1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG của NGƯỜI HMÔNG XANH ở MƯỜNG NGÂN, TỈNH XAY NHA BU LY, CHDCND lào

38 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 493,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn nguyên liệu Nghề dệt, nhuộm vải Phụ nữ Hmông xanh dệt vải vào những tháng nông nhàn hay thời kỳ rảnh rỗi trong một ngày, khung dệt của người Hmông xanh cũng giống như khung dệt c

Trang 1

TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI HMÔNG XANH Ở MƯỜNG NGÂN, TỈNH XAY NHA BU LY, CHDCND LÀO

2.1 Quá trình làm ra trang phục truyền thống của người Hmông xanh

2.1.1 Nguồn nguyên liệu

Nghề dệt, nhuộm vải

Phụ nữ Hmông xanh dệt vải vào những tháng nông nhàn hay thời kỳ rảnh rỗi trong một ngày, khung dệt của người Hmông xanh cũng giống như khung dệt của người Hmông trắng, Hmông hoa chúng đều được hợ lại từ các

bộ phận như thoi dệt, ống chỉ, cần tách sợi, lược nén sợi, hệ thống các go, trục cuộn và thả sợi, bàn đạp…Động tác phối hợp chủ yếu giữa tay lao thoi, dập được nén sợi và đạp go tách sợi Có nhiều loại lược nén sợi tương đương với từng loại khổ vải cần dệt với loại lược nén sợi từ 200 – 250 sợi thì có thể dệt khổ vải từ 20 – 30 cm, còn loại 400 sợi thì dệt vải khổ 40 cm Loại vải khổ rộng này dùng để may quần áo người lớn

Ngoài vôi còn có tro bếp, tro được đựng trong một cái rổ có lót lá chuối, đổ nước vào chảy xuống cái chum nhỏ, dung dịch này để từ 3-5 ngày rồi trộn với nước vôi ngâm chàm và để lắng, khi nào thấy nước trên mặt có mầu nâu nhạt thì gạn đi để lấy phần chàm và vôi lắng ở dưới chum, đó chính

là cao chàm Khi nhuộm vải, lấy cao chàm hòa với nước đun với lá ngải cứu

Trang 2

để nguội pha thêm ít nước tro vào rượu rồi khuấy đều Khi đã pha xong muốn thử phải lấy tay nhúng vào nước chàm, thấy da có mầu xanh chàm là được

Người Hmông xanh thường nhuộm chàm vào tháng 4-6, vì thời gian này trời nắng nhiều vải mau khô và bắt mầu tốt Trước khi nhuộm phải ngâm giặt cho thật kỹ để vải hết hồ mới dễ bắt màu và khi sử dụng không bị loang

lổ Khi nhuộm cho vải chìm ngập trong nước chàm, dùng tay hoặc chân đạp thật kỹ cho vải thấm đều, công đoạn phải làm thật nhiều lần (ngày phơi nắng, đêm ngâm chàm) nhằm tạo ra sản phẩm đạt chất lượng cao có màu sắc xanh sẫm Đây cũng là công đoạn cuối cùng trong kỹ thuật chế biến và nhuộm chàm của người Hmông xanh

Trong toàn bộ quy trình dệt thì việc làm sợi là mất thời gian nhất và tốn khá nhiều công sức Việc phân công lao động trong quá trình tạo nguyên liệu cho nghề dệt của người Hmông ở mường Ngân diễn ra theo giới tính và lứa tuổi Thông thường, người đàn ông tham gia làm đất, gieo trồng và thu hoạch lanh, còn tất cả quá trình tạo sợi đều do những người phụ nữ trong gia đình đảm nhiệm

- Tước vỏ lanh:

Sau khi thân cây lanh đã được phơi nắng, phơi sương đủ độ, lanh được

tước lấy vỏ - tiếng Hmông gọi là lêiv mangx Công việc này phải làm xong

trước khi có các đợt gió mùa đông bắc tràn về nếu không lanh sẽ bị khô sợi, giảm độ bền, sợi nát, khó nối Công thức tước vỏ lanh áp dụng cho cả lanh bố

và lanh nhỏ được thực hiện như sau:

Vị trí tước vỏ đầu tiên được thực hiện bắt đầu từ giữa thân về phía ngọn Sau đó, sợi lại tiếp tục được tước từ giữa thân cây về phía gốc Theo công thức đó, người phụ nữ Mông dùng hai đầu ngón tay trỏ và ngón tay cái của cả hai bàn tay vê và lắc nhẹ đoạn giữa thân cây cho dập rồi luồn móng tay cái của một bàn tay bất kỳ (với những người mới làm thì người ta thường dùng

Trang 3

bên bàn tay thuận) luồn vào giữa lớp vỏ và thân cây để tách sợi Và vẫn với móng tay ấy, người ta sẽ tước đều theo dọc thân lanh vỏ sau khi tước ra phải

to đều, không bị rách, không bị sơ, chạy đều suốt từ đầu đến cuối là được Thông thường, với một cây lanh, người ta có thể tước được 4 sợi, mỗi sợi sau

đó lại được tước làm 2 – 3 phần cho kết quả cuối cùng là 8 – 12 sợi/cây Chiều dài của sợi lanh phụ thuộc vào chiều cao của thân cây lanh cho sợi Thời gian tước sợi của mỗi gia đình thường vào khoảng 20 ngày

- Giã sợi (ntuôs tôx):

Vỏ lanh sau khi tước được gọi là ntuôs được bó thành từng bó đều nhau

cho vào cối giã khoảng nửa giờ cho mềm sẽ dễ nối hơn và không để lại mối nối Công đoạn giã sợi thường phải thực hiện từ 4 – 5 ngày

- Nối sợi:

