1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của tập quán thương mại quốc tế Incoterms 2010

71 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của tập quán thương mại quốc tế Incoterms 2010 Chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của tập quán thương mại quốc tế Incoterms 2010 luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CHUYỂN GIAO RỦI RO TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA TẬP QUÁN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ INCOTERMS 2010

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập tại trường đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè

Qua bốn năm học tập và rèn luyện tại trường, nhận được sự chỉ bảo và giảng dạy nhiệt tình của quý Thầy Cô đã truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa Luật – Trường ĐH Công nghệ TP.HCM đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường Đặc biệt,

em xin gửi đến Thầy Bành Quốc Tuấn người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này lời cảm ơn sâu sắc nhất

Trong quá trình thực hiện khóa luận do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô để kiến thức của

em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: Võ Thùy Dương MSSV: 1411270105

Tôi xin cam đoan đề tài khóa luận tốt nghiệp “Chuyển giao rủi ro trong hợp

đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của Tập quán thương mại quốc

tế Incoterms 2010” là một công trình nghiên cứu độc lập không có sự sao chép của

người khác

Trong quá trình viết bài có sự tham khảo một số tài liệu có nguồn gốc rõ ràng, dưới sự hướng dẫn của Thầy Bành Quốc Tuấn – Phó khoa luật Đại học Công nghệ TP.HCM Tôi xin cam đoan nếu có vấn đề gì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Sinh viên Dương

Võ Thùy Dương

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Tình hình nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Kết cấu khóa luận 4

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN GIAO RỦI RO TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 5

1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 5

1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 5

1.1.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 7

1.2 Khái quát rủi ro và chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 10

1.2.1 Rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 10

1.2.2 Chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 12

1.3 Nguồn luật điều chỉnh về chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 13

1.3.1 Văn bản pháp luật quốc gia 13

1.3.2 Công ước quốc tế 14

1.3.3 Tập quán thương mại quốc tế 16

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 19

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CỦA INCOTERMS 2010 VỀ CHUYỂN GIAO RỦI RO TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 21

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển Incoterms 21

2.2 Nội dung của Incoterms 2010 về chuyển giao rủi ro 22

2.2.1 Giới thiệu về Incoterms 2010 22

2.2.2 Nội dung của Incoterms 2010 về chuyển giao rủi ro 26

2.3 Thực tiễn và khuyến nghị trong việc sử dụng các điều khoản Incoterms 2010 của các doanh nghiệp ngoại thương tại Việt Nam 40

Trang 5

2.3.1 Thực tiễn áp dụng Incoterms 2010 của các doanh nghiệp tại Việt Nam 40

2.3.2 Khuyến nghị cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc sử dụng các điều khoản Incoterms 2010 45

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 49

KẾT LUẬN 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

PHỤ LỤC 53

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CISG Convention on Contracts for the

International Sale of Goods

Công ước quốc tế

ICC International Chamber of Commerce Phòng Thương mại quốc tế

INCOTERMS International Commercial Terms Các điều khoản thương mại

quốc tế

VIAC Vietnam International Arbitration

Centre

Trung tâm Trọng tài Quốc

tế Việt Nam

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ khi mở cửa nền kinh tế đến nay, Việt Nam đã và đang đạt được nhiều thành tựu kinh tế xã hội Hoạt động ngoại thương phát triển vượt trội, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng cao qua mỗi năm cùng với với sự đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm xuất nhập khẩu, tạo sức cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài Chúng ta đang từng bước đa phương hóa các đối tác buôn bán, mở rộng thị trường

ra nhiều quốc gia chứ không hạn chế ở một số thị trường truyền thống

Quá trình hội nhập đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải am hiểu các luật

lệ, tập quán kinh doanh quốc tế, nếu không sẽ gặp nhiều khó khăn và rủi ro Thực tiễn cho thấy, trong quá trình ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài, có rất nhiều rủi ro, tổn thất và tranh chấp đối với các doanh nghiệp Việt Nam do chưa nắm vững và vận dụng đúng các nguyên tắc, tập quán trong kinh doanh quốc tế Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay sử dụng các điều kiện thương mại quốc tế Incoterms do Phòng Thương mại quốc tế ICC ban hành, tuy nhiên, không phải là doanh nghiệp nào cũng có thể sử dụng hiệu quả và vận dụng đúng các điều kiện thương mại quốc tế đó

Vào tháng 9/2010, ICC đã cho phát hành ấn bản Incoterms 2010 Đây là một

bộ các quy tắc cập nhật những tập quán mới nhất trong thương mại quốc tế Incoterms 2010 chứa đựng nhiều thay đổi so với Incoterms 2000 và các bản trước đây nhằm đảm bảo tính cấp thiết và tính thực tiễn Thời gian qua các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên thế giới đã sử dụng Incoterms 2010 như một bộ cẩm nang trong quá trình tham gia vào thương mại quốc tế Do vậy, các doanh nghiệp Việt Nam muốn đẩy mạnh xuất nhập khẩu, mở rộng thị trường đòi hỏi phải tiếdp thu và vận dụng tốt Incoterms 2010 một cách hiệu quả, đặc biệt cần phải nắm rõ quy tắc chuyển giao rủi ro được quy định trong Incoterms để vận dụng chính xác trong hợp đồng mua bán hàng hóa của mình

Hiện nay, các điều kiện thương mại quốc tế được nhắc đến nhiều nhưng có rất

ít tài liệu đưa ra đầy đủ về lợi ích cũng như hướng dẫn sử dụng hiệu quả các điều kiện của Incoterms Một hợp đồng mua bán hàng hóa được kí kết sẽ phát sinh những rủi ro đối với tất cả những ai tham gia vào Vấn đề đặt ra doanh nghiệp phải nhận biết được thời điểm nào thì mình sẽ gánh chịu các rủi ro và thời điểm nào thì

Trang 8

những rủi ro sẽ được chuyển giao cho đối tác bên kia Việc xác định trách nhiệm của các bên đối với rủi ro điều rất cần thiết, chính vì vậy mà tác giả đã chọn đề tài

“Chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định

của Tập quán thương mại quốc tế Incoterms 2010” làm đề tài cho khóa luận tốt

nghiệp của mình với mong muốn giúp chúng ta có cái nhìn khái quát và rõ ràng về Incoterms 2010, điều đó giúp cho doanh nghiệp có thể sử dụng linh hoạt để đạt hiệu quả cao trong kinh doanh

văn tốt nghiệp cử nhân luật, ĐH Luật TP.HCM

Lê Tuấn Hùng (2002), Áp dụng Incoterms trong các hợp đồng mua bán ngoại thương từ thực tiễn tại TP.HCM, Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật, ĐH Luật

TP.HCM

Hồ Mỹ Ngọc Chân (2006), Thời điểm chuyển dịch rủi ro đối với hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại 2005, Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật, ĐH

Luật TP.HCM

Mặc dù vấn đề này không phải là vấn đề mới mẻ nhưng nghiên cứu phân tích

đề tài này hết sức cần thiết trong xu thế hội nhập hóa hiện nay Trong phạm vi khóa luận này của mình, tác giả không những lấy đó làm tư liệu cho mình mà còn có các

tư liệu khác mà tác giả nghiên cứu dựa trên tình hình thực tế của đề tài để làm khóa luận này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu các điều khoản thương mại quốc tế được quy định trong Incoterms 2010

Đề tài được nghiên cứu thông qua việc tìm hiểu nguồn luật điều chỉnh vấn đề chuyển giao rủi ro được quy định trong văn bản pháp luật quốc gia Luật Thương mại 2005, Công ước quốc tế CISG 1980 và Tập quán thương mại quốc tế Incoterms

Trang 9

Bên cạnh đó nghiên cứu tình hình nắm bắt và sử dụng các điều kiện thương mại Incoterms 2010 của các doanh nghiệp ngoại thương Việt Nam, qua đó khuyến nghị một số giải pháp cho các doanh nghiệp

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:

