Chi phí giao dịch
Trang 1KINH TẾ HỌC VỀ CHI PHÍ GIAO DỊCH
Các hãng, các thị trường, và việc thiết lập hợp đồng quan hệ (relational contracting) là những thể chế kinh tế quan trọng Chúng cũng là sản phẩm tiến hóa của một chuỗi những đổi mới về tổ chức Tuy nhiên, việc nghiên cứu các thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường chưa chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình nghị sự về nghiên cứu khoa học xã hội
Việc xao lãng này được giải thích một phần bởi sự phức tạp vốn có của các thể chế đó Nhưng sự phức tạp có thể và quả thật thường phục vụ như là một yếu tố thúc đẩy chứ không phải là yếu tố cản trở Tình trạng ban sơ của kiến thức của chúng ta ít nhất cũng được giải thích với mức độ tương đương bởi sự miễn cưỡng trong việc thừa nhận rằng các chi tiết về tổ chức có tầm quan trọng Khái niệm phổ biến về công ty hiện đại như là một “hộp đen” là một mẫu mực về truyền thống nghiên cứu phi thể chế (hay tiền-phân tích vi mô)
chức có tầm quan trọng thì chưa đủ Cần phải xác định những đặc điểm về cấu trúc quan trọng nhất của các hình thức theo thị trường, theo hệ thống tầng nấc, tựa thị trường (quasi-market) của tổ chức và liên kết chúng với những kết quả kinh tế theo một cách thức có tính hệ thống Việc thiếu sự đồng ý về (hay những khái niệm sai lầm liên quan đến) những mục đích chính của tổ chức kinh tế cũng là một yếu tố gây trở ngại cho tiến
bộ trong nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề đó, sẽ cần đến một chương của lịch sử tư duy kinh tế nào đó chưa được viết ra Bất kể sự giải thích cuối cùng là gì, sự thật là hoạt động nghiên cứu về các thể chế kinh tế đã chứng kiến sự hồi sinh Theo đó, trong khi việc nghiên cứu
về kinh tế học về thể chế đã đạt điểm sa sút nhất trong thời kỳ ngay sau chiến tranh thế giới, thì bình tâm nhìn lại chúng ta sẽ lần ra được rằng việc phục hồi sự quan tâm về các thể chế và việc tái xác nhận tầm quan trọng về kinh tế của chúng đã xảy ra từ đầu thập
chung của lĩnh vực nghiên cứu mới là khái niệm hãng (công ty) như là một hàm sản xuất
bị thay thế (hay được nâng cao) bởi khái niệm hãng như là một cấu trúc quản trị (governance structure) Nghiên cứu thuộc loại Kinh tế học mới về thể chế (New Institutional Economics) đã đạt khối lượng có tính quyết định trước năm 1975.3 Thập niên sau đó chứng kiến sự gia tăng theo cấp số nhân
học mới về thể chế Mặc dù kinh tế học về chi phí giao dịch (và, tổng quát hơn, Kinh tế học mới về thể chế) áp dụng vào việc nghiên cứu tổ chức kinh tế thuộc tất cả các loại, nhưng cuốn sách này chủ yếu đặt trọng tâm vào các thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường, đặc biệt đề cập đến hãng, thị trường, và hợp đồng quan hệ (relational contracting) Trọng tâm đó trải qua trọn vẹn một khoảng biến thiên từ một đầu là sự trao đổi rời rạc trên thị trường đến đầu kia là tổ chức theo tầng nấc tập trung, với vô số phương thức hỗn hợp hay trung gian ở khoảng giữa Đặc trưng thay đổi của tổ chức kinh tế theo thời gian – trong phạm vi và giữa các thị trường và các hệ thống tầng nấc – là điều được quan tâm đặc biệt
Trang 2Mặc dù những tính chất đáng lưu ý của các thị trường tân cổ điển, mà ở đó giá cả được dùng làm số liệu thống kê thỏa đáng, được thừa nhận rộng rãi – như Friedrich Hayek phát biểu, thị trường là “điều kỳ diệu” (1945, trang 525) – nhưng người ta có các ý kiến khác nhau trong việc đánh giá các giao dịch được thu xếp trong phạm vi các phương thức tổ chức phi thị trường và tựa thị trường Bộ máy quản lý hành chính và những hỗ trợ theo cách thức “luật rừng” (hay trật tự tư, private ordering) đi kèm với những giao dịch này có tốt lắm thì cũng dẫn đến tình trạng rối ren Một số học giả thậm chí từ chối bàn luận đến những giao dịch đó Những học giả khác xem những sự lệch hướng này là bằng chứng cho thấy tình trạng tràn lan của “thất bại thị trường” Cho đến rất gần đây, cách giải thích về kinh tế chủ yếu đối với những thông lệ kinh doanh xa lạ hay không thông
thông lệ kinh doanh thuộc loại này hay loại khác – mà nhà kinh tế học không hiểu, thì nhà kinh tế học này sẽ tìm một cách giải thích dựa theo độc quyền” (Coase, 1972, trang 67) Điều không làm ai ngạc nhiên là các nhà khoa học xã hội khác xem cùng các thể chế này
là có hại cho xã hội Việc cưỡng chế thi hành luật chống độc quyền từ năm 1945 đến hết năm 1970 thể hiện định hướng đó
Phải công nhận rằng, sự đánh giá tiêu cực về xã hội sau khi cân nhắc mọi mặt đôi khi được biện minh là xác đáng Tuy thế, một sự hiểu biết sáng suốt và tinh tế hơn về các thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường đã và đang phát triển dần dần Nhiều thông lệ thực hành gây bối rối hay khác thường đã được làm nổi bật rõ rệt trong quá trình này Cuốn sách này đưa ra nhận định rằng các thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường có mục đích chính và tác dụng là tiết kiệm các chi phí giao dịch (giảm bớt các chi phí giao dịch)
