MỤC LỤC1.CẤU TRÚC TÀI CHÍNH11.1.Các khái niệm về cấu trúc tài chính và các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính11.1.1.Các khái niệm về cấu trúc tài chính11.1.2.Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính21.2.Khái niệm cấu trúc vốn, cấu trúc vốn tối ưu và đặc điểm nợ và vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp51.2.1.Khái niệm về cấu trúc vốn51.2.2.Lý thuyết cấu trúc vốn tối ưu51.2.3.Đặc điểm nợ và vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp61.3.Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn cấu trúc tài chính71.3.1.Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự lựa chọn cấu trúc tài chính71.3.1.1.Đặc điểm nền kinh tế71.3.1.2.Đặc điểm ngành nghề81.3.1.3.Độc quyền81.3.1.4.Quy mô doanh nghiệp91.3.1.5.Luật thuế (thuế suất)91.3.1.6.Cơ hội tăng trưởng91.3.1.7.Khả năng sinh lời và Biến động thu nhập101.3.1.8.Chu kỳ tăng trưởng101.3.1.9.Tính thanh khoản111.3.1.10.Triết lý quản lý111.3.2.Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự lựa chọn cấu trúc tài chính111.4.Lựa chọn cấu trúc tài chính theo quan điểm của Modigliani-Miller121.4.1.Lựa chọn cấu trúc tài chính trong điều kiện không có thuế (thị trường hoàn hảo)121.4.2.Lựa chọn cấu trúc tài chính trong nền kinh tế cạnh tranh, chịu ảnh hưởng của thuế:131.5.Cấu trúc tài chính doanh nghiệp của một số quốc gia trên Thế giới142.CHI PHÍ GIAO DỊCH172.1.Lý thuyết về chi phí giao dịch172.1.1.Khái niệm về chi phí giao dịch172.1.2.Các hình thức của chi phí giao dịch172.1.3.Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí giao dịch192.2.Tác động của chi phí giao dịch đến cấu trúc TCDN192.3.Phương thức làm giảm chi phí giao dịch193.THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG – LỰA CHỌN ĐỐI NGHỊCH – RỦI RO ĐẠO ĐỨC203.1.Thông tin bất cân xứng203.1.1.Khái niệm thông tin bất cân xứng203.1.2.Đặc điểm của thông tin bất cân xứng213.1.3.Nguyên nhân và hậu quả của thông tin bất cân xứng213.1.4.Biện pháp hạn chế223.2.Lựa chọn đối nghịch233.2.1.Khái niệm lựa chọn đối nghịch233.2.2.Lựa chọn đối nghịch trên thị trường tài chính233.2.3.Ảnh hưởng của lựa chọn đối nghịch đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp243.2.4.Biện pháp hạn chế lựa chọn đối nghịch trên thị trường tài chính253.3.Rủi ro đạo đức và cấu trúc tài chính của doanh nghiệp263.3.1.Khái niệm rủi ro đạo đức263.3.2.Đặc điểm của rủi ro đạo đức273.3.3.Biện pháp phòng ngừa rủi ro đạo đức293.3.4.Một vài trường hợp rủi ro đạo đức xảy ra trong thi trường tài chính Việt Nam và các biện pháp hạn chế313.3.4.1.Ngành ngân hàng:313.3.4.2.Thị trường chứng khoán33 1.CẤU TRÚC TÀI CHÍNH1.1.Các khái niệm về cấu trúc tài chính và các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính1.1.1.Các khái niệm về cấu trúc tài chínhCấu trúc là cơ cấu hỗn hợp của nhiều bộ phận cấu thành và có mối liên hệ với nhau trong một tổng thể.Cấu trúc tài chính là cơ cấu hỗn hợp giữa các khoản nợ (ngắn hạn và dài hạn) và vốn chủ sở hữu.Trong đó:Nợ ngắn hạn là những khoản nợ có thời hạn thanh toán ngắn (thường dưới 12 tháng) bao gồm: vay ngắn hạn, khoản phải trả, nợ tích lũy và nợ ngắn hạn khác,...Vay ngắn hạn là các khoản đi vay từ các định chế tài chính hay từ các cá nhân, tổ chức. Vay ngắn hạn có đặc điểm có thể làm tăng nguồn vốn kinh doanh, đáp ứng kịp thời nhu cầu đầu tư, thời hạn vay đa dạng giúp doanh nghiệp chủ động trong việc sử dụng vốn vay, chi phí sử dụng vốn vay thấp thường hơn chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu, không bị chi phối trong quá trình quản lý và điều hành doanh nghiệp