Phương pháp liệt kê, phân tích: được thực hiện xuyên suốt đề tài, nghiên cứu

và đưa ra về mặt lý luận của vấn đề rủi ro và chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, phân tích vấn đề chuyển giao rủi ro được quy định trong từng điều khoản của Incoterms 2010

Phương pháp so sánh: so sánh đối chiếu Incoterms gồm những thay đổi về mặt kết cấu và mặt nội dung của phiên bản Incoterms 2000 và Incoterms 2010

Nghiên cứu thực tiễn áp dụng Incoterms 2010 của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Việt Nam, chứng minh những lợi ích và bất lợi khi sử dụng các điều khoản trong Incoterms của các doanh nghiệp; từ những khó khăn, hạn chế đưa ra các giải pháp, đề xuất để nâng cao hiệu quả sử dụng Incoterms 2010

5 Kết cấu khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của khóa luận được phân làm hai chương:

Chương 1: Lý luận chung về chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Chương 2: Nội dung của Incoterms 2010 về chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Trang 10

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN GIAO RỦI RO TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Trong guồng quay không ngừng của đời sống kinh tế toàn cầu, các hoạt động thương mại quốc tế ngày càng tích cực góp phần thay đổi diện mạo của mỗi quốc gia, của các khu vực và trên toàn thế giới Hoạt động thương mại quốc tế được thực hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau như thương mại hàng hóa, dịch vụ, thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, thương mại trong lĩnh vực đầu tư…Trong đó các giao dịch trong lĩnh vực thương mại hàng hóa luôn diễn ra sôi nổi nhất, giữ vị trí trung tâm trong các giao dịch thương mại quốc tế

Các giao dịch trong lĩnh vực thương mại hàng hóa quốc tế được thực hiện chủ yếu thông qua các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà chỉ nêu lên một số khái niệm hay một số cách xác định yếu tố quốc tế của loại hợp đồng này

Tính quốc tế hay đặc điểm có yếu tố nước ngoài chính là điểm khác biệt của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường Yếu tố nước ngoài có thể được quy định khác nhau trong pháp luật của các quốc gia cũng như trong pháp luật quốc tế, nhưng nhìn chung đó là các yếu tố liên quan đến quốc tịch, nơi cư trú hoặc trụ sở của các chủ thể liên quan đến nơi xác lập hợp đồng, nơi thực hiện hợp đồng hoặc nơi có tài sản là đối tượng của hợp đồng1

Tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng, được hiểu không giống nhau tuỳ theo quan điểm của luật pháp từng nước:

Theo Công ước Lahaye 1964 về luật thống nhất mua bán hàng hóa quốc tế, tính quốc tế thể hiện ở các tiêu chí như: các bên giao kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và hàng hoá, đối tượng của hợp đồng phải được chuyên chở từ lãnh thổ quốc gia này đến lãnh thổ của quốc gia khác, hoặc là việc trao đổi ý chí giao kết

1

Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật Thương mại quốc tế, NXB Công an nhân dân, tr.207

Trang 11

hợp đồng (chào hàng và chấp nhận chào hàng) giữa các bên được lập ở những nước khác nhau2

Nếu các bên giao kết không có trụ sở thương mại thì sẽ dựa vào nơi cư trú thường xuyên của họ Yếu tố quốc tịch của các bên không có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Theo Công ước Viên năm 1980, tính chất quốc tế được xác định chỉ bởi một tiêu chuẩn duy nhất, đó là các bên giao kết hợp đồng có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau3 Và giống như Công ước Lahaye năm 1964, Công ước này cũng không quan tâm đến vấn đề quốc tịch của các bên khi xác định tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Khác với Công ước Lahaye năm 1964, Công ước Viên năm 1980 không đưa

ra tiêu chí hàng hoá phải được chuyển qua biên giới của một nước để xác định tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Theo quan điểm của Việt Nam:

Bộ luật dân sự 2015 không quy định trực tiếp về hợp đồng mua bán hàng hóa hay hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhưng tại khoản 2 Điều 663 Bộ luật dân sự

2015 quy định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được hiểu là (i) quan hệ có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; (ii) việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; (iii) đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài

LTM 2005 không đưa ra khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhưng định nghĩa mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận4 LTM 2005 cũng không đưa ra tiêu chí để xác định tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà chỉ liệt kê những hoạt động được coi là mua bán hàng hóa quốc tế Điều 27 LTM 2005 nêu rõ mua bán quốc tế được thực hiện dưới năm hình thức: xuất khẩu; nhập khẩu; tạm nhập, tái xuất; tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu hàng hóa

2 Xem chi tiết tại: http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1251

4

Khoản 8 Điều 3 LTM 2005

Trang 12

Qua việc xem xét pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, có thể xác định tính quốc tế của hợp đồng dựa vào nhiều yếu tố khác nhau, tuy nhiên việc xây dựng khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên yếu tố lãnh thổ cho phép xác định yếu tố quốc tế của hợp đồng trở nên đơn giản hơn và thiết thực hơn

Vì vậy, thiết nghĩ định nghĩa cô đọng nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng được kí kết giữa các bên có trụ sở thương mại nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau

Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thoả thuận giữa các bên thương nhân trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển giao quyền sở hữu và chứng từ liên quan đến hàng hóa cho bên mua và bên mua có nghĩa vụ thanh toán và nhận hàng theo thỏa thuận5

1.1.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng là một hợp đồng mua bán hàng hoá thông thường trong nước, vì thế cơ bản mang đầy đủ các đặc trưng của một hợp đồng mua bán hàng hoá Tuy nhiên hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có những đặc điểm khác biệt so với hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường ở những yếu tố sau:

Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là thương nhân có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau Nếu các bên không có trụ sở thương mại thì dựa vào nơi cư trú của họ (nơi cư trú thường xuyên của họ ở các quốc gia khác nhau) Yếu tố quốc tịch của người đại diện các bên kí kết không có ý nghĩa trong việc xác định tính quốc tế của hợp đồng

Ví dụ: Đại diện của hai bên trực tiếp kí vào hợp đồng có trụ sở thương mại tại hai quốc gia khác nhau, nếu hai đại diện cùng mang quốc tịch Việt Nam thì hợp đồng được kí kết vẫn là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Đối tượng của hợp đồng là động sản, tức là hàng có thể chuyển qua biên giới của một nước Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hàng hóa không được thuộc danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu6 và không thuộc trường

Trang 13

hợp hàng hóa đã có quyết định áp dụng biện pháp tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu7 Nếu hàng hóa thuộc diện quản lý bằng biện pháp hạn ngạch xuất khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan, hàng hóa thuộc diện quản lý theo giấy phép, theo điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu thì phải thỏa mãn các điều kiện cụ thể tại các văn bản hướng dẫn khi thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế8

Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa thể hiện dưới dạng các điều khoản

cụ thể do các bên thảo thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng Trong thực tế, các bên thỏa thuận nội dung càng chi tiết thì càng có lợi cho việc thực hiện hợp đồng Tùy theo thực tiễn giao kết hợp đồng mà các bên có thể thỏa thuận nội dung của hợp đồng, thông thường nội dung của một hợp đồng ngoại thương có thể bao gồm 13 điều khoản như sau:

Điều khoản về hàng hóa (Commodity)

Điều khoản về số lượng hàng hóa (Quantity/Weight)

Điều khoản về chất lượng, quy cách (Quality/Specification)

Điều khoản về giá (Price)

Điều khoản về điều kiện giao hàng (Shipment/Delivery)

Điều khoản thanh toán (Payment)

Điều khoản về bao bì, mã ký hiệu (Packing and Marking)

Điều khoản phạt và bồi thường thiệt hại (Penalty)

Điều khoản về bảo hiểm (Insurance)

Điều khoản về khiếu nại (Claim)

Điều khoản về trọng tài (Arbitration)

Điều khoản về bất khả kháng (Force Majeures)

Điều khoản chung (Generalities)