đích) và mục đích duy nhất Các thể chế phức tạp thường đáp ứng nhiều mục tiêu khác nhau Điều này cũng đúng ở đây Tôi gán cho việc tiết kiệm chi phí giao dịch tầm quan trọng khác thường là có ý đồ uốn nắn lại tình trạng xao lãng và đánh giá chưa đủ trước đây Theo phán đoán của tôi, chúng ta không thể đạt được sự đánh giá đúng đắn về các thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường nếu chúng ta bác bỏ tầm quan trọng chính yếu của việc tiết kiệm chi phí giao dịch.5 Cần phải chú trọng nhiều hơn đến các đặc điểm về
tổ chức (so với công nghệ) và các mục đích về hiệu quả (so với độc quyền) Chủ điểm
này được lặp lại, với những biến thể khác nhau, trong suốt cuốn sách này
của các thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường trên thế giới trong 150 năm qua cần được đánh giá lại xét theo chi phí giao dịch Phương pháp được đề xuất ở đây là định hướng hợp đồng (contracting orientation) và khẳng định rằng bất cứ vấn đề nào có thể được giải thích một cách có hệ thống như một vấn đề về thiết lập hợp đồng (contracting problem) đều có thể được nghiên cứu, để đem lại kết quả tốt, xét về phương diện tiết kiệm chi phí giao dịch Mọi quan hệ trao đổi hay giao dịch đều đủ tiêu chuẩn để có thể được nghiên cứu xét theo việc tiết kiệm chi phí giao dịch Nhiều vấn đề khác, mà lúc ban đầu
có vẻ không liên quan tới việc thiết lập hợp đồng, nhưng sau khi xem xét kỹ lưỡng, thì hóa ra là có tính chất thiết lập hợp đồng ngầm ẩn (Vấn đề các-ten là một thí dụ) Kết
Trang 3quả cuối cùng là phạm vi thực sự và tiềm năng của kinh tế học về chi phí giao dịch rất rộng
chi phí giao dịch (1) có tính phân tích vi mô hơn, (2) tự ý thức hơn về các giả định về hành vi của mình, (3) giới thiệu và phát triển tầm quan trọng về kinh tế của tính chuyên dụng hay đặc thù của tài sản (asset specificity), (4) dựa nhiều hơn vào phân tích so sánh
về thể chế, (5) xem hãng (công ty) kinh doanh như là một cấu trúc quản trị chứ không phải là một hàm sản xuất đơn thuần, và (6) gắn tầm quan trọng lớn hơn cho các thể chế
hậu nghiệm (ex post) của hợp đồng, với sự nhấn mạnh đặc biệt đến các trật tự tư (so với
trật tự theo tòa án) Nhiều ý nghĩa bổ sung phát sinh khi giải quyết các vấn đề về tổ chức kinh tế theo cách này Nghiên cứu về các thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường, như được đề xuất trong bài này, khẳng định rằng giao dịch là một đơn vị cơ bản của phép phân tích và nhấn mạnh rằng hình thức tổ chức có tầm quan trọng Quan điểm nền tảng ảnh hưởng đến nghiên cứu so sánh về các vấn đề của tổ chức kinh tế là: Người ta tiết kiệm được các chi phí giao dịch bằng cách gán các giao dịch (mà các giao dịch này có các thuộc tính khác nhau) cho các cấu trúc quản trị (mà khả năng thích ứng và các chi phí đi
Với tính phức tạp của những hiện tượng được xem xét lại, kinh tế học về chi phí giao dịch thường được sử dụng bổ sung cho các phương pháp khác chứ không phải loại trừ hết các phương pháp khác Tuy nhiên, không phải mọi phương pháp đều mang lại nhiều kiến thức bổ ích như nhau, và đôi khi các phương thức khác nhau là đối thủ chứ không phải bổ trợ cho nhau
Bản chất của các chi phí giao dịch được phát triển trong phần 1 Phần 2 trình bày
sơ đồ nhận thức về hợp đồng, trong sơ đồ này các phương pháp thay thế khác nhau về tổ chức kinh tế được mô tả và liên quan đến sơ đồ này kinh tế học về chi phí giao dịch được xác định vị trí Phần 3 trình bày quan hệ giữa các giả định về hành vi và các khái niệm về hợp đồng khác nhau Phần 4 phát triển một giản đồ cơ bản về thiết lập hợp đồng mà lập luận trong sách này dựa vào một cách lặp đi lặp lại Phần 5 xem xét các vấn đề về hợp đồng nảy sinh trong việc tổ chức thành phố công ty (company town) Những áp dụng khác được phác thảo trong phần 6 Phần cuối cùng là những nhận xét để kết luận
1 Chi phí giao dịch
1.1 Tính không ma sát (Frictionlessness)
Kenneth Arrow đã định nghĩa các chi phí giao dịch là “các chi phí vận hành hệ thống kinh tế” (1969, trang 48) Cần phải phân biệt các chi phí đó với chi phí sản xuất, vốn là loại chi phí mà phân tích tân cổ điển luôn luôn quá bận tâm đến Chi phí giao dịch là yếu tố kinh tế tương đương với sức ma sát trong các hệ thống vật lý Nhiều thành công của ngành vật lý trong việc xác định các thuộc tính của những hệ thống phức tạp bằng cách giả định không có sức ma sát trong các hệ thống đó chắc chắn không cần phải thuật lại tỉ
mỉ ở đây Một chiến lược như thế có sự hấp dẫn rõ ràng đối với các ngành khoa học xã hội Điều không có gì đáng ngạc nhiên là, việc không có sức ma sát trong các hệ thống
Trang 4vật lý được dẫn chứng để minh họa cho sức mạnh về phân tích gắn liền với các giả định
“không thực tế” (Friedman, 1953, các trang 16 đến 19)
Nhưng trong khi các nhà vật lý học đã được nhắc nhở một cách nhanh chóng bởi các dụng cụ trong phòng thí nghiệm và thế giới quanh họ rằng sức ma sát có mặt khắp nơi
và thường cần phải được tính đến một cách rõ ràng, thì các nhà kinh tế học đã không có được sự hiểu biết và đánh giá tương ứng về các chi phí của việc vận hành hệ thống kinh
