1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở khoa học xây dựng bộ giáo trình chuẩn đào tạo đại học luật lê minh tâm chủ nhiệm đề tài

322 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 322
Dung lượng 29,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

M Ụ C L Ụ CBÁO CÁO TỎNG THUẬT KẾT QUẢ NGHIÊN c ử u Mở đầu Phần th ứ nhất: Những vấn đề lý luận về giáo trình đại học, giáo trình chuẩn và vấn đề xây dựng bộ giáo trình chuẩn đào tạo đại

Trang 1

B Ộ T ư P H Á P

00 SỐ KHOẫ HệS,x

XÂY ĐỰNG Bộ GIÁO TBÌii m m i

sẳe TẠO Đậi pẹc LUẬT8* » w 05

C a ả ĩihỉệm dể t à i : GS.TS Lê M inh Tâm

T!nr ký đề tài : TS, N guvễa Q uõc K oàn

H À N Ô I - 2008

Trang 2

BỘ Tư PHÁP

f>€ rm NGHlễN cứu KHOA HỌC CẤP Bộ

TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUÂT HÀ NỘI PHÒNG ĐỌC - J k U j Ậ -

Chủ nhiệm đề tài : GS.TS Lê Minh Tâm Thư ký đề tài : TS Nguyễn Quốc Hoàn

HÀ NỘI - 2008

Trang 3

M Ụ C L Ụ C

BÁO CÁO TỎNG THUẬT KẾT QUẢ NGHIÊN c ử u

Mở đầu

Phần th ứ nhất: Những vấn đề lý luận về giáo trình đại học, giáo

trình chuẩn và vấn đề xây dựng bộ giáo trình chuẩn đào tạo đại học luật

Phần thứ hai: Thực trạng giáo trình đào tạo đại học luật trong các

cơ sở đào tạo luật ở nước ta hiện nay

Phần thứ ba: Mục tiêu, yêu cầu và quan điểm xây dựng một số

giáo trình chuẩn của một số môn học đào tạo đại học luật

Phần thứ tư: Kiến nghị và một số giải pháp

GS TS Lê Minh Tâm

3 v ề những đặc trưng của giáo trình chuẩn dành cho hệ đào tạo đại học luật ở Việt Nam• • • •

PGS.TSKHLê Cảm

4 Thực trạng của bộ giáo trình dùng để giảng dạy trong một số

cơ sở đào tạo đại học luật tại Việt Nam• • • • • •

TS Trương Quang Vinh

Trang 4

5 Giáo trình trong các cơ sở đào tạo luật ờ một số nước trên thế 140

giới và một vài đề xuất ban đầu

GS TS Lê Hồng Hạnh

6 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới giáo trình môn học 152

Lý luận về nhà nước và pháp luật ở các cơ sở đào tạo đại học

luật ở nước ta hiện nay

TS Hoàng Thị Minh Sơn

14 Giáo trình Luật quốc tế trong đào tạo đại học luật ở nước ngoài 289

TS Nguyễn Quốc Hoàn

15 Nâng cao hiệu quả dạy học thông qua việc áp dụng bài giảng 303điện tử

TS Tôn Quang Cường

Trang 5

BÁO CÁO TổlMG THUẬTKẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u

Trang 6

M Ở Đ À U

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong hệ thống các sách được dùng trong trường đại học, bao gồm: Sách giáo trình, sách chuyên khảo, sách tham khảo, sách hướng dẫn, sách bài tập, thực hành thì giáo trình bao giờ cũng có vị trí đặc biệt quan trọng Giáo trình là tài liệu chính thức, chứa đựng những kiến thức cơ bản nhất của mỗi môn học, học phần được biên soạn một cách công phu, khoa học, có hệ thống, phù hợp mục tiêu, yêu cầu, phương pháp đào tạo và trình độ nhận thức của sinh viên Cũng chính vì thế mà trong trường đại học, bộ giáo trình chuẩn được coi là dấu hiệu thể hiện năng lực và uy tín của đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu khoa học của mỗi trường và là một trong những tiêu chí cơ bản để đánh giá và kiểm định chất lượng đào tạo của trường đại học Với ý nghĩa và tầm quan trọng đó, mỗi trường đại học đều có hướng xây dựng và không ngừng hoàn thiện bộ giáo trình chuẩn của mình

Công tác đào tạo đại học luật nước ta có sự chậm trễ lớn so với các lĩnh vực đào tạo khác, vì vậy việc phát triển các yếu tố bảo đảm chất lượng đào tạo nói chung, trong đó có việc xây dựng hệ thống giáo trình tài liệu còn hạn chế Mặc dù, trong những năm vừa qua Trường Đại học Luật Hà Nội và một số cơ sở đào tạo luật khác ở nước ta đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng các giáo trình đào tạo đại học luật và đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, có thể nói chất lượng của nhiều giáo trình đào tạo đại học luật đang được sử dụng trong các cơ sở đào tạo luật ở nước ta hiện nay còn thấp, thậm chí rất thấp Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này như: chưa có sự quan tâm và đầu tư đúng mức, năng lực và trình độ của người viết còn hạn chế, chế độ nhuận bút thấp Nhưng trước hết phải kể đến là cho đến nay chúng ta vẫn chưa có được kế hoạch và giải pháp khả thi cho việc xây dựng bộ giáo trình chuẩn đào tạo đại học luật và việc nghiên cứu để xây dựng cơ sở khoa học cho việc xây dựng, đánh giá thẩm định giáo trình

Trang 7

dường như còn bỏ ngỏ hoặc mới dừng ở ý tưởng của một sổ nhà lãnh đạo,

nhà giáo, nhà khoa học có tâm huyết với công tác đào tạo luật

Trong tình hình đó, việc triển khai nghiên cứu một cách toàn diện để

hình thành cơ sở khoa học nhằm xây dựng và hoàn thiện bộ giáo trình chuẩn

đào tạo đại học luật là nhu cầu có tính thời sự, cấp thiết và có nhiều ý nghĩa

đối với đào tạo đại học luật ở nước ta hiện nay Đặc biệt, với chủ trương đổi

mới giáo dục đại học mà một trong những nhiệm vụ trọng tâm là chuyển từ

chế độ đào tạo theo niên chế sang chế độ đào tạo theo học chế tín chỉ, việc

xây dựng một bộ giáo trình chuẩn đào tạo đại học luật sẽ có vai trò quan

trọng trong đào tạo đại học luật ở nước ta hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về

giáo trình, giáo trình chuẩn đào tạo đại học luật và xây dựng luận cứ khoa

học cho việc xây dựng bộ giáo trình chuẩn đào tạo đại học luật ở nước ta

trong giai đoạn hiện nay

3 Nhu cầu kinh tế - xã hội và địa chỉ áp dụng

■ Kết quả nghiên cứu của đề tài trước hết sẽ được sử dụng để xây

dựng bộ giáo trình chuẩn đào tạo đại học luật của Trường Đại học Luật Hà

Nội, góp phần thiết thực cho việc thực hiện đổi mới nội dung chương trình

và phương pháp đào tạo của Trường Đại học Luật Hà Nội, nâng cao chất

lượng đào tạo và nâng cao uy tín của Trường Đại học Luật Hà Nội

■ Kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị thiết thực cho việc thẩm

định hệ thống giáo trình của các cơ sở đào tạo đại học luật ở Việt Nam nhằm

thực hiện thống nhất Chương trình khung đào tạo ngành luật do Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành để áp dụng chung cho các trường đại học

đào tạo luật ở Việt Nam.• • •

• Kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo cho các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam trong việc đánh giá lại hệ thống giáo trình của cơ sở

mình và tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống giáo trinh mới vừa bảo

Trang 8

đảm tính thống nhất vừa bảo đảm tính phong phú và đa dạng của hệ thống

giáo trình tài liệu phục vụ cho đào tạo đại học luật và các bậc học khác

4 Phương pháp nghiên cửu

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm: Phân tích, tổng

hợp, khảo sát thực tiễn, thống kê, so sánh và hệ thống hóa

5 Các chuyên đề được nghiên cứu chính của đề tài

- Tính chất, đặc điểm, nội dung và hình thức của giáo trình đào tạođại học

- Bộ giáo trình chuẩn đào tạo đại học luật - quan niệm, tiêu chí, giá

trị và phạm vi sử dụng

- v ề những đặc trưng của giáo trình chuẩn dành cho hệ đào tạo đại

học luật ở Việt Nam

- Thực trạng của bộ giáo trình dùng để giảng dạy trong một số cơ sở

đào tạo đại học luật tại Việt Nam.• • • • • t

- Giáo trình trong các cơ sở đào tạo luật ở một số nước trên thế giới

và một vài đề xuất ban đầu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới giáo trình môn học Lý

luận về nhà nước và pháp luật ở các cơ sở đào tạo đại học luật ở nước ta

hiện nay

- Xây dựng giáo trình chuẩn Luật Hiến pháp

- Cơ sở khoa học xây dựng giáo trình Luật hành chính - chương trình

đại học

- Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng giáo trình môn Luật dân sự

- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - thực trạng và hướng hoàn thiện

- Xây dựng giáo trình chuẩn Luật thương mại - lý luận và thực tiễn

- Quan điểm về việc xây dựng giáo trình Luật lao động chuẩn

Trang 9

- Phương pháp và kỹ năng viết giáo trình Luật tố tụng hình sự trong đào tạo đại học luật.

- Giáo trình Luật quốc tế trong đào tạo đại học luật ở nước ngoài

- Nâng cao hiệu quả dạy học thông qua việc áp dụng bài giảng điện tử

6 Lực lượng tham gia đề tài

6.1 Ban chủ nhiêm đề tài

- Chủ nhiệm đề tài: GS TS Lê Minh Tăm - Trường Đại học Luật Hà Nội.

- Thư ký đề tài: TS Nguyễn Quốc Hoàn - Trường Đại học Luật Hà Nội.