Đồng tiền thanh toán: tiền tệ dùng để thanh toán thường là nội tệ hoặc có thể

là ngoại tệ đối với các bên Ví dụ: hợp đồng được giao kết giữa người bán Việt Nam

và người mua Pháp, hai bên thoả thuận sử dụng Euro làm đồng tiền thanh toán Lúc này, đồng Euro là ngoại tệ đối với phía người bán Việt Nam nhưng lại là nội tệ đối với người mua Pháp Tuy nhiên, cũng có trường hợp đồng tiền thanh toán đều là nội

nghiệm, nghiên cứu khoa học, y tế, sản xuất dược phẩm, bảo vệ quốc phòng, an ninh Xem thêm Điều 10 Luật Quản lý ngoại thương 2017

7 Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu quy định tại Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ

8

Xem các quy định tương ứng tại Chương II Luật Quản lý ngoại thương 2017

Trang 14

tệ của cả hai bên, như trường hợp các doanh nghiệp thuộc các nước trong cộng đồng châu Âu sử dụng đồng Euro làm đồng tiền chung

Phương thức thanh toán chủ yếu là thông qua các hệ thống ngân hàng: phương thức nhờ thu – Collection of payment, thư tín dụng – Letter of Credit (L/C), chuyển tiền – Remittance…

Hình thức: LTM Việt Nam 2005 quy định: “Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng các hình thức có giá trị pháp lý tương đương”9 Các hình thức có giá trị pháp lý tương đương ở đây bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật10

Tuy nhiên bên cạnh đó có một số nước như Anh, Pháp, Mỹ,… quan điểm rằng hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có thể được ký kết bằng lời nói, bằng văn bản, bằng hành vi hay bằng bất kỳ hình thức nào khác do các bên tự do thoả thuận Chính vì sự bất đồng của hải quan điểm này làm cho Công ước Viên năm

1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải lựa chọn sự dung hòa bằng cách đưa vào Công ước những quy định theo hướng công nhận cả hai điều khoản liên quan đến hình thức của hợp đồng Điều 11 của Công ước quy định rằng hợp đồng mua bán quốc tế hàng hoá có thể được ký kết bằng lời nói và không cần thiết phải tuân thủ bất kỳ yêu cầu nào khác về mặt hình thức của hợp đồng Còn Điều 96 thì lại cho phép các quốc gia bảo lưu, không áp dụng điều 11 trên nếu luật pháp của quốc gia đó quy định hình thức văn bản là bắt buộc đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Điều này có nghĩa là Việt Nam được quyền bảo lưu không áp dụng Điều 11 của Công ước vì pháp luật Việt Nam quy định hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải được ký kết bằng văn bản11 (Việt Nam đã tham gia Công ước Viên

1980 vào năm 2015)

Nhưng thực tế thì các doanh nghiệp Việt Nam nên ký kết hợp đồng với các đối tác nước ngoài bằng văn bản Điều này sẽ giúp các bên có được bằng chứng đầy đủ khi phải ra tranh tụng trong trường hợp có tranh chấp phát sinh Ký bằng văn bản sẽ tạo điều kiện cho sự kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng có hiệu quả hơn

Trang 15

Ngôn ngữ của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường được ký kết bằng tiếng nước ngoài, trong đó phần lớn là được ký bằng tiếng Anh

Cơ quan giải quyết tranh chấp: tranh chấp phát sinh từ việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể là toà án hoặc trọng tài thương mại Tòa án hoặc trọng tài giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ

là tòa án nước ngoài hoặc trọng tài nước ngoài so với ít nhất là một bên khi họ lựa chọn cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp Ví dụ các bên trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa giữa thương nhân Việt Nam và thương nhân Singapore đã chọn Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam – VIAC để giải quyết12

Luật điều chỉnh hợp đồng (luật áp dụng cho hợp đồng) mua bán hàng hoá quốc tế mang tính chất đa dạng và phức tạp Luật điều chỉnh trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể là điều ước quốc tế, luật quốc gia, tập quán thương mại quốc tế hoặc cả án lệ (tiền lệ pháp)

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế dù được giao kết hoàn chỉnh, chi tiết đến đâu, bản thân nó cũng không thể dự kiến, chứa đựng tất cả những vấn đề, những tình huống có thể phát sinh trong thực tế Do đó, cần phải bổ sung cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế một cơ sở pháp lý cụ thể bằng cách lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng đó Vì hợp đồng mua bán có tính chất quốc tế nên luật điều chỉnh hợp đồng này cũng có thể là luật người người bán, cũng có khi là luật nước người mua Nếu luật áp dụng là luật nước người mua thì luật này là luật nước ngoài đối với người bán Người bán phải có sự hiểu biết về nó, trong đó ít ra người bán phải hiểu

rõ được luật này có bảo vệ quyền lợi cho người bán hay không Và ngược lại, đối với người mua cũng vậy Như vậy, không chỉ người bán và người mua cần có sự hiểu biết để lựa chọn, để tuân thủ luật áp dụng mà ngay cả cơ quan giải quyết tranh chấp (tòa án hoặc trọng tài) cũng phải nghiên cứu vấn đề luật áp dụng cho hợp đồng

đó thì mới có thể làm tốt được chức năng, nhiệm vụ của mình

1.2 Khái quát rủi ro và chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.2.1 Rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Cho đến nay, hoạt động thương mại đã phát triển và bao gồm nhiều hình thức như trung gian thương mại, đấu thầu và bán đấu giá hàng hóa, dịch vụ xúc tiến

12

Mai Xuân Minh, Tài liệu học tập Luật Thương mại quốc tế, Đại học Công Nghệ TP.HCM, tr 76

Trang 16

thương mại, cung ứng dịch vụ, vận chuyển giao nhận hàng hóa,… nhưng phổ biến nhất là hoạt động mua bán hàng hóa Việc mua bán hàng hóa không chỉ diễn ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia mà còn được mở rộng giữa thương nhân các nước Hoạt động đó có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia, nó là cơ sở, động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đóng góp không nhỏ cho nguồn thu ngân sách Bên cạnh đó mở rộng quan hệ giao lưu hợp tác trên bình diện

kinh tế giữa các quốc gia với nhau

Do đó, rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa đặc biệt trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hết sức quan trọng Nó không chỉ gây thiệt hại, tổn thất kinh

tế mà còn liên quan đến quan hệ, uy tín làm ăn của các thương nhân Hơn nữa hoạt động này liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, do nhiều nguồn luật điều chỉnh nên việc xác định rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa là một điều rất quan trọng

Theo từ điển Oxford “rủi ro là khả năng một việc gì đó xấu xảy ra trong tương lai, có thể nguy hiểm hoặc có kết quả xấu”13

Theo trang Wiki thì “rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến

Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”14

Như vậy rủi ro hiểu chung nhất là những điều không lành mà nguyên nhân có thể khách quan do tự nhiên hoặc chủ quan do hành vi con người gây ra nhưng loại trừ những trường hợp thuộc về lỗi cố ý của chủ thể bị thiệt hại, gây ra tổn thất làm giảm lợi nhuận so với dự kiến

Từ những cách hiểu về rủi ro như trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm rủi ro đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa như sau: Rủi ro đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa là sự mất mát hoặc tổn thất đối với hàng hóa

Trang 17

Sự mất mát của hàng hoá bao gồm các trường hợp hàng hóa không thể được tìm thấy, đã bị đánh cắp hoặc đã được chuyển giao cho người khác Sự tổn thất của hàng hóa bao gồm hàng hóa bị phá hủy toàn bộ, sự hư hỏng, giảm sút chất lượng hàng hóa và sự thiếu hụt số lượng của hàng hoá trong quá trình vận chuyển hoặc lưu trữ

Tóm lại, rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa có tính khách quan, bất ngờ, nằm ngoài sự mong đợi và thiệt hại nó mang lại luôn là thiệt hại vật chất