Nối sợi - tiếng Hmông gọi là sơư ntuôs Đây là công đoạn chiếm nhiều

thời gian nhất được tiến hành sau đó Những sợi lanh sau khi đã tước tương đối đều nhau được nối với nhau một cách rất đặc biệt: Người ta tách đôi một sợi lanh ở vị trí cách đầu sợi khoảng 10 cm rồi luồn một sợi khác vào giữa, xoắn lại, sai đó lại tách đôi sợi này và luồn sợi thứ nhất vào Bằng cách này, sợi lanh vẫn đều, nuột, không rõ mối nối Người phụ nữ thường bó sợi lanh thành từng chùm nhỏ, quấn quanh bụng, sau đó rút lấy từng sợi, từng sợi… nối lại với nhau, nối được đến đâu người nối lại cuốn vào bàn tay đến đấy (thường cuốn vào tay chiêu); hoặc người ta cũng có thể cuốn sợi lanh vào một vòng mây gắn vào một que tre nhỏ Khi nối sợi, người ta phải tuân thủ nguyên tắc nối đầu ngọn với đầu ngọn, nối đầu gốc với đầu gốc và các đoạn nối phải

to đều, sợi nào bé thì bổ sung thêm sợi, sợi nào to quá thì phải tước bớt đi để khi lên vải các thớ sợi mới đều, vải dệt mới phẳng, mịn Người phụ nữ Mông thường tranh thủ chắp, nối sợi lanh vào bất kỳ lúc nào đôi tay họ rảnh Với

Trang 4

một cuộn lanh thô bên thắt lưng, trên đường đi nương, đi chợ… thậm chí ngay cả khi tiếp khách bên bếp lửa, họ cũng luôn tay chắp nối sợi

- Xe sợi (yuôz ntuôs):

Sau khi xe và nối sợi bằng tay, sợi được đưa lên guồng (yuôz) xe tiếp

một lần nữa Để khỏi bị đứt, các cuộn sợi này được nhúng vào nước từ 15 đến

20 phút trước khi xe cho mềm, tăng độ dẻo dai

Cấu tạo guồng xe sợi của người Hmông ở mường Ngân cho phép mỗi lần

xe sợi, người ta sẽ đưa đồng thời được sợi từ 4 cuộn sợi vào 4 con suốt chỉ Khi xe sợi, người ta đặt 4 cuộn sợi nằm dàn hàng ngang trên một miếng gỗ phẳng (hoặc cũng có thể đặt vào thùng hay chậu), cách trục đỡ 1,2 m Sợi được đưa lên vắt ngang một thanh tre cao cách mặt đất 1,5 m Từ đây, sợi được dẫn thẳng đến suốt cuốn sợi Người ta sẽ dùng tay cuộn mồi một đoạn khoảng 50 – 60 cm vào con suốt (đầu mỗi cuộn sợi cuốn vào 1 con suốt) Mỗi con suốt được cắm vào một lỗ cắm suốt trên giá đỡ trục Xong những việc đó

là hoàn thành công đoạn mắc sợi và người ta có thể tiến hành xe sợi

Người xe sợi ngồi trên một chiếc ghế cao khoảng 50 cm (độ cao này có thể thay đổi tương ứng với chiều cao của trục đỡ bánh xe và trục đỡ cần đạp) Hai chân người xe sợi để trên cần đạp - một chân đặt ở phía trong, một chân đặt ở phía ngoài trục đỡ cần Hai tay người xe sợi cầm hai đoạn thân cây tre nhỏ hoặc gỗ tròn (đường kính khoảng 2,5 – 3 cm) Đoạn cây bên tay trái dài khoảng 20 – 25 cm được luồn xuống dưới tuyến đi của sợi 4 sợi chạy qua đoạn cây này được luồn qua 4 kẽ ngón tay của người xe sợi có tác dụng như một sự phân luồng) Đoạn cây bên tay phải dài ≈ 1,2 m đặt ở trên và luôn được dìm xuống hay thả lỏng cho các đường sợi dâng lên nhịp nhàng theo từng vòng quay có tác dụng làm cho sợi khi cuốn vào suốt được phân chia đều đặn ở các vị trí trong - giữa – ngoài của con suốt Nói cách khác, cả hai đoạn cây này đều có tác dụng can thiệp vào tuyến đi của sợi (lái sợi) trong lúc

Trang 5

vận hành sao cho 4 dòng sợi không bị vướng vào nhau làm rối sợi và để sợi đánh vào suốt được đều theo ý muốn của người xe sợi

Khi vận hành, hai chân người xe sợi đạp vào cần đạp với nhịp đạp thay đổi đều đặn giữa hai chân, lúc nhấn mạnh đoạn phía trong, lúc nhấn mạnh đoạn phía ngoài sẽ làm cho bánh xe chuyển động theo vòng tròn kéo theo sự chuyển động của suối chỉ Hai tay người xe sợi luôn luôn can thiệp vào đường chuyển động của sợi và đôi mắt phải luôn luôn theo dõi sự can thiệp ấy

Sau khi được xe, sợi đã chuyển từ dạng dẹt và mỏng của vỏ cây sang dạng tròn và xoắn bện của sợi Công đoạn xe sợi được tiến hành trong khoảng

5 ngày

- Thu sợi (Cayr dayr):

Sợi sau khi được xe đã đạt được độ mềm mượt, dẻo dai, tròn, xoắn bện

và bền chắc cần thiết nhưng lúc này sợi mới chỉ được cuốn vào từng suốt nhỏ Muốn thực hiện được các công đoạn tiếp sau, người ta phải thu sợi thành

những bó lớn bằng guồng thu sợi (khâuz lis)

Để thu sợi, người ta cho các con suốt sợi được vào một vật chứa (rổ đan, thùng gỗ, gùi…) đặt ở một góc nhà Mỗi “mẻ” thu sợi, người ta mắc lên guồng 10 - 12 con sợi (tương ứng với 10 con suốt sợi) Đầu của các con sợi này được buộc gắn với 1 thanh chốt chặn bất kỳ Sau đó, người ta lần sợi mắc vòng quanh guồng 1 vòng làm mồi rồi mới bắt đầu tiến hành khởi động vòng guồng từ trái qua phải hoặc từ phải qua trái tuỳ theo ý muốn của người thu sợi