6.2 Các cộng tác viên tham gia viết các chuyên đề

- GS.TS Lê Hồng Hạnh - Trường Đại học Luật Hà Nội

- GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa - Trường Đại học Luật Hà Nội

- PGS.TSKH Lê Cảm - Đại học Quốc gia Hà Nội

- TS Bùi Ngọc Cường - Trường Đại học Luật Hà Nội

- PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Đại học Quốc gia Hà Nội

- PGS.TS Nguyễn Văn Động - Trường Đại học Luật Hà Nội

- TS Lưu Bình Nhưỡng - Trường Đại học Luật Hà Nội

- TS Trần Minh Hương - Trường Đại học Luật Hà Nội

- PGS.TS Thái Vĩnh Thắng - Trường Đại học Luật Hà Nội

- Trường Đại học Luật Hà Nội

- TS Hoàng Thị Sơn - Trường Đại học Luật Hà Nội

- TS Trương Quang Vinh - Trường Đại học Luật Hà Nội

- TS Tôn Quang Cường - Đại học Quốc gia Hà Nội

TS Pham Côna Lac

Trang 10

Phần thứ nhất

NHỮNG VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VỀ GIÁO TRÌNH ĐẠI HỌC,• • • 7

GIÁO TRÌNH CHUẨN VÀ VÁN ĐÈ XÂY DựNG

B ộ GIÁO TRÌNH CHUẨN ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC LUẬT

1.1 Giáo trình - khái niệm và những đặc điểm cơ bản

Trong đào tạo bậc đại học, giáo trình có vai trò quan trọng và là một trong những tài liệu có ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo, bởi lẽ nó chứa đựng lội dung kiến thức cơ bản - tiêu chí đặt ra đòi hỏi sinh viên trong quá trình 1ỌC tập phải lĩnh hội Tùy theo tính chất đặc thù của từng môn học, ngàiứ học mà mỗi giáo trình được biên soạn với nội dung và hình thức không giống nhau Tuy nhiên, việc biên soạn một bộ giáo trình chuẩn phục

vụ ch) việc đào tạo là cần thiết đối vói bất cứ cơ sở đào tạo nào Chất lượng của gáo trình thể hiện năng lực chuyên môn, năng lực đào tạo và khả năng nghiêi cứu khoa học của cơ sở đào tạo Bên cạnh giáo trình - tài liệu được

sử dụig chính thức trong các cơ sở đào tạo thì các tài liệu khác cũng có vai trò ỉứất định

Có nhiều loại sách, tài liệu giảng dạy được sử dụng cho quá trình giảng dạy, học tập và nghiên cứu trong các trường đại học như giáo trình, sách 'iáo khoa, sách chuyên khảo, tập bài giảng trong đó giáo trình có một

vị trí và vai ừò đặc biệt quan trọng Hiện nay, có những quan niệm khác nhau về vị trí, vai trò của giáo trình trong hệ thống tài liệu được sử dụng trong các trường đại học Thậm chí, còn có những câu trả lời khác nhau đối với ctu hỏi: "Giáo trình được sử dụng trong các cấp đào tạo nào, đại học hay

cả đạ học và trung học chuyên nghiệp?" Tuy nhiên, các nhà giáo dục đều

có chmg một quan niệm giáo trình là tài liệu chính thức, chứa đựng những kiến hức cơ bản nhất của mỗi môn học (hoặc học phần), được biên soạn một :ách khoa học, có hệ thống nhằm đạt những mục tiêu nhất định của

Trang 11

chương trình đào tạo, định hướng cho phương pháp dạy - học và kiểm tra đárứi giá kết quả môn học (học phần) đối chiếu với mục tiêu ấy.

Vì vậy, giáo trình, nói một cách khái quát nhất, là một loại sách được biên soạn theo từng môn học (học phần) để sử dụng chính thức trong các khoa, trường đại học Giáo trình có một số đặc điểm cơ bản là1:

Thứ nhất, về cấu trúc nội dung, giáo trình luôn có tính bao quát và

tính hệ thống Nội dung của giáo trình bao gồm các kiến thức cơ bản, toàn diện, phổ biến và tương đối ổn định của một môn học (học phần), được biên soạn một cách khoa học với hệ thống kiến thức được sắp xếp hợp lý, phù hợp với yêu cầu giảng dạy và học tập của môn học Mỗi môn học (học phần) trong chương trình đào tạo đều có những mục tiêu xác định, hay nói cách khác, mỗi môn học đều nhằm cung cấp những kiến thức, kỹ năng cần thiết đáp ứng mục tiêu của chương trình đào tạo Vì vậy, giáo trình phải phù hợp với nội dung và mục đích của mỗi môn học (học phần) và phải đáp ứng được mục tiêu chung của chương trình đào tạo nói chung

Dung lượng kiến thức được trình bày trong mỗi giáo trình là vừa đủ, không thừa cũng không thiếu so với mục tiêu và yêu của của môn học (học phần) Tổ chức nội dung của giáo trình có ba bậc gồm: Khối kiến thức cốt lõi - cần biết đây là khối kiến thức bắt buộc cho tất cả sinh viên nhằm đạt mục tiêu cơ bản nhất của môn học; Khối kiến thức hữu ích - nên biết là khối kiến thức dành cho sinh viên ham học hỏi, muốn tìm hiểu sâu thêm vấn đề đang nghiên cứu; Khối kiến thức bổ trợ - có thể biết là khối kiến thức giới thiệu các vấn đề liên quan tới chủ để đang nghiên cứu, giúp sinh viên hiểu rõ hơn lịch sử của vấn đề hay xu thế phát triển của vấn đề trong tương lai

Thứ hai, giáo trình là tài liệu chính thức của khoa, trường đại học

Việc biên soạn, lựa chọn và cho sử dụng giáo trinh do người có thẩm quyền của cơ sở đào tạo quyết định Thông thường, giáo trình do cá nhân hoặc tập thể giảng viên và các nhà khoa học có uy tín trong lĩnh vực chuyên ngành

1 Ở lây chỉ xin nêu nhũng đặc trưng chung của giáo trình để so sánh với các sách và tài liệu khác.

Trang 12

biên soạn và được Hội đồng khoa học của cơ sở đào tạo thẩm định và được

cơ sở đào tạo quyết định việc sử dụng chính thức giáo trình đó trong việc giảng dạy và nghiên cứu của cơ sở đào tạo

Thứ ba, về hình thức, giáo trình được in dưới hình thức trang trọng,

có đủ các yếu tố cần thiết của một tài liệu chính thức của cơ sở đào tạo

Với những đặc trưng đã nêu, theo đúng nghĩa của từ, thì giáo trình chỉ có trong các cơ sở đào tạo đại học, mặc dù trên thực tế khái niệm giáo trình thường được dùng để chỉ cả những tài liệu chính thức được dùng trong các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề Nhiều nhà khoa học đồng

ý với quan niệm này Ví dụ, theo GS Văn Tân, thì "Giáo trinh là tập những

bài giảng về một bộ môn trong trường đại học”2 Còn GS Vũ Ngọc Khánh

thì định nghĩa: "Giáo trình là tài liệu giảo khoa được biên soạn và sử dụng

trong từng khoa, từng trường đại học, chưa được nhà nước phê duyệt làm sách giáo khoa chung cho cả nước'ữ.

Một điểm đáng chú ý là, bên cạnh tính cơ bản, toàn diện, phổ biến, chính thức, chuẩn mực và tương đối toàn diện, giáo trình còn có tính gợi mở

và tính định hướng Việc xác định mức độ và cân đối các đặc tính nói trên của giáo trình như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu, yêu cầu nội dung đào tạo của các trường đại học và cách nhìn nhận, thể hiện các vấn đề của người có trách nhiệm của cơ sở đào tạo và các tác giả biên soạn giáo trình Vì vậy, trong cùng một môn học hay học phần, có thể có nhiều giáo trình khác nhau được sử dụng trong các cơ sở đào tạo đại học Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa sách giáo trình với sách giáo khoa và các tài liệu khác

1.2 Giáo trình chuẩn - quan niệm và tiêu chí xác định

Chương trình đào tạo đại học có nhiều môn học/học phần khác nhau, được chia thành hai khối kiến thức chủ yếu là: Khối kiến thức giáo dục đại cương và khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp Đây chỉ là sự phân chia về

2 Xem: Vần tân, Từ điển Tiếng Việt, NXB KHXH, Hà Nội, 1994, tr.351.

3 GS.Vũ Ngọc Khánh, Từ điển Vàn hoá giảo dục Việt Nam, NXB Thông tin, Hà Nội 2003, tr 133.

Trang 13

đại thể và có tính ước lệ Trong khối kiến thức giáo chuyên nghiệp lại bao gồm ba khối kiến thức đó là: Kiến thức cơ sở của khối ngành, kiến thức cơ

sở của ngành và kiến thức chuyên ngành Đi sâu hơn, trong khối kiến thức chuyên ngành lại có kiến thức chuyên nghiệp và kiến thức bổ trợ, các môn học/học phần bắt buộc và các môn học/học phần tự chọn Hơn thế, trong

xu hướng giáo dục đại học hiện đại, mỗi khoa, trường đào tạo đại học phải luôn chủ động tìm tòi, sáng tạo để điều chỉnh mục tiêu, phát triển nội dung, chương trình và đổi mới phương pháp đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo trong nước và hội nhập quốc tế Vì vậy, quan điểm của người quản lý cơ

sở đào tạo, của hội đồng khoa học đào tạo cũng như của cán bộ giảng dạy trong mỗi cơ sở đào tạo về vị trí, vai trò, mục tiêu, dung lượng kiến thức, phương pháp giảng dạy môn học/học phần trong chương trình đào tạo có thẻ cũng khác nhau Tất cả những điều đó đều tác động đến công tác xây dựng giáo trình, đặc biệt là quan niệm về giáo trình chuẩn

Từ sự phân tích trên, có thể thấy khái niệm giáo trình chuẩn chỉ có tính tuơng đối và nó chỉ phù hợp khi được vận dụng trong phạm vi bộ môn, khoa, trường đào tạo đại học Ở phạm vi rộng hơn, khái niệm giáo trình chuẩn được hiểu tương đồng với khái niệm sách giáo khoa Việc xác định các t êu chí của giáo trình chuẩn do bộ từng bộ môn, khoa, trường đề ra, phù hợp với mục tiêu, chương trình và phương pháp đào tạo của mỗi cơ sở đào tạo Tuy nhiên, bộ môn, khoa, trường đều là những bộ phận của hệ thống giáo dục quốc gia và suy rộng hơn là của hệ thống giáo dục quốc tế và luôn chịu sự tác động và ảnh hưởng của các yếu tố chung Vì vậy, mặc dù mỗi cơ

sở đao tạo có thể có những tiêu chí riêng đối với trình chuẩn của cơ sở mình, nhưr.g cũng luôn phải tính đếri đến các tiêu chí chung đối với một giáo trình đại học

Giáo trình chuẩn đào tạo đại học phải đáp ứng được các tiêu chí churg cơ bản là: (i) tính học thuật; (ii) tính thực tiễn; (iii) tính mở; (iv) Tính liên chông; (v) tính truyền thống và tính hiện đại; (vi) tính hấp dẫn; (vii) tính

Trang 14

phù hiợp với mục tiêu, chương trình và phương pháp đào tạo; (viii) có cấu trúc khoa học và hình thức trang trọng.