1.2.2 Chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Một trong những cách để các chủ thể gánh chịu thiệt hại giảm nhẹ tổn thất của rủi ro là chuyển giao rủi ro Hoạt động này được nhắc đến khá nhiều trong mua bán hàng hóa đặc biệt là mua bán hàng hóa quốc tế nhưng vẫn chưa có khái niệm chính xác về nó Tuy nhiên ta có thể hiểu chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thay đổi từ người này sang người khác trách nhiệm gánh chịu thiệt hại do hàng hóa bị mất mát, hư hỏng

Trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế người mua và người bán là hai chủ thế của hợp đồng, thỏa thuận tạo ra hợp đồng Đây cũng đồng thời là hai chủ thể gánh chịu rủi ro đối với hàng hóa Do đó sự dịch chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa là sự chuyển giao trách nhiệm gánh chịu tổn thất của hàng hóa từ người bán sang người mua Nghĩa là khi có sự di chuyển rủi ro, người mua vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền hàng cho số hàng hóa bị mất mát hoặc thiệt hại; sau đó người mua sẽ định giá sự thiệt hại, hoàn tất hồ sơ theo qui định để khiếu nại đòi bồi thường từ công ty bảo hiểm Tuy nhiên người mua cũng có thể buộc người bán phải chịu trách nhiệm đối với những tổn thất của hàng hóa nếu chứng minh rằng sự mất mát hay thiệt hại về hàng hóa là hậu quả do hành vi thiếu trách nhiệm của người bán gây nên15

Ngoài ra còn có sự chuyển giao rủi ro giữa người bán hoặc người mua với người vận chuyển vì trong hợp đồng mua bán hàng hóa phần lớn việc giao hàng được thực hiện thông qua người chuyên chở Người chuyên chở chỉ gánh chịu thiệt hại trong quá trình vận chuyển nếu họ có lỗi Hợp đồng vận chuyển được ký kết giữa người mua hoặc người bán với người vận chuyển mang tính độc lập với hợp

mại 2005, Luận văn tốt nghiệp Đại học Luật TP.HCM

Trang 18

đồng mua bán hàng hóa Do đó trong hợp đồng mua bán hàng hóa không đề cập đến

sự chuyển giao rủi ro từ người bán hoặc người mua sang người vận chuyển mà chỉ

đề cập đến sự chuyển giao rủi ro từ người bán sang người mua mà thôi

Như vậy chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự chuyển giao trách nhiệm gánh chịu thiệt hại của hàng hóa từ người bán sang người mua Tuy nhiên khi nói đến chuyển giao rủi ro là điều mà các bên hết sức quan tâm là khi nào trách nhiệm gánh chịu tổn thất của hàng hóa được chuyển giao – tức thời điểm diễn ra sự chuyển giao rủi ro đó

Việc xác định thời điểm, địa điểm chuyển rủi ro đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, là ranh giới trong việc phân chia trách nhiệm gánh chịu rủi ro về mất mát, hư hỏng hàng hóa giữa người bán và người mua

1.3 Nguồn luật điều chỉnh về chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.3.1 Văn bản pháp luật quốc gia

LTM Việt Nam năm 2005 quy định về cách xác định trách nhiệm về rủi ro đối với hàng hóa thông qua năm điều khoản, từ Điều 57 đến Điều 61, như sau:

Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định:

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho bên mua tại một địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua khi hàng hoá đã được giao cho bên mua hoặc người được bên mua uỷ quyền đã nhận hàng tại địa điểm đó, kể cả trong trường hợp bên bán được uỷ quyền giữ lại các chứng từ xác lập quyền sở hữu đối với hàng hoá16

Chuyển rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định:

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu hợp đồng có quy định về việc vận chuyển hàng hoá và bên bán không có nghĩa vụ giao hàng tại một địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua khi hàng hoá đã được giao cho người vận chuyển đầu tiên17

17

Điều 58 LTM 2005

Trang 19

Chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà không phải là người vận chuyển:

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu hàng hoá đang được người nhận hàng

để giao nắm giữ mà không phải là người vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua khi bên mua nhận được chứng từ sở hữu hàng hoá; hoặc khi người nhận hàng để giao xác nhận quyền chiếm hữu hàng hoá của bên mua18

Chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hoá đang trên đường vận chuyển:

Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu đối tượng của hợp đồng là hàng hoá đang trên đường vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm giao kết hợp đồng19

Chuyển rủi ro trong các trường hợp khác:

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, việc chuyển rủi ro trong các trường hợp khác được quy định như sau: (i) ngoài các trường hợp đã phân tích ở trên thì rủi ro

về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua, kể từ thời điểm hàng hóa thuộc quyền định đoạt của bên mua và bên mua vi phạm hợp đồng do không nhận hàng; (ii) rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá không được chuyển cho bên mua, nếu hàng hoá không được xác định rõ ràng bằng ký mã hiệu, chứng từ vận tải, không được thông báo cho bên mua hoặc không được xác định bằng bất kỳ cách thức nào khác20

1.3.2 Công ước quốc tế

Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế (viết tắt theo tiếng Anh là CISG - Convention on Contracts for the International Sale of Goods) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong một nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Công ước này được thông qua tại Viên (Áo) ngày 11/04/1980 (nên còn được gọi là Công ước Viên năm 1980) và có hiệu lực từ ngày 01/01/1988

Trang 20

Nội dung Công ước quy định những vấn đề pháp lý cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế như ký kết hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của người mua, người bán phát sinh từ hợp đồng,…và đặc biệt là xác định thời điểm chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa

Ngày 18/12/2015, Việt Nam đã chính thức phê duyệt việc gia nhập Công ước Viên để trở thành viên thứ 84 của Công ước này và bắt đầu có hiệu lực ràng buộc tại Việt Nam từ ngày 1/1/201721

Việc tham gia CISG sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam Theo đó, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm chi phí, tránh được các tranh chấp trong hợp đồng mua bán quốc tế Bởi CISG xây dựng khung pháp lý thống nhất, được áp dụng tự động cho các thành viên tham gia như thời gian giao hàng, thời điểm hợp đồng có hiệu lực Điều này sẽ hạn chế được gần như mọi rủi ro cho các doanh nghiệp Việt Nam vốn không hiểu nhiều về luật của thị trường xuất khẩu và luôn phụ thuộc trong hợp đồng

Vấn đề chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được quy định tại chương IV, phần III – Mua bán hàng hóa của CISG (từ điều 66 đến điều 70)

CISG coi vấn đề chuyển rủi ro hoàn toàn độc lập với nghĩa vụ giao hàng của bên bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Cụ thể, Điều 66 CISG quy định:

“Việc mất mát hay hư hỏng hàng hóa xảy ra sau khi rủi ro chuyển sang bên mua không miễn trừ cho họ khỏi nghĩa vụ phải trả tiền, trừ phi việc mất mát hay hư hỏng

ấy là do hành động của bên bán gây nên”

Do việc vận chuyển hàng hóa trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế thường sẽ phải thông qua một bên chuyên chở thứ ba, nên thời điểm chuyển rủi ro

sẽ gắn với việc bên bán chuyển hàng hóa cho bên thứ ba cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng hóa

Công ước quy định trong trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa có quy định việc vận chuyển hàng hóa và người bán không buộc phải giao hàng tại một địa điểm

hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Trang 21

xác định thì rủi ro được chuyển sang người mua từ lúc hàng được giao cho người chuyên chở đầu tiên để giao cho người mua22

Tuy nhiên, nếu người bán có nghĩa vụ giao hàng cho người chuyên chở tại một địa điểm xác định thì rủi ro được chuyển sang người mua khi hàng được chuyển sang cho người chuyên chở tại địa điểm đó, và địa điểm chuyển giao rủi ro là địa điểm người bán giao hàng23

đó người mua không nhận hàng Bên cạnh đó hàng hóa chỉ được coi là đặt dưới quyền định đoạt của người mua khi hàng hóa đó đã được đặc định hóa rõ ràng cho mục đích của hợp đồng26