Khi guồng quay đã hoạt động trơn tru, người thu sợi ngồi ở một góc nhà bất kỳ (trừ góc nhà có đặt vật chứa các con suốt sợi và dùng tay tác động vào các đầu thanh cuộn từ trái qua phải hoặc từ phải qua trái theo vòng khởi động tạo ra một lực đẩy vào thanh cuộn Lực đẩy này sẽ được truyền đến trục làm cho trục quay Để tránh không cho rối sợi, người ta không bao giờ quay nhanh

Trang 6

quá và đặc biệt là phải quay đều tay Mỗi khi sợi bị rối, người ta phải dừng guồng rồi ra gỡ trước khi tiếp tục cho trục quay Mỗi khi các con suốt hết sợi, người ta lại phải ra nối tiếp sợi từ các con suốt khác vào các đầu chỉ từ các con suốt vừa hết Vì vậy, để đỡ mệt mỏi khi thực hiện công đoạn này, người

ta thường làm việc theo “ekip” 2 người: một người chuyên quay guồng và một người chuyên gỡ và nối sợi Khi mỏi, hai người này có thể đổi vị trí thao tác cho nhau

Công đoạn thu sợi được tiến hành trong vòng 7 ngày

Luộc - ủ - giặt sợi:

Công đoạn này có tác dụng làm trắng sợi Để luộc và ủ sợi, người ta cần phải có tro bếp, tốt nhất là tro lấy từ gỗ thuộc loài “tống quá sủ” (Alnus nepalensis) - một loài cây có sức sống tương đối cao mọc gần như thuần loài hoặc xen kẽ với các loài cây thuộc họ Re (Litsea spp., Lindera spp.), Dẻ (Castanopsis spp., Fagus spp), Mộc lan (Magnilia spp.), Hồ đào (Plantacarya spp)… trên nhiều khoảnh đất canh tác bỏ hoang trong vùng sau giai đoạn trảng cỏ và savan (thường là các loại cây thân thảo 1 năm), nhanh chóng khép tán, thường vào khoảng 6 – 8 năm đã hình thành rừng non khép tán với chiều cao trung bình là 5 m

Những bó sợi sau khi được tước, xe và thu thành từng bó sợi lớn sẽ được ngâm với nước tro bếp rồi luộc chín cho bong hết vỏ xanh Mỗi mẻ luộc, người ta sẽ thực hiện từ 4 – 5 cuộn sợi, thời gian luộc cho mỗi mẻ khoảng 30 – 60 phút thì vớt ra Thông thường các gia đình người Mông chỉ cần luộc một đêm là hết số sợi Chỉ gia đình nào đông con gái, sợi nhiều mới cần thêm một ngày hôm sau

Sau mỗi lần luộc sợi, người ta sẽ ủ sợi bằng cách rắc một lớp tro nguội lên tro bếp còn nóng ở đáy chảo (lượt rắc dày khoảng 1 – 2 cm) Sau đó, người ta dùng một mảnh vải lanh hoặc một chiếc váy lanh cũ trải lên trên, đặt

Trang 7

các cuộn sợi này vào đó, dùng một tấm vải khác phủ lên sợi, rồi rải thêm một lớp tro nữa lên trên (với độ dày tương đương với lớp tro ở đáy chảo) để ủ sợi trong 5 ngày Sau đó mới mang giặt cho sạch và cho lên guồng thu sợi phơi khô Tiếp theo, sợi còn được luộc và ủ tro thêm 3 lần nữa, những lần sau chỉ cần ủ trong một ngày một đêm Riêng lần luộc sau cùng, người ta còn cho thêm một ít sáp ong cho sợi trắng, mịn và dai chắc Thứ sợi lanh đã được làm

xoăn, trắng và sạch như thế người Hmông gọi là “Xur”

- Lăn sợi:

Để làm cho sợi mềm, bóng, các đầu nối sợi mỏng ra và phẳng, không lộ

ra các mối nối, người ta còn dùng một dụng cụ để lăn sợi Đó là một khúc gỗ tròn làm trục lăn, một phiến đá đẽo phẳng nhẵn hoặc một tấm ván gỗ, chiều dài khoảng 1 m, chiều rộng khoảng 0,3 m Người ta đặt sợi lên khúc gỗ tròn, lấy phiến đá hoặc tấm ván đặt lên trục gỗ rồi đứng trên phiến đá, vịn hai tay vào tường, chân đẩy lúc sang trái, lúc sang phải làm cho trục gỗ chuyển động lăn đi lăn lại miết xuống sợi lanh

- Tháo sợi:

Sau khi lăn xong, sợi được đưa lên giồng thu sợi để tháo cho dễ Cách tháo sợi rất đơn giản, người ta đặt đầu sợi vào đáy gùi rồi xoay guồng thu sợi, tay dỡ sợi thả dần xuống gùi Khi tháo sợi, không cho trẻ em tới gần vì nếu chúng nghịch sẽ làm rối sợi

- Xếp sợi:

+ Xếp sợi dọc:

Sau khi tháo sợi xong là đến công đoạn xếp sợi dọc thành các con chỉ dệt Mỗi con chỉ gồm có 10 hoặc 12 sợi Người ta đổ 10 hoặc 12 ống sợi từ gùi ra, luồn sợi qua các lỗ đục trên một thanh tre ngang đóng vào cọc tre Xếp sợi đòi hỏi phải có 2 người: Một người dùng tay túm các sợi lanh thành con sợi lần lượt đi từ đầu này đến đầu kia để ghim con sợi vào các cọc gỗ đóng

Trang 8

trên sàn, một người trông coi cho sợi không bị rối Đặc biệt, người Mông còn

có một cách làm hết sức sáng tạo là rắc cát khô lên trên đống sợi để khi kéo sợi không bị rối