tế Thí dụ, hầu như không hề đề cập đến chi phí giao dịch, lại càng không đề cập đến các chi phí giao dịch như là yếu tố tương đương của sức ma sát, trong bài tiểu luận về phương pháp luận nổi tiếng của Milton Friedman (1953) hay trong các bài bàn luận thời hậu chiến khác về kinh tế học thực chứng.7 Như thế, mặc dù kinh tế học thực chứng thừa nhận rằng trên nguyên tắc các sức ma sát là quan trọng, nhưng kinh tế học thực chứng đã không có ngôn ngữ mô tả sức ma sát trên thực tế.8
Việc thiếu quan tâm đến các chi phí giao dịch đã có nhiều ảnh hưởng, đặc biệt trong số các ảnh hưởng này là cách thức mà theo đó các phương thức không thông thường
về tổ chức kinh tế đã được giải thích Cho đến khi người ta đưa ra qui định dự liệu rõ ràng cho các chi phí giao dịch, khả năng các phương thức tổ chức không thông thường – các biện pháp hạn chế về khách hàng và địa bàn hoạt động, các mối quan hệ ràng buộc, việc đặt mua trước cả khối lượng lớn, việc nhượng quyền kinh tiêu (franchising), sự liên kết theo hàng dọc và những phương thức tương tự – vận hành để giúp tiết kiệm chi phí giao dịch đã hầu như không được hiểu rõ và đánh giá cao Thay vào đó, hầu hết các nhà kinh tế học viện dẫn những cách giải thích theo độc quyền – những cách giải thích thuộc loại như sức mạnh, sự phân biệt đối xử về giá cả, hay các rào cản nhập ngành – khi đối diện với những cách thiết lập hợp đồng không thông thường (Coase, 1972, trang 67) Các quan điểm của Donald Turner là tiêu biểu: “Tôi tiếp cận các biện pháp hạn chế về khách hàng và địa bàn hoạt động không phải một cách thân thiện theo truyền thống thông luật,
luận dưới đây, chương trình nghị sự về nghiên cứu và chính sách công đối với hoạt động kinh doanh đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi khuynh hướng thiên về độc quyền đó Quan điểm thịnh hành về hãng (công ty) như là một hàm sản xuất là nguyên nhân chính dẫn đến tình hình đó
1.2 Phân tính và giải thích tỉ mỉ
Kinh tế học về chi phí giao dịch đặt vấn đề về tổ chức kinh tế thành vấn đề về thiết lập hợp đồng (problem of contracting) Một nhiệm vụ cụ thể phải được hoàn thành Nó có thể được tổ chức theo bất cứ cách nào trong nhiều cách khác nhau Hợp đồng rõ ràng hay ngầm ẩn và bộ máy hỗ trợ gắn với mỗi hợp đồng Các chi phí là gì?
Các chi phí giao dịch thuộc loại tiền suy hay xảy ra trước khi ký kết hợp đồng (ex ante) và loại hậu suy hay xảy ra sau khi ký kết hợp đồng (ex post) được phân biệt một cách hữu ích Các chi phí giao dịch tiền suy (ex ante) là các chi phí soạn thảo, thương lượng, và
bảo vệ một hợp đồng Điều này có thể được thực hiện hết sức cẩn thận, trong trường hợp này một văn kiện phức tạp được soạn thảo trong đó nhiều tình huống bất ngờ (tình huống bất trắc) được công nhận, và những sự điều chỉnh thích hợp bởi các bên được qui định rõ
Trang 5trống sẽ được các bên lấp đầy khi tình huống bất ngờ phát sinh Vì thế cho nên, thay vì
dự liệu trước tất cả những cách giải quyết tình huống khó khăn có thể tưởng tượng ra, mà đây là một việc làm đầy tham vọng, thì chỉ những phương án giải quyết tình huống khó khăn thật sự được dàn xếp khi tình huống đó xuất hiện
quyền sở hữu chung Đối mặt với triển vọng những người mua bán độc lập sẽ trải qua những tình huống khó khăn về thiết lập hợp đồng, các bên có thể thay thế thị trường bằng
tổ chức nội bộ Phải thừa nhận rằng, cách này không phải là không có những vấn đề khó khăn riêng (hãy xem Chương 6) Hơn nữa, những biện pháp bảo vệ giữa các hãng thuộc loại tiền suy (ex ante) đôi khi có thể được định hình để báo hiệu những cam kết đáng tin cậy và phục hồi tính toàn vẹn cho các giao dịch Nghiên cứu về việc thiết lập hợp đồng
“không thông thường” quan tâm chủ yếu đến những vấn đề như thế
Hầu hết các nghiên cứu về giao dịch giả định rằng các qui phạm pháp luật có hiệu lực liên quan đến những vụ tranh chấp về hợp đồng có sẵn đâu vào đó rồi và được áp dụng bởi các tòa án theo cách thức có cơ sở thông tin, tinh vi và với chi phí thấp Những giả định đó thật thuận tiện, theo nghĩa là các luật sư và các nhà kinh tế học không cần xem xét nhiều cách thức khác nhau mà bằng những cách đó các bên trong một vụ giao dịch “chính thức đồng ý không theo đúng hay xa rời” các cấu trúc quản trị của nhà nước bằng cách nghĩ ra những trật tự tư Như thế, sự phân công để phấn đấu xuất hiện, nhờ đó
mà các nhà kinh tế học luôn luôn quá bận tâm với các lợi ích kinh tế đổ dồn về sự chuyên môn hóa và giao dịch trao đổi, trong khi các chuyên gia pháp lý tập trung vào những chi tiết chuyên môn của luật hợp đồng
Truyền thống “chủ nghĩa trọng pháp” (“legal centralism”) thể hiện định hướng sau (định hướng tập trung vào luật hợp đồng) Truyền thống này khẳng định rằng “các vụ tranh chấp đòi hỏi ‘tiếp cận’ một diễn đàn ở bên ngoài bối cảnh xã hội ban đầu của vụ tranh chấp đó [và rằng] các biện pháp sửa chữa (khắc phục) sẽ được cung cấp theo đúng qui định của một cơ quan có kiến thức đáng tin cậy và được đưa ra bởi các chuyên gia hoạt động dưới sự che chở của nhà nước” (Galanter, 1981, trang 1) Tuy nhiên, thực tế cho thấy điều ngược lại Hầu hết các vụ tranh chấp, bao gồm nhiều vụ tranh chấp mà dưới các qui phạm pháp luật hiện hành có thể được đưa ra tòa án, đều được giải quyết bằng biện pháp né tránh pháp luật, biện pháp tự lực, và những cách tương tự (Galanter,
