Tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của nhóm người nhập cư từ nông thôn vào thành phố (Qua khảo sát tại thành phố hà Nội).Tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của nhóm người nhập cư từ nông thôn vào thành phố (Qua khảo sát tại thành phố hà Nội).Tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của nhóm người nhập cư từ nông thôn vào thành phố (Qua khảo sát tại thành phố hà Nội).Tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của nhóm người nhập cư từ nông thôn vào thành phố (Qua khảo sát tại thành phố hà Nội).
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NHƯ TRANG
TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ Y TẾ CỦA NHÓM NGƯỜI NHẬP CƯ TỪ NÔNG THÔN VÀO THÀNH PHỐ
(Qua khảo sát tại thành phố Hà Nội)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Ngành: Xã hội học
Mã số: 9 31 03 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS TS TÔ DUY HỢP
Hà Nội - 2019
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới Người hướng dẫn khoa học là
GS TS Tô Duy Hợp đã giúp tôi trong suốt thời gian dài học tập và nghiên cứu Tôi trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Viện Xã hội học và các đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi tận tình về chuyên môn kỹ thuật và tạo điều kiện về thời gian để tôi toàn tâm cho luận án.
Lời cảm ơn tôi xin dành cho cơ sở đào tạo là Học viện Khoa học Xã hội – nơi tôi dành nhiều thời gian học tập, nghiên cứu để bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ.
Tự đáy lòng, tôi xin được cảm ơn Bố Mẹ của mình, người đã sinh ra tôi, luôn cho tôi cảm hứng, động lực và sự nỗ lực lớn trong quá trình công tác và học tập Tôi xin cảm ơn gia đình và người thân đã luôn thương yêu, luôn bên cạnh động viên tôi vượt qua những thời khắc khó khăn trong cuộc sống để hoàn thành luận án.
Trân trọng cảm ơn!
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Như Trang
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Như Trang, tác giả của Luận án có tên: “Tiếp cận và sử dụngdịch vụ y tế của nhóm người nhập cư từ nông thôn vào thành phố (Qua khảosát tại thành phố Hà Nội) Tôi xin cam đoan, đây là kết quả nghiên cứu của cánhân tôi, các phân tích trong luận án là trung thực và chính xác tôi đã thựchiện trong thời gian học nghiên cứu sinh Tôi xin chịu trách nhiệm về lời camđoan của mình./
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của Đề tài 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 6
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án 15
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 16
7. Kết cấu của luận án 17
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 19
1.1. Tình hình người nhập cư từ nông thôn vào thành phố 20
1.1.1. Nguyên nhân di cư 21
1.1.2. Giới tính của người nhập cư 22
1.1.3. Độ tuổi của người nhập cư 23
1.2 Đời sống của người nhập cư ở thành phố 24
1.2.1. Việc làm của người nhập cư 24
1.2.2. Thu nhập và các chi phí sinh hoạt 26
1.2.3 Nhà ở tại nơi cư trú mới 28
1.3. Tiếp cận và sử dụng dịch vụ an sinh xã hội của người nhập cư 29
1.3.1 Tình hình tiếp cận dịch vụ an sinh xã hội của người nhập cư từ nông thôn vào thành phố 29
1.3.2 Tiếp cận và sử DVYT của người nhập cư từ nông thôn vào thành phố 32
1.4. Một số nhận xét sơ bộ 35
Tiểu kết 36
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 36
2.1. Các khái niệm công cụ 36
2.1.1. Khái niệm tiếp cận trong lĩnh vực y tế 36
Trang 52.1.2. Khái niệm sử dụng dịch vụ y tế 37
2.1.3. Khái niệm người nhập cư từ nông thôn vào thành phố 39
2.1.4 Khái niệm Dịch vụ y tế 40
2.1.5 Khái niệm BHYT 41
2.2 Các tiếp cận lý thuyết của đề tài 41
2.2.1. Lý thuyết Lựa chọn hợp lý 41
2.2.2 Khái niệm vốn xã hội và Lý thuyết mạng lưới xã hội 50
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NHÂN KHẨU XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI NHẬP CƯ 61
3.1. Đặc điểm nhân khẩu - xã hội của người nhập cư tại Hà Nội 61
3.1.1. Giới tính 61
3.1.2. Nhóm tuổi 62
3.1.3. Trình độ học vấn 63
3.1.4. Tình trạng hôn nhân 64
3.1.5. Thành phần dân tộc 64
3.1.6. Tình trạng việc làm và nghề nghiệp 65
3.1.7. Thời gian nhập cư đến Hà Nội 66
3.1.8. Các đặc trưng về hộ gia đình 66
3.2. Tình hình sức khỏe người nhập cư tại Hà Nội 67
3.3. Người nhập cư từ nông thôn vào thành phố Hà Nội 76
Tiểu kết 78
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ Y TẾ CỦA NGƯỜI NHẬP CƯ TỪ NÔNG THÔN VÀO THÀNH PHỐ 79
4.1 Tiếp cận DVYT của người nhập cư từ nông thôn vào thành phố 79
4.1.1 Tính có sẵn của dịch vụ y tế và khả năng tiếp cận 80
4.1.2 Tiếp cận DVYT theo tình trạng BHYT 82
4.1.3 Tiếp cận DVYT theo thời gian nhập cư 90
4.2 Sử dụng DVYT của người nhập cư từ nông thôn vào thành phố 95
4.2.1 Lựa chọn cách thức điều trị 95
Trang 64.2.2 Lựa chọn nơi khám chữa bệnh 97
4.2.3 Sử dụng dịch vụ y tế theo thời gian nhập cư 101
4.2.4 Lựa chọn hợp lý các dịch vụ y tế 104
4.3 Tiếp cận và sử dụng DVYT về CS SKSS và dự phòng lây nhiễm HIV
của người nhập cư từ nông thôn vào thành phố 106
Tiểu kết 111
CHƯƠNG 5: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ Y TẾ CỦA NGƯỜI NHẬP CƯ TỪ NÔNG THÔN VÀO THÀNH PHỐ 113
5.1 Nhóm các yếu tố về thể chế và chính sách y tế 113
5.1.1 Chính sách y tế và các quy định về chăm sóc sức khỏe cho người dân 113
5.1.2 Bảo hiểm y tế 117
5.2 Nhóm các yếu tố về văn hóa 120
5.2.1. Tập quán và thói quen trong chăm sóc sức khỏe 120
5.2.2. Khác biệt giới 123
5.3 Nhóm các yếu tố về kinh tế 126
5.3.1 Thu nhập thấp 126
5.3.2 Chi phí y tế cao 130
Tiểu kết 134
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 136
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 141
PHỤ LỤC 151
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc trưng hộ gia đình 67
Bảng 4.1 Số lượng cơ sở y tế công lập của thành phố Hà Nội 80
năm 2016 và 2017 80
Bảng 4.2 Tình trạng BHYT theo tuổi, giới tính và tình trạng di cư 84
Bảng 4.3 Cơ sở đã đến khám chữa bệnh theo nơi đăng ký 86
Bảng 4.4 Tỷ lệ sử dụng BHYT trong các lần khám chữa bệnh 87
trong 12 tháng qua 87
Bảng 4.5 Các mức mua BHYT 89