i Tính học thuật Đây là giá trị hàng đầu của giáo trình đại học

Tính học thuật đòi hỏi, giáo trình phải thể hiện được những kiến thức khoa học C'ó tính lý luận cơ bản, toàn diện, phổ biển và tương đối ổn định của một

bộ môn khoa học với hệ thống khái niệm, luận điểm, nguyên tắc, phương pháp có tính chất chìa khóa, nhằm để trang bị cho sinh viên phương pháp tư duy lchoa học về môn khoa học, trên cơ sở đó sinh viên có thể chủ động định hướng và tự học hỏi mở rộng kiến thức, nâng cao trình độ không ngừng

ii Tỉnh thực tiễn Tính thực tiễn của giáo trình thể hiện trên hai bình

diện, hai hướng, hai phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề có liên hệ rất mật thiết với nhau: Từ thực tiễn để luận chứng, khái quát hóa thành lý luận (khái niệm, luận điểm, nguyên tắc, phương pháp và kinh nghiệm) và từ những khái quát về lý thuyết để xem xét, bình luận, nhận xét về những vấn

đề thực tiễn để chứng minh và gợi mở

iiL Tỉnh mở Tính mở của giáo trình là tiêu chí vừa có tính khách

quan lại vừa có tính chủ quan; vừa là nhu cầu lại vừa là đòi hỏi Vì giáo trình chỉ có thể và chủ yếu là phải chứa đựng những vấn đề có tính cơ bản, toàn diện, phổ biến và tương đối ổn định của một bộ môn khoa học, vì vậy tính gợi mở của giáo trình là cần thiết để hướng dẫn sinh viên chủ động học hỏi, tham khảo mở rộng kiến thức và nâng cao trình độ Mặt khác, giáo trình

có tính thực tiễn, nó phải phản ánh hơi thở của cuộc sống, mà đời sống xã hội thì biến đổi không ngừng, việc đổi mới và hoàn thiện giáo trình luôn được đặt ra không thể định vị và cầu toàn Hơn nữa, tính gợi mở sẽ tạo ra một tâm lý tốt cho người dạy và người học, tạo động cơ và thái độ không ỷ lại vào giáo trình mà luôn có ý thức tìm tòi khám phá không ngừng

iv Tính liên thông Giáo trình không phải là tài liệu duy nhất được

sử dụng trong quá trình giáo dục đại học Mỗi loại tài liệu như sách tham khảo, chuyên khảo, hướng dẫn, bài tập đều có vị trí và vai trò quan trọng

Trang 15

Vì vậy, giáo trình cần thể hiện đúng những nội dung thiết yếu, cần thiết, việc soạn thảo giáo trình cần tính đến mối quan hệ tương hỗ, phụ thuộc lẫn nhau giữa giáo trình với các loại sách và tư liệu khác.

V Tính truyền thống và tỉnh hiện đại Đây là tiêu chí phản ánh giá

trị văn hóa của giáo trình Tiêu chí này đòi hỏi ngườỉ biên soạn giáo trình phải có sự hiểu biết sâu rộng những kiến thức lý thuyết, thực tiễn, kinh nghiệm, biết chọn lọc, kế thừa và phát triển các yếu tố hợp lý và sắp xếp các vấn đề một cách khoa học, để bảo đảm cho giáo trình có chất lượng và có sức hấp dẫn

vi Tính hấp dẫn Đây là một trong những tiêu chí quan trọng Có

thể nói một cách hình ảnh rằng, người viết giáo trình như một thày thuốc, các kiến thức mang tính học thuật, tính thực tiễn, tính mở, tính liên thông, tính truyền thống và hiện đại, tính thời sự như những vị thuốc bổ quý giá Nhưng nếu không có phương pháp tốt để sử dụng các vị thuốc đó một cách họp lý thì cũng không thể có được một thang thuốc bổ cao cấp Vì vậy, tính hấp dẫn của giáo trình luôn được đặt ra để bảo đảm giáo trình có chất lượng

và được đón nhận nồng nhiệt, tạo động cơ cho việc giảng dạy và học tập, thu hút sự chú ý và tạo cơ sở cho sự năng động và sáng tạo trong giảng dạy và học tập

vii Tính phù hợp với mục tiêu, chương trình và phương pháp đào

tạo Đây vừa là tiêu chí chung, vừa là tiêu chí riêng Vì tùy thuộc vào mục

tiêu, chương trình, phương pháp đào tạo của các khoa, trường đại học vừa có thống nhất ở những nét chung, vừa mang những đặc điểm riêng của mỗi cơ

sở Theo đó, tính chất, nội dung, hình thức của giáo trình luôn phải đáp ứng những yêu cầu chung và riêng đó

viìi Có cẩu trúc khoa học và hình thức trang trọng Đây là tiêu

chí không đơn thuần chỉ là về mặt kỹ thuật mà còn chứa đựng yếu tố khoa học sâu sắc Bởi vì, hình thức của giáo trình luôn là hình thức biểu hiện cụ thể của nội dung Giáo trình có cấu trúc bên trong khoa học là sự thể hiện rõ

Trang 16

nét của nội dung khóa học của giáo trình Hình thức trang trọng thể hiện tính chính thức và tính văn hóa của giáo tình, góp phần quan trọng vào việc tạo

ra tâm lý tôn trọng giá trị đích thực của giáo trình trong quá trình giáo dục đại học

Ngoài những tiêu chí trên, giáo trình chuẩn đại học luật còn có tiêu chí đặc thù đó là phải bảo đảm tính pháp lý Tính pháp lý được quán triệt và xuyên suốt trong tất cả các vấn đề từ nội dung, phương pháp tiếp cận, đến cách thức và ngôn ngữ biểu đạt nữa

1.3 Giáo trình chuẩn đào tao đai hoc luât• • • •

1.3.1 Giáo trình đào tạo đại học luật ở các cơ sở đào tạo đại học m • m m i • •

luật nước ngoài và sự cần thiết của việc xăy dựng giáo trình chuẩn đào tao đai hoc luât ở Viêt Nam• * • • «

Chương trình đào tạo cử nhân luật được coi là đào tạo cơ bản ở bậc đại bọc và vì thế phổ biến ở các cơ sở đào tạo ở nhiều nước trên thế giới Mỗi trường đều có những chương trình đào tạo với những đặc thù và thế mạnh riêng có những tương đồng nhất định Thông thường các chương trình đào lạo trong các trường cùng một hệ thống pháp luật như Common Law hay Civil Law thì có nhiều nét tương đồng hơn Những chương trình đào tạo

cử rủân luật được thực hiện dựa trên sự kết họp nhiều yếu tố khác nhau trong đó giáo trình và tài liệu có vai trò đặc biệt quan ừọng Tầm quan trọng của giáo trình tài liệu đối với các chương trình đào tạo ở nhiều nước thể hiện

ở mệt số điểm sau:

Thứ nhất, đa số các cơ sở đào tạo cử nhân luật ừên thế giới đều

hướrg quá trình đào tạo vào việc tự học của sinh viên Sinh viên được hướrg dẫn tự nghiên cứu nhiều hơn so với lên lớp nghe giảng Việc tự học của :inh viên đòi hỏi phải có hệ thống sách tham khảo, giáo trình đầy đủ Việc so sánh các chương trình đào tạo của một số cơ sở đào tạo ở các nước với chương trình của Trường Đại học Luật sẽ thấy rõ điều này

Trang 17

Thứ hai, việc đảm bảo cho sinh viên có được những giáo trình cần

thiết buộc giảng viên hoặc phải tự mình biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo hoặc phải tìm hiểu, đọc và giới thiệu cho sinh viên hoặc cung cấp cho

họ dưới dạng tài liệu phát tay (hand-out) Hệ quả của quá trình này là trách nhiệm của giảng viên được nâng cao Tình trạng một bài giảng được sử dụng lặp đi lặp lại trong nhiều khóa đào tạo không thể xảy ra

Giáo trình luật được coi là một trong những loại tài liệu mà sinh viên luật cần phải được trang bị khi theo học ở các chương trình đào tạo cơ bản (đào tạo cử nhân) Tuy nhiên, cách tiếp cận và vai trò của giáo trình không giống nhau ở các môn học Thông thường ngay ở các môn học được coi là bắt buộc, giáo trình cho các môn học khác nhau vẫn không được qui định thống nhất Chẳng hạn, Luật Hiến pháp được coi là môn bắt buộc cho chương trình đào tạo cử nhân luật và môn học này do các giáo sư khác nhau đảm nhiệm Trong trường họp này Luật Hiến pháp I do giáo sư A đảm nhiệm, còn Luật Hiến pháp II do giáo sư B đảm nhiệm Sinh viên có thể đăng ký theo lớp học giáo sư A hoặc giáo sư B giảng dạy Sinh viên theo học các môn học này có thể được yêu cầu sử dụng một hoặc hai giáo trình nhất định nào đó rất khác nhau Việc chỉ định giáo trình, đúng hơn là sách nào cần đọc hoàn toàn do giáo sư A hay B xác định Ngoài ra, các tài liệu

khác zỏ thể được giáo sư A hay B giới thiệu và sinh viên cũng buộc phải đọc

các tai liệu đó Nhìn chung, sinh viên ở các trường đại học ở nước ngoài, nhất là đại học luật, phải đọc một số lượng tài liệu rất lớn Tại Trường Luật Harvard, sinh viên thường phải đọc từ 120 đến 150 trang sách mỗi ngày, có khi con nhiều hơn

Quan niệm giáo trình khá khác nhau ở mỗi nước Giáo trình (texữook) được coi là sách được sử dụng chính thức cho việc dạy và học một nôn học nhất định trong các trường học4 Theo định nghĩa này và cũng như t'ong thực tế giảng dạy và học tập ở các trường đại học ở nhiều nước thì

4 Ameican Heritage Dictionary Thừd Edition Houghton Miffin Company Page 1857.

Trang 18

giáo trình không nhất thiết phải do cơ sở đào tạo biên soạn và phát hành, không nhất thiết phải do một hội đồng nào đó của cơ sở đào tạo thông qua Trong chương trình các môn luật của các cơ sở đào tạo ở Australia như Trường đại học Quốc gia Australia (Australian National University), Đại học Canbera (University of Canbera); Trường đại học New South Wales (University o f New South Wales), Đại học Melboume5 (University of Melboume) đều không xác định tài liệu chính thức cho môn học Các môn học được liệt kê chi tiết với thời lượng và nội dung cụ thể, giáo sư hay giảng viên thực hiện môn học đó Ví dụ, trong chương trình đào tạo thạc sĩ về luật công ty và chứng khoán, Trường đại học Melboume đã liệt kê chi tiết 30 môn học như kế toán dành cho luật sư, giao dịch mua bán công ty, Thương mại điện

tử, Luật chứng khoán, Tài chính công ty v.v Trường cũng liệt kê các giáo sư trong và ngoài nước tham gia thực hiện các môn giảng này Không một chỉ dẫn nào về tài liệu chính thức mà sinh viên buộc phải sử dụng khi theo học chương trình thạc sĩ chuyên về luật công ty và chứng khoán này6

Trong các chương trình đào tạo của Đại học Harvard cũng có tình trạng tương tự Trong toàn bộ các chương trình đào tạo ở các cấp học khác nhau, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ, Trường cũng chỉ liệt kê các môn học, thời lượng, các yêu cầu đối với việc tích lũy kiến thức chứ không hề có bất cứ chỉ dẫn nào về tài liệu giáo trình được sử dụng chính thức trong các môn học Chương trình đào tạo thiết kế cho cho năm học 2004-20057 liệt kê 400 môn học về các chuyên ngành khác nhau bao gồm 40 môn về luật tổ chức kinh doanh, thương mại và tài chính, 30 môn học về luật hiến pháp và lý luận về pháp luật; 15 môn học về luật hình sự v.v không có chỉ dẫn nào về tài liêu sử dụng chính thức cho môn học

Trong chương trình đào tạo của Đại học Quốc gia Singgapo, chúng

ta cữig chỉ có thể tìm thấy các môn học, các yêu cầu của môn học và tên

5 Xen Studying lavv in Australia 2005 CALD 2004 IưSN 1038-975X.

6 Law2004 Postgraduate Handbook Faculty of Law, Ưniversity o f Melboume.

7 http//www Jaw.harvard.edu/academics/regisfrar/catalog/

Trang 19

tuổi các giáo sư, giảng viên sẽ đảm nhiệm môn học đó Trong toàn bộ những liệt kê về môn học của các chương trình đào tạo khác nhau (cừ nhân, thạc sĩ, tiến sĩ) không có chỉ dẫn nào về tài liệu mà sinh viên cần phải mua, mượn hay vào thư viện để đọc8.