1981, trang 2)
bằng cách đề cập đến kết quả tốt của mô hình trao đổi thuần túy Ở đây không tranh luận
về điều đó Mối quan tâm của tôi là luật pháp và kinh tế học về trật tự tư (economics of private ordering) đã bị đẩy vào hậu trường do những giả định không thực tế nói trên Điều đó thật đáng tiếc, bởi vì trong “nhiều trường hợp, các thành phần tham gia có thể sáng tạo ra được những giải pháp thỏa đáng hơn đối với các vụ tranh chấp của họ so với các nhà chuyên môn có thể, các nhà chuyên môn này bị gò bó vào việc áp dụng các qui tắc tổng quát trên cơ sở sự hiểu biết hạn chế về vụ tranh chấp đang được xem xét: (Galanter, 1981, trang 4).10
Trang 6Các vấn đề ở đây tương tự với các vấn đề mà Karl Llewellyn đã quan tâm khi ông thảo luận về hợp đồng vào năm 1931, nhưng kể từ đó đã bị tránh né một cách có hệ thống.11 Nhưng đối với những sự hạn chế của chủ nghĩa tập trung về pháp lý, người ta có
thể không để ý đến phía hậu suy của hợp đồng Tuy nhiên, trong điều kiện có những điều
hạn chế rất thực tế tác động không tốt đến cách thức sắp xếp của tòa án (court ordering),
thì các chi phí hậu suy (ex post) của hợp đồng sẽ phát sinh và xen vào Kinh tế học về chi
phí giao dịch nhấn mạnh rằng tất cả các loại chi phí của hợp đồng đều được chấp nhận ngang nhau
hình thức này bao gồm (1) các chi phí về sự thích nghi sai lầm phát sinh khi các giao dịch chuyển dịch dần dần khỏi tình trạng liên kết phù hợp so với đường biểu diễn mà
phát sinh khi thực hiện các nỗ lực song phương để chỉnh sửa những tình trạng liên kết sai lầm xảy ra sau khi ký kết hợp đồng (3) các chi phí thành lập và điều hành gắn liền với các cấu trúc quản trị (thường không phải là các tòa án) mà các vụ tranh chấp được đưa ra để giải quyết, và (4) các chi phí về cam kết (bonding costs), đó là chi phí thực hiện các cam kết chắc chắn
Như thế, giả sử rằng hợp đồng qui định x nhưng, nhìn lại vấn đề sau khi sự việc đã xảy ra (hay khi có hiểu biết đầy đủ), các bên nhận thức rõ rằng lẽ ra họ phải làm y Tuy nhiên, dịch chuyển từ x sang y có thể không dễ dàng Cách thức phân chia các lợi ích đi
kèm với sự dịch chuyển đó có khuynh hướng dẫn đến việc mặc cả căng thẳng vì lợi ích riêng Hành vi mang tính chiến lược và phức tạp có thể được khơi gợi ra Việc đưa vụ tranh chấp ra trước một diễn đàn khác có thể hữu ích nhưng điều đó sẽ thay đổi tùy theo tình huống Một sự thích nghi không đầy đủ sẽ được thực hiện nếu, do kết quả của các nỗ
lực của cả hai loại, các bên không dịch chuyển đến y mà đến y’
Yếu tố gây phức tạp trong tất cả quá trình này là các chi phí tiền suy và hậu suy
của hợp đồng phụ thuộc lẫn nhau Nói cách khác, chúng phải được giải quyết đồng thời chứ không phải theo trình tự Ngoài ra, các chi phí thuộc cả hai loại đều thường khó định lượng Tuy nhiên, khó khăn được giảm nhẹ do sự thật là các chi phí giao dịch luôn luôn được đánh giá theo cách thức so sánh về thể chế, trong đó một phương thức thiết lập hợp đồng được so sánh với một phương thức thiết lập hợp đồng khác Do đó, chênh lệch giữa
độ lớn của các chi phí giao dịch, chứ không phải độ lớn tuyệt đối của chúng, có tầm quan trọng Như Herbert Simon nhận xét, việc so sánh các giải pháp thay thế về cấu trúc riêng
rẽ có thể sử dụng công cụ khá thô sơ – “những phân tích như thế thường có thể được thực hiện mà không cần công cụ toán học tỉ mỉ hay sự tính toán cận biên Nói chung, những lập luận đơn giản và thô thiển hơn nhiều sẽ đủ để chứng minh sự không bằng nhau giữa hai số lượng so với những lập luận cần thiết để chứng tỏ những điều kiện mà trong đó các
số lượng này được làm cho bằng nhau ở cận biên.” (1978, trang 6) Nghiên cứu thực nghiệm về các vấn đề chi phí giao dịch hầu như không bao giờ cố gắng đo lường các chi phí như thế một cách trực tiếp Thay vào đó, câu hỏi là liệu các quan hệ về tổ chức (thông lệ thiết lập hợp đồng; các cấu trúc quản trị) có phù hợp với các thuộc tính của các giao dịch như được tiên đoán bởi việc lý giải về chi phí giao dịch hay không
Trang 7Cuốn sách này tập trung thảo luận về sự tiết kiệm chi phí giao dịch, nhưng các chi phí giao dịch cần được đặt vào một bối cảnh rộng lớn hơn mà các chi phí này là một phần của bối cảnh đó Sau đây là một số trong các yếu tố phù hợp – mà tôi thỉnh thoảng (nhưng không liên tục) đề cập đến:
1 Khi giữ bản chất của hàng hóa hay dịch vụ sẽ được giao không đổi, sự tiết kiệm xảy
ra khi tổng số các chi phí sản xuất và giao dịch được thiểu hóa, do đó phải công nhận
có những sự đánh đổi về phương diện này
2 Tổng quát hơn, thiết kế của hàng hóa hay dịch vụ là biến số quyết định ảnh hưởng đến cầu cũng như cả hai loại chi phí sản xuất và giao dịch, do đó việc thiết kế được xem một cách phù hợp là một phần trong hệ thống tính toán