nhưng để được cấp tín dụng thì doanh nghiệp phải có tài sản đảm bảo hoặc phải có uy tín. Quy mô của vốn vay phụ thuộc vào độ tín nhiệm của người đi vay.Các khoản phải trả là khoản nợ mà doanh nghiệp phải trả cho người bán (người cung cấp) do chính sách bán hàng trả chậm hoặc do doanh nghiệp cố tình chiếm dụng vốn trong quá trình mua các yếu tố đầu vào phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này hình thành trong quan hệ mua bán chịu vật tư, hàng hóa giữa các doanh nghiệp với nhau. Đây là loại hình tín dụng ngắn hạn, nó thường được thực hiện giữa các doanh nghiệp với nhau khi có sự tín nhiệm và có quan hệ cung ứng thường xuyên về vật tư hàng hóa. Nợ tích lũy là các khoản phải nộp, phải trả nhưng chưa đến kỳ hạn thanh toán như: tiền lương của công nhân viên, tiền thuế phải nộp cho nhà nước, tiền điện, tiền nước, điện thoại,... là những nguồn vốn tài trợ được doanh nghiệp ưu tiên khai thác trong trường hợp phát sinh nhu cầu vốn không thường xuyên, thường có thời hạn sử dụng ngắn, giải quyết phần nào nhu cầu vốn ngắn hạn phát sinh trong quá trình kinh doanh nhưng phải chú ý đền khả năng thanh toán kịp thời các khoản nợ khi đến hạn, quy mô chiếm dụng có giới hạn và chiếm tỷ trọng nhỏ tuy nhiên với chi phí sử dụng bằng 0 việc khai thác nguồn này có hiệu quả sẽ làm tăng tỉ suất lợi tức của vốn sở hữu.
Trang 1Đề tài:
GVHD: TS Diệp Gia Luật Nhóm: 4
Lớp: Cao học đêm 6 Khóa: 23
Trang 2DANH SÁCH NHÓM 4
1 Lê Tuấn Anh
2 Trần Thị Bông
3 Đoàn Thị Thùy Dương
4 Lê Thị Minh Duyên
Trang 3MỤC LỤC
1 CẤU TRÚC TÀI CHÍNH 1
1.1 Các khái niệm về cấu trúc tài chính và các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính 1
1.1.1 Các khái niệm về cấu trúc tài chính 1
1.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính 2
1.2 Khái niệm cấu trúc vốn, cấu trúc vốn tối ưu và đặc điểm nợ và vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp 5
1.2.1 Khái niệm về cấu trúc vốn 5
1.2.2 Lý thuyết cấu trúc vốn tối ưu 5
1.2.3 Đặc điểm nợ và vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp 6
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn cấu trúc tài chính 7
1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự lựa chọn cấu trúc tài chính 7
1.3.1.1 Đặc điểm nền kinh tế 7
1.3.1.2 Đặc điểm ngành nghề 8
1.3.1.3 Độc quyền 8
1.3.1.4 Quy mô doanh nghiệp 9
1.3.1.5 Luật thuế (thuế suất) 9
1.3.1.6 Cơ hội tăng trưởng 9
1.3.1.7 Khả năng sinh lời và Biến động thu nhập 10
1.3.1.8 Chu kỳ tăng trưởng 10
1.3.1.9. Tính thanh khoản 11
1.3.1.10 Triết lý quản lý 11
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự lựa chọn cấu trúc tài chính 11
1.4 Lựa chọn cấu trúc tài chính theo quan điểm của Modigliani-Miller 12
1.4.1 Lựa chọn cấu trúc tài chính trong điều kiện không có thuế (thị trường hoàn hảo) 12 1.4.2 Lựa chọn cấu trúc tài chính trong nền kinh tế cạnh tranh, chịu ảnh hưởng của thuế: 13
1.5 Cấu trúc tài chính doanh nghiệp của một số quốc gia trên Thế giới 14
2 CHI PHÍ GIAO DỊCH 17
2.1 Lý thuyết về chi phí giao dịch 17
2.1.1 Khái niệm về chi phí giao dịch 17
Trang 42.2 Tác động của chi phí giao dịch đến cấu trúc TCDN 19
2.3 Phương thức làm giảm chi phí giao dịch 19
3 THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG – LỰA CHỌN ĐỐI NGHỊCH – RỦI RO ĐẠO ĐỨC 20
3.1 Thông tin bất cân xứng 20
3.1.1 Khái niệm thông tin bất cân xứng 20
3.1.2 Đặc điểm của thông tin bất cân xứng 21
3.1.3 Nguyên nhân và hậu quả của thông tin bất cân xứng 21
3.1.4 Biện pháp hạn chế 22
3.2 Lựa chọn đối nghịch 23
3.2.1 Khái niệm lựa chọn đối nghịch 23
3.2.2 Lựa chọn đối nghịch trên thị trường tài chính 23
