1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG HIỆN NAY

15 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 126,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRIẾT HỌC 2 1.1. Triết học là gì? 2 1.1.1. Triết học và đối tượng nghiên cứu của triết học 2 1.1.2. Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan 3 1.2. Vấn đề cơ bản của triết học, các trường phái triết học 3 1.3. Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình 4 1.3.1. Phương pháp siêu hình 4 1.3.2. Phương pháp biện chứng 4 CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG HIỆN NAY 6 2.1. Vai trò của triết học trong đời sống xã hội 6 2.2. Vai trò của triết học Mác – Lênin 7 2.2.1. Vai trò của triết học MácLênin trong hoạt động nhận thức và thực tiễn 7 2.2.2. Triết học MácLênin với các khoa học khác 8 2.2.3. Vai trò của triết học trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước 9 KẾT LUẬN 13 TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 1

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRIẾT HỌC 2

1.1 Triết học là gì? 2

1.1.1 Triết học và đối tượng nghiên cứu của triết học 2

1.1.2 Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan 3

1.2 Vấn đề cơ bản của triết học, các trường phái triết học 3

1.3 Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình 4

1.3.1 Phương pháp siêu hình 4

1.3.2 Phương pháp biện chứng 4

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG HIỆN NAY 6

2.1 Vai trò của triết học trong đời sống xã hội 6

2.2 Vai trò của triết học Mác – Lênin 7

2.2.1 Vai trò của triết học Mác-Lênin trong hoạt động nhận thức và thực tiễn 7

2.2.2 Triết học Mác-Lênin với các khoa học khác 8

2.2.3 Vai trò của triết học trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước 9

KẾT LUẬN 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 2

MỞ ĐẦU

Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ

Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời

Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội

Trang 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRIẾT HỌC 1.1 Triết học là gì?

1.1.1 Triết học và đối tượng nghiên cứu của triết học

a Khái niệm “Triết học”, nguồn gốc của triết học

Triết học ra đời gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI TCN) tại một số trung tâm văn minh cổ đại như Trung Hoa, Ấn Độ, Hy Lạp

Triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, có thể làm sáng tỏ bản chất

của mọi vật Khái quát lại, triết học là một hình thái ý thức xã hội; là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con ngời về thế giới; về vị trí, vai trò của con ngời trong thế giới ấy, được xem là "khoa học của mọi khoa học".

Từ thế kỷ XV - XVI đến thế kỷ XVIII, các bộ môn khoa học chuyên ngành, nhất là khoa học thực nghiệm phát triển mạnh mẽ, dần dần tách ra khỏi triết học, từng bước làm

phá sản tham vọng muốn đóng vai trò "khoa học của mọi khoa học" của một số học thuyết

triết học lúc bấy giờ, đặc biệt là triết học Hêghen

Đầu thế kỷ XIX, triết học Mác ra đời đã đoạn tuyệt hoàn toàn với quan niệm trên

và xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất

của tự nhiên, xã hội và tư duy Quan niệm macxit cho rằng:"Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, của thái độ con ngời đối với thế giới; là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy".

Khác với các khoa học cụ thể chỉ đi vào nghiên cứu từng lĩnh vực riêng biệt của thế giới, triết học xem xét thế giới như một chỉnh thể và đem lại một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó Triết học là sự diễn tả thế giới quan bằng lý luận Mặc dù có sự khác nhau giữa các hệ thống triết học, nhưng điểm chung của chúng là đều nghiên cứu

Trang 4

những vấn đề chung nhất của tự nhiên, xã hội và con người, mối quan hệ của con ngời nói chung, của tư duy nói riêng với thế giới

1.1.2 Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan

Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí con người trong thế giới đó

Đặc tính của tư duy con người là muốn đạt tới sự hiểu biết hoàn toàn, đầy đủ; song tri thức mà con ngời đạt được luôn luôn là có hạn Quá trình tìm hiểu về quan hệ giữa con người với thế giới đã hình thành nên những quan niệm nhất định, trong đó có sự hoà quyện thống nhất giữa cảm xúc và trí tuệ, tri thức và niềm tin Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, song nó chỉ gia nhập thế giới quan khi đã trở thành niềm tin định hướng cho hoạt động của con người

Khác với thế giới quan thần thoại và tôn giáo, thế giới quan triết học dựa vào tri thức, là sự diễn tả quan niệm của con người dưới dạng hệ thống các quy luật, phạm trù đóng vai trò là những nấc thang trong quá trình nhận thức thế giới Với ý nghĩa đó, triết học được xem là hạt nhân lý luận của thế giới quan, là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới đó

1.2 Vấn đề cơ bản của triết học, các trường phái triết học

Ngay từ thời cổ đại đã nảy sinh vấn đề quan hệ giữa linh hồn con người với thế giới bên ngoài Triết học ra đời cũng giải quyết vấn đề đó, nhưng ở tầm khái quát cao hơn

là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại Theo Ăngghen: "Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại" [1]; bởi vì việc giải quyết vấn đề này là cơ sở và xuất phát điểm để giải quyết các vấn đề khác của triết học Đồng thời sẽ là tiêu chuẩn để xác định lập trờng thế giới quan của các triết gia

và các học thuyết của họ

Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

1 []

C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, t.21, tr.403

Trang 5

- Mặt thứ nhất: Giữa vật chất và ý thức, cái nào có trớc, cái nào có sau, cái nào quyết

định cái nào?

