiệp chung của toàn
ĐHQGHN Error! Bookmark not defined
4.2.6 Nhóm giải pháp về tự chủ trong tích tụ, đầu tư, và tự chủ điều chuyển
các nguồn lực cho phát triển Error! Bookmark not defined
Kết luận chương 4 Error! Bookmark not defined
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined
TÀI LIỆU THAM KHẢO 8
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trước xu hướng phát triển của nền kinh tế tri thức trên thế giới ngày nay, giáo dục luôn được coi là quốc sách hàng đầu Các quốc gia luôn tìm kiếm chiến lược cho cải cách, đổi mới giáo dục, coi giáo dục là chìa khóa cho phát triển kinh tế - xã hội Đối với giáo dục đại học, theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, thập kỷ qua "giáo dục đại học thế giới lâm vào khủng hoảng" Chính vì vậy, cải cách giáo dục đại học đã
và đang đặt ra với hầu hết các quốc gia trên thế giới Nhiều hội nghị, hội thảo, chương
trình nghị sự được đưa ra, nhưng đặc biệt chủ điểm quan trọng nhất là Tài chính và
Quản trị chất lượng Nguyên nhân của sự khủng hoảng trên thì có nhiều, song tựu
chung chủ yếu là do: 1) Xu thế phát triển nhanh về quy mô khiến giáo dục đại học trở thành "đại trà" mà không có ngân sách nhà nước nào gánh nổi"; 2) Chi phí bình quân cho sinh viên tăng nhanh (Chi phí đơn vị - Unit cost) hơn tốc độ phát triển của nền kinh tế" Giáo dục đại học ở Việt Nam thời gian qua có sự phát triển nhanh Số lượng các trường đại học, số lượng sinh viên tăng Tuy nhiên, cũng như các nước đang phát triển khác, Việt Nam đối mặt với bất cập về cơ chế tài chính nào hiệu quả cho các trường đại học phát triển; đặc biệt là các trường công lập Năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có "Đề án đổi mới giáo dục đại học giai đoạn 2006-2010" trong
đó có đề cập đến đổi mới cơ chế tài chính theo hướng tự chủ Đề án là bước triển khai cụ thể của Luật Giáo dục 2005 Cùng với đó là một số các văn bản nhằm thúc đẩy vấn đề này: Nghị định 75/2006/NĐ-CP, ngày 2/8/2006 của Chính phủ quy định
và hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục; Nghị quyết 05/2005/NQ-CP, ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao; Nghị định 43/2006/NĐ-CP, ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế
và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Và gần đây là Nghị quyết ố
77/NQ-CP, ngày 24/10/2014 và Nghị định số 16/2015/NĐ-77/NQ-CP, ngày 14/2/2015 quy định về
cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập
Trang 6Tuy nhiên, qua thời gian thực hiện, cho thấy một số bất hợp lý, trong đó có vấn đề về tài chính là: " ngành giáo dục không có điều kiện đánh giá hiệu quả chi của Nhà nước cho giáo dục trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về việc
sử dụng kinh phí cho giáo dục từ ngân sách và của người dân (qua học phí) sao cho hiệu quả việc mở rộng quy mô đào tạo không gắn với tính toán về hiệu quả tài chính; Có sự phân bổ ngân sách không hợp lý, không giám sát được hiệu quả chi cho giáo dục "( Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2007, trang 5) Và trong Hội thảo chuyên
đề về tự chủ đại học tháng 11/2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đặt ra: "tất yếu phải
có giải pháp cho tự chủ tài chính ở các trường đại học của Việt Nam Tự chủ đại học, đặc biệt là tự chủ tài chính sẽ là mấu chốt của nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và sức cạnh tranh, vì người học của các trường đại học Việt Nam"
Với phân tích ở trên cho thấy việc nghiên cứu tìm cơ chế cho tự chủ tài chính đại học có ý nghĩa rất quan trọng Bên cạnh việc cần có cơ chế tự chủ tài chính chung cho toàn hệ thống giáo dục đại học, thì việc nghiên cứu cơ chế tự chủ tài chính cho một số trường hợp điển hình, đặc thù làm thí điểm từ đó đúc rút kinh nghiệm, nhân rộng là hết sức cần thiết
Đại học Quốc gia là mô hình đại học hai cấp, chịu sự quản lý trực tiếp của Chính phủ thông qua các bộ ngành Là mô hình mới, đặc thù, có tính tự chủ rất cao Chính vì vậy, cần thiết phải có những giải pháp cho việc đổi mới cơ chế tài chính làm đòn bẩy cho các đại học quốc gia phát triển
Từ những kiến thức đã tích lũy được qua quá trình học tập, nghiên cứu ở
Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN, tôi lựa chọn đề tài "Tự chủ tài chính ở Đại
học Quốc gia Hà Nội" làm đề tài tốt nghiệp luận văn thạc sỹ của mình
Câu hỏi nghiên cứu:
- Tự chủ tài chính ở ĐHQGHN như thế nào ? Những vấn đề đặt ra trong hoạt động của ĐHQGHN liên quan đến tự chủ tài chính ?