1.3.3 Tập quán thương mại quốc tế

Tập quán thương mại quốc tế là thói quen thương mại được hình thành lâu đời, có nội dung cụ thể, rõ ràng, được áp dụng liên tục và được các chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế chấp nhận một cách phổ biến27

23

Khoản 1 Điều 67 CISG 1980

Trang 22

Các điều khoản thương mại quốc tế Incoterms là bộ quy tắc giải thích một cách thống nhất các tập quán thương mại quốc tế do Phòng Thương mại quốc tế ICC soạn thảo và ban hành Trong thực tiễn mua bán hàng hóa quốc tế, các bên thường áp dụng các điều kiện giao hàng Incoterms và thời điểm rủi ro được chuyển

từ người bán sang người mua đã được quy định rõ ràng trong mỗi điều kiện giao hàng

Incoterms làm rõ sự phân chia trách nhiệm, chi phí và rủi ro trong quá trình chuyển hàng từ người bán đến người mua Cụ thể quy định các điều khoản về giao nhận hàng hóa, trách nhiệm của các bên: ai sẽ trả tiền vận tải, người nào sẽ đảm trách các chi phí về thủ tục hải quan, bảo hiểm về hàng hóa, người nào chịu trách nhiệm về những tổn thất và rủi ro của hàng hóa trong quá trình vận chuyển, thời điểm chuyển giao trách nhiệm về hàng hóa

Khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các bên thường thỏa thuận áp dụng điều kiện giao hàng nào của Incoterms nhằm tìm ra giải pháp nhanh chóng nhất cho các bên khi có rủi ro thiệt hại xảy ra, tránh những khiếu kiện kéo dài ảnh hưởng đến quan hệ buôn bán giữa các bên

Điều khoản giao hàng trong hợp đồng mua bán sẽ quy định rõ ai sẽ phải chịu trách nhiệm về mất mát, hư hỏng hàng hóa trong quá trình vận chuyển Nếu như người bán và người mua đều thống nhất về điều khoản cụ thể trong Incoterms áp dụng cho việc giao hàng thì điều khoản đó cũng đã quy định ai phải chịu rủi ro đối với phần nào của cả quá trình vận chuyển

Ví dụ: công ty Anh Khoa kí hợp đồng xuất khẩu dừa tươi với đối tác là công

ty Jung Yeunce, hai bên thỏa thuận và thống nhất lựa chọn điều kiện CFR (cước phí trả tới) của Incoterms 2010 làm điều kiện giao hàng28

Điều khoản CFR trong Incoterms 2010 quy định người bán phải chịu mọi rủi

ro về thất thoát hư hỏng hàng hóa cho đến thời điểm hàng đã được xếp lên tàu tại cảng bốc hàng Nghĩa là trong trường hợp này, công ty Anh Khoa sẽ phải chịu rủi ro

về mất mát hoặc hư hỏng hàng cho đến khi hàng được xếp lên con tàu tại cảng ở Việt Nam Như vậy, thời điểm chuyển rủi ro là khi hàng được đặt lên tàu tại cảng bốc hàng Sau thời điểm này, công ty Jung Yeunce sẽ chịu mọi rủi ro của hàng hóa

28

Xem Phụ lục I

Trang 23

Hai bên mua bán có thể tăng giảm trách nhiệm, nghĩa vụ cho nhau tùy thuộc vào vị thế mạnh (yếu) trong giao dịch nhưng không được làm thay đổi bản chất điều kiện cơ sở giao hàng Việc tăng, giảm trách nhiệm, nghĩa vụ (nếu có) cần phải được

cụ thể hóa trong hợp đồng mua bán

Incoterms chỉ xác định thời điểm di chuyển rủi ro hàng hóa từ người mua đến người bán chứ không xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa, cũng như hậu quả của việc vi phạm hợp đồng Những vấn đề này thường được quy định trong các điều khoản khác của hợp đồng hoặc trong luật điều chỉnh hợp đồng Các bên cũng cần biết rằng luật địa phương được áp dụng có thể làm mất hiệu lực bất cứ nội dung nào của hợp đồng, kể cả điều kiện Incoterms đã được lựa chọn trước đó

Trang 24

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong Chương 1 tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận chung về chuyển

giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế như sau:

Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thoả thuận giữa các bên thương nhân có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển giao quyền sở hữu và chứng từ liên quan đến hàng hóa cho bên mua và bên mua có nghĩa vụ thanh toán

và nhận hàng theo thỏa thuận

Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bao gồm: chủ thể, đối tượng, nội dung, đồng tiền thanh toán, hình thức hợp đồng, ngôn ngữ hợp đồng, luật điều chỉnh, cơ quan giải quyết tranh chấp

Khái quát rủi ro và chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: Rủi ro đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa là sự mất mát hoặc tổn thất đối với hàng hóa, có tính khách quan, bất ngờ, nằm ngoài sự mong đợi và thiệt hại nó mang lại luôn là thiệt hại vật chất Chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa là sự chuyển giao trách nhiệm gánh chịu thiệt hại của hàng hóa từ người bán sang người mua

Pháp luật điều chỉnh vấn đề chuyển giao rủi ro được quy định trong văn bản pháp luật quốc gia, Công ước quốc tế và Tập quán thương mại quốc tế như sau: Luật Thương mại 2005: chuyển rủi ro chia làm các trường hợp gồm: có địa điểm giao hàng xác định, không có địa điểm giao hàng xác định, giao cho người thứ

ba (người chuyên chở) và các trường hợp khác

CISG 1980: thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa từ người bán sang người mua được quy định như sau:

Nếu hợp đồng mua bán không quy định hàng hóa phải được giao tại địa điểm nhất định thì rủi ro chuyển sang người mua kể từ khi hàng được giao cho người vận tải đầu tiên để chuyển hàng cho người mua theo quy định của hợp đồng

Nếu hợp đồng quy định hàng hóa phải được giao tại địa điểm nhất định thì thời điểm chuyển rủi ro khi hàng được giao cho người vận tải tại địa điểm nhất định

đó Trong trường hợp này thời điểm chuyển rủi ro tùy thuộc vào từng phương thức giao hàng cụ thể

Trang 25

Incoterms: các điều khoản thương mại Incoterms làm rõ sự phân chia trách nhiệm, chi phí và rủi ro trong quá trình chuyển hàng từ người bán đến người mua

Cụ thể quy định các điều khoản về giao nhận hàng hóa, trách nhiệm của các bên: ai

sẽ trả tiền vận tải, người nào sẽ đảm trách các chi phí về thủ tục hải quan, bảo hiểm

về hàng hóa, người nào chịu trách nhiệm về những tổn thất và rủi ro của hàng hóa trong quá trình vận chuyển, thời điểm chuyển giao trách nhiệm về hàng hóa

Trang 26

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CỦA INCOTERMS 2010 VỀ CHUYỂN GIAO RỦI

RO TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển Incoterms

Năm 1936, Phòng Thương mại quốc tế ICC tại Paris đã phát hành Incoterms

để giải thích các điều kiện thương mại nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại, do những bất đồng giữa luật địa phương và những điều cốt yếu trong ngoại thương gây

ra, cũng để quy chuẩn nhiều cách hiểu cho một thuật ngữ Ngoài ra, Incoterms nhằm thống nhất tập quán thương mại quốc tế, tránh được những vụ tranh chấp và kiện tụng làm lãng phí thời gian và của cải của con người và xã hội

Lập tức, Incoterrms được nhiều nhà doanh nghiệp của nhiều nước thừa nhận

và áp dụng vì tính rõ ràng, dễ hiểu, phản ánh được các tập quán thương mại phổ biến trong buôn bán quốc tế Khi môi trường và điều kiện kinh doanh quốc tế thay đổi thì Incoterms cũng được hoàn thiện và đổi mới theo thực tiễn

Trong bối cảnh nền kinh tế liên tục đổi mới, Incoterms cũng đã được thay đổi hoàn thiện nhằm phù hợp với thực tiễn thương mại quốc tế Từ đó đến nay, Incoterms đã được sửa đổi và bổ sung bảy lần vào các năm 1953, 1967, 1976, 1980,