Bảng 4.6 Sử dụng DVYT của các nhóm dân cư chia theo tình trạng BHYT 1 03 Bảng 4.7 Phân bố tỷ lệ người di cư và không di cư tại Hà Nội có nghe nói đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục 1 08 Bảng 4.8 Ý kiến người di cư và không di cư ở Hà Nội về nguyên nhân gây nên các bệnh lây truyền qua đường tình dục 1 09 Bảng 5.1 Tương quan giữa tình trạng việc làm và sự tham gia BHYT của người nhập cư tại Hà Nội 1 18 DANH MỤC HỘP Hộp 1: Chi phí y tế gián tiếp 132
Hộp 2: Chi phí y tế trực tiếp 132
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Phân bố theo giới tính 61
Hình 3.2 Phân bố theo nhóm tuổi 62
Hình 3.3 Trình độ học vấn 63
Hình 3.4 Tình trạng hôn nhân 64
Hình 3.5 Thành phần dân tộc 65
Hình 3.6 Phân bố các nhóm nghề nghiệp 65
Hình 3.7 Người di cư và không di cư khu vực Hà Nội tự đánh giá 72
tình trạng sức khỏe 72
Hình 3.8 Tỷ lệ % người di cư và không di cử ở Hà Nội nhận thấy sức khỏe
yếu hơn hoặc yếu hơn nhiều so với người cùng tuổi 73
Hình 3.9 Tình hình sức khỏe người nhập cư và người sở tại 74
Hình 4.1 Tỷ lệ có BHYT của người di cư và không di cư cả nước 82
năm 2005 và 2015 82
Hình 4.2 Tình trạng BHYT và nơi đăng ký khám chữa bệnh 85
Hình 4.3 Tiếp cận DVYT của các nhóm theo thời gian nhập cư 91
Hình 4.4 Lựa chọn cách điều trị khi gặp các vấn đề sức khỏe 96
Hình 4.5 Lựa chọn nơi khám chữa bệnh 98
Hình 4.6 Nơi đến khám chữa bệnh trong 12 tháng qua 99
Hình 4.7 Lý do đến cơ sở y tế 100
Hình 4.8 Tình hình sử dụng cơ sở y tế của ba nhóm dân cư 102
Hình 5.1 Lựa chọn phương án điều trị trong lần ốm đau gần nhất 121
Hình 5.2 Tương quan giới trong lựa chọn CSYT 124
Hình 5.3 Tương quan giới và tình trạng BHYT 125
Hình 5.4 Thu nhập của người nhập cư tại Hà Nội 126
Hình 5.5 Tương quan giữa thu nhập và lựa chọn CSYT 129
Hình 5.6 Chi trả từ BHYT khi khám chữa bệnh 131
Hình 5.7 Chi phí chăm sóc sức khỏe 133
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Dịch vụ y tế
Chăm sóc sức khỏe
DVYTCSSK
Trang 10MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Sức khỏe là một trong những yếu tố nền tảng ảnh hưởng đến quá trình pháttriển của từng con người và toàn xã hội Việc bảo đảm cho mọi người dân tiếpcận các dịch vụ y tế cơ bản là mục tiêu của các quốc gia trong quá trình pháttriển Tuyên bố Alma Ata 1978 nhấn mạnh: tiếp cận các dịch vụ y tế cơ bảnđược coi là quyền của con người nhằm chăm sóc sức khỏe (CSSK) cá nhân,duy trì tình trạng sức khỏe tốt cả về thể chất, tinh thần, và xã hội Hiến phápnước Cộng hòa xã hội (CHXH) chủ nghĩa Việt Nam khẳng định mọi công dân
có quyền tự do di chuyển và cư trú, có quyền được đảm bảo an sinh xã hội(ASXH) mà quan trọng là tiếp cận dịch vụ y tế (DVYT) nhằm đảm bảo sứckhỏe tốt Việt Nam cũng đã kí và phê chuẩn một số tuyên ngôn, công ước quốc
tế có liên quan đến di cư trong nước, trong đó có quyền được CSSK thể chất vàtinh thần tốt nhất theo chuẩn có thể đạt được [35] Chiến lược quốc gia bảo vệ,chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011 – 2020 tầm nhìn đếnnăm 2030 cũng có những qui định nhằm bảo đảm mọi người dân được hưởngcác dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, mở rộng tiếp cận và sử dụng cácDVYT tế có chất lượng Người dân được sống trong cộng đồng an toàn, pháttriển tốt về thể chất, tinh thần, và xã hội Luật khám chữa bệnh (KCB) khẳngđịnh người dân có quyền được khám chữa bệnh không bị phân biệt địa vị xã
hội Luật BHYT ghi rõ: “Trường hợp người tham gia BHYT phải làm việc lưu
động hoặc đến tạm trú tại địa phương khác thì được khám bệnh, chữa bệnh ban đầu tại cơ sở khám chữa bệnh phù hợp với tuyến chuyên môn kĩ thuật và nơi người đó đang làm việc lưu động, tạm trú theo qui định của Bộ trưởng BYT”
Trang 11nông
Trang 12thôn đến các đô thị [29;52] Tại các đô thị lớn của Việt Nam như Hà Nội, Thànhphố Hồ Chí Minh, dân số cơ học tăng nhanh do người nhập cư từ các tỉnh, cácvùng nông thôn đến tìm kiếm cơ hội việc làm hoặc xây dựng cuộc sống Theo
dự báo của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ di dân từ nông thôn đến thành thị trêntổng số dân thành thị tăng từ 8,9% năm 2009 lên 11% vào năm 2019 Trong khi
đó tỷ lệ di cư từ thành thị tới thành thị trên tổng số dân thành thị sẽ giảm từ7,6% năm 2009 xuống 6,7% năm 2019 Ước tính đến năm 2019, dân số di cư từnông thôn ra thành thị sẽ đạt 5 triệu người, cao hơn dân số di cư từ thành thị đếnnông thôn 1,4 triệu người Dòng di cư từ nông thôn ra thành phố sẽ có nhữngảnh hưởng mạnh mẽ đến dân số thành thị [64] Kết quả điều tra Di cư nội địaquốc gia 2015 cho thấy 79,1% người di cư có nguồn gốc xuất thân từ nôngthôn, còn lại 20,9% là từ thành thị Xét theo 4 luồng di cư (nông thôn – thànhthị, thành thị - nông thôn, nông thôn – nông thôn và thành thị - thành thị) thìluồng di cư nông thôn – thành thị chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các dòng di cư
Đó là chưa kể đến những cư dân đến thành phố làm việc theo thời vụ và di cưngắn hạn Dòng người di cư nông thôn – đô thị tìm kiếm việc làm luôn tiềm ẩnnhững rủi ro ở nơi đến, trong đó có vấn đề sức khỏe và tiếp cận các DVYTnhằm CSSK
Tuy nhiên, vấn đề này còn chưa được người lao động cũng như các cơquan chức năng liên quan để ý xét trên những tác động tiêu cực của nó đối vớisức khỏe của người lao động nhập cư Tại thời điểm này, các nghiên cứu về di
cư nói chung thường xem xét yếu tố sức khỏe và việc tiếp cận sử dụng dịch vụ
y tế của người di cư như một vấn đề nằm trong chuỗi các vấn đề chung gồmsinh kế, thu nhập, việc làm, giáo dục hay những khó khăn mà người nhập cưgặp phải trong quá trình sống ở đô thị [12;18] Một vài nghiên cứu quy mô nhỏtập trung vào đánh giá vấn đề SKSS của lao động nhập cư lồng ghép chungtrong các hoạt động của dự án mà các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ thực hiện[28] Phần lớn những nghiên cứu đã có thường tập trung chính vào nhóm đốitượng người người nhập cư mà chưa có sự so sánh những khác biệt giữa người
Trang 13nhập cư và người dân sở tại trong việc
Trang 14tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế Vậy, sự khác biệt này thể hiện như thế nào?Những nguyên nhân/nhân tố nào tạo nên sự khác biệt đó? Cần làm gì để bảođảm quyền được tiếp cận bình đẳng các DVYT cơ bản cho người lao động nhập
cư từ nông thôn vào thành phố?