3.2.3 Ảnh hưởng của lựa chọn đối nghịch đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp 24
3.2.4 Biện pháp hạn chế lựa chọn đối nghịch trên thị trường tài chính 25
3.3 Rủi ro đạo đức và cấu trúc tài chính của doanh nghiệp 26
3.3.1 Khái niệm rủi ro đạo đức 26
3.3.2 Đặc điểm của rủi ro đạo đức 27
3.3.3 Biện pháp phòng ngừa rủi ro đạo đức 29
3.3.4 Một vài trường hợp rủi ro đạo đức xảy ra trong thi trường tài chính Việt Nam và các biện pháp hạn chế 31
3.3.4.1 Ngành ngân hàng: 31
3.3.4.2 Thị trường chứng khoán 33
Trang 51 CẤU TRÚC TÀI CHÍNH
1.1 Các khái niệm về cấu trúc tài chính và các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính
1.1.1 Các khái niệm về cấu trúc tài chính
Cấu trúc là cơ cấu hỗn hợp của nhiều bộ phận cấu thành và có mối liên hệ với nhau trong
một tổng thể
Cấu trúc tài chính là cơ cấu hỗn hợp giữa các khoản nợ (ngắn hạn và dài hạn) và vốn chủ sở
hữu
Trong đó:
Nợ ngắn hạn là những khoản nợ có thời hạn thanh toán ngắn (thường dưới 12 tháng) bao
gồm: vay ngắn hạn, khoản phải trả, nợ tích lũy và nợ ngắn hạn khác,
Vay ngắn hạn là các khoản đi vay từ các định chế tài chính hay từ các cá nhân, tổchức Vay ngắn hạn có đặc điểm có thể làm tăng nguồn vốn kinh doanh, đáp ứng kịp thời nhucầu đầu tư, thời hạn vay đa dạng giúp doanh nghiệp chủ động trong việc sử dụng vốn vay, chiphí sử dụng vốn vay thấp thường hơn chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu, không bị chi phốitrong quá trình quản lý và điều hành doanh nghiệp nhưng để được cấp tín dụng thì doanhnghiệp phải có tài sản đảm bảo hoặc phải có uy tín Quy mô của vốn vay phụ thuộc vào độ tínnhiệm của người đi vay
Các khoản phải trả là khoản nợ mà doanh nghiệp phải trả cho người bán (người cungcấp) do chính sách bán hàng trả chậm hoặc do doanh nghiệp cố tình chiếm dụng vốn trongquá trình mua các yếu tố đầu vào phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Nguồn vốn này hình thành trong quan hệ mua bán chịu vật tư, hàng hóa giữa cácdoanh nghiệp với nhau Đây là loại hình tín dụng ngắn hạn, nó thường được thực hiện giữacác doanh nghiệp với nhau khi có sự tín nhiệm và có quan hệ cung ứng thường xuyên về vật
tư hàng hóa
Nợ tích lũy là các khoản phải nộp, phải trả nhưng chưa đến kỳ hạn thanh toán như:tiền lương của công nhân viên, tiền thuế phải nộp cho nhà nước, tiền điện, tiền nước, điệnthoại, là những nguồn vốn tài trợ được doanh nghiệp ưu tiên khai thác trong trường hợpphát sinh nhu cầu vốn không thường xuyên, thường có thời hạn sử dụng ngắn, giải quyếtphần nào nhu cầu vốn ngắn hạn phát sinh trong quá trình kinh doanh nhưng phải chú ý đềnkhả năng thanh toán kịp thời các khoản nợ khi đến hạn, quy mô chiếm dụng có giới hạn vàchiếm tỷ trọng nhỏ tuy nhiên với chi phí sử dụng bằng 0 việc khai thác nguồn này có hiệuquả sẽ làm tăng tỉ suất lợi tức của vốn sở hữu
Trang 6Nợ dài hạn là những khoản nợ có thời gian thanh toán từ hơn 12 tháng trở lên bao gồm nợ vay
từ các định chế tài chính, hay phát hành trái phiếu công ty Đặc điểm phát hành trái phiếudoanh nghiệp:
Doanh nghiệp phát hành trái phiếu khi vốn tài trợ cho doanh nghiệp có quy mô lớn,vượt quá khả năng cung ứng của chủ nợ
Chủ thể phát hành trái phiếu có thể thu hồi trái phiếu đã phát hành trước kì hạn bằngcách mua lại trái phiếu trên thị trường chứng khoán, điều này tạo ra tính linh hoạt của tráiphiếu so với các khoản nợ khác
Trái phiếu là công cụ huy động vốn dài hạn vì thế luôn tiềm ẩn những rủi ro khôngmong đợi của chủ thể phát hành khi có những biến động làm thu nhập doanh nghiệp giảm thịtrường bị thu hẹp, các khoản nợ trái phiếu làm rủi ro tài chính tăng cao