1990, 2000 và năm 2010 Incoterms ra đời lần sau hoàn thiện hơn lần trước, nhưng không phủ định lần trước

Văn bản Incoterms ban hành năm 1936 có nội dung chỉ gồm 7 điều kiện thương mại, đến Incoterms 1953 gồm 9 điều kiện, Incoterms 1967 gồm 11 điều kiện, Incoterms 1980 gồm 14 điều kiện, và Incoterms 1990 cũng như Incoterm 2000 đều có 13 điều kiện và Incoterms 2010 có 11 điều kiện thương mại

Phương pháp trình bày của Incoterms cũng thể hiện tính cải tiến và hoàn thiện qua các lần sửa đổi giúp các nhà doanh nghiệp dễ nhớ và dễ nắm về nghĩa vụ và chi phí của mình trong từng điều kiện thương mại lựa chọn Cụ thể, các Incoterms ban hành trước năm 1990 trình bày các diều kiện khó hiểu, không có hệ thống vì không

có sự phân nhóm Mỗi điều kiện được trình bày riêng rẽ, độc lập, giữa các điều kiện thương mại không thể hiện điểm chung

Trong bản Incoterms 1990 và Incoterms 2000, nội dung được trình bày cải tiến theo một trật tự logic và khoa học: các điều kiện thương mại chia 4 nhóm và Incoterms 2010 chia làm 2 nhóm theo việc sử dụng các loại hình phương tiện vận

Trang 27

tải Mỗi điều kiện thương mại trình bày nghĩa vụ của người bán, người mua trong

10 nhóm nghĩa vụ một cách đối ứng trên cùng một trang sách Điều này cho phép thấy được một cách rõ ràng: mỗi nghĩa vụ áp đặt đối với bên này sẽ giải phóng cho đối tác chính nghĩa vụ đó29

2.2 Nội dung của Incoterms 2010 về chuyển giao rủi ro

2.2.1 Giới thiệu về Incoterms 2010

Incoterms 2010 bắt đầu có hiệu lực thực thi từ ngày 1/1/2011

Nguyên nhân Incoterms 2010 ra đời30:

Incoterms 2000 còn tồn tại nhiều điểm yếu Sau một vài năm nghiên cứu, Phòng thương mại quốc tế ICC rút ra được rằng các điều kiện DAF, DES, DEQ, DDU Incoterms 2000 rất ít áp dụng Bên cạnh đó nhiều điều kiện còn chưa rõ khiến các doanh nghiệp dễ nhầm lẫn trong việc lựa chọn hoặc chưa nắm chính xác được nghĩa vụ chi phí có liên quan đến giao nhận ngoại thương dẫn tới sử dụng chưa hiệu quả, tranh chấp xung quanh việc sử dụng Incoterms còn khá phổ biến

Sự kiện khủng bố diễn ra tại Hoa Kỳ 11/9/2001 Từ 01/07/2012: Tất cả hàng hóa container vận chuyển vào Hoa Kỳ phải được soi chiếu Năm 2008, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua một đạo luật mới quy định 100% container hàng hóa chở vào Hoa Kỳ phải được soi chiếu Biện pháp an ninh mới này sẽ là một thách thức rất lớn

cả về công việc lẫn tài chính Từ 01/07/2012, các container chở hàng đến Hoa Kỳ

dù là được chuyên chở trực tiếp hoặc gián tiếp (chuyển tải qua một cảng biển thứ 3) đều phải được soi chiếu trước Quy định nhằm đảm bảo an ninh dây chuyền logistics toàn cầu này của Hoa Kỳ sẽ đặt ra cho Hải quan các nước phải trang bị máy soi container tại các cảng biển quốc tế có xuất hàng container đi Hoa Kỳ Quy tắc điều chỉnh hoạt động thương mại của Hoa Kỳ đã được xây dựng mới

Kể từ năm 2004, nhiều chuyên gia làm luật thương mại của Hoa Kỳ phối hợp với các chuyên gia của ICC hoàn thiện và xây dựng Incoterms 2010 Có thể nói nội dung của Incoterms 2010 có nhiều điểm tương đồng nhất với Bộ quy tắc: “The 2004 revision of the United States‟ Uniform Commercial Code” so với Incoterms 1990 hay Incoterms 2000

Trang 28

Quy tắc bảo hiểm hàng hóa chuyên chở mới có hiệu lực từ 01/01/2009 được hoàn thiện từ Quy tắc ban hành năm 198231

Sự thay thế nhanh chóng các chứng từ giấy tờ bằng chứng từ điện tử cũng là nguyên nhân thúc đẩy Incoterms được điều chính đúng chu kỳ 10 năm/ lần

Incoterms 2010 gồm 11 điều kiện thương mại chia làm 2 nhóm, thể hiện trong bảng 2.1

Bảng 2.1 Các điều kiện thương mại của Incoterm 2010

CIP Carriage and Insurance Paid To (Cước phí

và bảo hiểm trả tới) DAT Delivered At Terminal (Giao tại bến) DAP Delivered At Place (Giao tại nơi đến) DDP Delivered Duty Paid (Giao hàng đã thông

quan nhập khẩu)

Nhóm II Các điều khoản

chỉ sử dụng cho vận tải

biển quốc tế và nội địa

FAS Free Alongside Ship (Giao hàng dọc mạn

tàu) FOB Free On Board (Giao hàng lên tàu) CFR Cost and Freight (Tiền hàng và cước phí) CIF Cost, Insurance and Freight (Tiền hàng,

bảo hiểm và cước phí)

31 Các điều kiện bảo hiểm hàng hóa (Insitute Cargo Clauses – ICC) vận chuyển bằng đường biển (ICC by sea) hoặc vận chuyển bằng đường hàng không (ICC by air) được Hiệp hội bảo hiểm London soạn thảo những điều khoản mới, ban hành vào ngày 1/1/2009 trên tinh thần kế thừa và khắc phục những điểm yếu của ICC

1982

Trang 29

- Nhóm thứ nhất bao gồm 7 điều kiện có thể sử dụng mà không phụ thuộc vào phương thức vận tải lựa chọn và cũng không phụ thuộc vào việc sử dụng một hay nhiều phương thức vận tải

Nhóm này bao gồm các điều kiện: EXW, FCA, CPT, CIP, DAT, DAP, DDP Các điều kiện này có thể được sử dụng khi hoàn toàn không có phương thức vận tải biển Tuy vậy, các điều kiện này vẫn có thể được sử dụng khi một phần chặng đường được tiến hành bằng tàu biển32 Và chúng đều có chung một đặc điểm là tên địa điểm đi kèm với các điều kiện này cũng chính là tên điểm giới hạn trách nhiệm chuyên chở của người bán và cũng tại đó được xác định là nơi giao hàng từ người bán sang người mua, ngoại trừ hai điều kiện CPT và CIP thì điểm giới hạn trách nhiệm gắn liền với tên điều kiện và địa điểm giao hàng là hai địa điểm riêng biệt tách rời nhau

- Nhóm thứ hai gồm 4 điều kiện áp dụng cho vận tải đường biển và đường thủy nội địa

Trong nhóm thứ hai này, địa điểm giao hàng, dỡ hàng và nơi hàng hóa được chở tới người mua đều là cảng biển, vì vậy chúng được xếp vào nhóm các điều kiện đường biển và đường thủy nội địa Nhóm này bao gồm các điều kiện FAS, FOB, CFR, CIF Ở ba điều kiện FOB, CFR, CIF, tất cả các cách đề cập đến lan can tàu như một điểm giao hàng bị loại bỏ Thay vào đó, hàng hóa được xem như đã được giao khi chúng đã được xếp lên tàu Điều này phản ánh sát hơn với thực tiến thương mại hiện đại ngày nay, xóa đi một quan niệm lỗi thời về việc rủi ro được chuyển giao qua một ranh giới tưởng tượng33