2.1.2 Dệt vải và kỹ thuật cắt may

Trước khi nhuộm phải ngâm giặt cho thật kỹ để vải hết hồ mới dễ bắt màu và khi sử dụng không bị loang lỗ Khi nhuộm cho vải chìm ngập trong nước chàm, dùng tay hoặc chân đạp cho thật kỹ cho vải thấm đều, công đoạn phải làm thật nhiều lần (ngày phơi nắng, đêm ngâm chàm) nhằm tạo ra sản phẩm đạt chất lượng cao có màu sắc xanh sẫm Đây cũng là công đoạn cuối cùng trong kỹ thuật chế biến và nhuộm chàm của người Mông Xanh Khi đã nhuộm được màu chàm ưng ý, họ nhúng vải vào nước sôi, sáp ong tan ra sẽ hiện lên các hoa văn có màu xanh nhạt trên nền chàm truyền thống

Công cụ dệt vải truyền thống của người Hmông xanh là chiếc khung dệt (ndêx ntus) Đây là loại khung dệt dùng dây buộc lưng hay gọi một cách khác dễ hiểu hơn là khung dệt dùng thân người (kết hợp với dây đai) để căng sợi dọc Chiếc khung này của người Hmông ở mường Ngân chỉ có hai chân

Vì vậy, để cho khung có thể đứng được trong quá trình vận hành, người ta phải buộc gắn nó vào một điểm tựa chắc chắn (vách tường nhà hoặc cột gỗ) Khung dệt được làm chủ yếu từ gỗ pơ mu, gỗ dổi hoặc gỗ kháo Những loại

gỗ này xưa nay được người ta tìm trong rừng già, trên những sườn núi dốc trong rừng để làm khung dệt, người ta không cần phải chặt cả cây gỗ mà chỉ cần lấy những đoạn cây có thể đáp ứng được về chất liệu, kiểu dáng và kích thước của khung dệt là được Vì thế, người ta có thể thu nhặt những đoạn ngọn cây hay cành cây to của những thân cây được người khác mang về làm nhà là được Ngoài ra, người ta cũng có thể lấy gỗ làm khung dệt từ những thân cây đổ vì việc làm chiếc khung dệt không cần kiêng kỵ gì; trong khi đó,

Trang 9

gỗ từ các thân cây đổ (nếu chưa mục) lại có ưu điểm là dễ lấy, không cần chặt

hạ

Nếu như dệt vải là công việc của phụ nữ thì việc chế tác các công cụ dệt lại là công việc của đàn ông Để chọn gỗ làm khung, người đàn ông Mông thường tranh thủ vào rừng những lúc nông nhàn Mỗi lần vào rừng, người ta thường kết hợp nhiều mục đích, không chỉ là việc tìm thú để săn mà còn có thể tìm các loại thảo mộc thiên nhiên, các mảnh đất canh tác, lựa chọn và đánh dấu sở hữu cây làm nhà, và dĩ nhiên với những người đàn ông biết làm khung dệt người ta còn kết hợp cả việc tìm gỗ làm khung

Tuy chế tác công cụ dệt là việc của nam giới, nhưng trên thực tế không phải người đàn ông Hmông nào cũng biết làm khung dệt Qua khảo sát thực địa ở làng mường Ngân, số người biết làm khung dệt nói riêng, gia công các

đồ mộc nói chung không nhiều Trước đây, cứ khoảng 4 – 5 gia đình mới có người biết làm khung dệt Để có được khung dệt, những gia đình mà những người đàn ông không thể tự làm được khung dệt phải “mua” khung dệt từ những người biết làm Việc “mua – bán” diễn ra trong cộng đồng khi ấy thường với hình thức trao đổi vật ngang giá Theo đó, “giá” của mỗi chiếc khung dệt tương đương với một con lợn giống (≈ 15 kg)

Những người biết làm khung dệt do còn phải thực hiện “chức năng” chế tác ra những chiếc khung dệt cho cộng đồng nên họ cũng thường có sự chuẩn bị trước Mỗi khi đi rừng, gặp được những đoạn gỗ phù hợp, người ta

sẽ bổ và đẽo gọt cho thành hình từ trong rừng rồi vác về nhà, bảo quản trên gác bếp Khi nào có người đến hỏi làm khung dệt thì người ta mới mang xuống gọt nhẵn, đục mộng, chế tác các chi tiết nhỏ đi kèm rồi mới lắp ráp thành chiếc khung dệt hoàn chỉnh

Bộ công cụ làm nghề mộc nói chung, chế tác khung dệt nói riêng của người Mông ở Mường Ngân gồm có: cưa, đục (trxâux) và dao (txaz)

Trang 10

Kỹ thuật dệt

2.1.3 Nghệ thuật trang trí trên trang phục

Trong cách trang trí hoa văn trên trang phục người Hmông xanh dùng cả

ba kỹ thuật: thêu, ghép vải và in sáp ong Quần nam không trang trí hoa văn,

áo nam và nữ đều trang trí như nhau Bộ phận được trang trí chủ yếu là ở tay

áo với các kỹ thuật thêu và ghép vải Viền cổ, nẹp áo và thắt lưng thường được trang trí bằng hoa văn thêu Váy được trang trí bằng cả ba kỹ thuật thêu,

ghép vải và in sáp ong

In sáp ong

- Bộ công cụ in sáp ong

Bộ công cụ để in sáp ong của người Hmông xanh hiện nay gồm có chảo

đun sáp ong (jav) và các loại bút (Đar), ngòi được làm bằng đồng nên được gọi là bút ngòi đồng (Đar sưr taz) Xét về kích thước, bút có 2 loại: to và nhỏ Xét về cấu tạo ngòi bút, bút cũng có 2 loại: loại 1 khoang bụng gọi là Đar

nrơư; và loại 2 khoang bụng gọi là Đar changz zsangz Đặc điểm của mỗi loại

công cụ như sau:

+ Chảo đun sáp ong: là loại chảo rán cỡ nhỏ được mua ở chợ, thường được làm bằng gang hoặc hợp kim nhôm Kích thước của chảo thường cao 4 cm; đường kính 20 cm Khi đun sáp ong, người ta dùng chảo này đặt trên bếp nấu cơm của gia đình (trái nhà bên phải) để đun

+ Bút: gồm có 2 bộ phận chính là quản bút (đar) và ngòi bút (sưr)

Quản bút giống nhau ở cả hai loại cấu tạo bởi chúng đều được làm bằng

tre (siôngz); dài 12 – 13 cm (loại nhỏ) và 16 – 17 cm (loại to); rộng 0,7 cm

(loại nhỏ) và 1 cm (loại to); dày 1 mm (loại nhỏ) và 2 mm (loại to) Quản bút

là nơi người nghệ nhân tạo hình dùng tay cầm vào đó để thực hiện thao tác Nhìn chung, quản bút in sáp ong của người Hmông không có gì đặc biệt Điều đặc biệt và làm nên tác dụng chính của bút là ở ngòi bút

Trang 11

Ngòi bút in sáp ong của người Hmông xanh được làm bằng đồng Gồm

có 4 loại khác nhau là: - loại nhỏ 1 khoang bụng; - loại to 1 khoang bụng; - loại nhỏ 2 khoang bụng; - loại to 2 khoang bụng

Về cấu tạo, loại bút 1 khoang bụng được ghép bởi 2 lá đồng có dạng hình thang chéo, phình to ở bụng bút và hẹp về phía rìa cạnh lưỡi và giáp quản Phần giáp quản được cố định với quản bút bởi đai và chốt giữ (cũng đều được làm bằng đồng) Trong khoang bụng là một khoảng trống – đó chính là buồng chứa sáp ong Loại bút 2 khoang bụng thoạt nhìn bề ngoài cũng có cấu tạo như trên, chỉ khác là bên trong có thêm một lá đồng ngăn giữa khiến cho khoang bụng được chia thành 2 ngăn

Về kích thước, rìa cạnh lưỡi dài 2,5 cm (loại to) và 1,7 cm (loại nhỏ) Do ngòi bút có dạng hình thang chéo nên 2 đường chéo có chiều cao khác nhau Trong đó, chiều cao cạnh chéo dài - Cạnh phía ngoài, phía đầu bút là 1,5 cm (loại to) và 11 cm (loại nhỏ) Chiều cao cạnh chéo ngắn - cạnh phía trong, gần với quản bút là 1 cm (loại to) và 0,8 cm (loại nhỏ) Hai đỉnh trên của hai cạnh chéo cách nhau 1,5 cm (loại to) và 0,8 cm (loại nhỏ) Đai ôm ngòi bút với quản bút dài bằng chiều dài cạnh đỉnh trên của hai cạnh chéo Chiều cao của đai là 0,6 cm (loại to) và 0,3 cm (loại nhỏ) Để tăng thêm độ chắc chắn cho ngòi bút không bị tuột ra khỏi thân bút, ở chính giữa đai ôm ngòi bút, người ta đặt thêm 01 chốt giữ bằng cách khoan 1 lỗ xuyên qua cả ngòi - đầu quản và đai ôm, lồng 1 lá đồng nhỏ qua rồi bẻ gập 2 đầu của chốt giữ sang 2 bên là được

Mỗi khi vẽ, người nghệ nhân tạo hình chấm bút này vào chảo sáp nóng chảy, sáp ong sẽ tràn vào buồng này Khi nhấc bút lên, sáp người ta cầm ở tư thế cho cạnh lưỡi nằm song song với bề mặt mặt đất để sáp ong không chảy

ra Khi in, người ta nghiêng dần ngòi bút cho sáp ong chảy ra Khi mới in, người ta nghiêng ít Độ nghiêng cứ lớn dần tỷ lệ thuận với lượng sáp ong đã

Trang 12

chảy ra khỏi buồng chứa cho đến khi sáp chảy hết hoặc lượng sáp không còn

đủ để thể hiện hoa văn theo ý đồ người tạo hình thì người ta mới lại chấm tiếp

Cũng theo kết quả khảo sát của chúng tôi, ở mường Ngân hiện nay chỉ còn 04 người còn có thể in được sáp ong Trong đó, có 02 nghệ nhân cao tuổi

là Thào Thị Sung (1960, đội III) và Sùng Thị Sao (1963, đội I) Ngoài ra, còn

có 01 phụ nữ trẻ là Vàng Thị Mảo (1981, con của nghệ nhân Thào Thị Sung)

và 01 thiếu nữ là Vàng Thị Me (1985, đội I) Cả 04 người này đều khẳng định

từ lâu nay, người Hmông ở xanh đều chỉ in sáp ong trên mấy loại bút kể trên,

kể cả in hoa, in chấm nhỏ, in đường xoáy, in đường kẻ, đường riềm…

Trên thực tế, nghệ thuật batit (in sáp ong) của người Mông còn có 02 loại bút nữa là bút chuyên in các đường xoáy (ngòi được tạo sẵn hình xoáy) và bút chuyên in các chấm nhỏ (ngòi là những que sắt nhỏ trông như chiếc bàn chải) Nhưng có lẽ bởi những nguyên nhân nào đó mà 02 loại bút này và kỹ thuật sử dụng nó đã bị thất truyền đối với người Hmông nơi đây

- Kỹ thuật in hoa văn bằng sáp ong

In sáp ong, tiếng Hmông gọi là nthu taz Kỹ thuật vẽ hoa văn bằng sáp ong là nhúng bút vào sáp ong (chaz mur) nấu chảy rồi vẽ lên vải mộc các hoạ

tiết hoa văn Sáp ong sẽ dính lại trên nền vải Sau đó, người phụ nữ Mông đem tấm vải đã được vẽ sáp ong đi nhuộm chàm 15 - 18 lần cho đến khi miếng vải có được mầu như ý muốn Những chỗ đã vẽ sáp ong thì nước chàm

sẽ không thấm vào Giặt xong, người ta cứ để thế phơi khô Khi vải đã khô, người ta nhúng vào nước sôi làm cho sáp ong bám trên nền vải tan ra để lại những hoạ tiết trắng trên nền vải tối