- Các giải pháp nào nhằm thúc đẩy tự chủ tài chính ở ĐHQGHN trong thời gian tới ?
Trang 72 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tìm kiếm các giải pháp thúc đẩy tự chủ tài chính ở Đại học Quốc gia Hà Nội nhằm khai thác các lợi thế tự chủ cao của mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động tạo nên sự phát triển đột phá
- Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về cơ chế quản lý tài chính, tự chủ tài chính đại học + Nghiên cứu thực trạng cơ chế tài chính hiện nay của Đại học Quốc gia Hà Nội + Đề ra các giải pháp nâng cao tính tự chủ về tài chính vì mục tiêu phát triển mạnh ở Đại học Quốc gia Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến cơ chế và quản lý tài chính đại học, tự chủ tài chính đại học
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về nội dung: Do thời gian và giới hạn của luận văn thạc sỹ, tác giả
đi sâu nghiên cứu cơ chế, chính sách về tự chủ tài chính ở Đại học Quốc gia Hà Nội thông qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống văn bản quản lý điều hành của Đại học Quốc gia Hà Nội
+ Phạm vi thời gian: Trong phạm vi khuôn khổ của nghiên cứu, giới hạn khoảng thời gian nghiên cứu từ thời điểm có Luật Giáo dục Đại học (2005) đến nay + Phạm vi không gian: Nghiên cứu lựa chọn ở Đại học Quốc gia Hà Nội
4 Những đóng góp mới của đề tài
Đề tài được nghiên cứu với mong muốn có những đóng góp sau:
- Tổng quan và hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn về tự chủ tài chính đại học nói chung và tự chủ tài chính ở Đại học Quốc gia Hà Nội nói riêng
- Phân tích được những vấn đề bất cập cần đổi mới về tự chủ tài chính ở Đại học Quốc gia Hà Nội làm cơ sở cho tư vấn giải pháp
- Đề ra được những giải pháp tư vấn cho Nhà nước và bản thân Đại học Quốc gia Hà Nội về tự chủ tài chính
Trang 8- Ngoài ra, Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý đại học, các nhà hoạch định chính sách
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn được chia thành 4 chương :
- Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về tự chủ tài chính đại học
- Chương 2 Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
- Chương 3 Thực trạng tự chủ tài chính ở Đại học Quốc gia Hà Nội
- Chương 4 Quan điểm định hướng và giải pháp đẩy mạnh tự chủ tài chính ở Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ
CHỦ TÀI CHÍNH ĐẠI HỌC
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, xu hướng các trường đại học được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm là phổ biến và tất yếu Do vậy, tự chủ đại học nói chung và TCTC nói riêng đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả, nhà nghiên cứu và nhà quản trị đại học Có thể kể đến một số nghiên cứu cơ bản như sau:
Malcolm Prowle và Eric Morgan (2005) đã đề cập đến vấn đề quản lý và kiểm
soát tài chính đối với giáo dục đại học; các quan điểm của hai nhà khoa học là cẩm nang nghề nghiệp của những người quản lý tài chính trong các trường đại học ở Mỹ
Khi nghiên cứu các trường đại học Pháp, Cazenave (1992) cho rằng vấn đề
TCTC của trường đại học là trạng thái pháp lý, ngân sách của nhà trường, quy trình lập dự toán; việc bầu chọn và quyền quyết định của hiệu trưởng; chỉ định thủ quỹ; thành phần, nhiệm vụ của hội đồng trường và sự kiểm soát của nhà nước Ngoài ra Cazenave cũng nhấn mạnh vấn đề liên quan trực tiếp tới TCTC là quyền tuyển dụng nhân sự, quyền trả lương , khả năng mua hoặc xây mới và duy tu các tòa nhà bằng tiền của trường, hệ thống NSNN Như vậy, Cazenave tiếp cận với tổ chức GDĐH
và quyền TCTC của tổ chức GDĐH như là một đơn vị có cả nguồn lực tiền tệ và phi tiền tệ, bao gồm nguồn tài chính công, nhân viên, các công trình khoa học và sở hữu cơ sở vật chất, thiết bị
Esterman, T & Pruvot, E.B (2011) cho rằng các nhân tố ảnh hưởng đến tự
chủ, TCTC, bao gồm: Cơ chế quản lý, kiểm soát, cách tài trợ ngân sách Sự năng động, sáng tạo, cơ cấu tổ chức, hình thức pháp lý, quyền sở hữu, trách nhiệm giải trình, sự đa dạng nguồn tài chính của các trường Theo Esterman, T (2011) các nguồn tài chính của nhà trường, bao gồm: tài trợ công; thu phí, học phí; hợp đồng với khu vực tư nhân, doanh nghiệp và các tổ chức khác; hoạt động từ thiện; thương