- Mặt thứ hai: ý thức con ngời có thể phản ánh trung thực thế giới khách quan hay

không? Nghĩa là con ngời có khả năng nhận thức hay không?

Việc trả lời hai câu hỏi trên đã dẫn đến sự hình thành các trờng phái và các học thuyết triết học khác nhau: Chủ nghĩa duy vật (Talét, Hêraclit, Đêmôcrit, C.Mac, Lênin

…) và chủ nghĩa duy tâm (Platon, Hêghen, Beccơli,…); Thuyết khả tri và thuyết bất khả tri (Beccơly, Hium)

1.3 Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình

Một vấn đề rất quan trọng mà triết học phải làm sáng tỏ là: các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh ta tồn tại như thế nào?

Vấn đề này có nhiều cách trả lời khác nhau, nhưng suy đến cùng đều quy về hai quan điểm chính đối lập nhau là biện chứng và siêu hình

1.3.1 Phương pháp siêu hình

Phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập,

tĩnh tại với một tư duy cứng nhắc, "chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối quan hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại mà không nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ thấy cây mà không thấy rừng" [2]

1.3.2 Phương pháp biện chứng

Phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng với một tư duy mềm dẻo,

linh hoạt, "không chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối liên hệ giữa chúng, không chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và tiêu vong của sự vật, không chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh mà còn thấy cả trạng thái động của

sự vật, không chỉ thấy cây mà còn thấy cả rừng".

2[] Sđd, t.20, tr.37

Trang 6

Phương pháp biện chứng đã phát triển trải qua ba giai đoạn và đợc thể hiện qua ba hình thức lịch sử của phép biện chứng: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật Trong phép biện chứng duy vật, C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm

của Hêghen để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên

hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất.

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG HIỆN NAY 2.1 Vai trò của triết học trong đời sống xã hội

Trang 7

Thoạt nhìn, những vấn đề triết học đề cập dường như xa vời nhu cầu và mối quan tâm thường nhật của con người Nhưng khi xem xét một cách kỹ lưỡng và khoa học thì

Arixtốt cho rằng: “Trong tất cả các khoa học, triết học là một khoa học nhạt nhẽo nhất, song cũng chính vì vậy mà là một khoa học cao nhất và cần thiết nhất đối với con người”.

Và M.Bungơ khẳng định: “Một xã hội chẳng có nghĩa lý gì nếu ở đó không có triết học”.

Các nhà triết học không tự nghĩ ra những vấn đề của triết học mà chỉ góp phần giải đáp những vấn đề cơ bản nhất do cuộc sống, do nhu cầu của con người, do đòi hỏi của thời đại đặt ra Có những vấn đề mà nếu chỉ dừng lại ở tri thức cụ thể - cảm tính, tri thức kinh nghiệm, quan sát hay thực nghiệm khoa học thì không đủ tầm lý giải Triết học chỉ xuất hiện ở đâu và lúc nào khi con người vươn khỏi cái xao động hàng ngày của đời sống trực tiếp mà ý thức đời thường phản ánh để cố gắng nắm bắt cái tĩnh lặng sâu xa chi phối tất cả, tìm ra cái thường hằng ẩn náu dưới bề nổi của mọi biến cố; có được cái bình yên

“dĩ bất biến” để “vạn ứng biến”

Khi thời đại diễn ra những biến đổi to lớn và nhanh chóng tạo ra những bước ngoặt trong mọi mặt đời sống đòi hỏi con người phải có sự lựa chọn đúng đắn, trong tình thế đó thì việc định hướng thế giới quan, ý thức về vai trò và vị trí của con người trong thế giới, xác lập mục đích và ý nghĩa của cuộc sống, nắm được phương pháp luận chỉ đạo cho hoạt động nhận thức và thực tiễn, nói vắn tắt đó là triết học, là thời đại kết tinh thành tư tưởng, càng trở nên cần thiết và có vai trò quan trọng

Vai trò của triết học trong đời sống xã hội được thể hiện qua chức năng của triết học như chức năng nhận thức, chức năng đánh giá, chức năng giáo dục, nhưng quan trọng nhất là chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận

Trong cuộc sống của con người và xã hội loài người, thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng Bằng một hệ thống quan niệm về thế giới, con người tìm cách khám phá những bí mật của giới tự nhiên Có thể ví thế giới quan như một thấu kính, qua đó con

Trang 8

người nhìn nhận, xét đoán mọi sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh và tự xem xét chính mình Từ đó, xác định thái độ, cách thức hoạt động, sinh sống của chính mình Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực

Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và

tri thức do các khoa học đem lại Đó là chức năng thế giới quan của triết học.

Sự phát triển của thực tiễn và khoa học đã dẫn đến sự ra đời của một lĩnh vực đặc

thù của khoa học lý thuyết và triết học - Đó là phương pháp luận Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống những quan điểm chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.

Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và vai trò của con ngời trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên,

xã hội và tư duy, triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất Mỗi quan

điểm lý luận của triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp,

là một lý luận về phương pháp

2.2 Vai trò của triết học Mác – Lênin

2.2.1 Vai trò của triết học Mác-Lênin trong hoạt động nhận thức và thực tiễn

Trong triết học Mác – Lê nin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với nhau

Đó là sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng Sự thống nhất này làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học Do

đó, triết học mác xít có khả năng nhận thức đúng đắn cả giới tự nhiên, xã hội và tư duy con người Cũng chính vì vậy, hệ thống các quan điểm của triết học Mác đã trở thành nhân tố định hướng cho các hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, trở thành những nguyên tắc xuất phát của phương pháp luận

2.2.2 Triết học Mác-Lênin với các khoa học khác

Triết học Mác – Lênin đã phủ nhận quan niệm coi triết học là khoa học của các khoa học mà xem triết học và các khoa học cụ thể có mối quan hệ biện chứng với nhau

Trang 9

Sự phát triển của các khoa học là điều kiện cho sự phát triển của triết học Ngược lại, những kết luận triết học đưa lại thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn cho sự phát triển của các khoa học

Triết học Mác - Lênin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy nhân loại, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng trong việc xem xét tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người

Trong triết học Mác-Lênin, lý luận duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật thống nhất hữu cơ với nhau Sự thống nhất đó làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học Nhờ đó, triết học Mác - Lênin có khả năng nhận thức đúng đắn tự nhiên, xã hội và tư duy Phép biện chứng duy vật không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn là lý luận về thế giới quan Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng trở thành nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức

và thực tiễn, trở thành những nguyên tắc xuất phát điểm của phương pháp luận

Như vậy, trong triết học Mác - Lênin, thế giới quan và phương pháp luận thống nhất hữu cơ với nhau, làm cho triết học Mác trở thành chủ nghĩa duy vật hoàn bị, một

"công cụ nhận thức vĩ đại" Triết học Mác ra đời đã làm thay đổi mối quan hệ giữa triết học và khoa học; sự phát triển của khoa học tạo điều kiện cho sự phát triển của triết học Ngược lại, triết học Mác - Lênin đem lại thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn cho sự phát triển khoa học

Ngày nay, khi khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ thì sự gắn bó giữa triết học Mác - Lênin và khoa học càng trở nên đặc biệt quan trọng Lý luận triết học sẽ khô cứng và lạc hậu nếu tách rời các tri thức khoa học chuyên ngành Ngược lại, nếu không đứng vững trên lập trường duy vật khoa học và thiếu tư duy biện chứng thì trước những phát hiện mới, người ta dễ mất phương hướng và đi đến những kết luận sai lầm về mặt triết học

Trang 10

Đời sống xã hội hiện đại đang có những biến đổi sâu sắc; việc nắm vững triết học Mác - Lênin giúp chúng ta tự giác trong quá trình trau dồi phẩm chất chính trị, tinh thần

và năng lực tư duy sáng tạo của mình, tránh những sai lầm do chủ nghĩa chủ quan và phương pháp tư duy siêu hình gây ra

Tuy nhiên, triết học Mác - Lênin không phải là đơn thuốc vạn năng có thể giải quyết mọi vấn đề trong cuộc sống Bởi vậy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần tránh cả hai khuynh hướng sai lầm: hoặc xem thường triết học hoặc là tuyệt đối hóa vai trò của triết học Nếu xem thường triết học sẽ rơi vào tình trạng mò mẫm, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể nhất thời, dễ mất phương hướng, thiếu chủ động và sáng tạo Còn nếu tuyệt đối hóa vai trò của triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều, áp dụng máy móc những nguyên lý, quy luật chung mà không tính đến tình hình cụ thể trong những tr-ờng hợp riêng, dẫn đến những vấp váp, dễ thất bại

2.2.3 Vai trò của triết học trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước

Nước ta thuộc vào nhóm các nước đang phát triển Do đó, để thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, chúng ta không có con đường nào khác là phải công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH) đất nước Chính vì vậy, Đảng

ta đã xác định: "Đây là nhiệm vụ trọng tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới"[3] Nhưng để thực hiện được nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu đó, chúng ta không thể không sử dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ Nói cách khác khoa học, kỹ thuật và công nghệ có vai trò hết sức to lớn trong công cuộc CNH -HĐH đất nước Tuy nhiên, trong bài báo này, chúng tôi không có tham vọng làm sáng tỏ vai trò của khoa học, kỹ thuật và công nghệ mà chỉ muốn nêu lên một số suy nghĩ về vai trò của triết học với tư cách là một khoa học đối với công cuộc CNH - HĐH ở nước ta

Kinh nghiệm của một số nước đã tiến hành CNH - HĐH trong khu vực đã chỉ ra rằng để cho một xã hội phát triển lành mạnh ngay từ đầu cần có quan điểm phát triển toàn

vững bước tiến lên Báo Nhândân, ngày 4/12/1993.

Ngày đăng: 02/05/2021, 15:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w