1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn y học (HOÀN CHỈNH) góp phần nghiên cứu về thể chất, điều kiện môi trường lớp học và tình hình sức khỏe của học sinh trường THCS trần bội cơ, TP HCM

46 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Góp phần nghiên cứu về thể chất, điều kiện môi trường lớp học và tình hình sức khỏe của học sinh trường THCS Trần Bội Cơ, TP HCM
Trường học Trường THCS Trần Bội Cơ
Chuyên ngành Y học lao động và Môi trường
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2004
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 297,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, ở trong các phònghọc đông người không khí ngoại cảnh càng trở nên ngột ngạt hơn do hoạt động vàchuyển hóa vật chất cũng sinh nhiệt của cơ thể con người.. Nghiên cứu về thể chất

Trang 1

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

****

Từ thập niên 90 cho đến nay, tình hình kinh tế xã hội ở đất nước ta trong thời

kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đã có nhiều thay đổi đáng kể Đời sống vật chất

và tinh thần của nhân dân ngày được cải thiện, chất lượng cuộc sống ngày đượcnâng cao

Thành phố Hồ Chí Minh là một Thành phố đông dân nhất của cả nước, sốlượng học sinh ngày càng gia tăng, số lượng trường học dù đã có được xây thêmnhiều, cũng chưa đáp ứng đủ nhu cầu của thành phố Do đó, một số lớp học ở cáctrường đã có số học sinh quá đông, ảnh hưởng tới sức khỏe và chất lượng học tậpcủa các em

Hiện nay vấn đề cải thiện điều kiện môi trường y tế học đường đang là mộtvấn đề được Bộ Giáo Dục, Bộ Y Tế và lãnh đạo các cấp chính quyền cùng cácphương tiện thông tin đại chúng ở nước ta hết sức quan tâm

Trong các yếu tố môi trường của lớp học trước tiên phải kể đến yếu tố vi khíhậu Nước Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Ở thànhphố Hồ Chí Minh, dù trong mùa mưa hay mùa khô, nhiệt độ trung bình ngày trongphòng cũng xấp xỉ 30oC và độ ẩm cũng tương đối cao Hơn nữa, ở trong các phònghọc đông người không khí ngoại cảnh càng trở nên ngột ngạt hơn do hoạt động vàchuyển hóa vật chất cũng sinh nhiệt của cơ thể con người

Trong hoàn cảnh đó, phương tiện cải thiện điều kiện vi khí hậu thông dụnghiện nay là thông khí bằng quạt máy

Bên cạnh các yếu tố vi khí hậu, vấn đề chiếu sáng cho lớp học cũng hết sứcquan trọng Khoa học “Ergonomie – Khoa học về tiện nghi ở nơi làm việc của conngười” đã chỉ rõ rằng: chiếu sáng đầy đủ kết hợp với bàn ghế đúng tiêu chuẩn sẽlàm cho học sinh thoải mái hơn và làm giảm tỷ lệ mắc bệnh cận thị của các em.Như vậy, phòng học sáng sủa, không khí thoáng mát sẽ làm cho học sinh thoảimái, đỡ mệt mỏi, dễ tiếp thu bài vở Ngược lại phòng học ẩm thấp, thiếu ánh sáng,thông khí kém sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe của các em, và chất lượng học tập sẽ giảmsút

Vì những lý do đã nêu trên, nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu về thể chất,một số vấn đề y tế học đường và tình hình sức khỏe của học sinh trường Trung học

Cơ sở Trần Bội Cơ tại Tp Hồ Chí Minh

Trang 2

Chúng tôi hy vọng rằng những kết luận rút ra trong luận văn này cũng có thể giúp ích cho việc cải thiện tình hình y tế học đường của các trường học tại Tp Hồ Chí Minh và trong cả nước.

Trang 3

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU

****

*Mục tiêu tổng quát:

Góp phần nghiên cứu về thể chất, điều kiện môi trường lớp học và tình hìnhsức khỏe của học sinh trường Trung học cơ sở Trần Bội Cơ, TP Hồ Chí Minh từtháng 5/2003 đến tháng 5/2004

*Mục tiêu chuyên biệt:

1 Nghiên cứu về thể chất của học sinh

2 Nghiên cứu về điều kiện môi trường lớp học; về khí hậu, tình hình chiếusáng, kích thước bàn ghế

3 Nghiên cứu một số vấn đề về tình hình sức khỏe của học sinh

Trang 4

1.1.1 Một số chỉ tiêu đánh giá thể chất con người:

Từ lâu thể chất được coi là một trong những chỉ tiêu nhận dạng và đánh giá sứckhoẻ con người[1,2,4,9,15] Nghiên cứu về thể chất con người không chỉ có nhữngnhà y học mà còn của nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau như[8,19,20,22,26,29,30,31]: Nhân trắc học (Biométrie Humaine), tăng trưởng học(Auxologie), công thái học (Ergonomie)… Nghiên cứu về thể chất không chỉ là nhậnxét đơn sơ về tầm vóc bên ngoài mà nó còn có nhiều ý nghĩa và ứng dụng trong thực tiễnhàng ngày như xây dựng con người chuẩn đặc trưng cho mỗi dân tộc, xây dựng mẫukích cỡ, mẫu quần áo may sẵn, những mẫu đồng phục học đường, mẫu phương tiệnlao động… sao cho tinh tế nhất và tiện nghi nhất Trong nghiên cứu thể chất, người tatìm ra nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá toàn vẹn thể chất một con người, nhưng số đochiều cao và cân nặng vẫn luôn là hai chỉ tiêu quan trọng hàng đầu được WHO theo dõinghiên cứu một cách có hệ thống