Vấn đề này càng trở nên cấp bách hơn khi lao động nhập cư đến các thànhphố lớn (trong đó có thành phố Hà Nội) ngày càng gia tăng nhưng rất ít ngườinhập cư hiểu rõ về quyền của mình và cách thực hiện các quyền đó ở nơi đến,đặc biệt là những vấn đề liên quan đến phúc lợ xã hội, bao gồm phúc lợi về y
tế Thực tế cho thấy sức khỏe của nhiều người lao động nhập cư nông thôn – đôthị bị giảm sút và phát sinh nhiều bệnh tật sau một thời gian lao động cật lựckiếm sống Đây không chỉ là gánh nặng mà gia đình và địa phương nơi xuất cưphải hứng chịu khi người lao động từ thành phố trở về nông thôn, mà quan trọnghơn, nếu người lao động nhập cư không được chăm sóc sức khỏe sẽ ảnh hưởngtiêu cực đến năng suất và chất lượng lao động của toàn bộ nền kinh tế và toàn
xã hội Đây rõ ràng là một vấn đề xã hội không hề nhỏ và có những tác độngnhiều chiều đối với cá nhân và xã hội Để hiểu đúng bản chất và mức độ củavấn đề này thì cần phải có những nghiên cứu tập trung hơn để xem xét các vấn
đề đa chiều, trên bình diện khoa học và thực tiễn
Xuất phát từ những lý do trên đây, tôi lựa chọn đề tài “Tiếp cận và sử
dụng dịch vụ y tế của nhóm người nhập cư từ nông thôn vào thành phố (Qua khảo sát tại thành phố hà Nội) làm đề tài nghiên cứu cho luận án.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 15 Nêu một số khuyến nghị về bảo đảm an sinh xã hội cho người nhập
cư trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, làm
rõ những thành tựu và hạn chế của các nghiên cứu đi trước, làm cơ
sở cho việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ, câu hỏi, nội dung, giảthuyết nghiên cứu, lựa chọn phương pháp và các cách tiếp cận lýthuyết nghiên cứu của đề tài
Xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu đề tài (baogồm việc định nghĩa và giải thích các khái niệm công cụ, thao táchóa khái niệm then chốt của đề tài, lựa chọn phương pháp nghiêncứu, các cách tiếp cận lý thuyết, xác lập khung phân tích về mốiquan hệ giữa các biến số)
Tiến hành nghiên cứu định tính và phân tích bộ số liệu định lượng
Mô tả, phân tích đặc điểm nhân khẩu xã hội, tình hình sức khỏe,thực trạng tiếp cận và sử dụng DVYT của người nhập cư từ nôngthôn vào thành phố
Làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận và sử dụng DVYT củangười nhập cư từ nông thôn vào thành phố
Đề xuất một số giải pháp về bảo đảm an sinh xã hội cho người nhập
cư trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế
2.3. Câu hỏi nghiên cứu
Người nhập cư từ nông thôn vào thành phố tiếp cận và sử dụngDVYT như thế nào trong khám chữa bệnh?
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng các dịch
vụ y tế trong khám chữa bệnh của người nhập cư từ nông thôn vàothành phố?
Trang 162.4. Giả thuyết nghiên cứu.
Người nhập cư gặp các rào cản trong quá trình tiếp cận và sử dụngDVYT tại thành phố, bao gồm khả năng chi trả cho việc KCB (kinhtế); chính sách BHYT theo tuyến có tác động cản trở đáng kể đếnviệc tiếp cận và sử dụng DVYT của người nhập cư; từ chính đặcđiểm đời sống của người nhập cư
Các yếu tố về thể chế và chính sách BHYT, các yếu tố về văn hóatập quán thói quen tự điều trị là những nhân tố có ảnh hưởng đếntiếp cận và sử dụng DVYT của người nhập cư từ nông thôn vàothành phố
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
Tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người nhập cư từ nông thôn vào thành phố
3.2. Khách thể nghiên cứu.
Khách thể nghiên cứu là những người dân nhập cư từ nông thôn đangsống và làm việc tại Hà Nội, các cấp quản lý cộng đồng, chuyên gia về chínhsách y tế, nhân viên trong hệ thống cung ứng DVYT Bên cạnh đó, nghiên cứucũng quan tâm đến người dân sở tại như là nhóm đối chứng để tìm hiểu sựkhác biệt trong tiếp cận và sử dụng DVYT
Thời gian thu thập thông tin định lượng tại Hà Nội được thực hiện từ
tháng 3 năm 2015 đến tháng 8 năm 2016 Thông tin định tính được thu thập
Trang 17trong suốt
Trang 18quá trình thực hiện đề tài luận án Một số cuộc PVS và TLN quan trọng được thực hiện trong và sau thời gian thực hiện thu thập thông tin định lượng.
Phạm vi nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào các nội dung chính:
Mô tả các đặc điểm nhân khẩu xã hội và tình hình sức khỏe của
người nhập cư từ nông thôn vào thành phố
Tình hình tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người nhập cư từnông thôn vào thành phố
Các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của ngườinhập cư từ nông thôn vào thành phố
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Luận án vận dụng các lý thuyết xã hội học như lý thuyết Lựa chọn hợp
lý, lý thuyết Vốn – và mạng lưới xã hội để giải thích thực trạng tiếp cận và sửdụng dịch vụ y tế của người nhập cư từ nông thôn vào thành phố, giải thíchquyết định lựa chọn các cơ sở y tế trong khám chữa bệnh Tiếp cận nghiêncứu dựa trên quyền được chăm sóc sức khỏe và được tiếp cận các DVYT cóchất lượng để phòng ngừa hoặc điều trị những bệnh tật của người lao độngnhập cư
Trang 19Khả năng có thể đến các CSYT để tiếp cận DVYT
Nhóm yếu tố văn hóa:
Tập quán và thói quen chăm sóc sức khỏe
Trang 204.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án
Nghiên cứu phối hợp sử dụng 3 phương pháp chính bao gồm: phương phápquan sát, phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp bao gồm cả phân tích bộ cơ sở
dữ liệu định lượng có sẵn và phương pháp nghiên cứu định tính Đây là nghiêncứu cắt ngang, các khách thể nghiên cứu chỉ cung cấp thông tin một lần với cácnội dung theo yêu cầu vào thời điểm nhất định Sử dụng thiết kế kết hợp giảithích theo mô hình sau:
4.2.1. Phương pháp quan sát.
Phương pháp quan sát được thực hiện trong suốt quá trình nghiên cứuđịnh tính Nơi phỏng vấn sâu người nhập cư là nhà hoặc phòng trọ của họ,cũng có khi ngay tại nơi làm việc (cửa hàng, văn phòng, khu công nghiệp,….)Quan sát và ghi chép về nhà ở, đồ dùng sinh hoạt, đời sống và các hoạt độngtrong công việc của người nhập cư từ nông thôn vào thành phố Quan sát còncho người nghiên cứu nhận biết về cảm xúc cũng như trạng thái của ngườitham gia trong suốt quá trình phỏng vấn
4.2.2 Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp.