Khác với ở các nước đã nêu, trong chương trình đào tạo của cẩc trường đại học tại Liên bang Nga thì có các chỉ dẫn về tài liệu Có lẽ ảnh hường của mô hình đào tạo dưới thời kỳ Xô viết vẫn còn để lại những dấu

ấn sâu đậm Trước đây, trong các chương trình giảng dạy ở các trường đại học trong thời kỳ Xô viết, sinh viên được thông báo những yêu cầu cụ thể của mòn học và tài liệu chính thức, tài liệu tham khảo mà sinh viên phải tìm kiếm cể đọc Đối với các môn thuộc khoa học chính trị Mác - Lênin, tài liệu• • • • 7 •tham khảo chính thức là các tác phẩm kinh điển và giáo trình được qui định trong chương trình Đối với các môn luật thì tài liệu học tập chính thức là các giao trình luật được xác định trong chương trình

Việt Nam cũng có tinh trạng giống như ở Liên bang Nga Sinh viên lụật ợ các cơ sở đào tạo của Việt Nam học theo các giáo trình được chọn làm tà liệu chính thức Sinh viên phải theo đúng các kiến thức được thể hiện trong giáo trình Các kiến thức này thường được coi là chuẩn ở mức độ nhất định Việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên được xác định căn cứ vào mức tiếp thu các kiến thức từ giáo trình Việc mở rộng kiến thức ra ngoài phạm /i giáo trình không được khuyến khích, thậm chí chứa đựng rủi ro bị giảng àên cho điểm kém

Như vậy, có thể thấy rõ một sự khác nhau khá xa trong cách tiếp cận vấn đe học liệu ở các nước Đối với một số nước (không nhiều) các cơ sở đào tạo xác định giáo trình chính thức của môn học được sử dụng Sinh viên buộc Ịhải học theo giáo trình này có kèm theo một số tài liệu, giáo trình khác nang tính chất tham khảo Mỗi môn học gần như chỉ có một giáo trình được (họn chính thức Cách tiếp cận này đối với vấn đề học liệu có những

8 Xem ỉttp://law.nus.edu.sg/currenƯcourse/compulsory.htm

Trang 20

ưu đi'ểm của nó Ưu điểm dễ nhận thấy là nó tạo ra được sự thống nhất giữa nhữn.g người dạy về nội dung của môn học hay môn học Để đánh giá mức

độ tiếp thu của sinh viên thì giáo trình chính thức cũng tạo ra được sự thống nhất mhất định và đó chính là ưu điểm thứ hai

Thứ ba, việc biên soạn giáo trĩnh chính thức về cơ bản là do đội ngũ

giảng viên của cơ sở đào tạo thực hiện và do Hội đồng khoa học và đào tạo (hay định chế tương tự) xem xét và hiệu trưởng quyết định Thực tế này dẫn đến một hệ quả tích cực là giảng viên được thu hút sâu hơn vào hoạt động nghiên cứu tài liệu và chuẩn bị giảng dạy

Tuy nhiên, cũng có thể thấy ngay là cách tiếp cận này có những hạn chế rất lớn Hạn chế đáng lưu ý nhất là khả năng tiếp cận của sinh viên đối với những thành tựu của khoa học pháp lý rất thấp Bị gò trong những kiến thức đã module hóa, sinh viên không muốn vươn đến những tri thức khác Tiếp đó, bản thân giáo viên cũng chỉ biết đến giáo trình của mình, chăm lo cho nó kể cả từ việc bảo vệ các quan điểm đến việc tiêu thụ sách Tình trạng giảng viên buộc sinh viên phải mua sách của mình soạn ra không phải là điều hiểm thấy trong thực tiễn của Việt Nam và của các cơ sở đào tạo luật Một hạn chế tiếp theo là việc sử dụng giáo trình chính thức của một trường tạo ra một tính cục bộ, sự thiếu năng động trong việc tiếp thu những thành tựu từ các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khác Trong khi có những giáo trình, những chuyên khảo do các nhà khoa học nổi tiếng biên soạn về một môn khoa học cụ thể không được sử dụng thì nhiều cơ sở đào tạo lại buộc các giảng viên vừa mới tốt nghiệp biên soạn giáo trình riêng Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của cách tiếp cận này đối với vấn đề học liệu là sự thụ động của sinh viên trong việc tự học tập và nghiên cứu

Chính vì những hạn chế này, phần lớn các cơ sở đào tạo trên thế giới không chọn giải pháp buộc phải có giáo ừình chính thức cho các môn học Các cơ sở đào tạo này đặt ra các yêu cầu rất chi tiết đổi với mỗi môn học Ngiười học và người dạy phải làm sao đạt được những yêu cầu đó, còn cách

Trang 21

thức làm sao đạt được chúng thì hoàn toàn do giảng viên quyết định Ví dụ, trong chương trình đào tạo luật của Đại học Melboume việc học môn học Luật môi trường quốc tế cần đáp ứng các yêu cầu sau:

- Người học cần đánh giá được nhu cầu đối với Luật môi trường

- Hiểu biết các nguyên tắc cơ bản, các quan điểm cơ bản của Luật môi trường quốc tế;

- Phân tích một cách có phê phán sự đóng góp của các án lệ và hiệp ước, các định chế vào sự phát triển của luật môi trường quốc tế;

- Chỉ ra được các điểm yếu của chế độ môi trường quốc tế hiện tại và phương thức khắc phục chúng, hoàn thiện luật môi trường quốc tế

- Phát triển kỹ năng tư duy pháp lý phê phán, nghiên cứu pháp lý thông qua việc đánh giá các vấn đề liên quan đến luật môi trường quốc tế

Nội dung của môn học cũng được xác định khá cụ thể Những vấn

đề cơ bản của môn học này là: Nhu cầu đối với luật môi trường quốc tế và

sự phát triển của nó; các nguyên tắc và quan điểm cơ bản cần cho việc nhận thức luật môi trường quốc tế; các định chế, các chủ thể bị lôi cuốn vào việc định hình và thực thi luật môi trường quốc tế; các án lệ và các hiệp ước chủ yếu về luật môi trường quốc tế; sự liên quan của luật môi trường quốc tế đối với Australia về các vấn đề như thay đổi khí hậu, di sản thiên nhiên, đa dạng sinh học

Một lý do khác là hiện nay ở các cơ ở đào tạo, những môn học mà chúng ta quen gọi là ngành khoa học luật được chia nhỏ thành các môn học khác nhau Việc chia nhỏ này nhằm tạo cho người học chọn không phải toàn

bộ môn học mà chỉ những phân có liên quan tới chuyên ngành của mình để học Những môn học nhỏ này có độ liên thông khá cao giữa các cơ sở đào tạo nên việc lựa chọn chúng để học thay thế

Trang 22

dễ dược thực hiện Ví dụ môn, người nào theo học chuyên ngành luật hình

sự ở Trường đại học Luật Havớt sẽ tìm thấy 15 môn học sau đây9:

1 Tố tụng hình sự nâng cao

2 Chứng cứ (môn AI và A2)

3 Chứng cứ (của B l, B2, và B3)

4 Chứng cứ

5 Luật hình sự Liên bang

6 Luật sư công

7 Luật hình sự quốc tế;

8 Vai trò của công tố;

9 Nhập môn về bào chữa: Tư pháp hình sự

10 Nhập môn về bào chữa: Triển vọng của hoạt động công tố

11 Lịch sử pháp luật: Lịch sử Luật Tố tụng hình sự Mỹ

12 Các vấn đề về khủng bố;

13 Nghề luật: Chiến thuật, Đạo đức trong tranh tụng hình sự;

14 Khủng bố trong thế kỷ 21

15 Xử lý các chứng cứ khoa học tại tòa án

Nếu ở các cơ sở đào tạo khác có những môn học tương tự thì sinh viên

có thề theo học ở đó nếu vì lý do nào đó không học được ở trường Havớt

Dĩ nhiên, việc chia nhỏ các môn học như thế thì khó có thể đòi hỏi

có giáo trình chính thức vì các môn học thay đổi theo năm học Có môn học năm này được thực hiện song năm sau không được thực hiện do không có ngưci chọn, không có giảng viên thích hcrp hay do giảng viên chuyển sang nơikhác Toàn bộ tài liệu mà sinh viên cần tham khảo đều do giảng viên xác định

9 http//www.law.harvard.edu/academics/registrar/catalog/

Trang 23

và nêu trong chương trình môn học (syllabus) Thông thường, giảng viên hướng dẫn để sinh viên đọc các cuốn sách mà theo họ sinh viên có thể có điều kiệr đáp ứng tốt nhất các yêu cầu mà cơ sở đào tạo đặt ra đối với môn học Bất

cú cuốn sách nào về môn học, bất luận của giáo sư nào, trong nước hay nước ngoài, đều có thể được sử dụng để học theo chỉ dẫn của giảng viên Bên cạnh

đó, những sinh viên nhận thêm bộ tài liệu do các giáo sư thu thập hệ thống hóa Sinh viên nếu không đọc các cuốn sách được giáo sư gợi ý và không đọc tập tài liệu phát trước khi lên lớp thì khó có thể hiểu nổi giáo sư đang giảng điềi gì Khi bị chỉ định nêu quan điểm của mình về các vấn đề mà giáo sư đưa ra trong giờ giảng thì việc không đọc trước tài liệu sẽ đặt sinh viên vào một trạng thái bất lợi về kết quả học tập và cả về danh dự bản thân Không thể lai ba lần giảng viên hỏi đều trả lời không biết hoặc không hiểu sự kiện

mà giảng viên đang đề cập xuất phát từ đâu Như thế, sự đa dạng về tài liệu (đồtg nghĩa vói sự đa dạng về kiến thức) giúp cho sinh viên có một cách nhìn bao quát và đầy đủ hơn kể cả về thực tiễn lẫn lý luận, trong phạm vi một nưóc và cả tầm quốc tế đối với nội dung đang được học tập và nghiên cứu

1.3.2 Giáo trình chuẩn đào tao đai hoc luât ở ViêtNam• • « • •

Với việc tiếp cận vấn đề học liệu của các trong các trường đại học của nhiều nước trên thế giới và thực tiễn đào tạo đại học luật của Việt Nam hiệr nay, vấn đề được đặt ra là có cần hay không cần giáo trình chính thức chotừng môn học trong chương trình đào tạo đại học luật?