Kỹ thuật thêu

Thêu, tiếng Hmông xanh gọi là xơưs Trang phục của người phụ nữ

Hmông không chỉ đẹp ở kỹ thuật cắt may mà còn rất dễ gây ấn tượng qua các

Trang 13

mô típ trang trí và màu sắc hoa văn Những người phụ nữ Hmông xanh thực

sự là những nghệ nhân của nghệ thuật tạo hình trên vải Họ thêu hoa văn không cần mẫu Chỉ dùng để thêu thường là sợi tơ tằm to, vừa bền sợi, vừa bền màu Đặc biệt, sắc màu óng luột của tơ tằm sẽ làm tăng vẻ đẹp của hoa văn, làm cho hoa văn càng thêm mượt mà Người phụ nữ Hmông có cái nhìn khái quát, giàu óc tưởng tượng, hoàn toàn dựa vào trí nhớ để thêu hoa văn Hầu như ai cũng thuộc sẵn mẫu hoa văn mà mình thích Họ không cần phải nhìn vào mẫu mà vẫn thêu được những hoạ tiết đẹp Trước khi thêu, họ phải tính toán tỉ mỉ, đếm từng sợi chỉ, nhớ từng kích thước từng hoạ tiết trang trí trong toàn bộ mảng hoa văn Vì vậy, ngay từ khâu dệt, người phụ nữ đã dệt tấm vải nền theo một kỹ thuật sao cho các sợi vải không quá xít với nhau, giành ra những khoảng cách nhỏ li ti tạo điều kiện thuận lợi cho việc đếm sợi,

bố cục các hoạ tiết khi thêu Một số khăn đội đầu của phụ nữ Hmông xanh còn được làm bằng loại vải lanh trắng dệt kẻ ô vuông bằng các sợi tím hoặc

đỏ sẫm Kỹ thuật thêu đột càng phức tạp hơn vì người ta thêu ở mặt trái của vải nhưng các hình mẫu của sản phẩm lại nổi lên ở mặt phải, đòi hỏi người phụ nữ phải thật kiên trì, cẩn thận vì nếu chỉ cần một sơ suất nhỏ, nhầm một mũi kim, tính sai một sợi vải là đã khiến cho mũi thêu bị sai lệch

Kỹ thuật ghép vải

Kỹ thuật ghép vải tạo hoa văn cũng được người phụ nữ Hmông xanh sử dụng để tạo thành các băng dải, các khoang vải màu khác nhau ở cổ áo, ống tay, nẹp ngực và cả khoang dài gẫu váy, vuông vải che váy (tạp dề) Kỹ thuật ghép vải không chỉ tạo ra các khoang mảng màu mà còn tạo ra các đường nét hoa văn Trên hình chữ nhật ở cổ áo của người Hmông xanh ở mờng Ngân đã xuất hiện nhiều kiểu hoa văn hình học bằng kỹ thuật ghép vải Các đường nét hoa văn nhỏ, phức tạp ở yếm, cổ tay áo cũng đều là vải ghép Vải ghép khá tỉ

mỉ, thường là có gam màu nóng hoặc vải trắng làm riềm nhỏ bao bọc cho các

Trang 14

hoạ tiết hoăc tự tạo thành một mô típ hoa văn riêng biệt Người phụ nữ Hmông xanh mường Ngân sử dụng một miếng vải đỏ vàng có tiết diện nhỏ từ 0,5 – 1 cm được viền xung quanh ghép vào vải nền tạo thành các hình xếp nếp hoặc các đường viền của hoạ tiết chính

Ngoài ra, trong các kỹ thuật tạo hoa văn của người Hmông còn phải kể đến biện pháp kỹ thuật ghép các hạt cườm nhựa, bạc… lên trang phục Ở mũ

áo của những đứa trẻ cầu tự, trên lưng áo của một số người già còn xuất hiện hình thức ghép gắn những đồng bạc trắng, đồng xu nhỏ, hạt cườm… tạo cho những chiếc mũ, chiếc áo này có vẻ đẹp độc đáo, rực rỡ nhưng mang đầy tính biểu tượng

Các biện pháp in sáp ong, thêu chỉ màu, ghép vải màu, ghép gắn hạt cườm nhựa, bạc… lại được khéo léo kết hợp với nhau tạo ra sự phong phú về hoa văn khiến cho mô típ tuy không nhiều nhưng được kết hợp bằng nhiều kiểu sẽ sinh ra nhiều mô típ khác Đồng thời với các khổ vải ghép đậm, bên cạnh những đường thêu thanh mảnh tạo cảm giác hoa văn luôn biến đổi liên tục Kết hợp với các biện pháp kỹ thuật còn góp phần tạo hiệu quả về màu sắc Màu xanh lơ nhạt của vải in sáp ong trở thành màu trung gian, dung hoà với các màu đậm cảu vải ghép chỉ thêu Nhờ vậy mà màu sắc, đường nét mô típ của hoa văn có sự chuyển động khá phong phú, vui mắt

* Các kỹ thuật trang trí, tạo hoa văn trên vải đã làm cho tấm vải không chỉ sống động về màu sắc, mô típ hoa văn mà cũng trở lên phong phú về kỹ thuật tạo hình, phản ánh trình độ tác nghiệp của người phụ nữ Với các kỹ thuật trên, người phụ nữ Hmông không chỉ thành thục trong việc thể hiện các hoạ tiết dưới dạng đường thẳng mà còn thành thục trong việc bố cục một cách uyển chuyển, nhịp nhàng, thanh thoát các đồ án hoa văn hình tròn, đường cong, hình xoáy trôn ốc hay biến thể của nó là 2 hình xoáy trôn ốc được bố trí