4.2.2.1 Phân tích văn bản là các công trình nghiên cứu đi trước có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu của luận án Phân tích các công trình nghiên cứu đitrước
Diễn gi i ả
Định tính
Dữ liệuKết quả
Định lượng
Số liệu
Kết quả
Trang 21nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan tình hình nghiên cứu về tiếp cận và sử dụngdịch vụ y tế của người nhập cư từ nông thôn vào thành phố Phương pháp nàyđược sử dụng trong suốt quá trình viết luận án, cả trước, trong và sau thờiđiểm thực hiện nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm) vàphân tích số liệu định lượng.
Nghiên cứu sử dụng các nguồn tư liệu quốc tế và trong nước: đó là cácbáo cáo nghiên cứu, các luận văn, luận án, báo cáo của các cơ quan quốc tế tạiViệt Nam như Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA), Ngân hàng Thế giới(WB), Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), các báo cáo chungtổng quan ngành y tế hàng năm (JAHR), các báo cáo của Tổng cục thống kê
về dân số và lao động,… Ngoài ra chúng tôi cũng nghiên cứu các qui định vàđiều luật có liên quan đến KCB và tiếp cận DVYT như Luật Khám chữa bệnh,Luật BHYT, Luật cư trú
4.2.2.2. Phân tích bộ cơ sở dữ liệu có sẵn
Tại thành phố, người nhập cư thường có những biến động trong đờisống hàng ngày Họ hay thay đổi chỗ ở, thay đổi công việc và thường xuyên
di chuyển Vì vậy để tìm được mẫu lớn cho khảo sát định lượng là rất khó đốivới khả năng của đề tài nghiên cứu trong phạm vi cá nhân Chúng tôi quyết
định sử dụng bộ dữ liệu về “Tình hình cư trú ở Việt Nam” thuộc Chương trình
nghiên cứu về Tình hình cư trú ở Việt Nam do Ngân hàng Thế giới tài trợ,Viện Xã hội học phối hợp thực hiện năm 2015 - 2016 Khảo sát tiến hành tại 5tỉnh/thành phố: thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng, thành phố Hồ ChíMinh, tỉnh Bình Dương và tỉnh Đăk Nông Mỗi tỉnh/thành phố khảo sát 1.000
hộ gia đình, tổng mẫu tại 5 tỉnh/thành phố là 5.000 hộ gia đình, số thành viên17.316 người 5 tỉnh/thành phố chọn khảo sát là những tỉnh/thành phố nằmtrong những tỉnh có dân số di cư cao nhất trong cả nước Tại Hà Nội: 1.000 hộgia đình gồm 3.296 thành viên tham gia cung cấp thông tin, trong đó 1.036người có đăng ký tạm
Trang 22trú tại Hà Nội, là những người di cư đến từ các tỉnh/thành phố khác trong cảnước và 2.260 người có hộ khẩu thường trú tại Hà Nội, là những người sở tại
và không di cư
Ngoài ra đề tài luận án còn sử dụng các phân tích thứ cấp từ các cuộcđiều tra khảo sát có độ tin cậy của Tổng cục Thông kê như: Điều tra di cưquốc gia, Điều tra mức sống dân cư, Điều tra y tế quốc gia các năm gần đây
Bộ số liệu gốc được Ngân hàng Thế giới lưu trữ dạng nguồn mở, trêntrang wb của Ngân hàng Thế giới dưới định dạng file Stata, gồm 12 file trong
đó 1 file chứa thông tin hộ gia đình, 1 file chứa thông tin cá nhân thành viên
hộ và 10 file còn lại tương ứng với 10 mục trong bảng hỏi Để có thể thựchiện được việc xử lý số liệu, từ định dạng Stata, chúng tôi chuyển sang địnhdạng SPSS để phân tích Luận án tập trung nghiên cứu và phân tích việc tiếpcận và sử dụng dịch vụ y tế của người nhập cư từ nông thôn vào thành phốdưới góc độ cá nhân (thành viên hộ gia đình) Tác giả thực hiện nối 10 file dữliệu tương ứng với 10 mục trong bảng hỏi với file thông tin cá nhân thành 1
file tổng hợp.Quá trình phân tích chúng tôi lọc ra 677 cá nhân là những người nhập
cư đến thành phố Hà Nội trong vòng 5 năm trước thời điểm khảo sát: từ năm
2010 đến naưm 2015 Chúng tôi tiếp tục tách những người nhập cư đến từ cácthành phố lớn là các đô thị như: Hải Phòng, Đà Nẵng, Tp Hồ Chí Minh vàCần Thơ Còn lại 648 trường hợp là những người nhập cư đến từ các tỉnh, mà
ở đó dân số sống ở khu vực nông thôn chiếm đại đa số
Các phân tích trong luận án tập trung vào việc tiếp cận và sử dụng cácdịch vụ y tế của những người nhập cư phân theo giới tính, độ tuổi, học vấn,hôn nhân, việc làm, thu nhập và tình trạng BHYT Luận án cũng phân tích để
có những so sánh trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế giữa nhóm dân
sở tại và nhóm nhập cư từ nông thôn vào thành phố
Trang 23Phân tích mô tả: sử dụng lệnh ‘frequencies’ để tính ra các chỉ số tần suất,
tỷ lệ phần trăm, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của các biến nhằm có được cáinhìn khái quát và phác họa những đặc điểm chung nhất của mẫu nghiên cứu
Phân tích tương quan: sử dụng lệnh ‘crosstabs’ để xác định các mối liên
hệ giữa các yếu tố nhân khẩu học và xã hội có ảnh hưởng tới việc tiếp cận và
sử dụng dịch vụ y tế của người nhập cư từ nông thôn vào thành phố; chẳnghạn như giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, tình hình cư trú với tỷ lệ sở hữu thẻBHYT, chế độ phúc lợi của việc làm, hành vi khám chữa bệnh, tiếp cận và sửdụng DVYT… Kết quả của những mối tương quan này giúp nhận diện cácyếu tố liên quan và mức độ tác động của chúng tới việc tiếp cận và sử dụngDVYT của người nhập cư
Địa bàn khảo sát:
Thành phố Hà
Nội Tên Quận/huyện Tên Phường/Xã
Tên địa bàn khảo sát
Quận Tây Hồ Phường Xuân La Tổ 41, 42, 43 Quận Long Biên Phường Phúc Đồng Tổ 12
Quận Cầu Giấy Phường Mai Dịch Tổ 1
Phường Mai Dịch Tổ 30- Khu X3 Phường Mai Dịch Tổ 35
Phường Dịch Vọng Tổ 42 Phường Dịch Vọng Tổ 44 Phường Dịch Vọng Hậu Tổ 59 Phường Quan Hoa 45,46
Quận Đống Đa Phường Phương Mai Tổ 7, 8
Trang 24Thành phố Hà
Nội Tên Quận/huyện Tên Phường/Xã
Tên địa bàn khảo sát
Phường Phương Mai Tổ 34, 37,38 Phường Khương Thượng Tổ 23 Quận Hai Bà Trưng Phường Thanh Nhàn Tổ 10, 57
Phường Minh Khai tổ 32,35,36 Phường Trương Định Tổ 36a Quận Hoàng Mai Phường Thanh Trì Tổ dân phố số 03
Phường Vĩnh Hưng Tổ 23 Phường Định Công Tổ 1 Phường Tương Mai Tổ 49
Quận Thanh Xuân Phường Thượng Đình Tổ 13 + tổ 14 Tổ 19 Quận Bắc Từ Liêm Phường Đông Ngạc TDP số 6-5
Quận Nam Từ Liêm Thị trấn Cầu Diễn Tổ dân phố số 7
Phường Minh Khai Khu Nguyên Xá Phường Phú Diễn Khu đầu cổng làng Phường Xuân Phương Tổ Tu Hoàng
Huyện Mê Linh Thị trấn Chi Đông Tổ số 1
Thị Trấn Quang Minh Tổ 4 Thị Trấn Quang Minh Tổ 7
Trang 25Chọn mẫu bắt đầu từ chọn điểm khảo sát (tương đương với đơn vị hànhchính nhỏ nhất: tổ dân phố) theo phương pháp xác suất tỷ lệ với qui mô hộdân cư (PPS).