Hiện tại, các cơ sở đào tạo luật ở nước ta đã có các giáo trình cho phầi lớn các môn học như Luật tài chính, Luật ngân hàng, Luật hình sự, Luậ tố tụng dân sự v.v Các giáo trình mới của các môn học này cũng đưọ: biên soạn trong thời gian gần đây nhằm đáp ứng với những thay đổi rất lớn rong chương trình đào tạo Với thực trạng đào tạo luật hiện nay, xét cả

về ô i ngũ lẫn các điều kiện khác, việc xác định các giáo trình được sử dụng chocác môn học cụ thể vẫn cần được duy trì Điều này xuất phát từ những

lý ỏ cơ bản sau đây:

Trang 24

Một là, nền khoa học pháp lý của ta chưa phát triển đến mức độ có

thể tạo ra những công trình kinh điển, có giá trị lớn về học thuật ở tầm quốc gia đối với các môn học luật Chẳng hạn, nếu như ở lĩnh vực sử học, ngôn ngữ chúng ta có những công trình lớn của GS Trần Văn Giàu, GS Phạm Huy Thông, GS Vũ Khiêu, GS Nguyễn Tài c ẩ n có thể dùng làm giáo trình hoặc tài liệu học tập chính thức ở nhiều trường mà không gặp phải sự phản ứng nào do thiếu tính chính xác, tính hàn lâm của chúng thì ngược lại ở lĩnh vực luật học chưa có được điều kiện này Điều này cũng

dễ hiểu vì khoa học pháp lý Việt Nam còn quá non trẻ, lại gắn liền với nhiều thay đổi cơ bản trong đời sống, chính trị của đất nước trong hai chục năm vừa qua Trong hoàn cảnh này, việc giáo viên tự chọn ra một vài cuốn sách làm tài liệu chính thức cho việc giảng dạy và học tập một môn luật cụ thể khó tạo ra được sự đồng thuận Sự can thiệp của Hội đồng khoa học và đào tạo hay định chế tương ứng vào vấn đề học liệu là nhằm tạo ra sự đồng thuận đó

Hai là, chương trình đào tạo và cách thực hiện như hiện nay chưa

cho phép giảng viên đại học, thậm chí giảng viên sau đại học tự lựa chọn học liệu cần thiết cho môn giảng của mình Mỗi môn giảng không phải chỉ

do một giảng viên thực hiện mà do 3, 4 người, thậm chí 8, 9 người thực hiện Chính sự tham gia của nhiều giảng viên như vậy dẫn đến nhu cầu phải thống nhất nội dung giảng và tài liệu giảng dạy Giáo trình chính thức của

cơ sở đào tạo có khả năng đáp ứng đòi hỏi này

Ba là, vấn đề phương pháp đào tạo Có thể nhận thấy dễ dàng rằng,

phần lớn các môn học, môn học trong Trường Đại học Luật Hà Nội cũng như các cơ sở đào tạo khác đều được thực hiện theo phương pháp thuyết giảng Giảng viên lên lớp thuyết giảng, thậm chí đọc cho sinh viên những kiến thức được xác định trong giáo trình Bám sát giáo trĩnh được coi như là một yêu cầu bắt buộc đối với người giảng Việc mở rộng kiến thức chỉ có thể xảy ra với giảng viên có kinh nghiệm, chịu khó nghiên cứu và có nhiều

Trang 25

thông tin Việc mợ rộng kiến thức so với giáo trình trong thực tế là không nhiều Tuy ở mức độ đáng kể, các giảng viên của Trường Đại học Luật Hà Nội cũng như ở các cơ sở đào tạo khác đang áp dụng các phương pháp đào tạo mới song về cơ bản thì phương pháp thuyết giảng (lecturing) vẫn đang thắng thế Với phương pháp thuyết giảng, việc buộc sinh viên đọc thêm tài liệu theo hướng dẫn của giảng viên rất hạn chế Giảng viên không có cơ hội kiểm tra xem học viên có tuân thủ yêu cầu đọc tài liệu hay không Trong khi

đó, trong các cơ sở đào tạo ở nước ngoài, với phương pháp đối thoại, giảng theo vần đề hoặc theo tình huống, giảng viên hoàn toàn có cơ hội kiểm tra việc sinh viên có tuân thủ yêu cầu đọc tài liệu và tự phát triển kiến thức của mình hay không Khi thuyết giảng, nhất là trong điều kiện giảm tải thời lượng đứng trên bục như hiện nay, giảng viên không thể có điều kiện kiểm tra việc tự học của sinh viên Dù có yêu cầu sinh viên đọc bài này hay bài kia, song nếu thiếu sự kiểm tra thì giảng viên không thể buộc sinh viên phải thực hiện nhiệm vụ được giao Tính thụ động của giảng viên tất yếu dẫn đến tính thụ động và đối phó của sinh viên trong học tập Tình trạng này có thể nhìn thấy rõ ở nhiều cơ sở đào tạo đại học nói chung và đào tạo đại học luật nói riêng ở nước ta Vì thế, việc chuyển từ chế độ đào tạo theo niên chế sang chế độ đào tạo theo tính chỉ là một trong những giải pháp để khắc phục những hạn chế đó

Thế nào là một giảo trình chuẩn đào tạo đại học luật? Khía cạnh

đầu tién cần xem xét là khái niệm chuẩn "Chuẩn" trong tiếng Việt có nghĩa

là đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định và cũng có nghĩa là hoàn thiện ở mức

độ có thể trờ thành tiêu chí so sánh Từ đó có thể suy ra rằng giáo trình chuẩn là giáo trình đạt đến mức hoàn thiện cao, trở thành giáo trình được sử dụng để xác định mức độ hoàn thiện của các giáo trình khác hoặc giáo trĩnh đáp ứng được những tiêu chuẩn nhất định Hiểu theo nghĩa thứ nhất thì các giáo trình được sử dụng trong các cơ sở đào tạo luật của Việt Nam hiện nay khó được coi là hoàn thiện Chẳng hạn, kết quả khảo sát giáo trình được sử

Trang 26

dụn g tại Đại học Luật Hà Nội được thực hiện năm 199910 cho thấy một số điểm sau đây: Tính hấp dẫn của giáo trình chưa cao Phần lớn các ý kiến khả< 0 sát đánh giá mức hấp dẫn là khả quan hoặc trung bình Độ chính xác khoa học của các giáo trình được đánh giá là khả quan chiếm tỷ lệ cao Phần lớn giáo trình được đánh giá ở mức trung bình theo nhiều tiêu chí khác nhau Những cố gắng của tập thể cán bộ giảng dạy của Trường đã cải thiện một cách đáng kể hệ giáo trình cả về số lượng lẫn chất lượng Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan khó khẳng định rằng các giáo trình của Trường

Đại học Luật Hà Nội chuẩn theo nghĩa hoàn thiện Như vậy, ở thời điểm

hiện nay, chúng ta tìm cách xây dựng các giáo trình chuẩn thì nên hiểu từ khía cạnh này hay không Liệu chúng ta có thể xây dựng được những giáo trình mà các cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào đó để xác định mức độ chuẩn của các giáo trình được sử dụng trong các cơ sở đào tạo khác không? Nếu không thì chuẩn ở đây cần hiểu như thế nào Điều này có nghĩa chuẩn

mà chúng ta nêu ở đây là chuẩn của trường, của ngành hay của quốc gia

ở một khía cạnh khác, "chuẩrì' theo nghĩa đáp ứng các tiêu chí nhất định Việc hiểu chuẩn theo nghĩa này có khá nhiều khía cạnh cần làm rõ:

Các tiêu chí mà giáo trình cần đạt là tiêu chí nào? Trong trường hợp này chúng ta xây dựng giáo trình không phải để đạt đến mức độ trờ thành hình mẫu Rõ ràng chúng ta đang đi tìm hình mẫu để xây dựng những giáo trình Gần có Vậy hình mẫu đó ra sao? Tiêu chí cho hình mẫu đó là gì? Tiêu chí

đó áp dụng cho thời điểm nào? Như vậy, để xác định giáo trình chuẩn, điều quan trọng đầu tiên là xây dựng hệ tiêu chí Để đánh giá giáo trình hay bất

cứ sự vật nào đều cần có hệ tiêu chí Vì thế xây dựng giáo trình chuẩn theo nghĩa này thì cần phải xác định các tiêu chuẩn mà giáo trình cần đạt được Phần trên của báo cáo tổng quan đã đưa ra các tiêu chí của một giáo trình

10 Khảo sát này được Nhóm nghiên cứu đề tài giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội thực hiện năm

1999 Đối tượng khảo sát là sinh viên và cựu sinh viên các hệ đào tạo khác nhau của Trường Các kêt quả được tổng họp từ 163 phiéu nhận lại được Ngoài khảo sát này, hiện nay chưa có cơ sở đào luật nào tạo tiến hành khào sát toàn diện như vậy về giáo trình Thời gian khảo sát tuy đã cách cách đây khá lâu song số liệu của chúng vẫn có giá trị vì nhiều giáo trình tái bản với sự sửa đổi nhỏ.

Trang 27

chuẩn Tuy nhiên, cần phải làm rõ hơn nữa "chuẩn" trong phạm vi đề tài này

là chuân cho sự hoàn thiện hay là các tiêu chuẩn tối thiểu mà giáo trình cần đạt được

Trên cơ sở quan niệm về giáo trình và giáo trình chuẩn nói chung được phân tích ở trên, gắn với những đặc điểm của việc đào tạo đại học luật, chúng tôi cho rằng:

Giáo trình chuẩn dành cho hệ đào tạo Đại học ngành Luật là tài liệu chính ihức dành cho việc giảng dạy, nghiên cứu và học tập mà nội dung của

nổ bac gồm các thông tin và các kiến thức khoa học cơ bản, tiên tiến và đảm bảo c}ất lượng đào tạo ở trình độ Đại học về môn học pháp lý chuyên ngành có liên quan trong lĩnh vực luật học và được thừa nhận chung bòn đa

sổ các nhà khoa học - luật gia thuộc chuyên ngành đó, do cả nhân hoặc tập thể gicng viên (cộng tác viên) của Bộ môn tương ứng biên soạn và được Hội đồng khoa học-đào tạo của cơ sở đào tạo Luật cỏ Bộ môn ấy thẩm định để thông Ịua theo đủng quy trình, đồng thời được một Nhà xuất bản cỏ thẩm

quyền ihát hành theo đúng các quy định chung của pháp luật.