Trang 15

đối xứng tạo thành hình móc hoặc bố trí trục quay thành hình chữ S làm cho

bố cục của mỗi mảng hoa văn trở nên hài hoà và tránh được sự đơn điệu

2.2 Phân loại trang phục

- Áo: tiếng Hmông gọi là yao Áo thường phục của nam giới người

Hmông xanh ở Mường Ngân có 2 loại là áo ngắn dài tay và áo khoác cộc tay

+ Áo ngắn dài tay: tiếng Mông gọi là yao tês zơưs Đây là loại áo ngắn

nhuộm chàm mầu đen sẫm, dài tay, có viền vải xanh ở cổ tay, xẻ nách, không

có cổ, có khuy cài bên cạnh sườn Áo không có trang trí hoa văn Ở mặt trong của áo, người ta may thêm một chiếc túi nhỏ với tiết diện ≈ 8 x 10 cm để người mặc cất tiền hay những vật nhỏ gọn Vị trí may túi là ở thân trước phía bên trái, ngang tầm giữa ngực và bụng người mặc

+ Áo khoác cộc tay: tiếng Mông gọi là yao khuôv Chiếc áo này giống

với chiếc áo khoác nữ đã mô tả ở phần trên Ngày thường, nam giới người Mông ở Mường Ngân ít mặc mà chủ yếu mặc vào mùa đông giá rét, mặc đi chơi và mặc vào những dịp đại sự, hội hè

- Quần: tiếng Hmông xanh gọi là tris Quần của nam giới người Hmông

xanh ở mường Ngân là loại quần may kiểu chân què, cạp rộng kiểu lá toạ, đũng thấp và được may bằng vải lanh nhuộm chàm sẫm nên có mầu đen (đen

Trang 16

chàm) Do cạp rộng nên khi mặc được co lại cho vừa với kích cỡ vòng eo của người mặc, phần thừa được giắt sang một bên rồi dùng dây lưng thắt lại cho chặt

- Dây lưng: tiếng Hmông xanh gọi là hlangz tris dùng để thắt cạp quần

Nam giới người Hmông xanh trước kia dùng một dải vải lanh nhỏ mầu đen chàm, có tua ở hai đầu như dây lưng loại mặc hàng ngày của phụ nữ Nhưng hiện nay họ hầu như không dùng loại dây lưng này nữa mà dùng dây lưng bằng da hoặc giả da mua ở chợ

- Dép: tiếng Hmông xanh gọi là khâu Dép của nam giới người Hmông

xanh ở mường Ngân cũng giống như dép của nữ giới đã mô tả ở phần trên

2.2.1.2 Lễ phục

- Lễ phục mặc trong ngày cưới:

Trong ngày cưới, chú rể người Hmông xanh mặc giống như ngày thường, những là quần áo mới và bắt buộc phải mặc thêm áo khoác ra bên ngoài áo ngắn dài tay Đầu cuốn khăn 2 lớp: lớp khăn bên trong bằng vải lanh trắng; lớp khăn bên ngoài bằng vải lanh nhuộm chàm đen giống khăn của cô dâu nhưng vành khăn nhỏ hơn, tay cầm khăn mặt Phù rể ăn mặc giống chú

rể

Cũng giống như chú rể, chủ hôn (là đàn ông) và bố chú rể cũng mặc giống như ngày thường nhưng phải là quần áo mới và khoác thêm áo khoác cộc tay ra bên ngoài áo ngắn dài tay Riêng ông chủ hôn nhà trai còn phải mang theo một cái ô có buộc khăn, trước kia là buộc vải lanh trắng, hiện nay buộc khăn tổ ong tượng trưng cho người con dâu (ý là răn dạy người con dâu sau này sẽ phải chăm chỉ dệt may quần, váy, áo cho chồng và gia đình nhà chồng) và một cái điếu cày tượng trưng cho người con trai (vì con trai sau này

sẽ trở thành chủ gia đình và thường phải tiếp khách) Nếu cô dâu trong ngày cưới là gái tân (chưa lấy chồng lần nào) hoặc đã bỏ chồng thì trong lễ hỏi, ông

Trang 17

mối nhà trai phải hỏi có cần phải mang ô không Trường hợp cô dâu trong ngày cưới là người đã từng có chồng và chồng trước đã mất (cô dâu đi tái giá) thì chủ hôn không cần phải mang ô theo Ngoài ra, chiếc ô còn phải là vật làm tin Trong lễ ăn hỏi và đám cưới nếu giữa hai họ nhà trai và nhà gái đi đến sự thống nhất, ông chủ hôn nhà gái sẽ nhận chiếc ô do chủ hôn nhà trai trao cho

và treo ở bên vách gian giữa phía bàn thờ tổ tiên, gần bên bếp lò; còn nếu không đồng ý thì sẽ treo ở phía đối diện Khi về đến nhà trai, chiếc ô lại tiếp tục đợc treo như vật ở nhà chú rể cho đến khi tổ chức xong đám cưới những là gần bên bếp khách

- Lễ phục mặc trong đám tang (mặc cho người chết):

Khi người đàn ông chết, ông ta vẫn được mặc áo ngắn dài tay ở bên trong, quần, dây lưng như ngày thường nhưng bên ngoài phải mặc áo nữ dài tay (loại áo có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong; tạp dề đen; chân quấn vải lanh trắng (dài một sải rưỡi), đi giày may bằng vải lanh, đế giày được lót bằng

mo cau giống như hình cái thuyền, trên đầu có trang trí và thêm biểu tượng mào gà Mặt có thể đắp khăn đen, đỏ hoặc trắng hoặc không đắp tuỳ từng dòng họ; đầu gối khăn gối đầu