Nếu công ty có tỷ suất lợi tức cao, việc phát hành trái phiếu không làm ảnh hưởngtrực tiếp đến lợi nhuận doanh nghiệp
Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn ban đầu (vốn điều lệ, vốn tự có, vốn góp), vốn bổ sung (là vốn
huy động được từ việc bán cổ phần, hoặc được bổ sung từ lợi nhuận giữ lại qua các năm tíchlũy, hay kết nạp thêm thành viên mới) Đặc điểm của vốn chủ sở hữu:
Doanh nghiệp được chủ động trong đầu tư lâu dài, không bị giới hạn về thời gian sửdụng
Tạo ra năng lực tài chính tạo ra sự an toàn, uy tín trong kinh doanh
Tạo ra khả năng để huy động tiếp nhận các nguồn vốn khác
Phương thức tài trợ theo cách kết nạp thêm các thành viên mới này đưa đến tình trạng
là các nhà đầu tư ban đầu phải phân chia lại quyền kiểm soát doanh nghiệp và lợi ích kinh tếcho các nhà đầu tư mới.Điều này có thể gặp phải sự phản đối của một số nhà đầu tư ban đầu
1.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính
1 Tỷ lệ giữa Nợ phải trả và Tổng tài sản Nợ phải trả
Tổng tài sản
2 Tỷ lệ giữa Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu Nợ phải trả
Trang 7STT Cấu trúc tài chính Công thức xác định
(1) Tỷ lệ giữa Nợ phải trả và Tổng tài sản được gọi là Tỷ suất nợ, là chỉ tiêu dùng để đánh
giá tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp, phản ánh mức độ tài trợ cho tài sản của doanhnghiệp bởi các khoản nợ
Tổng nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và nợ khác
Tổng tài sản bao gồm tài sản lưu động và tài sản cố định
Tỷ suất nợ cho biết tỷ trọng của tài sản có được từ việc sử dụng các công cụ nợ Qua
đó, cho biết khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp.Tỷ suất nợ càng thấp, chứng tỏdoanh nghiệp ít sử dụng công cụ nợ để tài trợ cho tài sản, doanh nghiệp có khả năng tự chủ
về tài chính cao, song đôi lúc thấp cũng do doanh nghiệp chưa khai thác tốt đòn bẩy tài chính.Ngược lại, tỷ suất nợ càng cao, thể hiện mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào nợ càng lớn,tính tự chủ của doanh nghiệp càng thấp và khả năng tiếp nhận các khoản nợ mới càng khóhơn khi mà doanh nghiệp không thanh toán kịp thời các khoản nợ cũ, làm cho hoạt động kémhiệu quả Do vậy, các chủ nợ thường thích những doanh nghiệp có tỷ suất nợ thấp
Đây cũng là chỉ tiêu mà các nhà đầu tư dùng để đánh giá mức độ rủi ro và cân nhắccho việc cấp tín dụng đối với doanh nghiệp
(2) Tỷ lệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu được gọi là Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu, là
chỉ tiêu dùng để đánh giá tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp, thể hiện mức độ đảm bảo
nợ bởi vốn chủ sở hữu
Trang 8Tỷ số này làm cơ sở cho các nhà đầu tư, nhà quản trị đưa ra giải pháp thích hợp đểgiải quyết vần đề nợ của doanh nghiệp: nên gia tăng các khoản nợ hay vốn chủ sở hữu vàmức tăng tối đa là bao nhiêu Một tỷ suất nợ vượt quá mức an toàn cho phép, doanh nghiệp sẽrơi vào tình trạng đông cứng và có nhiều khả năng không nhận được các khoản nợ nào từ bênngoài Nếu hệ số này lớn hơn 1, nghĩa là tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởicác khoản nợ, còn ngược lại thì tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi vốn chủ sởhữu Về nguyên tắc, hệ số này càng nhỏ, có nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ lệ nhỏ hơn so vớitổng tài sản (hay tổng nguồn vốn) thì doanh nghiệp ít gặp khó khăn hơn trong tài chính Tỷ lệnày càng lớn thì khả năng tự chủ của doanh nghiệp càng thấp nên doanh nghiệp dễ gặp khókhăn trong việc trả nợ hoặc nguy cơ phá sản của doanh nghiệp càng lớn.