Chiều cao đứng của cơ thể con người là một trong những chỉ tiêu rất quantrọng trong hầu hết các điều tra cơ bản về nhân trắc học, nhân chủng học và y học.Chiều cao đứng còn được xem như một trong những chỉ tiêu quyết định để phân biệt cácchủng tộc trên thế giới Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng chiều cao là một đạilượng được qui định bởi gen nhưng lại thay đổi theo thời gian Chiều cao biểu hiệntầm vóc của một người, do đó các nhà y học thường dựa vào chiều cao để đánh giá sức lớncủa trẻ em và tầm vóc của một người Chiều cao thường thay đổi theo chủng tộc,giới tính và chịu một phần ảnh hưởng của môi trường, hoàn cảnh sống của xã hội.Không những thế, chiều cao đứng còn là một trong những đại lượng rất quan trọngtrong trong ứng dụng nhân trắc học và nghiên cứu thiết kế ergonmie Chiều cao đứng

Trang 5

thường được coi như biểu hiện của thể lực nên được coi là một chỉ tiêu quan trọng đánhgiá thể lực trong công tác tuyển chọn vào quân đội, tuyển thợ, tuyển sinh Sự phát triểnchiều cao còn được lưu ý trong tuyển chọn năng khiếu thể dục thể thao đặc biệt trongcác môn cần tốc độ và sự vươn xa như : bơi lội, điền kinh, nhảy xa… ;ngoài ra nó còngiúp đánh giá thể trạng liên quan đến chất lượng cuộc sống, chất lượng con người sinhhọc Chiều cao cơ thể còn giúp các nhà y học lượng giá gián tiếp chức năng thông khícủa phổi bởi chiều cao có mối tương quan thuận với tất cả các thông số hô hấp [32].

Cân nặng cũng như chiều cao, là một số đo quan trọng thường được sử dụngtrong các công trình điều tra về hình thái người Trọng lượng liên quan đến nhiều kíchthước khác nên thường được dùng để đánh giá sự phát triển của cơ thể Đối với cơ thể bìnhthường trong giai đoạn tăng trưởng, trọng lượng cơ thể thường xuyên tăng lên nhưngkhông đồng đều Bước vào thế kỷ XIX, trọng lượng được coi là một chỉ số không thểthiếu được trong công tác tuyển mộ binh lính Trước đây người ta xem cân nặng là mộtđặc điểm quan trọng để đánh giá đầy đủ sự phát triển thể lực Tuy nhiên ngày nay cân nặngchỉ đóng vai trò tiên lượng cho yếu tố thể lực, nhưng lại là yếu tố đánh giá sự phát triểnkinh tế của một quốc gia do trọng lượng có thể quan hệ chặt chẽ với điều kiện kinh

tế xã hội và chịu tác động tức thời của chế độ ăn uống, cũng như liên hệ mật thiết vớitình hình sức khoẻ và bệnh tật của mỗi người Cân nặng cũng ảnh hưởng nhất địnhlên sự phát triển sinh lý của con người như tuổi dậy thì Người ta nghiên cứu rằng khicon người đạt đến một cân nặng qui định sẵn cho mỗi người thì thời kỳ dậy thì sẽ xảy

ra và cũng có một số nghiên cứu cho rằng người mập thì dậy thì sớm hơn người gầy.Cân nặng của một người nói lên mức độ và tỷ lệ sự hấp thu và tiêu hao, một người đượcdinh dưỡng tốt thì sẽ tăng cân, do đó cân nặng nói lên phần nào trình độ phát triển thể lực

cơ thể

Chiều cao và cân nặng là những đại lượng có tính tương đối, tự nó không đủ đưađến một nhận xét về tầm vóc của một con người Vì vậy, các nhà khoa học đã đưa ranhững chỉ số có tính tổng hợp từ nhiều chỉ tiêu nhân trắc học khác nhau Một trong

Trang 6

những chỉ tiêu đó là chỉ số BMI ( Body’s Mass Index) [13,21,23,24,27,28] Chỉ số nàyđược hình thành từ hai chỉ tiêu cân nặng và chiều cao Chỉ số BMI được dùng rộng rãi ởnhiều quốc gia trên thế giới trong việc đánh giá tầm vóc một con người đã trưởng thành(trên 18 tuổi) vì ở lứa tuổi này là lứa tuổi không còn phát triển hay phát triển chậm nênBMI có tính ổn định