Tại mỗi điểm Tổ trưởng dân phố lập Danh sách toàn bộ dân cư theo mẫu.Mỗi điểm khảo sát chọn ra 20 hộ đảm bảo ½ trong số đó là hộ gia đình di cư, ½còn lại là những gia đình không di cư
Ngoài ra, tại 1 điểm khảo sát chọn thêm 10 hộ dự phòng được xác địnhbằng cách lựa chọn ngẫu nhiên 6 hộ gia đình di cư và 4 hộ không di cư Các hộgia đình dự phòng sẽ được sử dụng làm hộ thay thế trong trường hợp các hộ giađình được lựa chọn chính thức không thể phỏng vấn với bất kỳ lý do nào Quytắc thay thế các hộ gia đình là chọn hộ thay thế có cùng tình trạng đăng ký hộkhẩu với hộ không đáp ứng
Bảng hỏi (Xem Phụ lục I)
Điểm mạnh của bộ số
liệu
Mẫu nghiên cứu lớn với 648 người nhập cư và 2260 người sở tại ở
Hà Nội đảm bảo ý nghĩa thống kê khi phân tích nhằm giải thích cácvấn đề nghiên cứu
Chọn mẫu theo phương pháp xác suất tỷ lệ với qui mô hộ dân cư (PPS) Nếu
là nghiên cứu cá nhân sẽ không thể thực hiện theo phương pháp chọn mẫu này
vì không thể huy động được nguồn lực chuyên môn (điều tra viên) và nguồnlực cộng đồng (người phụ trách khu dân cư) hỗ trợ quá trình chọn mẫu Người
di cư là những người có mức độ di chuyển thường xuyên, với khả năng của cánhân rất khó để có thể chọn mẫu theo mong muốn do không đủ nguồn lực(thời gian, tiền bạc và nhân lực,…)
Trang 264.2.3. Phương pháp nghiên cứu định tính
Phỏng vấn sâu (PVS) cá nhân và thảo luận nhóm (TLN) được chúng tôiduy trì liên tục trong suốt thời gian nghiên cứu tại thực địa Phân tích thông tin
từ các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm giúp chúng tôi có được cái nhìn
đa chiều, giải thích và tìm ra các biến có những tác động lớn đến tiếp cận và sửdụng dịch vụ y tế của người nhập cư
Mẫu phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được chọn theo phương phápchọn mẫu chủ đích [38] do NCS thực hiện Đây cũng là một trong nhữngphương pháp chọn mẫu phổ dụng nhất trong nghiên cứu định tính Chúng tôitập hợp những đặc điểm riêng của nhóm như: tuổi, giới tính, tình trạng cư trú,nghề nghiệp, để lựa chọn mẫu phù hợp Dung lượng mẫu không được xácđịnh ban đầu mà được tổng hợp khi chúng tôi quyết định dừng việc thu thậpthông tin trong nghiên cứu thực địa Chúng tôi ngừng thực hiện phỏng vấn sâukhi nhận thấy các câu trả lời đã bão hòa về nội dung cần thiết
Mẫu phỏng vấn sâu có tính đến nhóm người sở tại, là những người sinh
ra tại Hà Nội và có hộ khẩu thường trú làm nhóm đối chứng
Phương pháp thu thập thông tin:
- Bộ công cụ thu thập thông tin: Bản hướng dẫn PVS và TLN (xemPhụ lục số I,II,III,IV,V,VI)
- Kỹ thuật PVS: Ghi chép và sử dụng máy ghi âm ghi lại các cuộc PVS
- Kỹ thuật TLN: Ghi chép và sử dụng máy ghi âm ghi lại các cuộcTLN Tác giả là người điều phối các cuộc TLN, có người hỗ trợ ghichép
- Tất cả các cuộc PVS và TLN được thực hiện tại một không gianthoải mái, đảm bảo tính riêng tư, không bị người khác làm phiềnnhằm khai thác tối đa thông tin
Trang 27Nội dung các cuộc PVS và TLN được ghi chép bằng biên bản phỏng vấnsâu và thảo luận nhóm Sau đó được nghe lại, đánh máy, mã hóa và lưu filedạng word vào kho lưu trữ dữ liệu của luận án.
Kết quả khảo sát định tính: tổng số 26 PVS và 2 TLN
Toàn bộ phần dữ liệu định tính do tác giả thực hiện, chọn mẫu dựa theo địa bàn khảo sát định lượng tại các quận/huyện
Phỏng vấn sâu người nhập cư: 16 cuộc phỏng vấn người nhập cư tại
8 quận/huyện, mỗi quận/huyện phỏng vấn 2 người nhập cư
Phỏng vấn sâu người sở tại: 04 trường hợp
Phỏng vấn người quản lý cộng đồng: 02 trường hợp
Phỏng vấn nhân viên y tế: 02 trường hợp
Phỏng vấn sâu chuyên gia chính sách y tế: 02 trường hợp
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Nghiên cứu “Tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người nhập cư từ
nông thôn vào thành phố” đóng góp vào tri thức lý luận chung của chuyên
ngành xã
Trang 28hội học trong việc nghiên cứu tiếp cận các dịch vụ xã hội đối với các nhóm dân
cư đặc thù Trong đó tiếp cận dịch vụ y tế tại nơi đến đối với người nhập cư đôthị là một trong những phương thức giúp đảm bảo an sinh sức khỏe tại nơi cưtrú mới, nhằm ổn định đời sống để xây dựng các chiến lược cho cuộc sống mới.Nghiên cứu chỉ ra khả năng vận dụng các lý thuyết xã hội học hiện đại về sựlựa chọn hợp lý, vốn xã hội Bên cạnh đó đề tài luận án cũng khẳng định:
nghiên cứu “tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người nông thôn nhập cư vào
thành phố” không chỉ có tiếp cận nghiên cứu từ góc độ y học hay y tế công
cộng mà còn dưới góc độ xã hội học hoàn toàn cho phép chỉ ra và lý giải cácyếu tố xã hội ảnh hưởng đến sức khỏe của con người trong quá trình hội nhậpđời sống mới Mặt khác, nghiên cứu cho thấy việc vận dụng kết hợp các phươngpháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng tỏ ra thích hợp và bổ trợcho nhau trong lý giải các vấn đề đặt ra Phương pháp nghiên cứu định tính thựchiện cả trước và sau phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm tìm hiểu sâuhơn nguyên nhân và những nhân tố tác động, giải thích các vấn đề đặt ra từ kếtquả nghiên cứu định lượng
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án.