Đào tạo đại học có mục tiêu là giúp cho người học nắm vững được kiến tiức chuyên môn và kỹ năng thực hành về một ngành nghề, có khả năng phát hiện, giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được cào tạo Mỗi chuyên ngành đào tạo đại học khác nhau có những đặc điểm Lhác nhau về nội dung, chương trình, thời gian, phương pháp khác

nhau n vậy các tài liệu được sử dụng trong quá trình đào tạo cũng khác

nhau ĩ)ào tạo đại học luật có những đặc trưng riêng xuất phát từ chương trình„ nục đích và phương pháp Chính vì vậy các tài liệu nói chung và giáo trình rói riêng được sử dụng trong đào tạo đại học luật cũng có những đặc trưng iêng của nó phù hợp với mục tiêu và nội dung của chương trình

Giáo trình đào tạo đại học luật chỉ có thể đạt chuẩn khi đáp ứng được nhữnigtiêu chí của giáo trình đã được phân tích ở trên Tuy nhiên, xuất phát

từ nhíng điểm đặc thù của đào tạo đại học luật, chúng tôi cho rằng, ngoài

Trang 28

việc thỏa mãn những tiêụ chí của một giáo trình chuẩn nói chung, giáo trình đào tạo đại học luật cần phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản sau:

Thứ nhất, giáo trình đào tạo đại học luật phải chứa đựng hệ thống

các khải niệm và quan điểm, quan niệm được xây dựng trên cơ sở khoa học

và đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn pháp luật trở thành những khái niệm, quan ciểm phổ biến trong khoa học pháp lý Hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia được xây dựng trên cơ sở lý luận nhất định vì vậy, để hiểu được các vấn đề của pháp luật thực định cũng như xử lý được những vấn đề có thể nảy sinh trong cuộc sống đòi hỏi sinh viên phải được trang bị nền tảng lý luận khoa học, các quan điểm, quan điểm mà các nhà làm luật dựa vào đó để xây dụng hệ thống pháp luật của mình Vì lẽ đó, nội dung của giáo trình đào tạo đạ học luật phải thể hiện được những kiến thức khoa học, với một hệ thống <hái niệm, luận điểm nguyên tắc phổ biến trong khoa học pháp lý đã được ảr dụng trong thực tiễn xây dựng và áp dụng pháp luật

Thứ hai, giáo trình đào tạo đại học luật luôn gắn liền với những quy

định piáp luật và thực tiễn Việt Nam, có so sánh, đối chiếu với pháp luật và thực tễn nước ngoài Nghiên cứu và giảng dạy pháp luật trước hết là phải nghiêi cứu và hiểu được các quy định của pháp luật thực định, cơ sở lý luận

và thục tiễn của các quy định đó Vì thế, giáo trinh đào tạo luật luôn phải gắn liìn với những quy định của pháp luật và phải là cơ sở cho việc giải quyết những vấn đề mà thực tiễn pháp lý đặt ra

Thứ ba, đảm bảo sự thống nhất giữa các phần khác nhau của một

giáo tình cũng như sự thống nhất giữa các giáo trình của các khoa học pháp

lý khếc nhau Pháp luật là một hệ thống các quy phạm pháp luật, vì vậy, việc nghiêi cứu, giảng dạy pháp luật phải đảm bảo tính hệ thống, không làm mất

đi tím lôgíc và hệ thống chặt chẽ vốn có của toàn bộ hệ thống pháp luật Mặc (ù, hệ thống quy phạm pháp luật được phân định thành các ngành luật

và cái chế định pháp luật khác nhau, nhưng chúng vẫn giữ được mối liên hệ thốmgnhất Vì vậy, việc biên soạn các giáo trình cho từng môn học hoặc học

Trang 29

phần của các khoa học pháp lý đặc biệt là các khoa học pháp lý chuyên ngành luôn phải đảm bảo tính thống nhất để ừánh tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo trong việc nghiên cứu và giảng dạy về nội dung của các quy định pháp luật thực định Bên cạnh đó, các khoa học pháp lý khác nhau luôn có mối liên hệ chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau trong việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận của các quỵ định pháp luật thực định, do đó, hệ thống giáo trình được sử dụng

để đào tạo đại học luật luôn phải đảm bảo mối liên hệ và sự hỗ trợ đó

Thứ tư, giáo trình đào tạo đại học luật phải có sự cân đối giữa trang

bị kiến thức lý luận và khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn Đào tạo đại học luât không đơn giản chỉ là sự cung cấp những kiến thức pháp luật thông thường mà phải giúp cho người học sau khi học xong phải vận dụng được những kiến thức đã học được để giải quyết những vấn đề thực tế của đời sống xã hội đặc biệt là tham gia vào các quá trình pháp luật như xây dựng pháp hạt, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật Vì vậy, nội dung của giao trình đào tạo luật không phải chỉ là những kiến thức pháp luật thuần túy, kiông phải là sự giải thích đơn thuần các quy định của pháp luật thực định nà phải giúp cho người học có được những kỹ năng pháp lý cần thiết cho các hoạt động thực tế

Nói tóm lại, giáo trình đào tạo đại học luật là tài liệu chính thức được

sử dụig để nghiên cứu, giảng dạy trong chương trình đại học luật Nó phải đáp ung được yêu cầu của một giáo trình đại học nói chung Đồng thời, giáo trình cược sử dụng trong đào tạo đại học luật phải phản ánh được những đặc thù cỉa mục tiêu và chương trình đào tạo đại học luật nói riêng

Trang 30

Phần thứ hai

TH ựC TRẠNG GIÁO TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC LUẬT• • • • • •

TRONG CÁC C ơ SỞ ĐÀO TẠO LUẬT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

2.1 Nhận xét chung

Hiện nay, ở nước ta có nhiều cơ sở đào tạo cử nhân luật đó là: Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật thuộc Đại học Huế, Khoa Luật thuộc Đại học Đà Lạt, Khoa Luật thuộc Đại học cần Thơ, Học viện Cảnh sát, Học viện An ninh, Đại học Mở Hà Nội, Khoa luật thuộc Đại học Kinh tế quốc dân

Hàng năm, các cơ sở đào tạo luật thực hiện nhiệm vụ đào tạo hàng nghìn cán bộ pháp lý có trình độ khác nhau ữong đó, chủ yếu là là trình độ đại học Hình thức đào tạo của các cơ sờ này cũng rất phong phú và đa dạng bao gồm: chính quy, tại chức, hoàn thiện kiến thức, đào tạo từ xa, văn bằng II, trung cấp

Qua khảo sát việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập và hệ thống tài liệu được sử dụng trong việc nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo ở các cơ sở này,

có thể có một số nhận xét sau:

Thứ nhất, mặc dù các cơ sở đào tạo ở Việt Nam đã có những cố gắng

nhất éịnh để xây dựng giáo trình và các tài liệu khác phục vụ cho việc nghiên cứu và đào tạo đại học luật nhưng chỉ một vài cơ sở đào tạo lớn mới

có mẹt hệ thống giáo trình tương đối hoàn chỉnh như Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội Đại học Luật Hà Nội - cơ sở đào tạo luìt lớn nhất ở Việt Nam hiện nay có khoảng 40 giáo trình các loại của hầu hít các môn học kể cả những môn học còn khá mới trong chương trình đào tcO cử nhân luật lĩnh vực khoa học còn khá mới mẻ ở Việt Nam như

Trang 31

Luật so sánh1 Nhiều giáo trình đã được xây dựng khá hoàn chỉnh qua nhiều lần tái bản, sửa đổi hoặc bổ sung Thậm chí có những giáo trình đã được viết lại để đáp ứng sự thay đổi của đời sống xã hội cũng như sự phát triển của hệ thống khoa học pháp lý.

Thứ hai, nhiều cơ sở đào tạo cử nhân luật hiện nay vẫn chưa có bộ

giáo trình chính thức của mình mà đang sử dụng bộ giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội và Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội

ở Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh - một trong những cơ sở đào tạo luật lớn ở phía Nam đến thời điểm này, các tài liệu dùng để giảng dạy và tham khảo cho người học chủ yếu là các tập bài giảng của từng giảng viên Trên thực tế, giáo trình của Đại học Luật Hà Nội được xem là nguồn tài liệu chủ yếu để sinh viên tham khảo Ở Khoa Luật Đại học cần Thơ, cũng chưa có bộ giáo trình hoàn chỉnh mà mới chỉ có giáo trình của một số môn học Tuy nhiên, tất cả các giáo trình này mới chỉ là những tài liệu lưu hành nội bộ do các giảng viên tự biên soạn Các môn học còn lại Khoa đều

sử dụng giáo trình của Đại học Luật Hà Nội Tại Khoa Luật thuộc Đại học

Đà Lạt cũng chưa biên soạn một cuốn giáo trình nào Phần lớn giáo trình của các môn học luật là của Đại học Luật Hà Nội và nó được coi gần như là tài liệu chính thức được sử dụng ở đây Ngoài ra, giáo trình của một số cơ sở đào tạo khác cụng được sử dụng nhưng chỉ là những tài liệu tham khảo Tại Khoa Luật thuộc Đại học Huế, mặc dù được thành lập tò năm 1990, nhưng cho đến nay, Khoa vẫn chưa có bộ giáo trình của riêng mình mà chủ yếu sử dụng; bộ giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội Một số môn học mặc

dù đã có tài liệu nhưng chỉ là các tập bài giảng lưu hành nội bộ trong khoa như ttập bài giảng Luật Kinh tế, Tập bài giảng Luật Quốc tế

Thứ ba, một sổ cơ sở đào tạo cử nhân luật đã đưa vào chương trình

giảng dạy một số môn học hoặc chuyên đề có tính đặc thù của vùng, miền nơi mà cơ sở đó đang tham gia đào tạo Đó là thế mạnh của những cơ sở này

11 Giỉáe ừình Luật so sánh của Trường Đại học Luật Hà Nội được xuất bàn lần đầu tiên vào tháng 4/2008.

Trang 32

nhưng cũng chưa có một giáo trình được phổ biến rộng rãi mà mới chỉ dừng lại ở các tập bài giảng hoặc chỉ là giáo trình được lưu hành với một phạm vi rất hạn chế Chẳng hạn, ở Khoa Luật - Đại học cần Thơ, một số môn học-đã

có các tập bài giảng được các giảng viên tự biên soạn như Luật hành chính

đô thị, nông thôn (quản lý nhà nước trong lĩnh vực quy hoạch đô thị, xây dựng đô thị, nông thôn; ở Khoa Luật - Đại học Đà Lạt có các tập bài giảng của các môn như Luật tục, Pháp luật về du lịch, quản lý nhà nước về lâm nghiệp cũng do các giảng viên giảng dạy tự biên soạn Ở Khoa Luật thuộc Đại học Huế, có một số môn học đặc thù đã có tập bài giảng được các giảng viên biên soạn như Hương ước - Qui ước làng văn hóa trong đời sống người Việt xưa và nay; Chính sách pháp luật Việt Nam về quản lý biển và tài nguyên ven bờ