1.1.2 Một số nghiên cứu thể chất con người trong và ngoài nước:

Ở Viêt Nam, nghiên cứu đầu tiên về sự tăng trưởng chiều cao và cân nặng ở trẻ

em có lẽ là cuốn “Hình thái học và giải phẫu học mỹ thuật” của Huard và Đỗ XuânHợp (1943) Cuốn sách này đã đặt nền móng đầu tiên cho khoa học nhân trắc học trongnước Tuy nhiên do điều kiện xã hội Việt Nam lúc bấy giờ không cho phép nên nhữngnghiên cứu về tăng trưởng ít dần Đến khoảng 30 năm gần đây ngành nhân trắc học vàtăng trưởng học của Việt Nam mới phần nào hồi sinh với hàng loạt nghiên cứu có giátrị trong và ngoài nước:

Cuốn “Nhân trắc học và ứng dụng trên con người Việt Nam” của tác giảNguyễn Quang Quyền xuất bản 1974 Đây là cuốn sách đầu tay cho các nhà nghiên cứunhân trắc học tại Việt nam, đưa ra các kỹ thuật, các thông số đo người nhằm đánh giá thểchất con người một cách khoa học nhất

“Hằng số học sinh người Việt Nam” với sự chủ trì của giáo sư Nguyễn Tuấn

Gi Trọng, tập hợp trên 15 nghiên cứu của các nhà sinh học, y học Việt Nam, là mốc đánhdấu một đoạn đường trong lịch sử nghiên cứu sinh học ở người Việt Nam, là tài liệulịch sử có giá trị về thời gian để các nghiên cứu tiếp theo lấy làm tài liệu so sánh

“Atlst nhân trắc học người Việt Nam lứa tuổi lao động” của Nguyễn AnLương (1986) là công trình nghiên cứu có số liệu thu nhập khá lớn từ 3 miền đất nướcBắc – Trung – Nam với nhiều lứa tuổi khác nhau, xử lý thống kê nghiêm túc của tậpthể cán bộ khoa học thuộc nhiều cơ quan, nhiều lĩnh vực

Trang 7

Nguyễn Mạnh Liên với “Nghiên cứu về người chuẩn Viện nam(1990-1998)trong hợp tác vùng Châu Á-Thái Bình Dương về người chuẩn Châu Á(IAEATECDOC,2,1998).

Ngoài ra còn nhiều nghiên cứu nhân trắc học được thực hiện dưới nhiều hìnhthức như luận án tốt nghiệp, luận án tiến sĩ, tổng kết các nghiên cứu đã làm để rút ra kếtluận… Nhiều công trình với nhiều tác giả như : Trần Đình Long, Lương Bích Hồng,Cao Phương Nam (1988), Lê Gia Vinh (1986), Đào Huy Khuê (1990), Mai Văn Thìn(1991), Nguyễn Mạnh Liên, Cao Quốc Việt (1990 – 1992), Thẩm Thị Hoàng Điệp(1992)[18], Lê Nam Trà (1992)[5,7], Lê Ngọc Anh Thư[5]

Bảng 1.1: Những nghiên cứu về chiều cao và cân nặng của nữ thiếu niên từ 12-15 tuổi.

mẫu

Chiều cao(x±SD) của nam

Cân nặng(x±SD) của nam

Trang 8

1500 130.5±5.1

134.04±4.5139.80±4.5143.41±5.4

25.79±3.827.74±5.131.3±4.533.01±4.6

43403836

140.79±6.50145.75±5.16149.83±5.51153.00±5.43

31.65±5.2035.56±5.1038.76±5.4841.83±5.7

3 Người chuẩn

Việt Nam

1993

Lê Anh Xuân

2001

2000-12131415

14619013974

142.05±14.13148.22±7.00150.21±6.21152.30±5.01

32.28+8.8237.62+7.3039.70+7.9241.39+4.64

Bảng 1.2: Những nghiên cứu về chiều cao và cân nặng của nam thiếu niên

từ 12-15 tuổi

mẫu

Chiều cao(x±SD) của nam (cm)

Cân nặng(x±SD) của nam (kg)

1500 130.07

133.10139.38145.25

25.3727.6331.3533.17

Trang 9

137.67±6.42144.80±7.21151.80.±6.9158.54±4.66

30.75±3.8635.38±5.1539.82±5.6745.96±6.33

3 Người chuẩn

Việt Nam

1993

Lê Anh Xuân

2001

2000-12131415

14619013974

141.2±9.1150.11±10152.3±10.12159.01±6.01

33.26±8.4737.94±9.6540.58±8.6746.07±8.97

Ngoài vấn đề thể chất của học sinh thì điều kiện tiện nghi trong học tập cũngảnh hưởng rất nhiều tới sức khoẻ của các em Vấn đề tiện nghi môi trường lao độnghiện nay đã được các nhà khoa học của nhiều ngành khác nhau quan tâm giải quyết vàđược gọi là khoa học Ergonomie[13]

Theo định nghĩa của Hội Ergonomie quốc tế(IEA)[4,13]: Ergonomie là khoahọc liên ngành, được cấu thành từ các khoa học về con người để phù hợp công việc,

hệ thống máy móc thiết bị, sản phẩm và môi trường với các khả năng về thể lực, trítuệ và cả với những hạn chế của con người

An toàn

Ergonomie

Trang 10

Như vậy chúng ta thấy là các yếu tố môi trường lớp học rất quan trọng đối vớisức khoẻ và kết quả học tập của học sinh