(3) Tỷ lệ giữa Vốn chủ sở hữu và Tổng tài sản được gọi là Tỷ suất tự tài trợ, là chỉ tiêu dùng
để đánh giá tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp, thể hiện khả năng tự chủ về tài chínhcủa doanh nghiệp Tỷ suất này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có tính tự chủ cao về tàichính, ít bị sức ép của các chủ nợ Doanh nghiệp có nhiều cơ hội tiếp nhận các khoản tíndụng từ bên ngoài
(4) Tỷ lệ giữa nợ dài hạn và vốn thường xuyên là chỉ tiêu phản ánh tình trạng cân bằng tài
chính của doanh nghiệp
Tỷ lệ giữa nợ dài hạn và vốn thường xuyên lớn hơn 1 Tức là, Nợ dài hạn - Vốnthường xuyên > 0, cho biết nguồn vốn thường xuyên không đủ để tài trợ cho các khoản nợdài hạn, phần thiếu hụt sẽ được bù đáp bằng một phần của nguồn vốn tạm thời hay các khoản
nợ ngắn hạn Cân bằng tài chính trong trường hợp này là không tốt, vì doanh nghiệp luônchịu áp lực về thanh toán nợ ngắn hạn Doanh nghiệp cần điều chỉnh dài hạn để tạo ra mộtcân bằng mới theo hướng bền vững
Tỷ lệ giữa nợ dài hạn và vốn thường xuyên bằng 1 Tức là, Nợ dài hạn - Vốn thườngxuyên = 0, cho biết toàn bộ các khoản nợ dài hạn được tài trợ vừa đủ từ nguồn vốn thườngxuyên Cân bằng tài chính tuy có tiến triển và bền vững hơn trường hợp thứ nhất, nhưng độ
an toàn chưa cao, có nguy cơ mất tính bền vững
Tỷ lệ giữa nợ dài hạn và vốn thường xuyên nhỏ hơn 1 Tức là, Nợ dài hạn - Vốn thườngxuyên < 0, cho biết nguồn vốn thường xuyên không chỉ sử dụng để tài trợ cho các khoản nợdài hạn mà còn được sử dụng để tài trợ một phần cho các khoản nợ ngắn hạn của doanhnghiệp Cân bằng tài chính được đánh giá tốt và an toàn
Trang 91.2 Khái niệm cấu trúc vốn, cấu trúc vốn tối ưu và đặc điểm nợ và vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm về cấu trúc vốn
Cấu trúc vốn là cơ cấu hỗn hợp giữa nợ dài hạn (trái phiếu công ty và các khoản nợ trung dài
hạn), vốn chủ sở hữu và lợi nhuận
Nguồn vốn
Cấu trúc tài chính
+ Nợ ngắn hạn Cấu trúc vốn + Nợ trung dài hạn+ Vốn chủ sở hữu
+ Lợi nhuận
Cấu trúc tài chính và Cấu trúc vốn đều là cấu trúc của nguồn vốn; trong đó cấu trúc vốn là cấutrúc tài chính nhưng không tính đến các khoản nợ ngắn hạn
1.2.2 Lý thuyết cấu trúc vốn tối ưu
Lý thuyết này cho rằng có một cấu trúc vốn tối ưu khi doanh nghiệp sử dụng đòn bẩytài chính (tỷ số nợ) phù hợp để gia tăng giá trị doanh nghiệp vì thông qua việc gia tăng sửdụng nợ sẽ tạo ra khoản tiết kiệm về thuế, giúp cho doanh nghiệp hạ thấp chi phí sử dụngvốn Tuy nhiên, khi tỷ số nợ gia tăng sẽ kéo theo rủi ro gia tăng và nhà đầu tư sẽ đòi hỏi lợinhuận kỳ vọng gia tăng Lợi nhuận kỳ vọng tăng cao làm cho lợi ích từ việc sử dụng nợkhông còn nữa Như vậy, lý thuyết cấu trúc vốn tối ưu cho thấy:
Tồn tại một cấu trúc vốn tối ưu
Chi phí sử dụng vốn phụ thuộc vào cấu trúc vốn của doanh nghiệp
Cấu trúc vốn tối ưu là cấu trúc vốn mà tại đó tối thiểu hoá được chi phí sử dụng vốn và tối
thiểu hoá rủi ro nhưng tối đa hoá giá trị doanh nghiệp
Do cấu trúc vốn ảnh hưởng đến cổ tức của cổ đông, nên doanh nghiệp cần hoạch địnhcấu trúc vốn mục tiêu Cấu trúc vốn mục tiêu là tỷ lệ giữa tổng nợ phải trả và vốn chủ sở hữutheo mục tiêu hướng tới Đây chính là sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro, vì sử dụng nợnhiều sẽ làm tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) nhưng cũng đồng thời làmtăng rủi ro cho doanh nghiệp ROE tăng sẽ làm tăng giá cổ phiếu của doanh nghiệp, ngược lạirủi ro tăng sẽ làm giảm giá cổ phiếu của doanh nghiệp Do đó, yêu cầu đặt ra là phải xác địnhđược cấu trúc vốn tối ưu, là cấu trúc vốn có thể tối đa hoá giá trị doanh nghiệp trên cơ sở cânđối được giữa lợi nhuận và rủi ro