Cung cấp tri thức lý luận mới cho lĩnh vực nghiên cứu chuyênngành, tiếp cận nghiên cứu Xã hội học Y tế - Sức khỏe, Xã hộihọc Đô thị, Xã hội học Nông thôn và Xã hội học Chính sách
6.2. Ý nghĩa thực tiễn.
Trang 29Nghiên cứu “Tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của nhóm người nhập cư
từ nông thôn vào thành phố”giúp nhận diện các yếu tố tác động đến quá trình
tiếp cận và sử dụng DVYT tại nơi cư trú mới đối với những người nhập cư tại
đô thị trên cơ sở phân tích thực trạng tiếp cận và sử dụng DVYT của họ Nghiêncứu cũng đóng góp thêm các bằng chứng thực tiễn về các yếu tố hạn chế, là ràocản gây khó khăn trong quá trình tiếp cận DVYT Mặt khác nghiên cứu cung cấpcác bằng chứng về sự phù hợp của chính sách chăm sóc sức khỏe mà cụ thể làBHYT đối với người nhập cư đô thị Thông tin thu được từ PVS và TLN là cơ
sở dữ liệu phong phú để tham khảo cho các nghiên cứu liên quan
Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án có ý nghĩa đối với việc làm cơ sở
để đưa ra các khuyến nghị nhằm điều chỉnh chính sách kịp thời đảm bảo nhucầu trong tiếp cận và sử dụng DVYT nhằm CSSK cho người nhập cư đô thị
6.3. Hạn chế của luận án.
Luận án sử dụng bộ số liệu của Ngân hàng Thế giới nên không thể tránhkhỏi những hạn chế khi phân tích số liệu để đáp ứng yêu cầu của luận án Trongquá trình thực hiện chúng tôi đã lọc và tách mẫu nghiên cứu nhằm đảm bảo thỏamãn các điều kiện mà đề tài đặt ra Mẫu nghiên cứu đáp ứng yêu cầu của luận án
là những người nhập cư đến từ khu vực nông thôn Chúng tôi đã tách nhữngngười đến từ các khu vực đô thị như: Thành phố Hải Phòng, thành phố ĐàNẵng, thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ để đảm bảo mẫu nghiêncứu sử dụng phân tích trong luận án là những người đến từ các tỉnh, mà ở đódân số sống ở khu vực nông thôn chiếm đại đa số Từ 1.036 người nhập cưđược phỏng vấn, chúng tôi đã tách và lọc còn 648 là những người nhập cư đến
Hà Nội từ năm 2010, không có người đến từ các đô thị
Dữ liệu để phân tích được thu thập từ trước, được thiết kế phục vụ chocác mục tiêu của “Khảo sát tình hình cư trú ở Việt Nam”, vì vậy có nhữngthông tin có thể chưa hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của nghiên cứu này.Chúng tôi
Trang 30cũng đã cố gắng khắc phục bằng thiết kế nghiên cứu định tính trong suốt thờigian làm luận án để giải thích rõ ràng các vấn đề nghiên cứu.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,danh mục các từ viết tắt, các bảng, các hình, phụ lục, luận án được chia thành
5 chương
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đề tàiluận án
Chương 2 Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài
Chương 3 Đặc điểm nhân khẩu xã hội và tình hình sức khỏe người nhập cư từnông thôn vào thành phố
Chương 4 Thực trạng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người nhập cư từ nông thôn vào thành phố
Chương 5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người nhập cư từ nông thôn vào thành phố
Trang 31CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Trong quá trình thực hiện tổng quan nghiên cứu, chúng tôi đã tiếp cậnvới những tài liệu trong nước và quốc tế Đó là các báo cáo nghiên cứu, cácluận văn, luận án, báo cáo của các cơ quan quốc tế tại Việt Nam như Quỹ Dân
số Liên hiệp quốc (UNFPA), Ngân hàng Thế giới (WB), Chương trình Pháttriển Liên hiệp quốc (UNDP, các báo cáo chung tổng quan ngành y tế hàngnăm (JAHR), các báo cáo của Tổng cục thống kê về dân số và lao động,…Ngoài ra chúng tôi cũng nghiên cứu các qui định và điều luật có liên quan đếnKCB và tiếp cận DVYT như Luật Khám chữa bệnh, Luật BHYT, Luật cư trú
Mục đích của tổng quan là tập hợp và phân tích kết quả nghiên cứu cácvấn đề có liên quan đến người di cư/nhập cư, có liên quan đến tình hình sứckhỏe, tiếp cận và sử dụng DVYT tại nơi cư trú mới của người nhập cư từnông thôn vào thành phố Từ đó nghiên cứu chỉ ra các vấn đề về tiếp cậnnghiên cứu, quá trình vận dụng lý thuyết trong nghiên cứu cũng như nhữngmảng trống trong thực tiễn tiếp cận và sử dụng DVYT của người nhập cưcũng như bất cập trong quá trình thực hiện chính sách
Nội dung cụ thể của tổng quan gồm 3 phần: 1) Tình hình người nhập cư
từ nông thôn vào thành phố; 2) Đời sống của người nhập cư ở thành phố;3) Tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người nhập cư từ nông thôn vào thànhphố
Quá trình tổng quan tài liệu đã cho thấy những mảng trống về cácnghiên cứu liên quan đến sức khỏe và tiếp cận dịch vụ y tế của người nhập cưvào khu vực đô thị Từ đó tác giả có những ý tưởng sâu hơn trong quá trìnhthực hiện đề tài nghiên cứu, nêu lên hướng đi của đề tài nhằm bổ sung, lấpđầy khoảng trống mà các nghiên cứu đi trước để lại, làm sáng tỏ thêm các
Trang 32luận cứ được nêu
Trang 33trong phần giả thuyết nghiên cứu, cung cấp tri thức mới cho lĩnh vực nghiêncứu chuyên ngành cũng như cung cấp nhận thức mới về thực tiễn vấn đềnghiên cứu.