1.2 VI KHÍ HẬU VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VI KHÍ HẬU LÊN ĐỜI SỐNG SỨC KHOẺ CON NGƯỜI:

1.2.1 Các yếu tố vi khí hậu

 Các yếu tố vi khí hậu là những yếu tố vật lý trong môi trường không khí

có liên quan đến quá trình điều hoà nhiệt của cơ thể người trong mộtkhông gian nhất định[10,11] Các yếu tố này bao gồm : nhiệt độ, độ ẩm,vận tốc gió và cường độ bức xạ nhiệt từ các bề mặt xung quanh

 Đặc điểm của khí hậu Việt Nam[10]: Việt Nam nằm trong khu vực nhiệtđới gió mùa mà “vĩ độ và địa hình đã đem lại những biến dạng sâu sắc chokhí hậu toàn thể và cho từng vùng”(Buy-Đông và Láctông) Ở miền Bắcnước ta là gió mùa không thuộc một cơ chế thuần nhất Nó được qui địnhbởi nhiều trung tâm tác động khác nhau, thường xuyên tranh giành ảnhhưởng lẫn nhau và căn bản là một chế độ không ổn định Nói một cáchkhác, Việt Nam là một nước nhiệt đới, gió mùa, có khí hậu nóng ẩm, từngvùng có đặc điểm khác nhau và thay đổi đột ngột theo từng đợt gió mùa.Trong thực hành vệ sinh, khi nghiên cứu điều kiện vi khí hậu ở một nơi nào đó,

có thể đánh giá theo từng yếu tố riêng rẽ hoặc theo những chỉ tiêu tổng hợp củahai, ba hoặc tất cả bốn yếu tố kể trên

Nhiệt độ không khí : Mặt trời là nguồn nhiệt chính của trái đất, những tia mặt

trời không làm nóng trái đất bao nhiêu mà không khí nóng chủ yếu là do tiếpxúc với mặt đất Không khí bị giảm trọng lượng cho nên đã gây ra các dòngđối lưu làm cho lớp không khí gần mặt đất có thể truyền nhiệt cho các lớptrên Trong những yếu tố của ngoại cảnh, nhiệt độ của không khí và của nhữngvật xung quanh ảnh hưởng nhiều nhất đến việc trao đổi nhiệt Ngoài việc tácđộng lớn đến con người, nhiệt độ của môi trường xung quanh còn quyết địnhhiệu lực tác động của những yếu tố khí hậu khác

Trang 11

Thí dụ: khi nhiệt độ thấp, sự chuyển động của không khí càng làm

lạnh thêm Nghĩa là gây những tác dụng không tốt Trái lại khi nhiệt độcao(trên 200), cơ thể dễ bị quá nóng, sự chuyển động của không khí sẽ làmcho việc giải nhiệt được dễ dàng hơn nghĩa là gây những tác dụng tốt Nếunhiệt độ không khí tiếp tục tăng lên đến 37-380C thì sự chuyển động củkhông khí không làm cho sự giải nhiệt bằng đối lưu dễ dàng hơn, mà trái lạilàm cho người ta bị nóng hơn và lúc đó gió lại trở thành yếu tố có hại Anhhưởng của nhiệt độ đối với độ ẩm cũng vậy

Nhiệt độ không khí là yếu tố cơ bản nhất quyết định cảm giác nónglạnh hay dễ chịu của cơ thể trong điều kiện vi khí hậu nhất định (trongcabin xe, phòng làm việc, phân xưởng sản xuất, …) Để đo nhiệt độ khôngkhí người ta dùng các đơn vị đo khác nhau tuỳ theo từng loại thang nhiệt

độ Trong nghiên cứu, đơn vị đo nhiệt độ thường được dùng là thangCelcius (oC)

Độ ẩm không khí : là lượng hơi nước không nhìn thấy, tan trong không

khí, biểu hiện bằng sức trương hơi nước(mm thuỷ ngân hoặc gam/m3 khôngkhí)

Độ ẩm tối đa (E) : là lượng hơi nước tối đa (tính bằng mmHg hoặc gr/m3)

mà không khí có thể chứa được ở một nhiệt độ nhất định Trị số này tăng

tỉ lệ thuận với nhiệt độ không khí

Độ ẩm tuyệt đối (e) : là lượng hơi nước (tính bằng mmHg hoặc gr/m3)thực tế đã đo được ở một nhiệt độ nhất định

Độ ẩm tương đối (R) : là tỷ lệ phần trăm giữa độ ẩm tuyệt đối và độ ẩm

tối đa ở trong cùng một điều kiện nhiệt độ và áp suất

Trang 12

 Độ ẩm cao làm cản trở thải nhiệt bằng bay hơi mồ hôi khi nhiệt độ khôngkhí cao Cơ thể dễ bị tích nhiệt và say nóng Cùng với nhiệt độ, độ ẩmkhông khí cao là điều kiện thuận lợi cho nấm mốc, vi khuẩn, côn trùng …phát triển mạnh

 Độ ẩm quá thấp cũng có hại, làm cho da bị khô, nứt nẻ

 Độ ẩm thích hợp nhất đối với cơ thể là 50%  20% Dưới 30% là khôhanh, trên 70% là ẩm thấp