Trang 101.2.3 Đặc điểm nợ và vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp
Dù doanh nghiệp hoạt động có lời hay lỗ
thì vẫn phải đảm bảo việc trả lãi và gốc
đúng hạn theo cam kết trong hợp đồng vay
vốn
Doanh nghiệp không bị ràng buộc trách nhiệmphải hoàn trả vốn cũng như trả lãi cho các nhàđầu tư mua cổ phiếu (lợi tức cổ phiếu chỉđược chi trả sau khi doanh nghiệp làm ăn cólãi)
Trong trường hợp kinh doanh thua lỗ, cáckhoản vốn của nhà đầu tư cũng mất theo màdoanh nghiệp không có trách nhiệm phải hoàntrả
Chi phí lãi vay được khấu trừ ra khỏi thu
nhập hoạt động kinh doanh trước khi tính
thuế Do đó, việc sử dụng nợ tạo được tấm
chắn thuế
Cổ tức không được giảm trừ khi tính thuế (cổtức được phân chia từ lợi nhuận sau thuế)
Chi phí sử dụng nợ thường rẻ hơn vì lãi
suất vay thường thấp hơn lãi suất kỳ vọng
của nhà đầu tư cổ phiếu
Chi phí sử dụng vốn cổ phần thường cao hơnchi phí sử dụng nợ vì độ rủi ro nhà đầu tư phảigánh chịu cao hơn và vì không được miễn trừthuế
Kỳ hạn hoàn trả nợ gốc và lãi vay đã được
xác định trong hợp đồng vay vốn
Kỳ hạn hoàn trả vốn gốc cũng như cổ tứckhông được xác định
Thời hạn trả cổ tức thường sau khi kết thúcnăm tài chính và xác định được kết quả kinhdoanh có lãi
Việc hoàn trả vốn góp thông qua việc muabán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.Chủ nợ không có quyền can thiệp, kiểm
soát, quản lý hoạt động kinh doanh của
Được kiểm soát, quản lý bởi các nhà đầu tư.Sau khi mua cổ phiếu, nhà đầu tư sẽ có một vị
Trang 11Nợ Vốn cổ phần
doanh nghiệp trí trong hội đồng cổ đông hoặc trở thành
thành viên Hội đồng quản trị
Cấu trúc vốn bao gồm nợ và vốn cổ phần nên một doanh nghiệp có thể tài trợ vốn cho một dự
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn cấu trúc tài chính
1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự lựa chọn cấu trúc tài chính
1.3.1.1 Đặc điểm nền kinh tế
Triển vọng nền kinh tế
Bất kỳ một cấu trúc tài chính hay một cấu trúc vốn nào cũng nên được xây dựng dựatrên cơ sở những dự báo về triển vọng kinh tế nhưng những dự báo này chỉ có ý nghĩa tại mộtthời điểm nhất định trong khi tình hình kinh tế thì luôn vận động không ngừng Do đó, nhữngnhà quản trị cần nhận biết được các biến động của thị trường để có biện pháp điều chỉnh cấutrúc vốn của doanh nghiệp một cách hợp lý Khi doanh nghiệp dự kiến triển vọng kinh doanhgia tăng, điều đó có nghĩa là nhu cầu tài sản phục vụ sản xuất kinh doanh và vốn để tài trợviệc mua các tài sản này cũng sẽ gia tăng Một triển vọng mở rộng quy mô sản xuất, mở rộngthị phần thị trường một cách nhanh chóng đòi hỏi doanh nghiệp phải có khả năng tiếp cậnđược các kênh huy động vốn một cách dễ dàng Vì thế, khi triển vọng nền kinh tế thay đổi,chính việc xây dựng một cấu trúc vốn linh hoạt và hợp lý hay không sẽ quyết định các kếtquả rất khác nhau
Triển vọng thị trường vốn
Nếu các nhà hoạch định dự báo rằng trong tương lai chi phí sử dụng vốn sẽ gia tăng,
họ sẽ mong muốn tăng độ nghiêng đòn bẩy tài chính ngay lập tức Trái lại, một dự kiến lãisuất sụt giảm có thể khuyến khích doanh nghiệp tạm hoãn quyết định vay tiền nhưng vẫnphải duy trì cấu trúc vốn sao cho doanh nghiệp có khả năng tiếp cận các nguồn tài trợ mộtcách dễ dàng hơn trong tương lai
Trang 121.3.1.2 Đặc điểm ngành nghềTheo nghiên cứu của Myers năm 1984, Haris và Raviv năm 1991, những doanhnghiệp thuộc các ngành nghề khác nhau thường có cấu trúc vốn khác nhau Những ngành cónhiều tài sản cố định hữu hình như máy móc, nhà xưởng, đất đai hơn thì khả năng vay nợcũng như nhu cầu vay nợ sẽ lớn hơn những ngành có tài sản cố định hữu hình ít hơn vì cácngân hàng sẽ ưu tiên cho vay đối với những doanh nghiệp có tài sản cố định hữu hình lớn hơn