1.1. Tình hình người nhập cư từ nông thôn vào thành phố.
Xu hướng di dân giữa các vùng đang có những thay đổi lớn trongnhững năm gần đây Tình trạng di dân nông thôn – nông thôn là chủ yếu đangđược thay thế dần bằng xu hướng di dân từ nông thôn vào thành phố (di dânnông thôn – đô thị) Dòng di dân từ nông thôn đến nông thôn trước đây đượcthực hiện theo các chính sách chuyển cư nhằm xây dựng vùng kinh tế mới củaChính phủ (trong khoảng những năm 1950-1980 của thế kỉ trước) Từ khinước ta bước vào thời kỳ đổi mới, mở cửa (1986), các khu vực đô thị có tốc
độ phát triển mạnh và tạo ra nhiều công ăn việc làm đã thu hút được dòngngười từ nông thôn vào thành phố làm ăn Khác với dòng di cư nông thôn –nông thôn trước đây được Nhà nước khuyến khích và chỉ đạo, dòng di cưnông thôn – đô thị thường là mang tính tự do và là quyết định của cá nhân vàgia đình dưới tác động của cơ chế thị trường Theo dự báo của Tổng cụcThống kê, tỷ lệ di dân từ nông thôn đến thành thị trên tổng số dân thành thị
sẽ tăng từ 8,9% năm 2009 lên 11% vào năm 2019 Trong khi đó tỷ lệ di cư từthành thị tới thành thị trên tổng số dân thành thị sẽ giảm từ 7,6% năm 2009xuống 6,7% năm 2019 (Tổng cục Thống kê, 2010) Dòng di cư nông thôn –
đô thị chủ yếu đổ về các thành phố lớn và các tỉnh có các khu công nghiệplớn
Hà Nội là trung tâm chính trị - hành chính, kinh tế, văn hóa, khoa họcgiáo dục và là đầu mối giao dịch quan trọng trong nước và quốc tế Chínhnhững điều kiện thuận lợi này đã thu hút một lượng lớn người di cư đến đểtìm kiếm việc làm, tăng thu nhập và tìm kiếm cơ hội sống tốt hơn Tuy vậy,việc tiếp cận
Trang 34và sử dụng các dịch vụ xã hội cơ bản không phải là điều dễ dàng cho nhómdân số này trong bối cảnh hiện nay.
1.1.1. Nguyên nhân di cư
Từ năm 1986, số người di cư từ các vùng nông thôn và các đô thị nhỏ
về Hà Nội có xu hướng tăng mạnh Trong 10 năm từ 1999-2009, dân số HàNội tăng thêm 1.204.688 người (bình quân 120.000 người/năm) Dân số tăng
do nhập cư đến Hà Nội chiếm từ 30 – 39%1 Dân số tăng do nhập cư khu vựcnội thành Hà Nội chiếm khoảng 70 – 80% so với tổng số dân nhập cư vàotoàn thành phố Nguyên nhân chủ yếu của di dân là vì mục đích kinh tế chiếm63%, tỷ lệ di cư không thời vụ là 42% và 90% do di cư theo thời vụ Người di
cư chủ yếu từ các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng, miền núi phía Bắc và một
số tỉnh ở Bắc Trung Bộ (Patrick Gubry và cộng sự, 2004, tr 80-81) Mộtnghiên cứu khác cũng chỉ ra có đến 80% những người di cư di chuyển từ nôngthôn đến thành thị vì mục đích kinh tế (Lê Bạch Dương và Nguyễn ThanhLiêm, 2011) Thông qua Điều tra di cư 2015, Tổng cục Thống kê đã đưa ramột bức tranh khá rõ nét về việc làm và đời sống của người di cư Xét về lý
do di cư, kết quả điều tra cho thấy cơ hội việc làm và thu nhập là hai yếu tố cósức hút chính đối với quyết định di cư Trong tổng số đối tượng di cư củakhảo sát có gần 90% có việc làm và một nửa trong số đó làm các công việcgiản đơn tại khu vực phi chính thức Một nghiên cứu khác do Viện Nghiêncứu Phát triển Xã hội thực hiện năm 2004 về những lao động nhập cư tại HàNội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy chủ yếu họ làm việc tạikhu vực tư nhân, không chính thức, thu nhập thấp và không ổn định
Ngoài ra, các nghiên cứu cũng xác định thêm một nguyên nhân khácnữa của di cư là mục đích phát triển giáo dục đối với các cá nhân Họ tìmkiếm con
1 http://www.gopfp.gov.vn/so6-111
Trang 35đường học tập tại các thành phố lớn, nơi tập trung các trường Cao đẳng, Đạihọc hoặc trường nghề, sau đó tiếp tục ở lại để tìm kiếm việc làm và xây dựngcuộc sống mới cho bản thân Nhiều người trong số họ đã trở thành hình mẫu
lý tưởng cho những người em, cháu trong gia đình về sự thành công trong thunhập và sự nghiệp
1.1.2. Giới tính của người nhập cư
Nhìn chung, các nghiên cứu trên Thế giới đều cho thấy nam giới di cưnhiều hơn nữ giới mặc dù hiện nay ở Châu Á đang có xu hướng nữ giới di cưtăng lên do có sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế và sự mở rộng của các khu vựcsản xuất hàng loạt có những yêu cầu đối với lao động là nữ (Santosh Jattana,Mika Toyota and Brenda S.A Yeoh, 2005) Ở Việt Nam, các nghiên cứu chọnmẫu nhận thấy xu hướng di cư mạnh ở nam giới Viện Nghiên cứu và Pháttriển Xã hội đã tiến hành nghiên cứu người di cư đến đô thị, kết quả cho thấy
tỷ lệ nam giới di cư cao hơn nữ: 61,46% là nam giới và 38,54% là nữ giới.Như vậy, trong dòng di cư từ nông thôn về đô thị trong nghiên cứu này namgiới chiếm đến gần 2/3 trong tổng số người di cư Tại Hà Nội tỷ lệ này còncao hơn: 70,09% là nam và 29,91% là nữ (Lê Bạch Dương và Nguyễn ThanhLiêm, 2011)
Tuy nhiên xem xét từ những cuộc điều tra có quy mô lớn và di cư nóichung không phân biệt các vùng miền (di cư được tính cả từ nông thôn đếnthành phố, giữa các tỉnh, giữa các huyện và trong phạm vi huyện) thì hiện nayphụ nữ di cư ngày càng tăng và đang chiếm tỷ trọng lớn trong dòng di cư.Theo số liệu từ Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, tỷ lệ nữ đều cao hơn 50%đối với hầu hết các nhóm di cư Tính riêng di cư giữa các tỉnh, tỉ lệ phụ nữ di
cư chiếm khoảng 42% năm 1989 lên đến 50% năm 1999 và 54% năm 2009.Điều đặc biệt là trong số lao động di cư ở độ tuổi từ 15-29, tỷ lệ lao động nữ
di cư cao hơn hẳn so với nam giới (Tổng cục Thống kê, 2010) Lao động nữchủ yếu làm việc tại các khu công nghiệp với mô hình công việc không đòi
Trang 36hỏi trình độ hay