Trong tình hình mùa hè, nhiệt độ lên cao,lớp học chỉ có đơn thuần là quạttrần, không có máy điều hoà nhiệt độ, độ ẩm lại cao như ở nước ta, số học sinhtrong một phòng học lại tương đối đông thì rất dễ tạo điều kiện sự say nóng xảy ra

do tình trạng thải nhiệt bị trở ngại Khi nhiệt độ của ngoại cảnh cao hơn nhiệt độ dacon người chỉ có một con đường thải nhiệt duy nhất là sự bay hơi của mồ hôi Trongđiều kiện đó nếu độ ẩm của không khí thấp sẽ giúp cho sự bay hơi mồ hôi dễ dàng

và cơ thể con người sẽ cảm thấy thoải mái, mát mẻ, dễ chịu Trái lại nếu độ ẩm cao,

sẽ hạn chế sự bay hơi của mồ hôi làm cho con người cảm thấy nóng nực khó chịu

Mồ hôi dư thừa sẽ ở thể lỏng, làm ướt quần áo, con người càng cảm thấy nóng nựckhó chịu hơn Quạt máy là phương tiện tạo ra các luồng gió mát ở trong phòng Nó

có nhược điểm là khi nhiệt độ không khí ngoài trời cao thì nhiệt độ không khí ởtrong phòng cũng cao, tác dụng chống nóng của quạt hạn chế Ngoài ra nếu tốc độgió của quạt quá mạnh thì có thể gây cảm giác lạnh Các máy điều hoà không khíkhi lắp đặt cho một căn phòng kín có khả năng chủ động điều hoà các điều kiện vikhí hậu ở trong phòng theo ý muốn nhờ điều chỉnh được các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm

và tốc độ chuyển động của không khí Đây là phương thức điều hoà không khí hiệnđại Nhược điểm là nó đắt tiền , đòi hỏi phòng kín

Tốc độ chuyển động của không khí :

Các khối không khí luôn luôn chuyển động Nguyên nhân là mặt trời đun nóng

bề mặt trái đất không đều Sự khác nhau giữa nhiệt độ và áp lực trên mặt đất gây racác luồng gió

Trang 13

Gió thổi và với tốc độ khác nhau và đổi chiều cho nên chiều gió và sức gió làhai tính chất của luồng gió.

Ở tần đối lưu không khí thường xuyên di chuyển theo chiều nằm ngang và cònchuyển động theo chiều thẳng đứng tạo ra gió Do mặt đất gồ ghề phức tạp, có lực

ma sát lớn nên gió thường bị thay đổi tốc độ và hướng

Chuyển động của không khí là một yếu tố khí tượng quan trọng Không khíchuyển động ảnh hưởng rất nhiều đến mức độ thải nhiệt của cơ thể

Chúng ta đều biết rằng khi khi không có gió người ta có thể chịu đựng được dễdàng đối với nhiệt độ rất thấp(đến -300).Trái lại khi trời không rét lắm(-100 đến -150)nhưng gió to thì có thể bị lạnh đột ngột Tất nhiên sự chuyển động của không khíkhông phải chỉ là yếu tố có hại Trong nhiều trường hợp, nó rất có ích và có khi cótác dụng rất tốt, như trong trường hợp nhiệt độ bên ngoài cao hoặc khi sinh nhiệtnhiều(lao động nặng) Trong những trường hợp này gió làm tăng sự thải nhiệt bằngđối lưu Khi có gió mồ hôi bốc hơi nhanh hơn Đó là tác dụng tốt của gió khi nhiệt

độ không khí gần bằng nhiệt độ của cơ thể và ngay cả khi cao hơn nhiệt độ của cơthể

Tốc độ chuyển động của không khí thường được tính bằng mét/giây hoặc bằngkilômét / giờ Tốc độ này thường thay đổi nên người ta đo trong khoảng 100 giây đểtính tốc độ chuyển động của không khí

1.2.2 Tiêu chuẩn vệ sinh cho phép về vi khí hậu tại nơi làm việc[14]:

Nhiệt độ ẩm không khí 18 – 32oC

Tốc độ chuyển động không khí 0.1-0.3 mét/giây

1.2.3 Ảnh hưởng của vi khí hậu đối với cơ thể

Cảm giác về nóng hay lạnh của con người phụ thuộc vào ảnh hưởng tổng hợpcủa bốn yếu tố vật lý của không khí là nhiệt độ (toC), độ ẩm (%), tốc độ chuyểnđộng của không khí ( m/s) và bức xạ nhiệt

Trang 14

Ba yếu tố nhiệt độ (toC), độ ẩm (%), tốc độ chuyển động của không khí v (m/s)được đánh giá chung thành một chỉ tiêu gọi là nhiệt độ hiệu lực và được nhiều nhàkhoa học tính ra thành chỉ tiêu của cảm giác nóng, lạnh

Trong điều kiện nhiệt độ và tốc độ chuyển động của không khí đã xác định, độ

ẩm tương đối có liên quan rõ rệt đến cảm giác người lao động Nhiệt độ không khínóng, độ ẩm cao khó bốc mồ hôi nên người lao động cảm thấy rất là oi bức, tiết mồhôi khó nên càng khó chịu Còn khi mồ hôi tiết ra nhiều tức là lúc nhiệt độ cao mà