do tính chất bảo đảm cầm cố của các tài sản cố định hữu hình Đối với các doanh nghiệpthuộc lĩnh vực nông nghiệp với tính chất theo mùa vụ thường có nhu cầu về nợ ngắn hạn cao,các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp thì có nhu cầu về nợ dài hạn cao kết hợp với vốn
cổ phần do tính chất đòi hỏi tài sản cố định cao
1.3.1.3 Độc quyền
Có vài quan điểm trái ngược trong mối tương quan giữa sự độc quyền của doanhnghiệp và đòn bẩy tài chính Theo thuyết trật tự phân hạng, độc quyền có tương quan thuậnvới đòn bẩy, bởi vì chi phí nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp độc quyền cao hơn cácdoanh nghiệp khác nên họ sẽ cần nhiều nguồn vốn từ bên ngoài hơn thông qua việc sử dụng
nợ (theo Majluf và Myers, 1984) Mặc khác, doanh nghiệp càng có mức độ độc quyền cao thìtài sản của nó có tính thanh khoản càng thấp, do thị trường tiêu thụ của những tài sản nàykhông rộng rãi Khi đó, nếu doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì giá trị thu hồi được
từ việc thanh lý tài sản doanh nghiệp sẽ không đủ để đáp ứng yêu cầu của chủ nợ Do đó,doanh nghiệp có mức độ độc quyền càng cao thì vay nợ càng ít Vì vậy, độc quyền và đònbẩy tài chính có tương quan nghịch (theo Titman và Wessel, 2002)
1.3.1.4 Quy mô doanh nghiệpQuy mô thường có mối tương quan thuận với đòn bẩy tài chính Một mặt, quy mô làđại diện trái ngược với xác suất phá sản Những doanh nghiệp càng lớn thường có khả năng
đa dạng hóa tốt và có dòng tiền ổn định hơn nên xác suất phá sản nhỏ hơn các doanh nghiệp
có quy mô nhỏ Ngoài ra, các doanh nghiệp lớn thường phát hành nợ dài hạn trong khi doanhnghiệp nhỏ lại chọn nợ ngắn hạn để tài trợ cho các dự án của họ Chính ưu thế kinh tế củaquy mô và khả năng thương lượng với nhà cung cấp tín dụng tốt hơn, những doanh nghiệplớn thường chịu chi phí phát hành nợ và vốn cổ phần thấp hơn các doanh nghiệp nhỏ (theoMichaelas, 1999)
Trang 131.3.1.5 Luật thuế (thuế suất)Thông thường phí lãi vay là một khoản chi phí được khấu trừ thuế, một động tháinhằm làm gia tăng thuế suất áp dụng sẽ làm tăng mong muốn sử dụng nợ so với các loại vốnkhác (theo Hauge và Senbet, 1986) Cụ thể, khi thuế suất tăng, doanh nghiệp sẽ có khuynhhướng gia tăng nguồn tài trợ nợ để tận dụng được lợi ích từ tấm chắn thuế và ngược lại Thuếsuất thuế thu nhập cá nhân cũng tác động đến việc sử dụng lợi nhuận sau thuế của doanhnghiệp Các cổ đông không phải chịu thuế thu nhập cá nhân cho lợi nhuận doanh nghiệp của
họ, nhưng họ phải chịu thuế thu nhập trên phần lợi nhuận khi nhận cổ tức Vì vậy, dự kiến giatăng thuế thu nhập cá nhân sẽ kích thích doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận sau thuế để chi trả
cổ tức nhiều hơn trong hiện tại, và trong tương lai doanh nghiệp sẽ giữ lại lợi nhuận và sửdụng lợi nhuận giữ lại nhiều hơn để tài trợ tăng trưởng
1.3.1.6 Cơ hội tăng trưởngNhững nghiên cứu lý thuyết cho rằng có mối tương quan nghịch giữa cơ hội tăngtrưởng và đòn bẩy tài chính Trong trường hợp đầu tư dưới mức tối ưu, doanh nghiệp có cơhội tăng trưởng cao thường bỏ qua các dự án có NPV dương bởi vì sự tồn tại của nợ chưa chitrả hết (theo Myers, 1977) Điều này là do lợi nhuận có được từ những dự án như vậy sẽ đượcchuyển hết cho chủ nợ hơn là cổ đông được hưởng lợi Nếu nhà quản lý theo đuổi mục tiêutăng trưởng thì lợi ích của nhà quản lý và của cổ đông có xu hướng trùng hợp với nhau đốivới các doanh nghiệp có nhiều cơ hội đầu tư lớn Trong trường hợp đầu tư vượt mức tối ưu
mà trong đó doanh nghiệp thiếu đi những cơ hội đầu tư thì nợ sẽ làm giảm chi phí đại diệncủa việc nhà quản lý tự do hành động theo ý muốn của mình Vì vậy, doanh nghiệp tăngtrưởng cao sẽ không xem việc phát hành nợ là ưu tiên hàng đầu của mình và do đó, cơ hộităng trưởng có tương quan âm với đòn bẩy tài chính