Trang 37kỹ thuật cao mà chỉ cần những người chuyên cần chịu khó và chấp nhận mứcthu nhập thấp Có thể khẳng định xu hướng nữ hóa di cư hiện nay khá phổbiến Cục việc làm thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cung cấpthêm bằng chứng cho thấy nữ lao động nhập cư đã đáp ứng được thị trườnglao động với 55,9% trong tổng số lao động từ nông thôn ra thành thị, đặc biệtnhóm lao động là nữ di cư đến các khu công nghiệp chiếm 68,3% (Cục việclàm – Bộ LĐTBXH, 2013) Tại đô thị, lao động nữ thường làm các công việcliên quan đến sự khéo léo, dẻo dai, đòi hỏi sự chịu khó như giúp việc gia đình,bán hàng rong, làm thuê hoặc làm việc tại các nhà máy.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng: trong khu vực lao động phi chính thức,hầu hết phụ nữ tham gia công việc tự làm hoặc lao động gia đình không đượctrả công Vì thế, họ cũng là nhóm người chiếm số đông trong các việc làm dễ
bị tổn thương Hơn nữa, họ thường lao động trong các công việc đòi hỏi kĩnăng và trình độ thấp hơn nam giới, do đó họ cần được tham gia vào cácchương trình và nội dung đào tạo dành riêng cho nữ giới để cân bằng về thunhập và ảnh hưởng về vai trò đối với nam giới trong tương lai
1.1.3. Độ tuổi của người nhập cư
Lao động nhập cư hiện đang tập trung chủ yếu trong nhóm những ngườitrẻ tuổi Kết quả phân tích số liệu của Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009cung cấp thêm những bằng chứng khẳng định người di cư thường là nhữngngười trẻ tuổi (Tổng cục Thống kê, 2009) Chuyên khảo Di cư và đô thị hóa:28) Dạng hình tháp dân số cho thấy cấu trúc tương đối già của nhóm dân sốkhông di cư và cơ cấu dân số rất trẻ của các nhóm dân số di cư với mức độ tậptrung rất cao quanh nhóm tuổi từ 15 – 29 Thông tin chi tiết cho thấy, tuổitrung vị của người không di cư năm 2009 là 30 tuổi, còn của người di cư íthơn 5 năm hay nói cách khác có ½ trong số những người di cư là dưới 25tuổi Một nghiên cứu khác của Tổ chức Di cư Quốc tế cho thấy có 71,5% laođộng nhập cư tại Hà Nội trong mẫu
Trang 38phỏng vấn dưới 40 tuổi Trong nhóm lao động nhập cư dưới 40 tuổi thì tậptrung chính từ 24-27 tuổi với độ phân tán trong nhóm thấp nhất là 4 đơn vị(Qũy mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Tây Ban Nha, 2012) Như vậy, tuổi tác
là một chiều cạnh có tính chọn lọc trong di cư nhằm đáp ứng với nhu cầu củathị trường lao động và phù hợp với sự lựa chọn của những người có tuổi trẻ vàsức khỏe Đây cũng là nhóm đang trong độ tuổi sinh sản mạnh, vì thế hiệnnay các tổ chức xã hội đã có các chương trình can thiệp truyền thông vàCSSK sinh sản cho lao động di cư trong đó quan tâm đến đối tượng là phụ nữ
1.2. Đời sống của người nhập cư ở thành phố.
1.2.1. Việc làm của người nhập cư.
Đa số người nhập cư làm việc ở khu vực phi chính thức
Thuật ngữ “khu vưc phi chính thức” được sử dụng lần đầu tại Kenyakhoảng 40 năm trước đây Năm 1993, ILO và cơ quan thống kê của Liên Hợpquốc đã thống nhất khái niệm này Theo đó, khu vực phi chính thức được hiểu
là: “Khu vực phi chính thức mang đặc trưng chung bao gồm các cơ sở sản
xuất kinh doanh hoạt động với quy mô nhỏ, có mức độ tổ chức thấp không phân biệt yếu tố đầu vào cho sản xuất, kinh doanh là lao động hay vốn hoặc nếu có phân biệt thì ở mức độ thấp và với mục tiêu chính là tạo ra cơ hội việc làm và thu nhập cho những người có liên quan (Viện Khoa học Lao động xã
hội, 2012).
Tại Việt Nam, theo Tổng cục Thống kê, khu vực kinh tế phi chính thứcbao gồm toàn bộ các hộ sản xuất - kinh doanh không thuộc các ngành nông,lâm, thủy sản, sản xuất hàng hóa và dịch vụ bán ra thị trường nhưng chưa cóđăng ký kinh doanh với cơ quan nhà nước Lao động nhập cư tại thành phốchủ yếu làm các công việc liên quan đến lao động chân tay như buôn bán nhỏ,bán hàng rong, làm thuê, giúp việc gia đình, thợ hồ
Hầu hết những người di cư là do muốn có việc làm và thu nhập tốt hơntại nơi ở mới Phần lớn họ làm việc trong khu vực phi chính thức Năm 2007,
Trang 39khu vực phi chính thức chiếm tỷ trọng 25% việc làm ở quy mô toàn quốc, ướctính đóng góp khoảng 20% GDP quốc nội Ngoài ra ta còn thấy tỉ trọng việclàm khu vực phí chính thức trong tổng việc làm ở mức lớn nhất tại các đô thị
và ven đô như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và thành phố ĐàNẵng (Jean-Pieere Cling, Mireille Razafinderacoto, Francois Roubaud – IRD-DIAL, 2010) Kết quả nghiên cứu của Action Aid cho thấy, năm 2011 có94,4% phụ nữ di cư trong nước là lao động tự do trong khu vực phi chính thức(Action Aid, 2011) Những công việc này có những đặc điểm chung nhưkhông cần trình độ học vấn hoặc tay nghề cao, nhưng yêu cầu phải có sứckhỏe và thời gian làm việc nhiều hơn, công việc nặng nhọc độc hại hơn Một
số khác làm việc tại các khu công nghiệp là công nhân trong các lĩnh vực vềmay mặc, điện tử, hay các khu chế xuất Do không có chuyên môn kỹ thuậtnên người lao động di cư thường phải đảm nhận các công việc nặng nhọc, cótính chất ô nhiễm (30,5%), độc hại (14,1%) và nguy hiểm (10,4%) (Cục việclàm, 2013) Chính tính chất công việc đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến sứckhỏe của lao động nhập cư từ nông thôn vào thành thị Vì thế, vấn đề sứckhoẻ ngắn và dài hạn đòi hỏi họ cần được tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế cóchất lượng cho mục đích phòng ngừa và can thiệp khi có bệnh tật
Kết quả của nghiên cứu “Rào cản pháp luật và thực tiễn đối với người
di cư trong tiếp cận An sinh xã hội” năm 2015 cho thấy: trong tổng số laođộng di cư được khảo sát, số người làm việc trong khu vực có vốn nước ngoài
là 36,3%, khu vực tư nhân và cơ sở/hộ cá thể có giấy phép kinh doanh chiếm
tỉ trọng tương ứng là 15.7% và 16%, khu vực quốc doanh là 1.4% Nghiêncứu cũng chỉ ra số người lao động di cư trong khu vực phi chính thưc là58.8%
Thời gian làm việc: Thời gian và sự ổn định trong công việc cũng là
một trong những chỉ số quan trọng đối với người lao động di cư Nghiên cứucũng chỉ ra là người lao động di cư phải gánh chịu sự vất vả khi trở thành
Trang 40công nhân