độ ẩm thì thấp lúc đó người lao động dễ mệt mỏi vì mất nước và điện giải

Khí hậu thay đổi đột ngột còn ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ con người

Qua thống kê của các bệnh viện thì mùa lạnh hay gặp phải các tai biến mạchmáu não, viêm phổi, viêm phế quản, các bệnh đường hô hấp trên Bệnh loét dạ dày

tá tràng thường có cơn đau về mùa lạnh nhiều hơn Lạnh còn tạo điều kiện cho bệnhviêm thận cấp phát triển Viêm thần kinh cũng thấy nhiều trong mùa rét Đối với cáctai mũi họng thì ảnh hưởng của mùa rét là khá rõ ràng Mùa hè là mùa có nhiềubệnh về đường ruột

1.2.4 Chiếu sáng trong đời sống:

1.2.4.1 Khái niệm về ánh sáng – Đơn vị ánh sáng

* Ánh sáng kích thích mắt : tuỳ theo quang phổ mà mắt có cảm giác khác nhau

trong khoảng làn sóng dài 400 – 760nm (nanometre) Nguồn sáng phát ra luôn luônthay đổi, người ta gọi là quang lưu (F) Quang lưu (hay dòng ánh sáng) là phần củanăng lượng bức xạ gây nên cảm giác ánh sáng

– Đơn vị của dòng ánh sáng là Lumen

Người ta có thể nhận thấy các vật xung quanh là do quang lưu (F) chiếu vào

bề mặt các vật đó phản xạ lại, tới võng mạc mắt, bởi vậy cần phải nghiên cứu mật

độ ánh sáng rọi vào bề mặt, mật độ rọi đó gọi là độ rọi (E)

Độ rọi là tỷ số của dòng ánh sáng F rọi vào bề mặt đối diện có diện tích (S)

Ta có :

E = FS

Trang 15

Đơn vị độ rọi(độ chiếu sáng) gọi là Lux Lux là sự chiếu sáng của dòng ánhsáng 1 lumen trên 1m2.

Danh pháp các đại lượng trên được trình bày theo bảng dưới đây

DANH PHÁP ĐẠI LƯỢNG ÁNH SÁNG

(L.Lliboutry-PHYSIQUE DE BASE, MASSON Edt, PARIS, 1963)

Có ba loại chiếu sáng tuỳ theo hoàn cảnh[11] :

– Chiếu sáng tự nhiên: là nguồn ánh sáng chủ yếu vào lúc ban ngày Trị sốchiếu sáng tự nhiên thường dao động trong phạm vi khác lớn tuỳ thuộc vào

độ mặt trời, độ trong suốt của khí quyển,trạng thái thời tiết và các vị tríđược chiếu sáng Ở ngoài trời nắng, độ chiếu sáng có thể đạt tới 10.000 -20.000 lux Nguồn chiếu sáng tự nhiên trong nhà hay trong ph2ong khôngphải là nắng mặt trời mà là ánh sáng tự nhiên được khuyếch tán từ bầu trời.Biện pháp có hiệu quả để tăng độ chiếu sáng tự nhiên trong phòng là:

+Tăng số lượng các cửa sổ và diện tích các cửa sổ Tỷ lệ diện tích cửa

sổ trên diện tích phòng (Scửa sổ : Sphòng ) được gọi là hệ số ánh sáng(HSAS) Các

Trang 16

phòng ở cần có HSAS là 1:6~1:8, lớp học, phòng khám bệnh cần có HSAS là1:4~1:8.

+Mở rộng góc ánh sáng và góc mảnh trời của các cửa sổ bằng cáchhạn chế các vật che chắn cửa sổ, nâng cao mép trên cửa sổ Góc ánh sáng của cửa

sổ ít nhất phải bằng 270, góc mảnh trời ít nhất phải bằng 50

iii

Trang 17

– Chiếu sáng nhân tạo : để bổ sung cho chiếu sáng tự nhiên, trong nhà hoặcphòng phải có chiếu sáng nhân tạo Nguồn sáng nhân tạo có thể là đèn dầu,đèn điện, nến…Các loại đèn đất, đèn dầu hoả… không tốt bằng đèn điện

vì khả năng toả sáng thấp, dễ bị tắt, toả nhiệt nhiều và có thoát ra các khíđộc như CO2, acetylene, muội đèn… Khi thắp trong nhà kín thì các nguồnsang này có thể làn đầu độc bầu không khí và làm giảm hàm lượng oxy đểthở Còn loại đèn điện có dây tóc nóng đỏ hiện cũng được sử dụng rộngrãi Loại đèn này có thể chiếu sáng trong mọi điều kiện thời tiết, tuổi thọtrung bình 1000 giờ Tuy nhiên loại đèn này có nhược điểm là gây chóimắt, hiệu suất phát quang không cao, ánh sáng phát ra nhiều tia đỏ khônggiống như ánh sáng tự nhiên, toả nhiều nhiệt Xu hướng hiện nay là dùngđèn huỳnh quang có chứa khí trơ, thuỷ ngân Các đèn huỳnh quang phát ratia sáng trắng gần giống như ban ngày, năng suất phát sáng cao(gấp 2.5-3lần đèn dây tóc), tuổi thọ lên tới 3000 giờ, ít toả nhiệt Hiện nay công tyĐiện Qung còn vừa cho ra mắt bóng đèn huỳnh quang chống cận thịMaxx801(phụ lục 4), sử dụng bột huỳnh quang hoạt hoá Tricolor Phosphorcho chất lượng ánh sáng tốt hơn và tiết kiệm năng lượng đáng kể so vớibóng huỳnh quang thường