Trang 10mại, cung cấp dịch vụ và thu khác (như tiền thuê cơ sở vật chất, phục vụ nhà ở, căng tin, thư viện, trông giữ xe…); thu nhập từ hoạt động tài chính Trong cơ cấu nguồn thu, tài trợ công chiếm đa số (tới 75% ở đại học Châu Âu); tiếp đến là học phí (chiếm 15%); nguồn thu bổ sung khác (chiếm 10%) Về cơ cấu chi phí, chủ yếu chi cho biên chế (60%-90% tổng chi phí của đại học Châu Âu) Tài trợ công cấp theo cơ chế khoán (như cấp trực tiếp, đồng tài trợ, cạnh tranh); nhiều trường được
tự quyết định mức thu học phí
Arben Malaj, Fatmir Mema, and Sybi Hida (2005) cho rằng điều kiện và giải
pháp để nâng cao tự chủ, TCTC cho nhà trường là Nhà nước phải cụ thể hóa nó trong điều khoản của pháp luật Muốn hạn chế sự phát sinh rủi ro đạo đức (cán bộ quản lý sử dụng quyền lực cho lợi ích cá nhân) thì Nhà nước phải có các biện pháp
ưu đãi, xử phạt rõ ràng về hành vi của người ra quyết định Cơ quan công quyền đóng vai trò then chốt thúc đẩy tự chủ, TCTC, giúp các trường vượt qua những thách thức tài chính (như đơn giản hóa các nguyên tắc, thủ tục hành chính, xây dựng tiêu chí phân bổ tài trợ theo phương thức cạnh tranh ; có chính sách ưu đãi thuế với cá nhân, tổ chức đóng góp từ thiện ; khuyến khích các trường thu hút nguồn tài chính từ khu vực tư nhân bằng cơ chế đồng tài trợ Loại bỏ các rào cản pháp lý, đảm bảo nguồn lực tài chính và con người của nhà trường được huy động cho mục tiêu giảng dạy, NCKH chất lượng cao
1.1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, vấn đề tự chủ đại học nói chung và TCTC nói riêng đã được nghiên cứu qua khá nhiều công trình NCKH cũng như các hội thảo, diễn đàn Ở đây, tác giả xin được tập trung đề cập đến các nghiên cứu về TCTC
Nguyễn Duy Tạo (2000) đã nghiên cứu khá hệ thống nội dung cơ chế quản lý
tài chính đối với các trường đào tạo công lập, từ quy trình lập dự toán đến phân bổ chi tiêu, cơ chế giám sát… Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu là cơ chế quản lý tài chính ở các trường công lập nói chung nên tác giả không phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp cho các trường công lập với mô hình riêng với những đặc thù
Trang 11Trần Thị Thu Hà (1993) phân tích về hiện trạng cơ chế quản lý ngân sách cho
toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Tuy nhiên, một số nội dung nghiên cứu và kết luận không còn phù hợp bởi sau 15 năm tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam đã
có nhiều thay đổi và những yếu tố tác động đến cơ chế quản lý tài chính và quản lý giáo dục cũng có nhiều khác biệt
Đặng Văn Du (2004) đã phân tích về đầu tư tài chính cho đào tạo đại học Tác
giả đã xây dựng các tiêu chí phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo đại học ở Việt Nam, qua đó phân tích thực trạng đầu tư tài chính và đánh giá hiệu quả của chúng qua các tiêu chí được xây dựng Tác giả cũng đã đề xuất hệ thống giải pháp tương đối toàn diện và có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả đầu
tư tài chính đại học ở nước ta
Lê Phước Minh (2005) nghiên cứu chính sách tài chính cho GDĐH Trên cơ
sở tổng hợp lý luận và thực tiễn về chính sách tài chính cho GDĐH trong và ngoài nước, tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng chính sách tài chính cho giáo dục ở Việt Nam, đồng thời làm rõ các cơ hội, thách thức và đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tài chính cho GDĐH ở nước ta
Phùng Xuân Nhạ và các cộng sự (2012) nghiên cứu chính sách học phí trong
bối cảnh đổi mới cơ chế tài chính, hướng tới nền giáo dục đại học tiên tiến, tự chủ Theo các tác giả, việc áp mức trần học phí theo quy định tại Nghị định
49/2010/NĐ-CP của Chính phủ tại các trường được giao cơ chế tự chủ về tài chính là chưa hợp
lý Các tác giả đề xuất, đối với các ngành nghề có khả năng xã hội hóa cao (ví dụ tài chính, ngân hàng, thương mại v.v…), nên xây dựng lộ trình cho phép các cơ sở đào tạo tự xác định mức học phí, đảm bảo tự cân đối kinh phí đào tạo Ngân sách nhà nước tiết kiệm được từ những ngành nghề này chuyển sang góp phần thực hiện cơ chế nhà nước đặt hàng đối với các ngành nghề đào tạo ít có khả năng xã hội hóa (ví
dụ, khoa học cơ bản, nghệ thuật, điện hạt nhân, đào tạo giáo viên sư phạm v.v ), với mức giá đặt hàng được tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo Để thực hiện việc cải cách học phí và cơ chế cấp phát ngân sách nhà nước vừa nêu, các tác giả đề xuất thực hiện đồng thời hai giải pháp Thứ nhất là xây dựng và phê duyệt đề án tự chủ