3 Bối cảnh xã hội của các giao dịch – phong tục, tập quán, thói quen, và v.v – có ảnh hưởng, và vì thế cần phải được tính đến, khi chuyển từ một nền văn hóa này sang một nền văn hóa khác.13
4 Lập luận về chi phí giao dịch dựa một cách tổng quát và kín đáo vào hiệu lực của cạnh tranh trong việc tiến hành sự chọn lựa, tách biệt các phương thức hiệu quả hơn ra khỏi các phương thức kém hiệu quả hơn và chuyển các nguồn lực vào các phương thức hiệu quả hơn Điều này xem ra hợp lý, đặc biệt khi các kết quả liên quan là các kết quả xuất hiện trong những khoảng thời gian năm năm và mười năm trong tương lai, chứ không phải trong thời gian rất gần.14
dựng đầy đủ hơn về quá trình chọn lựa nói trên Như thế, các lập luận về chi phí giao dịch được để ngỏ cho một số ý kiến phản bác giống như những ý kiến phản bác quan điểm chính thống mà các nhà kinh tế học về tiến hóa đã đưa ra (Nelson và Winter,
1982, các trang 356-70), mặc dù trong các khía cạnh khác có sự bổ trợ mạnh mẽ (các trang 34-38)
5 Bất cứ khi nào các lợi ích và các chi phí xã hội và tư nhân khác nhau, thì phép tính chi phí xã hội sẽ chiếm ưu thế khi cố gắng tiến hành việc xử lý dựa trên qui định của pháp luật
2 Sơ đồ Nhận thức về Hợp đồng
Lĩnh vực chuyên môn hóa mà kinh tế học về chi phí giao dịch gắn chặt vào là tổ chức công nghiệp (tổ chức ngành) Một số cách tiếp cận dẫn đạo đối với nghiên cứu tổ chức công nghiệp và quan hệ giữa kinh tế học về chi phí giao dịch và các cách tiếp cận đó được xem xét ở đây
Lĩnh vực tổ chức công nghiệp (industrial organization) nghiên cứu hợp đồng xét theo các mục đích mà hợp đồng đáp ứng Các bên đang cố gắng hoàn thành những điều gì? Ở đây cũng như ở những nơi khác trong lĩnh vực tổ chức công nghiệp, các mục đích
về độc quyền và hiệu quả được phân biệt một cách hữu ích Sơ đồ nhận thức được trình bày trong Hình 1-1 bắt đầu với sự phân biệt này
Trang 82.1 Nhánh Độc quyền
Tất cả các cách tiếp cận đối với hợp đồng được trình bày trong Hình 1-1, cách tiếp cận theo độc quyền cũng như cách tiếp cận theo hiệu quả, đều đề cập đến cùng một vấn đề hóc búa: Những mục đích nào được đáp ứng bằng cách thay thế sự trao đổi trên thị trường
cổ điển – qua đó sản phẩm được bán với giá đồng nhất cho tất cả người đến mua không
có hạn chế gì – bằng những hình thức thiết lập hợp đồng phức tạp hơn (bao gồm các phương thức phi thị trường về tổ chức kinh tế)? Những cách tiếp cận theo độc quyền qui cho những sự tách rời khỏi chuẩn mực cổ điển là do mục đích độc quyền Thay vào đó, những cách tiếp cận theo hiệu quả cho rằng những sự tách rời khỏi chuẩn mực cổ điển đáp ứng các mục đích tiết kiệm chi phí
Bốn cách tiếp cận theo độc quyền đối với hợp đồng được xếp thành hai nhóm dưới hai tiêu đề Tiêu đề thứ nhất xem xét những cách sử dụng các biện pháp hạn chế về khách hàng và địa bàn hoạt động, việc duy trì mức giá bán lại, kinh doanh (đại lý) độc quyền, liên kết dọc, và những phương thức tương tự trong quan hệ với những người mua Tiêu đề thứ hai đề cập đến tác động của những thông lệ thực hành như thế đối với các đối thủ cạnh tranh
Lý thuyết về “thế lực” (“leverage”) về hợp đồng và cách giải thích theo sự phân biệt giá
về việc thiết lập hợp đồng không thông thường đều tập trung vào những người mua Richard Posner (1979) kết hợp lý thuyết về thế lực (leverage theory) với cách tiếp cận của
“Trường phái Harvard” (trước đó) và sự phân biệt giá cả với cách tiếp cận của “Trường phái Chicago” đối với kinh tế học về chống độc quyền Lý thuyết về thế lực khẳng định rằng quyền lực độc quyền ban đầu có thể được mở rộng và rằng những cách thiết lập hợp đồng không thông thường hoàn thành việc mở rộng này Mặc dù lý thuyết về thế lực gần
được sức hấp dẫn đối với nhiều luật sư và tiếp tục đi vào được các bản tóm tắt về pháp
lý16 và các ý kiến của tòa án.17
thường khẳng định rằng quyền lực độc quyền ban đầu không thay đổi Sự phân biệt giá
cả chỉ đơn thuần là một phương tiện qua đó quyền lực độc quyền tiềm ẩn được biến thành hiện thực Cách giải thích này về việc thiết lập hợp đồng không thông thường đã được đưa ra bởi Aaron Director và Edward Levi (1956) cùng với phương thức bán kèm (tie-in sales) và bởi George Stigler (1963) liên quan đến phương thức đặt mua trước cả khối lượng lớn Bán kèm và đặt mua trước cả khối lượng lớn được coi như là những công cụ,
mà bằng những công cụ này những người bán có thể biết được những chênh lệch về định giá trị sản phẩm nền tảng giữa những người tiêu dùng và có thể chuyển đổi thặng dư của người tiêu dùng (thặng dư tiêu dùng) thành tiền
Trang 9
Hình 1 –1 Sơ đồ Nhận thức về Hợp đồng Hai cách tiếp cận theo độc quyền khác xem xét những thông lệ lập hợp đồng
không thông thường liên quan đến đối thủ cạnh tranh Các cách tiếp cận này đề cập một cách rõ ràng đến việc mở rộng quyền lực độc quyền của những hãng lớn đã tồn tại lâu dài
và có tiếng tăm so với những đối thủ cạnh tranh thực sự hay tiềm năng Tài liệu về rào
Khách hàng
Thế l ực
Phân biệt giá cả
Đối thủ cạnh tranh Các Rào cản Nhập ngành Khách hàng