– Chiếu sáng hỗn hợp: phối hợp hai loại ánh sáng tự nhiên và nhân tạo

Có nhiều trường hợp người ta dùng cả ba loại chiếu sáng này trong phòng làmviệc với thời gian khác nhau Chiếu sáng thiên nhiên có thể áp dụng được ở mọi nơi

vì rẻ tiền, nhưng không bảo đảm đều đặn và đôi khi gây loá mắt, cho nên có khiphải sử dụng chiếu sáng hỗn hợp Ở những nơi thiếu ánh sáng, thì phải sử dụngchiếu sáng nhân tạo và nên được chiếu sáng 30 phút đến 1 giờ trước khi làm việc

Trang 18

1.2.4.3 Yêu cầu chiếu sáng tại một số nơi làm việc :

(lux)

1 Văn phòng Vi tính-đánh máy-ký hoạ

Văn thưPhòng họp-phòng ăn-tiếp tânHành lang-cầu thangLối đi vào raCửa ra ngoài-cầu thang

1500-2000750-1000200-750100-20075-10030-75

Phòng đọc sách-phòng họcPhòng trang điểmPhòng ănGiải tríGiặt là quần áo

1000-2000500-1000300-500200-300150-200100-150

3 Trường học Phòng vẽ-phòng thí nghiệm-thư viện

Lớp họcPhòng thể thao-giảng đường-phòng tắm

750-1500300-75075-300

Trang 19

Cửa ra vào-thang gác 30-75

Theo Bộ Y Tế [16]:

Phòng học cần đảm bảo độ chiếu sang đồng đều không dưới 100 lux Rêingphòng học có học sinh khiếm thị độ chiếu sáng không dưới 300 lux

1.2.4.4 Ảnh hưởng của chiếu sáng trong sản xuất và đời sống:

Trong nhà máy, nơi làm việc ban ngày và ban đêm đều phải có đủ ánh sáng

về số lượng và chất lượng mới bảo vệ được thị lực lâu dài, chống mệt mỏi và rấtnhiều trường hợp đủ ánh sáng làm cho năng suất lao động tăng, tránh được sai sót

về thao tác tức là tránh được cả tai nạn lao động

Anh sáng có ý nghĩa lớn về phương diện sinh lý và vệ sinh Từ 80-90% khốilượng thông tin về thế giới xung quanh được con người thu qua thị giác Anh sángđầy đủ khiến con người cảm thấy sảng khoái, dễ chịu và phấn chấn về tinh thần, cácquá trình chuyển hoá trong cơ thể cũng được xúc tiến mạnh Đó là một trong nhữngđiều kiện tốt để con người làm việc có năng suất cao Anh sáng tự nhiên còn lànguồn tia tử ngoại phong phú giúp cơ thể chống lại bệnh còi xương, tiêu diệt các vikhuẩn, hạn chế các bệnh theo đường hô hấp[11]

Ngoài ra, theo khảo sát của Bệnh Viện Mắt Hà Nội, tỷ lệ học sinh cận thịngày càng tăng trong lứa tuổi học đường, ở cấp tiểu học là 16%, nhưng lên cấptrung học đã là 32% và ở cá trường chuyên tỷ lệ này là 80% Anh sáng không đủcũng là một trong những nguyên nhân chính gây nên thực trạng này

Thiết kế bàn ghế cũng là một trong những mục tiêu của ergonomie Bàn ghế

là nơi học sinh trải qua phần lớn thời gian học tập Do đó, bàn ghế cần được thiết kếphù hợp với chiều cao của từng lứa tuổi để tránh các tật về cột sống, các bệnh mắthọc đường sau này… Theo quyết định của Bộ Y Tế [16]thì:

1.Bàn ghế học sinh phải đủ rộng, chắc chắn, các góc bàn cạnh phảitròn, nhẵn đảm bảo an toàn

2.Kích thước(chiều cao, bề rộng, chiều sâu) của bàn và ghế phải tương ứngvới nhau đồng thời phải phù hợp với tầm vóc của học sinh

Trang 20

Các chỉ số(cm) Cỡ bàn và ghế

–Loại I dành cho học sinh có chiều cao cơ thể từ 1,00 đến 1,09 m

–Loại II dành cho học sinh có chiều cao cơ thể từ 1,10 đến 1,19 m

–Loại III dành cho học sinh có chiều cao cơ thể từ 1,20 đến 1,29 m

–Loại IV dành cho học sinh có chiều cao cơ thể từ 1,30 đến 1,39 m

–Loại V dành cho học sinh có chiều cao cơ thể từ 1,40 đến 1,54 m

–Loại VI dành cho học sinh có chiều cao cơ thể từ 1,55 trở lên

1.3 HIỆN TƯỢNG MỆT MỎI TRONG LAO ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP LƯỢNG GIÁ:

1.3.1Khái niệm về mệt mỏi trong lao động và những nguyên nhân đưa đến sự mệt mỏi trong lao động:

Mệt mỏi là kết quả của một quá trình lao động không nghỉ ngơi hợp lý, Theo

“tâm lý sinh lý lao động và Ergonomy” có rất nhiều nguyên nhân đưa đến sự mệtmỏi trong lao động như[12]:

-Gánh nặng trong lao động: xử lý trên 30 tín hiệu trong một giờ, khuân vácvật nặng trên 50 kg…

-Thao tác lao động không được hợp lý hoá: tư thế lao động không thoải máiphải thường xuyên cúi người hay di chuyển, nhiều cử động thừa…

-Lao động không nghỉ giữa giờ, sau giờ lao động không ngủ bù lại sức…-Dinh dưỡng không hợp lý: bữa ăn không hợp khẩu vị, không cung cấp nhiềuchất sinh tố…

-Môi trường lao động không an toàn: tiếng ồn, khí độc…

-Đối với học sinh: sự tập trung tư tưởng nghe giảng, bài học khó tiếp thu, bàihọc có quá nhiều thông tin cần nhớ, bài tập khó giải, lớp học thiếu ánh sáng, lo lắngthi cử hay kiểm tra…

1.3.2Sự mệt mỏi trong học tập:

Học tập là một quá trình tiếp nhận thông tin, đòi hỏi phải có sự tập trung chú

ý bài giảng Nó được hiểu theo nghĩa là hoạt động bao gồm sự quan sát liên tụcbằng thính giác hay thị giác và là khả năng của cá thể để phát hiện ra tín hiệu với

Trang 21

các tần số khác nhau khi quan sát[7] Trong đánh giá mức độ gánh nặng của hoạtđộng lao động trí óc cũng như phân loại hoạt động này, thời gian tập trung chú ýđược xem như một chỉ số đáng tin cậy[13].

Phân loại mức độ gánh nặng lao động theo thời gian tập trung chú ý

(theo Viện Thẩm Mỹ Kỹ Thuật Nga)

Thời gian tập trung chú ý càng cao trong tổng thời gian lao động trí óc thìloại(mức) mệt mỏi càng cao

-Khảo sát điện não đồ

-Sau cùng là một phương pháp đánh giá độ mệt mỏi mang tính chất kháchquan, dễ sử dụng, tiện lợi Đó là “ nghiệm pháp xác định sự mệt mỏi chức năng thịgiác và lao động trí óc bằng vòng hở Landolt”

Nghiệm pháp này đã được sử dụng trong rất nhiều nghiên cứu liên quan đếnmôi trường lao động như Trần Công Huấn[17] nghiên cứu về những ảnh hưởng củatrường điện từ đến sức khoẻ bộ đội radar, Đỗ Thị Thuý Vân, Nguyễn Lê Mai [3]nghiên cứu đặc điểm và tình hình sức khoẻ công nhân tại xí nghiệp may I bộ quốcphòng…

Trang 22

Về mặt lịch sử thì vòng hở Landolt là một phần vòng tròn với kích thước từlớn đến nhỏ để đánh giá thị lực Các nhà khoa học Liên Xô đã cải tiến và biến đổitạo thành nhiều vòng hở nhỏ cùng kích thước và vị trí mở khác nhau, xếp thànhhàng coi như là những tín hiệu thông tin mà người tham gia phải nhận ra trong mộtkhoảng thời gian(ví dụ 2 phút).

Một ưu điểm nữa của nghiệm pháp này là không chỉ đánh giá được sự mệtmỏi trong ca lao động mà còn đánh giá được sự mệt mỏi tích tụ trong thời gian dài

Bảng so sánh tốc độ xử lý thông tin trước và sau khi lao động của một số công việc

thông tin trước khi lao động

Tốc độ xử lý thông tin sau khi lao động

Trang 23

CHƯƠNG 4

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

****

2.1 Thiết kế nghiên cứu : nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.2 Đối tượng nghiên cứu:

Dân số mục tiêu: học sinh trường tiểu học Trần Bội Cơ.

Dân số nghiên cứu: học sinh trường tiểu học Trần Bội Cơ niên học

2003-2004 đạt tiêu chuẩn:

-Không mắc các bệnh mãn tính như tim bẩm sinh, suyễn, các bệnh về hệ vậnđộng như chân khoèo, di chứng sốt bại liệt

-Có mặt tại thời điểm nghiên cứu

-Đồng ý tham gia vào nghiên cứu

2.3 Cỡ mẫu[6]:

Cỡ mẫu được tính theo công thức:

n0 = (t2xpxq)/d2

Ở độ tin cậy 95% ta được t=1.96

Do phải khảo sát nhiều vấn đề cùng một lúc và tỷ lệ các vấn đề cần nghiêncứu không rõ ràng nên ta chọn p=0.5 -> q=1-p=0.5

d : sai số chuẩn cho phép tối đa là 10%, vì nhân lực và vật lực có hạn nênchọn d=0.05 tức 5%

Phương pháp chọn mẫu: phân tầng và ngẫu nhiên đơn giản

Trường có 4 khối ( tương ứng với 4 tầng): 01, 02,03,04

Ngày đăng: 02/05/2021, 21:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w