Thứ tư, mặc dù hệ thống giáo trình của các cơ sở đào tạo đại học luật

của Việt Nam chưa hoàn thiện, nhưng chúng đều được các cơ sở đào tạo khác nhau ở Việt Nam sử đụng Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo cũng có tham khảo giáo trình của nước ngoài để xây dựng và hoàn chỉnh chương trình của mình Tuy nhiên, tất cả các cơ sở đào tạo đại học luật ở Yiệt Nam đều không sử dụng giáo trình của nước ngoài để giảng dạy mà chỉ sử dụng

nó như là những tài liệu tham khảo để hỗ trợ cho việc nghiên cứu so sánh

Thứ năm, các cơ sở đào tạo đại học học chưa có hệ thống giáo trình

hoàn chỉnh đều đang có kế hoạch biên soạn giáo trình chính thức của mình-

để phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy ở cơ sở đào tạo của mình Đại học Luật Hà Nội - cơ sở đào tạo đại học luật lớn nhất cả nước mặc dù đã có

bộ g áo trình tương đối đầy đủ nhưng cũng đã có kế hoạch tiếp tục hoàn thiệr bộ giáo trình của mình với việc viết mới một số giáo trình và tiếp tục chỉrủ lý những giáo trình đã xuất bản; Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã có kết hoạch xây dựng hệ thống giáo trình riêng của mình nhưng cho dến nay vẫn chưa được thực hiện một cách hoàn chỉnh Khoa Luật thuộc Đại 1ỌC Cần Thơ có kế hoạch biên soạn một số giáo ừình mới và nâng cấp

Trang 33

một số giáo trình hiện tại của một số môn học mà các giảng viên của Khoa

thực sự có thể mạnh và am hiểu về nó Khoa Luật thuộc Đại học quốc gia

Hà Nội có kế hoạch xây dựng 33 giáo trình của các môn học khác nhau

trong đó có 20 giáo trình của các môn học tương ứng với các chuyên ngành

khoa học luật trong hệ thống pháp luật và 13 môn học tương ứng vófi các

chuyên ngành khoa học trong hệ thống khoa học pháp lý

2.2 Thực trạng giáo trình hiện đang được sử dụng tại một số cơ

sở đào tạo đại học luật• • • •

Những kết quả đã đạt được

Hiện tại, ở các cơ sở đào tạo luật, giáo trình luôn được xem là một

tác phẩm khoa học được sử dụng làm tài liệu giảng dạy và học tập chính

thức ở đại học luật, trong đó chứa đựng một hệ thống các tri thức khoa học

mang tính tổng hợp, cơ bản, khoa học, hiện đại, thực tiễn nhằm trang bị cho

sinh viên những nhận thức chung, phương pháp tư duy đúng đắn và khoa

học về các vấn đề chủ yếu của pháp luật Một cuốn sách chuyên khảo cũng

là một tác phẩm khoa học, nhưng khác giáo trình ở chỗ nó chỉ chứa đựng

một hệ thống các tri thức khoa học về một vấn đề cụ thể trong toàn bộ các

vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của khoa học pháp lý nói chung Các

giáo trình luật học được xây dựng căn cứ vào nội dung, tính chất, nhiệm vụ,

mục yêu, yêu cầu, đối tượng, thời lượng của từng môn học (học phần), cho

nên nội dung của nó đã phần nào phù hợp với những yêu cầu và nhiệm vụ

của việc đào tạo đại học luật

Hệ thống các giáo trình cũng luôn được sửa đổi, bổ sung và cập nhật

phù hợp với những thay đổi của cuộc sống cũng như của hệ thống pháp luật

thực định Điều này cũng xuất phát từ thực tế là, đời sống nhà nước, pháp

luật cũng như đời sống xã hội và tình hình quốc tế luôn luôn vận động, biến

đổi nhanh chóng và nảy sinh nhiều vấn đề mới, trong khi đó, giáo trình của

khoa học pháp lý luôn phải đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn và của

Trang 34

pháp luật thực định đòi hỏi hệ thống khoa học pháp lý phải giải đáp và tạo ra

cơ sở lý luận để giải quyết những vấn đề của thực tiễn Trong bối cảnh đó, nội dung của các giáo trình vừa phải đáp ứng yêu cầu là những tri thức khoa học, hiện đại, vừa phải giữ được tính ổn định tương đổi của mình

Xuất phát từ nhiệm vụ và mục tiêu đào tạo đại học luật, các cơ sở đào tạo đã và đang xây dựng được một bộ giáo trình tương đối hoàn chỉnh

để phục vụ các đối tượng là những người theo học bậc đại học thuộc tất cả các hình thức đào tạo khác nhau Tại các cơ sở đào tạo đại học luật hiện nay, như ờ Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, việc đào tạo ở bậc đại học được tiến hành dưới những hình thức khác nhau như chính qui, tại chức, văn bằng II, hoàn thiện kiến thức Người học thuộc các hệ đào tạo khác nhau có mặt bằng văn hóa phổ thông và văn hóa chuyên môn khác nhau; khả năng tiếp thu kiến thức và tiếp nhận cái mới khác nhau; thòi gian và tâm sức dành cho việc học khác nhau, mục đích học tập và những kiến thức họ cần không hoàn toàn giống nhau Sinh viên hệ chính qui dài hạn có sức trẻ, tiếp thu nhanh, có nhiều thời gian dành cho việc học nhưng lại thiếu kiến thức xã hội

là điều rất quan trọng để có thể nhận thức một cách toàn diện và đầy đủ về khoa học pháp lý Học viên tại chức có nền kiến thức xã hội khá tốt, tuy nhiên họ bị chi phối bởi công việc, gia đình và khả năng tiếp nhận kiến thức mới giảm do tuổi tác và tính bảo thủ Học viên hệ hoàn thiện kiến thức cũng gặp những khó khăn tương tự học viên tại chức Bên cạnh đó, do khoa học pháp lý nói chung và khoa học luật hành chính nói riêng phát triển khá nhanh trong thòi gian gần đây nên việc cập nhật kiến thức mới, nhất là những yếu tố hiện đại, đối với học viên hệ hoàn thiện kiến thức không phải

là dễ dàng Tất cả những điều đó cho thấy việc xây dựng một giáo trình chung phù hợp với tất cả các đối tượng khác nhau là việc rất cần thiết nhưng không đơn giản Tuy nhiên, trên thực tế, tất cả các cơ sở đào tạo luật đều thường sử dụng một cuốn giáo trình cho mỗi môn học làm tài liệu chính thức cho tất cả các loại hình đào tạo khác nhau ở bậc đại học.• • • • •

Trang 35

Một điểm đáng chú ý khác về hệ thống giáo trình của các cơ sở đào tạo đại học luật là các cơ sở đều biên soạn các giáo trình có tính chất gợi mở

để người học có thể tiếp thu kiến thức và tự học, tự nghiên cứu trong điều kiện thời gian lên lớp giảm nhiều mà nội dung cần chuyển tải ngày càng lớn Thời lượng đành cho các môn khoa học pháp lý trong chương trình đào tạo luật ngày càng giảm đi do số lượng các môn học, học phần tăng cùng với lượng kiến thức tăng lên nhưng quỹ thời gian chung cho chương trình đào tạo lại không tăng, thậm chí có xu hướng giảm xuống Điều đó đòi hỏi xây dựng một giáo trình chứa đựng đầy đủ kiến thức cần thiết và dễ hiểu để người học có thể căn cứ vào đó mà tự học và nghiên cứu thêm về những nội dung mà giáo viên không có thời gian giới thiệu trên lớp Chính việc biên soạn các giáo trình có tính chất mờ nên các cơ sở đã khắc phục được khắc phục khó khăn này

Các giáo trình của các cơ sở đào tạo đại học luật đã cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản nhất về các khoa học pháp lý và kỹ năng vận dụng kiến thức đã học được để giải quyết những tình huống cụ thể trong quan hệ xã hội và trong hoạt động hoạt động thực tiễn Mục tiêu của chương trình đào tạo đại học luật nói chung không chỉ là cung cấp cho người học kiến ihức cơ bản về các khoa học pháp lý nhằm giúp họ tiến hành hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, xây dựng pháp luật được thuận lợi mà còn tạo cho ngưa học khả năng vận dụng những điều đã học được vào trong đời sống hàng ngày và trong các hoạt động thực tiễn, đảm bảo cho hoạt động này được tiến hành đúng mục đích mà pháp luật đặt ra, đồng thời trang bị cho họ khả răng tham gia một cách chủ động và hiệu quả vào các hoạt động pháp lý liên cuan đến công việc cụ thể

Các giáo trình đào tạo đại học luật đã được xây dựng theo quan điểm định hướng tự học, tự nghiên cứu, phát triển, mở rộng Xu hướng phổ biến hiện nay là người học không chỉ dừng lại ở việc hoàn tất chương trình đại học Nỉhiều người có nguyện vọng học tiếp ở những bậc học cao hơn, nhiều

Trang 36

ngươi có khả năng và điều kiện để tiến hành hoạt động nghiên cứu, giảng dạy,quản lý Chính vì vậy, một trong những mục tiêu quan trọng của việc xây iựng giáo trình các khoa học pháp lý là ngoài việc cung cấp cho người học dến thức và kỹ năng cần thiết để tiến hành hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, mà còn nhàm vào việc kích thích người học tự nghiên cứu phát triển

mở rộng để phát huy khả năng sáng tạo của người học, trên cơ sở đó tạo cho

họ khả năng và điều kiện đóng góp tích cực vào sự phát triển của khoa học pháp lý nói chung

Các giáo trình đào tạo đại học luật hiện nay đã chuẩn hóa hệ thuật ngữ Khoa học pháp lý là một trong những khoa học xã hội đòi hỏi sự chính xác Sự chính xác ở đây thể hiện rõ nhất là sự đòi hỏi sự chính xác về thuật ngữ Các tác giả biên soạn giáo trình được sử dụng trong đào tạo đại học luật

đã có những cố gắng rất lớn trong việc thể hiện những nội dung của khoa học pháp lý trong một văn phong trong sáng, dễ hiểu Đồng thời, các khái niện, các thuật ngữ pháp lý cũng được giải thích và sử dụng một cách chính xác aiằm giúp cho người đọc có thể hiểu hoặc tra cứu một cách dễ dàng

Nội dung của các giáo trình đào tạo đại học luật cũng đã có được cân đối g.ữa trang bị kiến thức lý luận và khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn 2Ó.C giáo trình luật học đã đáp ứng được mục tiêu của đào tạo đại học

nói ciung và đào tạo đại học luật nói riêng là giúp cho người học nẳm vững

kiến hức chuyên môn và kỹ năng thực hành một ngành nghề, cỏ khả năng phát hiện, giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo'2 Vì thế, trong quá trình xây dựng đề cương và biên soạn giáo trình, các

tác gả cũng đã có những cố gắng trong việc giải quyết những vấn đề vừa man£ tính lý luận khoa học của khoa học pháp lý, vừa cố gắng trang bị cho ngưci học những kỹ năng để có thể vận dụng lý luận vào giải quyết những vấn <ề thực tiễn

12 Đioi 35, Luật Giáo dục.