Việc chia thành hai nhóm thay vì bốn nhóm như trước đây là một thay đổi lớn

về mặt kết cấu của Incoterms 2010 Nếu như trước đây, việc chia các điều kiện theo nhóm với các chữ cái đầu tiên của điều kiện chỉ mang lại lợi ích giúp người sử dụng

có thể dễ nhớ tên thì hiện nay, với việc chia thành hai nhóm theo phương thức sử dụng, các doanh nghiệp có thể dễ dàng áp dụng các điều kiện của Incoterms trong hợp đồng mua bán hàng hóa một cách chính xác nhất

32, 33 Phòng Thương mại quốc tế ICC (2010), Incoterms 2010 - Quy tắc của ICC về sử dụng các điều kiện

thương mại quốc tế và nội địa, NXB Thông tin và truyền thông Hà Nội, tr.8

Trang 30

Tùy thuộc vào việc hàng hóa được chuyên chở bằng phương tiện nào (đường không, đường biển, đường bộ,…), loại hình nào (hàng rời, container, sà lan,…) thì

có những nhóm điều kiện tương ứng

Bảng 2.2 So sánh điểm khác nhau giữa Incoterm 2000 và Incoterm 201034STT Tiêu chí so sánh Incoterms 2000 Incoterms 2010

1 Số các điều kiện thương mại 13 điều kiện 11 điều kiện

3 Cách thức phân nhóm Theo chi phí vận tải

và địa điểm chuyển rủi ro

Theo hình thức vận tải: thủy và các loại phương tiện vận tải

4 Nghĩa vụ liên quan đến đảm

bảo an ninh hàng hóa

Không quy định Có quy định

6 Quy định về chi phí có liên

quan

Không rõ ràng Khá rõ: A4/B4 &

A6/B6

7 Các điều kiện thương mại

DES, DEQ, DAF, DDU

8 Các điều kiện thương mại:

DAT, DAP

Như vậy, Incoterms 2010 có những thay đổi cần lưu ý:

Bỏ 4 điều khoản DAF, DES, DEQ và DDU, đưa vào 2 điều khoản mới là DAP

và DAT

Trang 31

Chia làm 2 nhóm: (i) các điều kiện áp dụng cho bất cứ phương thức vận tải nào, và (ii) các điều kiện áp dụng cho vận tải đường biển và đường thủy nội địa (Incoterms 2000 có 4 nhóm)

Chính thức thừa nhận rằng những điều kiện này có thể sử dụng cả trong thương mại quốc tế và thương mại nội địa (nếu phù hợp) Điều khoản EXW được nói rõ là chỉ phù hợp cho thương mại nội địa

Nêu rõ tham chiếu đến việc sử dụng "các phương tiện ghi chép điện tử có giá trị tương đương", nếu như các bên đồng ý như vậy, hoặc đó là tập quán thương mại Incoterms 2010 là phiên bản điều kiện thương mại đầu tiên kể từ khi Các điều kiện bảo hiểm hàng hóa được sửa đổi và đã tính đến những sự thay đổi của các điều kiện này Incoterms 2010 đưa ra nghĩa vụ về thông tin liên quan tới bảo hiểm trong các mục A3/B3, mục quy định về hợp đồng vận tải và bảo hiểm

Phân bổ các nghĩa vụ tương ứng của các bên trong việc cung cấp hoặc hỗ trợ

để lấy được các chứng từ và thông tin cần thiết nhằm thông quan liên quan đến an ninh

Trách nhiệm đối với các khoản phí xếp hàng tại ga/trạm được phân bổ rõ ràng Trong trường hợp người bán phải thuê và thanh toán cho việc vận chuyển hàng hóa đến một điểm đích nhất định (CIP, CPT, CFR, CIF, DAT, DAP, DDP), có thể các chi phí bốc xếp hàng hóa đã được chuyển sang cho người mua thông qua giá cả của hàng hóa

Làm rõ việc bán hàng dây chuyền bằng cách cho thêm cụm từ “nghĩa vụ mua hàng hóa đã được gửi đi” như một nghĩa vụ thay thế cho nghĩa vụ gửi hàng

Các điều khoản FOB, CFR và CIF của Incoterms 2010 đều bỏ phần nói đến lan can tàu như là điểm giao hàng, thay vào đó là nói đến hàng được giao “on board” (xếp lên tàu/lên boong)

Incoterms 2010 sử dụng cụm từ “đã được đóng gói”, từ này sử dụng cho các mục đích khác nhau: (i) đóng gói hàng hóa theo yêu cầu trong hợp đồng mua bán; (ii) đóng gói hàng hóa sao cho phù hợp với việc vận chuyển; (iii) việc xếp hàng đã đóng gói trong container hay các phương tiện vận tải khác

2.2.2 Nội dung của Incoterms 2010 về chuyển giao rủi ro

Giải thích một số thuật ngữ:

Trang 32

Người chuyên chở (carrier): là người được ký hợp đồng vận tải với người bán/người mua

Thủ tục hải quan: bao gồm những công việc như xuất trình chứng từ, kiểm tra

an ninh, cung cấp thông tin và xuất trình hàng hóa để kiểm tra theo yêu cầu của hải quan

Giao hàng (delivery): là địa điểm rủi ro và tổn thất về hàng hóa được di chuyển từ người bán sang người mua

Trong Incoterms các nghĩa vụ của bên mua và bên bán được sắp xếp tương ứng theo thứ tự từ A1 đến A10 và B1 đến B10 lần lượt trong bảng 2.3:

Bảng 2.3 Nghĩa vụ của người bán Nghĩa vụ của người mua

A1: nghĩa vụ chung của người bán B1: nghĩa vụ chung của người mua

A2: giấy phép, kiểm tra an ninh và các

A5: phân chia rủi ro B5: chuyển rủi ro

A6: phân chia chi phí B6: phân chia chi phí

A7: thông báo cho người mua B7: thông báo cho người bán

A8: chứng từ giao hàng B8: bằng chứng của việc giao hàng

A9: kiểm tra – bao bì – kí mã hiệu B9: kiểm tra hàng hóa

A10: hỗ trợ thông tin và chi phí liên

quan

B10: hỗ trợ thông tin và chi phí liên quan

Theo đó, các nấc thang với các nghĩa vụ chuyển dần từ người bán sang người mua, từ trách nhiệm tối thiểu tới trách nhiệm tối đa của người bán và ngược lại đối với người mua

Trong mỗi điều kiện của Incoterms 2010 vấn đề chuyển rủi ro được quy định tại mục A5 và B5 Tất cả các điều kiện quy định về vấn đề chuyển rủi ro đều dựa

Trang 33

trên cùng một nguyên tắc là rủi ro về mất mát hư hỏng hàng hóa được chuyển từ người bán sang người mua khi người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng theo mục A4

Hình 2.1 thể hiện điểm đánh dấu trách nhiệm chịu rủi ro tổn thất về hàng hóa (điểm tới hạn), tới điểm nào thì rủi ro và tổn thất về hàng hóa trong quá trình vận chuyển hàng hóa chuyển từ người bán sang người mua, hoặc trách nhiệm thuộc về hai bên

Hình 2.1 Phân chia trách nhiệm và rủi ro của 11 điều khoản Incoterms 201035

Trong đó:

35 Nguồn: https://internationalcommercialterms.guru/

Trang 34

Factory: xưởng (của người bán)

Buyer warehouse: kho của người mua

First carrier: người chuyên chở đầu tiên

Alongside ship: giao dọc màn tàu

On board: trên tàu

On arrvial (Terminal): cảng đến

Destination place: nơi đích quy định

Seller‟s obligation: nghĩa vụ của người bán

Buyer‟s obligation: nghĩa vụ của người mua

Transfer of risk: chuyển giao rủi ro

Agreed place: nơi thỏa thuận

Port of shipment: cảng giao hàng

Port of destination: cảng đích

Place of destination: nơi đích quy định

Sau đây sẽ phân tích rõ hơn vấn đề chuyển giao rủi ro trong từng điều khoản của Incoterms 2010