Trang 10cản nhập ngành, gắn liền một cách nổi bật với công trình nghiên cứu của Joe Brain (1956), là nằm trong truyền thống đó Công trình nghiên cứu ban đầu trong lĩnh vực này
là công trình bị chỉ trích dữ dội, phần lớn sự chỉ trích xuất phát từ Trường phái Chicago Các vấn đề khó khăn chính của công trình ban đầu này là nó có tính tĩnh và không xác định cẩn thận những điều kiện tiên quyết để cho các lập luận về rào cản nhập ngành được chấp nhận Tài liệu gần đây hơn về hành vi mang tính chiến lược giảm bớt được nhiều
đưa ra bàn luận một cách rõ ràng Những thuộc tính liên thời gian được công nhận; và những đặc điểm về hiệu ứng uy tín (reputation effect features) được phát triển Việc sử dụng phương thức thiết lập hợp đồng không thông thường làm một phương tiện để “làm tăng các chi phí của đối thủ cạnh tranh” (Salop và Scheffman, 1983) là một khả năng đặc biệt hấp dẫn
Ngoại trừ tài liệu nghiên cứu gần đây về hành vi mang tính chiến lược, tất cả các cách tiếp cận theo độc quyền đối với hợp đồng hoạt động trong khuôn khổ tân cổ điển, trong đó hãng (công ty) được xem là một hàm sản xuất Bởi vì những biên giới tự nhiên của hãng trong khuôn khổ đó được xác định bởi công nghệ, nên bất cứ nỗ lực nào của hãng nhằm mở rộng tầm ảnh hưởng hay hoạt động của mình bằng cách dựa vào việc thiết lập hợp đồng không thông thường đều được cho là có mục đích và ảnh hưởng độc
định hướng thịnh hành thời hậu chiến Như Coase nhận xét (1972, trang 61), định hướng này ảnh hưởng đến nội dung cả hai cuốn sách hàng đầu về tổ chức công nghiệp – một cuốn của Joe Brain (1958); cuốn kia của George Stigler (1968) Cách tiếp cận không thân thiện đối với việc cưỡng chế thi hành luật chống độc quyền, mà tôi đã đề cập ở mục 1.1,
có định hướng tương tự Ngược lại, phần lớn tài liệu về hành vi mang tính chiến lược kết hợp chặt chẽ hơn với khái niệm cấu trúc quản trị về doanh nghiệp (hãy xem Chương 14) Nhằm mục đích nêu bật sự phân biệt về độc quyền quan trọng này, đường cong đứt khoảng (được ký hiệu là PF) trong Hình 1-1 tách biệt các cách tiếp cận theo hàm sản xuất trước đây với khái niệm mang tính chiến lược về hợp đồng gần đây hơn
2.2 Nhánh Hiệu quả
Hầu hết những gì tôi đề cập đến như là Kinh tế học mới về thể chế nằm trên nhánh hiệu quả của hợp đồng Nhánh hiệu quả về hợp đồng phân biệt giữa những cách tiếp cận mà trong đó nhấn mạnh đến những liên kết về khuyến khích (incentive alignments) và những cách tiếp cận dành vai trò nổi bật cho lợi thế kinh tế do chi phí giao dịch (economies of
transaction costs) Tài liệu về liên kết động cơ khuyến khích tập trung vào phía tiền suy
(ex ante) của hợp đồng Theo đó, những hình thức mới của quyền sở hữu tài sản và việc thiết lập hợp đồng phức tạp được giải thích như là các nỗ lực để khắc phục những khiếm khuyết về động cơ khuyến khích của những quyền sở hữu tài sản đơn giản hơn và những truyền thống thiết lập hợp đồng đơn giản hơn Ronald Coase (1960), Armen Alchian (1961; 1965), và Harold Demsetz (1967; 1969) liên quan một cách nổi bật với tài liệu về
Zeckhauser (!971), Stephen Ross (1973), Michael Jensen và William Meckling (1976), và
Trang 11Tài liệu về quyền sở hữu tài sản nhấn mạnh rằng quyền sở hữu có tầm quan trọng, trong đó các quyền sở hữu một tài sản có ba phần: quyền sử dụng tài sản đó, quyền chiếm
giữ làm của riêng thu nhập từ tài sản đó, và quyền thay đổi hình thức và/hoặc nội dung (thực chất) của một tài sản (Furubotn và Pejovich, 1974, trang 4) Ngay sau khi xác định chính xác các quyền sở hữu tài sản, người ta thường giả định (thường là ngầm ẩn, đôi khi
rõ ràng) rằng việc sử dụng tài sản sau đó sẽ phù hợp với các mục đích của chủ sở hữu Điều này sẽ tồn tại nếu (1) cấu trúc quyền sở hữu tài sản đã được chấp thuận một cách hợp pháp được mọi người tôn trọng và (2) những người đại diện pháp luật thi hành nhiệm
vụ của mình phù hợp với những chỉ thị, hướng dẫn.22
Như thế, trong khi nhánh độc quyền của hợp đồng giải thích những hình thức giao dịch không thông thường là có mục đích và hậu quả về độc quyền, thì tài liệu về quyền sở hữu tài sản nêu câu hỏi liệu những sự xác định sai lầm quyền sở hữu tài sản có phải là nguyên nhân của những sự phân bổ sai lầm nguồn lực hay không Việc mô tả lại các quyền sở hữu tài sản, có lẽ theo những cách thức phức tạp (không thông thường), là điều giải thích cho những điểm không bình thường về hợp đồng Nói cách khác, việc thiết lập hợp đồng rời rạc trên thị trường được thay thế bởi những hình thức thiết lập hợp đồng phức tạp hơn, bởi vì đó là cách thức có thể đặt các quyền kiểm soát còn lại (residual rights to control) vào tay của những người có thể sử dụng các quyền đó một cách hiệu quả nhất về mặt sản xuất
nghiệp ban đầu, nhấn mạnh rằng những người ủy quyền (principals) ký hợp đồng với sự nhận biết đầy đủ về những rủi ro (hazards) mà việc thực thi hợp đồng của những người thừa hành (agents) gây ra Như thế, mặc dù sự tách rời quyền sở hữu khỏi quyền kiểm soát làm suy giảm các động cơ khuyến khích về lợi nhuận, nhưng điều đó được dự kiến vào thời điểm sự tách rời xảy ra và được thể hiện đầy đủ trong giá của các cổ phần mới (Jensen và Meckling, 1976) Vì thế cho nên tương lai không có điều gì bất ngờ; toàn bộ hành động về hợp đồng liên quan được tập hợp lại thành những liên kết về động cơ