Trang 37

Bám sát qui định pháp luật và thực tiễn Việt Nam, có so sánh, đối chiếu pháp luật và thực tiễn nước ngoài cũng là một trong những điểm đáng chú ý của các giáo trình đào tạo đại học luật hiện nay Gắn liền với những quy định của pháp luật thực định là một trong rứiững đặc thù của giáo trình đào tạo đại học luật Các qui định của pháp luật và thực tiễn Việt Nam có nhiều nét riêng độc đáo xuất phát từ điều kiện tự nhiên, lịch sử và chính trị,

từ trình độ phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội của Việt Nam Vì vậy, trong quá trình biên soạn giáo trình, các tác giả đã cố gắng bám sát các quy định của pháp luật thực định nhằm tạo ra cơ sở lý luận giúp cho người học có thể vận diụng những kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề từ thực tiễn Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã nghiên cứu, tham khảo, học tập kinh nghiệm nước ngoài, so sánh, đối chiếu để tìm ra những nét tương đồng, những điểm khác biệt nhằm mở rộng tầm hiểu biết và phần nào học tập kinh nghiệm nước ngoài cho người học Chính vì vậy, trong giáo trinh phần nội dung so sánh đã được đề cập đến ở những mức độ nhất định

Đảm bảo sự thống nhất giữa các phần khác nhau trong một giáo trình cũng như sự thống nhất giữa các giáo trình của các môn học hoặc các học phần khác nhau của cùng một hệ đào tạo Trong hệ thống các giáo trình được

sử dụng ừong việc đào tạo đại học luật, các tác giả khi biên soạn cũng đã tham khảo, nghiên cứu các giáo trình khác nhau ữong một hệ thống để đảm bảo các nội dung được trình bày về cùng một vấn đề trong các giáo trình của các môn học khác nhau không bị mâu thuẫn, không bị lặp lại nhằm tạo được tính hấp dẫn của các giáo trình cũng như đảm bảo được tính thống nhất trong việc thực hiện chựơng trình đào tạo đại học luật đáp ứng đòi hỏi của thực tế

Những hạn chế của các giảo trình đào tạo đại học luật

Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong các giáo trình đào tạo đại học luật đã được nêu ở trên, các giáo trình cũng còn có những hạn chế cần khắc phục để đáp ứng một cách tốt hơn yêu cầu của việc đào tạo đại học luật trong điều kiện hiện nay:

Trang 38

Thủ nhất, về nội dung giáo trình.

+ Trong một số giáo trình đang được sử dụng phổ biến hiện nay, nhìng vấn đề mang tính chất lý luận cơ bản của một lĩnh vực khoa học pháp

lý chưa được trình bày để độ đạt tới sự tự hình thành phương pháp luận khoa học và tư duy khoa học trong nhận thức và phân tích các vấn đề về nhà nướ;, pháp luật và chưa tạo ra được khả năng vận dụng lý luận vào việc giải quyẻt những vấn đề cụ thể của thực tiễn Một vài chương trong một số giáo trình đôi khi còn dàn trải, ôm đồm, chưa cô đọng, súc tích hoặc còn nặng giải thích các quy định của pháp luật thực định mà nhẹ về mặt khái quát lý luận để đưa ra những kết luận, quan điểm khoa học cần thiết ở tầm phương pháp luận Chẳng hạn, các giáo trình Luật dân sự hiện nay của các cơ sở đào tạo đại học luật là Trường Đại học Luật Hà Nội, Viện Đại học mở Hà Nội và Khca Luật Đại học Quốc gia Hà Nội vẫn thiết kế theo các giáo trình của Liên Xô trước đây mặc dầu đã hướng theo luật thực định của Việt Nam, phần lớn vẫn chỉ giải thích luật thực định mà chưa tập hợp các quan điểm về cấe Vấn đề lý luận trong Luật dân sự, chưa có định hướng rõ nét cho người học hướng nghiên cứu chuyên sâu, thật sự cũng chưa trở hành cẩm nang cho người học, người tìm hiểu pháp luật; hoặc trong là các chương thuộc giáo trình luật hình sự - Phần các tội phạm, phần kiến thức này ở một số chương mới chỉ thiên về giải thích luật thực định thiéu những vấn đề lý luận mang tính chất khoa học; tương tự như vậy, các giáo trình luật hiến pháp của chúng ta nặng về phân tích pháp luật thực định, thiếu tính chất gợi mở và tranh luận khoa học Giáo trình chưa phải là chiếc cầu nối kiến thức giữa quá khứ và hiện tại, trong nước và nước ngoài, chưa thể hiện được những quan điểm khác nhau hết sức đa dạng, phong phú trên nhiều lĩnh vực, nhiều bình diện của khoa học luật hiến pháp đương đại

+ Một số giáo trình còn thiếu sự cân đối giữa tính chất lý luận với thực ũễn và khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn Nói cách khác, còn không ít chỗ nặng về lý luận kinh viện, nhẹ về lý luận thực hành, nghĩa là lý

Trang 39

luận mang hơi thở cuộc sống sinh động, có khả năng đem đến cho người ta

sự nhận thức liên tưởng thực tiễn cao, từ đó hình thành và bồi dưỡng năng lực vận dụng linh hoạt và sáng tạo lý luận vào thực tiễn để giải quyết những vấn đề cụ thể của thực tiễn

+ Trong một số giáo trình, có một số vấn đề lý luận chưa được xem xét phân tích một cách thấu đáo cho phù hợp với thực tiễn do sự biến đổi của thực tiễn và sự phát triển của khoa học pháp lý, các khoa học khác có liên quan ở trong và ngoài nước, như một số khái niệm trong giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật như chức năng nhà nước; tính chất giai cấp và tính chất xã hội của nhà nước; tính chất giai cấp, tính chất xã hội, các chức năng của nhà nước tư sản đương đại; pháp điển hóa; trách nhiệm pháp lý; Bên cạnh đó, cũng có những vấn đề mới của khoa học pháp lý trong điều kiện hiện nay cần đưa vào nội dung giảng dạy nhưng chưa làm được việc

đó, như nhà nước pháp quyền và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta; vai trò của nhà nước và pháp luật trong xu thế toàn cầu hóa, quốe tế hóa hiện nay; hành vi pháp lý; văn hóa pháp lý; ở một vài giáo trình, một số kiến thức trong giáo trinh là kiến thức cũ của thời kỳ nước ta theo cơ chế hành chính bao cấp, thiếu thông tin và cách nhìn nhận thiếu khách quan

do quan điểm chủ quan duy ý chí Vì vậy một vài chương, đoạn trong giáo trình còn mang tính chất sáo rỗng, xa rời thực tế, học viên không thể tiếp thu được hoặc tiếp thu theo quan điểm của người dạy một cách gượng ép

+ Xét về cấu trúc nội dung, các giáo trình chưa tuân thủ triệt để các

nguyên tắc chung về xây dựng cấu trúc nội dung của giáo trình Trong đó có biểu hiện chưa thể hiện rõ nguyên tắc tổ chức nội dung giáo trình theo các khối kiến thức khác nhau (khối kiến thức cốt lõi, khối kiến thức hữu ích và khối kiến thức bổ trợ) Một số chương trong các giáo trình mới chỉ tập trung chủ yếu vào khối kiến thức cốt lõi mà thiếu khối kiến thức hữu ích và khối kiến thức bổ trợ Trái lại, ở một số giáo trình cũng có biểu hiện mở rộng phạm vi khối kiến thức hữu ích và khối kiến thức bổ trợ ở một số nội dung

Trang 40

+ Một số giáo trình chưa thể hiện được "tính mở" do còn đóng khung trong quan điểm được coi là chính thống, ít có sự so sánh, phê phán Bên cạnh đó, tính kế thừa trong các chương của giáo trình cũng chưa được chú ý đúng mực Do vậy, có sự lặp lại kiến thức thể hiện ở chỗ có nhiều nội dung chỉ lả sự cụ thể hóa một cách đơn giản những kiến thức đã được đề cập ở các chương trước Những hạn chế này có thể gây nhàm chán cho sinh viên, không tạo ra động lực thúc đẩy sinh viên tìm tòi, nghiên cứu

- Đối với hình thức giáo trình

+ Một số giáo trình có kết cấu chưa thật sự hợp lý, thiếu cơ sở khoa học và không bảo đảm được tính liên thông với các môn học pháp lý khác

có mố quan hệ trực tiếp Chẳng hạn, một số nội dung trong giáo trình Lý luận vè nhà nước và pháp luật thiếu sự liên thông với các khoa học pháp lý khác như Lịch sử nhà nước và pháp luật, Luật hiến pháp Ví dụ, phần một cùa giío trình là "Những khái niệm chung" (trong đó có cả bài nhập môn và chỉ bao gồm một số khái niệm về nhà nước, pháp luật mà còn thiếu những khái nệm khác về pháp luật bảo đảm sự liên thông vói các môn học khác) Hơn nia, trong một số giáo trình hiện nay còn một số điểm thiếu thống nhất giữa nột số chương về cách tiếp cận, giới hạn phạm vi thuật ngữ ; chẳng hạn, Luật Hành chính, Luật Tố tụng hành chính và môn Thanh tra và giải quyết chiếu nại, tố cáo có một số thuật ngữ tương tự nhưng được dùng với giới hín phạm vi không hoàn toàn giống nhau

+ Văn phạm và kỹ thuật hành văn còn một số hạn chế ở những đoạn, chỗ klác nhau, cụ thể là: câu, chữ, lời vãn chưa thật sự đúng ngữ pháp tiếng Việt >am, còn cầu kỳ, phức tạp, dài, khó hiểu; lời văn (văn phong) chưa thật sáng sỉa, chưa có tính khoa học và lôgíc cao; chưa nêu được ý nghĩa, tầm quan rọng về lý luận và thực tiễn của vấn đề được trình bày; hoặc đưa ra ngay Ihái niệm mà không lập luận cơ sở khoa học của nó, hoặc có lập luận

cơ sởihoa học rồi mới đưa ra khái niệm nhưng cơ sở khoa học đó không vững 'hấc và thiếu sức thuyết phục; hoặc không đưa ra khái niệm và phân

Ngày đăng: 03/05/2021, 04:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w