EXW – Ex Works: Giao tại xưởng

Như đã nói ở trên, vấn đề chuyển rủi ro gắn với việc giao hàng Theo điều kiện EXW người bán giao hàng khi đặt hàng dưới sự định đoạt của người mua tại

cơ sở của người bán hoặc địa điểm quy định khác (kho bãi, nhà máy, xưởng,…) nhưng không thực hiện thông quan xuất khẩu hàng và không bốc hàng lên phương tiện vận tải Điều kiện này thể hiện nghĩa vụ tối thiểu của người bán và người mua phải chịu mọi chi phí và rủi ro liên quan đến việc nhận hàng từ cơ sở của người bán Theo quy định tại mục A5: người bán phải chịu mọi rủi ro về tổn thất hoặc hư hỏng hàng hóa cho đến thời điểm hàng đã được giao theo đúng điều A4 Mà theo điều kiện giao hàng ở mục A4 người bán đặt hàng dưới sự định đoạt của người mua

Trang 35

tại địa điểm giao hàng thỏa thuận ở nước người bán, thông thường là tại cơ sở người bán Vì vậy rủi ro chuyển từ người bán sang người mua kể từ thời điểm hàng được đặt dưới sự định đoạt của người mua, tức người mua chịu rủi ro từ khi bốc hàng lên

xe Địa điểm chuyển rủi ro là địa điểm mà hai bên đã thỏa thuận để người bán giao hàng cho người mua và địa điểm đó ở trên nước người bán

Theo điều kiện EXW rủi ro mà người bán phải chịu là rất ít so với người mua

vì điều kiện này quy định nghĩa vụ của người bán là tối thiểu và nghĩa vụ người mua là tối đa

Theo quy tắc cơ bản thể hiện ở mục A5, người bán phải chịu rủi ro về mất mát

hư hỏng hàng hóa cho tới thời điểm hàng được đặt dưới sự định đoạt của người mua tại địa điểm giao hàng đã thỏa thuận và người mua phải chịu mọi rủi ro kể từ sau thời điểm đó Nhưng trong trường hợp người mua không thông báo cho người bán

về thời gian giao hàng hoặc điểm đến, người mua muốn trí hoãn nhận hàng và kéo dài thời điểm di chuyển rủi ro, thì theo quy định mục B5 rủi ro sẽ được chuyển trước, rủi ro chuyển từ ngày thỏa thuận hoặc ngày hết thời hạn nhận hàng

FCA – Free Carrier: Giao cho người chuyên chở

Theo điều kiện FCA người bán sau khi thực hiện thông quan xuất khẩu, giao hàng cho người chuyên chở do người mua chỉ định tại địa điểm quy định Người chuyên chở là bất kì ai mà theo hợp đồng vận tải, cam kết tự mình thực hiện hoặc đứng ra đảm trách việc chuyên chở Nếu người mua chỉ định một người không phải

là người chuyên chở tiến hành nhận hàng thì người bán được coi là đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng khi giao hàng cho người được chỉ định đó

Tất cả các điều kiện của Incoterms đều dựa trên cùng một nguyên tắc là rủi ro

về mất mát hư hỏng hàng hóa được chuyển từ người bán sang người mua khi người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng Theo điều kiện FCA tại mục A4 thì người bán được xem là hoàn thành việc giao hàng nếu:

Ngày đăng: 02/05/2021, 18:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Hồ Mỹ Ngọc Chân (2006), “Thời điểm chuyển dịch rủi ro đối với hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại 2005”, luận văn cử nhân luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời điểm chuyển dịch rủi ro đối với hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại 2005”
Tác giả: Hồ Mỹ Ngọc Chân
Năm: 2006
5. Lê Tuấn Hùng (2002), “Áp dụng Incoterms trong các hợp đồng mua bán ngoại thương từ thực tiễn tại TP.HCM”, luận văn cử nhân luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Áp dụng Incoterms trong các hợp đồng mua bán ngoại thương từ thực tiễn tại TP.HCM”
Tác giả: Lê Tuấn Hùng
Năm: 2002
6. Lữ Đình Hồng Yến (2010), “Vấn đề chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo CISG 1980, Incoterms 2000 và pháp luật Việt Nam”, luận văn cử nhân luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đề chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo CISG 1980, Incoterms 2000 và pháp luật Việt Nam”
Tác giả: Lữ Đình Hồng Yến
Năm: 2010
7. Mai Xuân Minh, Tài liệu học tập Luật Thương mại quốc tế, Đại học Công nghệ TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thương mại quốc tế
8. Nguyễn Ngọc Lâm (2014), Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế, NXB. Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lâm
Nhà XB: NXB. Hồng Đức
Năm: 2014
9. Phòng Thương mại quốc tế (ICC) (2010), Incoterms 2010 – Quy tắc của ICC về sử dụng các điều kiện thương mại quốc tế và nội địa, NXB Thông tin và truyền thông Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Incoterms 2010 – Quy tắc của ICC về sử dụng các điều kiện thương mại quốc tế và nội địa
Tác giả: Phòng Thương mại quốc tế (ICC)
Nhà XB: NXB Thông tin và truyền thông Hà Nội
Năm: 2010
10. Trường Đại học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình Pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ
Tác giả: Trường Đại học Luật TP.HCM
Nhà XB: NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2017
11. Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật Thương mại quốc tế, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thương mại quốc tế
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2010
12. Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam – VIAC, 50 phán quyết trọng tài quốc tế chọn lọc. Nguồn: https://vietnamarbitration.files.wordpress.com/2016/01/viac-50-phan-quyet-trong-tai-quoc-te-chon-loc.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: phán quyết trọng tài quốc tế chọn lọc
2. Công ước của Liên Hợp Quốc về mua bán hàng hóa quốc tế - CISG 1980. Nguồn: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Cong-uoc-vien-Lien-Hop-quoc-mua-ban-hang-hoa-quoc-te-11-04-1980-90153.aspx Link
4. Incoterms 2000. Nguồn: https://epdf.tips/incoterms-2000-vietnamese-version.html Link
2. Luật Quản lý ngoại thương 2017 3. Luật Thương mại 2005B. TÀI LIỆU THAM KHẢO Khác
1. Chính phủ (2015), Tờ trình số 173/TTr-CP ngày 22/4/2015 về việc gia nhập Công ước Viên 1980 của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Các điều kiện thương mại của Incoterm 2010 - Chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của tập quán thương mại quốc tế Incoterms 2010
Bảng 2.1. Các điều kiện thương mại của Incoterm 2010 (Trang 28)
Bảng 2.2. So sánh điểm khác nhau giữa Incoterm 2000 và Incoterm 2010 34 STT  Tiêu chí so sánh  Incoterms 2000  Incoterms 2010 - Chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của tập quán thương mại quốc tế Incoterms 2010
Bảng 2.2. So sánh điểm khác nhau giữa Incoterm 2000 và Incoterm 2010 34 STT Tiêu chí so sánh Incoterms 2000 Incoterms 2010 (Trang 30)
Bảng 2.3  Nghĩa vụ của người bán  Nghĩa vụ của người mua - Chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của tập quán thương mại quốc tế Incoterms 2010
Bảng 2.3 Nghĩa vụ của người bán Nghĩa vụ của người mua (Trang 32)
Hình 2.1 thể hiện điểm đánh dấu trách nhiệm chịu rủi ro tổn thất về hàng hóa  (điểm tới hạn), tới điểm nào thì rủi ro và tổn thất về hàng hóa trong quá trình vận  chuyển hàng hóa chuyển từ người bán sang người mua, hoặc trách nhiệm thuộc về  hai bên - Chuyển giao rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của tập quán thương mại quốc tế Incoterms 2010
Hình 2.1 thể hiện điểm đánh dấu trách nhiệm chịu rủi ro tổn thất về hàng hóa (điểm tới hạn), tới điểm nào thì rủi ro và tổn thất về hàng hóa trong quá trình vận chuyển hàng hóa chuyển từ người bán sang người mua, hoặc trách nhiệm thuộc về hai bên (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w