khuyến khích tiền suy (ex ante incentive alignments)
Thật ra, như công trình nghiên cứu điều tra có tính thuyết phục của Michael Jensen (1983) chỉ ra, tài liệu về ủy quyền-tác nghiệp đã phát triển thành hai phần Ông đề cập đến một nhánh như là lý thuyết thực chứng về ủy quyền-tác nghiệp (positive theory of agency) Ở đây, “sự thâm dụng vốn, mức độ chuyên môn hóa của tài sản, các chi phí thông tin, các thị trường vốn, và các thị trường lao động bên trong và bên ngoài là những thí dụ về các nhân tố trong môi trường thiết lập hợp đồng, mà chúng tương tác với các chi phí của các cách thực hành giám sát và xây dựng mối quan hệ ràng buộc để xác định các hình thức hợp đồng” (Jensen, 1983, các trang 334-335) Nhánh thực chứng (positive branch) khẳng định lặp đi lặp lại rằng các quá trình chọn lọc tự nhiên hiệu nghiệm một cách đáng tin (Fama, 1980; Jensen, 1983, trang 331; Fama và Jensen, 1983, các trang
301, 327) – lời phát biểu tuy cổ điển nhưng có sắc thái khác nhiều và rất thận trọng về cách tiếp cận có tính tiến hóa đối với kinh tế học (1950) được trích dẫn như là căn cứ chính
“người ủy quyền-người thừa hành” (“principal-agent”) (1983, trang 334) Tài liệu tương
Trang 12đối có tính chính xác làm nổi bật vai trò của những liên kết về động cơ khuyến khích tiền
suy với mức độ cao nhất Gần đây hơn, nó được biết đến như là cách tiếp cận thiết kế cơ
chế (mechanism design) Lĩnh vực nghiên cứu này tương tự với tài liệu nghiên cứu về thiết lập hợp đồng theo yêu sách tùy thuộc (contingent claims contracting)23, nhưng đi xa hơn bằng cách thừa nhận những điều phức tạp về thiết lập hợp đồng dưới hình thức thông tin riêng tư (thông tin có tính chất cá nhân) Những vấn đề phức tạp về sự liên kết động
cơ khuyến khích được đặt ra (mà trứơc đó tài liệu nghiên cứu về thiết lập hợp đồng theo các yêu sách tùy thuộc đã bỏ qua) nếu không thể giả định sự tiết lộ thành thật và đầy đủ thông tin riêng tư Tuy nhiên, trong các khía cạnh khác, các tài liệu nghiên cứu về thiết
kế cơ chế và thiết lập hợp đồng theo yêu sách tùy thuộc rất tương tự với nhau: cả hai đều
giải quyết tất cả các vấn đề về thiết lập hợp đồng liên quan trong một thỏa thuận tiền suy
toàn diện24; và cả hai đều giả định cách thức sắp xếp của tòa án là có hiệu quả.25 Một lần nữa, mục đích hiệu quả chứ không phải mục đích về độc quyền thúc đẩy lập luận nói trên
những hình thức thiết lập hợp đồng không thông thường có những mục đích về hiệu quả Tuy nhiên, giai đoạn thực thi hợp đồng được chú ý nhiều hơn Như Hình 1-1 cho thấy, cách tiếp cận theo chi phí giao dịch được chia ra thành hai nhánh, đó là nhánh quản trị và nhánh đo lường Trong hai nhánh nói trên, cuốn sách này nhấn mạnh nhiều hơn đến nhánh quản trị Tuy nhiên, cả hai nhánh quản trị và đo lường đều quan trọng và thực ra là phụ thuộc lẫn nhau
phí giao dịch đồng ý rằng quyền sở hữu có tầm quan trọng Kinh tế học về chi phí giao
dịch còn thừa nhận thêm rằng những liên kết về động cơ khuyến khích tiền suy có tầm
quan trọng Nhưng trong khi các cách tiếp cận theo quyền sở hữu tài sản và thiết kế cơ chế hoạt động trong phạm vi truyền thống chủ nghĩa tập trung về pháp lý, kinh tế học về chi phí giao dịch hoài nghi ý kiến cho rằng trật tự của tòa án (court ordering) là hiệu nghiệm Thay vào đó, sự chú ý được chuyển sang trật tự tư (private ordering) Những thể chế (thể chế) nào được tạo ra với những đặc tính gì về quá trình dàn xếp tranh chấp và đưa ra quyết định theo trình tự và có tính thích nghi? Vì thế cho nên, ngoài quyền sở hữu
và sự liên kết động cơ khuyến khích, kinh tế học về chi phí giao dịch bổ sung thêm lời
nhận định rằng các thể chế (thể chế) hỗ trợ hậu suy của hợp đồng có tầm quan trọng
về hợp đồng” hơn là một “khoa học về sự chọn lựa” [vì lý do đó] người tối đa hóa lợi nhuận phải được thay thế bởi trọng tài viên, đó là người bên ngoài cố gắng tìm ra những
sự dung hòa (thỏa hiệp) giữa các yêu sách xung đột nhau” (1975, trang 229) Cách tiếp cận theo sự quản trị (governance approach) chấp nhận định hướng khoa học về hợp đồng nhưng kết hợp trọng tài viên với một chuyên viên thiết kế thể chế Mục đích không phải chỉ đơn thuần giải quyết xung đột đang diễn tiến mà còn nhận thức trước xung đột tiềm tàng và nghĩ ra những cấu trúc quản trị để chặn trước hoặc làm giảm bớt xung đột đó
mặc cả phù hợp vào giai đoạn trước khi ký kết hợp đồng (ex ante) là điều không thể thực
hiện Thay vào đó, quá trình mặc cả dàn trải từ đầu đến cuối – vì lý do đó các thể chế
Trang 13ý nghĩa kinh tế có tính quyết định Những thuộc tính về hành vi của những tác nhân con người, qua đó mà những điều kiện về tính duy lý hạn chế (bounded nationality) và chủ nghĩa cơ hội được kết hợp, và những thuộc tính phức tạp của các giao dịch (đặc biệt liên quan đến điều kiện về tính chuyên dụng của tài sản) là nguyên nhân của tình trạng đó