Theo quan niệm về kiếp luân hồi của người Mông, khi người đàn ông chết sẽ lại trở thành đàn bà; ngược lại đàn bà sau khi chết lại trở thành đàn ông nên đàn ông lúc chết phải mặc áo, tạp dề của đàn bà Theo sự giải thích của cụ Má A Trư, sinh năm 1927, trú tại bản Năm Ngân, mường Ngân thì ngày xưa trong chiến tranh giữa người Hán và người Hmông, người Hán chỉ giết đàn ông chứ không giết đàn bà nền đàn ông người Hmông khi chết phải cải trang thành đàn bà, mặc áo và để tóc dài như đàn bà để khi đi đường về với tổ tiên mới không bị ma người Hán làm hại Vì thế cho nên ngày nay đàn ông người Hmông xanh khi chết vẫn mặc chiếc áo và chiếc tạp dề của phụ nữ

2.2.2 Bộ nữ phục

Trang 18

2.2.2.1 Thường phục

Phụ nữ Hmông Xanh mang trang phục váy hình ống màu chàm, gấu váy thêu hoa văn hình chữ thập trong hình các ô vuông, áo mở chếch ngực xẻ thẳng về bên trái, cài một cúc, cánh tay áo đắp thêm những miếng vải màu đỏ

và cổ tay áo có thêu hoa văn Người Hmông Xanh, con gái để tóc xoã ngang vai, khi lấy chồng mới quấn tóc lên đỉnh đầu và dùng lược móng ngựa cặp ngược tóc về phía trước, trùm khăn trên đầu

Áo của người phụ nữ (tiếng Hmông xanh là Tro) có cổ phía trước hình

chữ V, được nẹp thêm vải màu tuỳ thích; phía sau là một bức thêu hình chữ nhật được trang trí hoa văn rất hài hòa, trang nhã và gắn đồng bạc, tạo âm thanh vui nhộn cho bộ trang phục Hai ống tay áo thường được thêu hoa văn

là những đường vằn ngang với đủ màu sắc từ nách đến cửa tay Đây là nơi hoa văn tập trung nhiều nhất làm nổi bật chiếc áo của người Mông

Váy phụ nữ Mông (gọi là Ta) là loại váy mở, có nhiều nếp gấp, rộng,

khi xòe ra mềm mại như cánh hoa Phần cạp váy được khâu xếp lại cho vừa một vòng bụng và có hai dây để buộc Trên nền váy chàm, hoa văn được thêu,

in và ghép từng tấm thật ấn tượng và độc đáo Phần thêu hoa văn được thực hiện ở nửa dưới của váy

Hoa văn (tiếng Hmông xanh gọi là pàng tau) trong trang phục của người Hmông hoa chủ yếu là hoa văn hình học như hình chữ nhật, hình vuông, hình thoi, hình xoáy ốc và thỉnh thoảng có những mô típ hoa văn chưa xác định được như thế này Những mô típ hoa văn được hình thành trên cơ sở sợi ngang của kỹ thuật dệt trên khung cửi và sau này được lặp lại trong kỹ thuật thêu Màu sắc chủ đạo được thêu trên váy là màu xanh, đỏ, đen, vàng

Nói đến trang phục của phụ nữ Hmông xanh không thể thiếu được

“lăng” là chiếc thắt lưng Trong bộ trang phục của phụ nữ Hmông xanh còn

có “sế” (tấm vải che trước váy) và “khử lau” (xà cạp quấn chân) Đồng bào

Trang 19

Hmông xanh quan niệm, đeo “xế” và quấn xà cạp là thể hiện sự ý tứ và kín đáo của người phụ nữ Phụ nữ Hmông xanh thường để tóc dài và quấn vòng quanh đầu rồi đội khăn, tạo nên một sắc thái độc đáo riêng khó nhầm lẫn với các dân tộc khác

2.2.2.2 Lễ phục

- Lễ phục mặc trong đám cưới:

Trong đám cưới, cô dâu người Hmông xanh ở mường Ngân vẫn ăn vận giống như ngày thường gồm có: áo dài tay, tạp dề, xà cạp, dây lưng nhuộm chàm có trang trí hoa văn ở phía sau lưng, đeo đồ trang sức Chỉ khác là, chiếc

áo này được thêu thùa và ghép vải rất công phu và thường chỉ được mặc 2 lần trong đời là trong đám cưới (mặc về nhà chông) và trong đám tang (mặc về với tổ tiên) Ngoài ra, cô dâu người Hmông xanh ở mường Ngân trong ngày cưới còn váy và mặc thêm áo khoác ra bên ngoài, đầu cuốn thêm khăn đen Vòng cổ ngoài những vòng cổ vẫn đeo thường ngày còn phải đeo thêm loại vòng có nhiều mắt xích và tua toòng teng Khuyên tai và vòng tay cũng được đeo nhiều hơn ngày thường

Hoa văn được thêu trên áo trong ngày cưới cầu kỳ và tốn nhiều công sức hơn thêu hoa văn trên váy Hoa văn thêu trên cổ, vai và tay áo thường giống nhau Trong các hoạ tiết, nổi bật là hoa văn xoáy vuông góc từng cặp đôi, cặp bốn Các hình xoáy này kết hợp với nhau trong một ô vuông tạo thành mô típ trang trí có 4 hoặc 8 hình xoắn vuông góc với nhiều biến dạng khác nhau mà

người Mông ở Mường Ngân gọi là câuv jiv

Ngoài ra, trên áo cô dâu người Hmông xanh ở mường Ngân còn xuất hiện hoa văn hình đồng tiền làm nền cho hoa văn hình xoáy ốc nói trên

Xen kẽ các mảng hoa văn hính xoắn ốc, trên chiếc áo cưới của cô dâu người Mông ở Mường Ngân thường thêu các hình chữ thập mà theo họ là cái guồng thu sợi hoặc những ô hình chữ nhật nhỏ được giải nghĩa là con tằm…

Ngày đăng: 02/05/2021, 15:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w