về việc thực hiện hay về đặc tính gắn liền với việc cung cấp một hàng hóa hay dịch vụ Thí dụ như bài thảo luận của Alchian – Demsetz (1972) về tính không thể tách biệt về công nghệ (sự tổ chức theo nhóm) Các vấn đề nói trên kể từ đó đã được William Ouchi (1980b) xử lý trong bối cảnh sự tổ chức công việc và Joram Barzel (1983) về sự tổ chức các thị trường Một ứng dụng thú vị gần đây là nghiên cứu của Roy Kenney và Benjamin Klein (1983) về điều họ gọi là “oversearching” (“tìm kiếm quá mức”) Họ phản đối quan điểm của Stigler cho rằng phương thức đặt mua trước cả khối lượng lớn có những mục đích về độc quyền (sự phân biệt giá cả) và thay vào đó họ cho rằng phương thức này dùng
để tiết kiệm các chi phí về đo lường
Như đã chỉ ra trên đây, cuốn sách này chủ yếu đề cập đến nhánh quản trị của kinh
tế học về chi phí giao dịch Tuy nhiên, các khía cạnh về đo lường cũng được thảo luận – khi các khía cạnh này quả thực cần phải được thảo luận, bởi vì quản trị và đo lường phụ thuộc lẫn nhau
3 Thế giới Hợp đồng
Thế giới hợp đồng được mô tả theo nhiều cách khác nhau như là một thế giới về (1) lập
kế hoạch, (2) hứa hẹn, (3) cạnh tranh, và (4) quản trị (hay trật tự tư) Cách mô tả nào trong những cách mô tả nói trên thích hợp nhất phụ thuộc vào các giả định về hành vi liên quan đến một giao dịch và vào những đặc tính kinh tế của hàng hóa hay dịch vụ được xem xét
Như được phát triển đầy đủ hơn trong Chương 2, nghiên cứu về tổ chức kinh tế có kết quả hay không phụ thuộc một cách cốt yếu vào hai giả định về hành vi Những năng lực về nhận thức nào và những thiên hướng tìm kiếm lợi ích riêng nào được gán cho các tác nhân con người tham gia vào giao dịch? Kinh tế học về chi phí giao dịch giả định rằng các tác nhân là con người phụ thuộc vào tính duy lý hạn chế, do đó hành vi là “duy
lý một cách chủ ý, nhưng chỉ duy lý một cách có giới hạn” (Simon, 1961, trang xxiv), và
được cho là cơ hội chủ nghĩa, đó là điều kiện tìm kiếm lợi ích riêng với sự láu cá Kinh tế học về chi phí giao dịch khẳng định thêm rằng khía cạnh có tính quyết định nhất đối với việc mô tả các giao dịch là điều kiện về tính chuyên dụng hay đặc thù của tài sản Các bên tham gia vào một giao dịch thương mại được hỗ trợ bởi những đầu tư đáng kể vào các tài sản chuyên dụng cho giao dịch (transaction – specific assets) hoạt động một cách hiệu quả trong quan hệ thương mại song phương với nhau Việc làm cho hài hòa điểm chung và tương tác theo hợp đồng kết nối các bên với nhau, qua đó tác động đến khả năng thích nghi và thúc đẩy tính liên tục, trở thành nguồn gốc của giá trị kinh tế thực sự
Nhưng đối với tình trạng không chắc chắn, thì các vấn đề về tổ chức kinh tế tương đối không có gì thú vị Vì thế, giả định rằng tình trạng không chắc chắn hiện diện với mức độ đáng kể và xét những ảnh hưởng phức tạp đối với hợp đồng của những khác biệt
Trang 14về tính duy lý hạn chế, tính cơ hội chủ nghĩa, và tính chuyên dụng của tài sản Đặc biệt giả định rằng mỗi điều kiện trong những điều kiện nói trên có thể nhận một trong hai giá trị sau đây: Hoặc yếu tố đó hiện diện với mức độ đáng kể (ký hiệu là +) hoặc yếu tố đó được cho là không hiện diện (ký hiệu là 0) Hãy xét ba trường hợp trong đó chỉ có một trong ba yếu tố nói trên được cho là không hiện diện và sau đó xét trường hợp trong đó tất
cả ba yếu tố được kết hợp Bảng 1-1 cho thấy bốn tình trạng sẽ được so sánh và mô hình
về thiết lập hợp đồng gắn liền với mỗi tình trạng đó
Trường hợp mà trong đó các bên có tính cơ hội chủ nghĩa và các tài sản có tính chuyên dụng, nhưng các tác nhân kinh tế có năng lực nhận thức không hạn chế thực chất
là thể hiện nội dung tài liệu về thiết kế cơ chế (Hurwicz, 1972, 1973; Meyerson, 1979; Harris và Townsend, 1981) Mặc dù điều kiện về cơ hội chủ nghĩa đòi hỏi phải viết các hợp đồng theo cách thế nào để tôn trọng thông tin cá nhân, do đó các vấn đề liên kết động
cơ khuyến khích phức tạp được đặt ra, nhưng tất cả các vấn đề liên quan của hợp đồng
đều được giải quyết ở giai đoạn mặc cả trước khi ký kết hợp đồng (ex ante) Với tính duy
lý hạn chế cho trước, sau khi mặc cả người ta đi đến một thỏa thuận toàn diện ngay từ ban đầu, mà dựa theo thỏa thuận này những sự thích nghi phù hợp đối với những sự kiện bất ngờ (có thể quan sát được một cách công khai) sẽ xảy ra sau đó được mô tả một cách đầy
đủ Như thế, các vấn đề khó khăn về thực thi hợp đồng không bao giờ phát sinh (hay sự
từ bỏ các hợp đồng như thế bị ngăn cản bởi vì việc tòa án xét xử giải quyết tất cả các vụ tranh chấp được cho là hiệu nghiệm (Baiman, 1982, trang 168) Vì thế cho nên, trong bối cảnh tính duy lý hạn chế, hợp đồng được mô tả như là thế giới về lập kế hoạch
Bảng 1-1 Các Đặc tính của Quá trình Thiết lập Hợp đồng
Giả định về Hành vi
Tính duy lý
hạn chế
Tính cơ hội chủ nghĩa
Tính Chuyên dụng của Tài sản
Quá trình Thiết lập Hợp đồng được cho thấy một cách gián tiếp