1.3.1.7 Khả năng sinh lời và Biến động thu nhậpThuyết đánh đổi cấu trúc vốn cho rằng các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi có nhucầu giữ lại lợi nhuận sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cao hơn và nên vay mượn nhiềuhơn Trong khi đó, thuyết trật tự phân hạng, doanh nghiệp được cho là ưu tiên sử dụng nguồntài trợ nội bộ hơn là tài trợ từ bên ngoài Điều này dẫn tới việc doanh nghiệp sẽ sử dụng lợinhuận giữ lại trước tiên rồi mới chuyển sang nguồn tài trợ bên ngoài khi lợi nhuận giữ lạikhông đủ để sử dụng Khi phải đối mặt với sự lựa chọn với việc dùng trái phiếu hay vốn cổ
Trang 14phần, doanh nghiệp sẽ ưu tiên phát hành nợ hơn là phát hành vốn cổ phần Trong trường hợpnày, doanh nghiệp có khả năng sinh lợi cao sẽ dùng ít nợ hơn các doanh nghiệp khác
Những mô hình dựa trên chi phí đại diện cũng đưa ra những dự đoán về mối tươngquan giữa khả năng sinh lợi và đòn bẩy như sau: trong thuyết dòng tiền tự do, Jensen (1986)
đã xem nợ là một công cụ để buộc nhà quản lý bớt lợi nhuận và hạn chế việc mua sắm tài sản
cá nhân lãng phí Vì vậy, có mối tương quan thuận giữa khả năng sinh lợi và đòn bẩy tàichính Theo thuyết phát tín hiệu, doanh nghiệp có khả năng sinh lợi được cho là sử dụng nợnhư một tín hiệu thể hiện chất lượng của doanh nghiệp và thuyết này cũng dự đoán mối tươngquan thuận giữa khả năng sinh lợi và đòn bẩy tài chính
Biến động của thu nhập hay rủi ro kinh doanh là đại diện cho xác suất kiệt quệ tàichính và thường có tương quan nghịch với đòn bẩy tài chính Doanh nghiệp có biến động thunhập cao thì khả năng đối mặt với rủi ro thu nhập rớt xuống dưới mức tối thiểu để có thể thựchiện việc trả nợ càng cao Điều này buộc doanh nghiệp phải tốn kém nhiều chi phí để có tiềntrả nợ hoặc là đi đến phá sản Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp tài trợ bằng vốn cổ phần, doanhnghiệp có thể bỏ qua việc chi trả cổ tức trong suốt thời kỳ kiệt quệ tài chính, có nghĩa làdoanh nghiệp có biến động thu nhập cao sẽ vay mượn ít hơn và ưu tiên sử dụng vốn cổ phầnhơn nợ khi phải đối mặt với sự lựa chọn nguồn tài trợ từ bên ngoài Vì vậy, có mối tươngquan nghịch giữa biến động thu nhập và đòn bẩy tài chính Tuy nhiên, những chi phí có thểphát sinh trong tình trạng kiệt quệ tài chính thường giảm bớt nếu doanh nghiệp có mối quan
hệ thân thiết với người cho vay
1.3.1.8 Chu kỳ tăng trưởngChu kỳ tăng trưởng của doanh nghiệp thường được chia làm 4 giai đoạn: khởi sự, tăngtrưởng, sung mãn và suy thoái Tại mỗi thời kỳ phát triển thì cấu trúc vốn của doanh nghiệplại có sự thay đổi khác nhau cho phù hợp với từng chu kỳ
Giai đoạn khởi sự: doanh nghiệp có rủi ro kinh doanh rất cao vì thế mà các nhà đầu tư
bỏ vốn vào doanh nghiệp là bởi mục tiêu của họ là lãi vốn Do vậy các doanh nghiệp mớikhởi sự nên được tài trợ bằng vốn cổ phần, nếu hoàn toàn không có tài trợ nợ thì càng tốt
Giai đoạn tăng trưởng: rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp đã sụt giảm so với giaiđoạn khởi sự nhưng vẫn còn khá cao vì thế nguồn tài trợ của doanh nghiệp trong giai đoạnnày tiếp tục là vốn cổ phần
Giai đoạn sung mãn: rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp giảm xuống mức trung bình
Sự thay đổi trong chiến lược tài chính của doanh nghiệp là từ hầu như tài trợ hoàn toàn bằng
Trang 15vốn cổ phần sang kết hợp với tỷ trọng ngày càng tăng tài trợ nợ có thể làm tăng đáng kể giátrị cho các cổ đông trong giai đoạn này.
Giai đoạn suy thoái: rủi ro kinh doanh tiếp tục giảm so với giai đoạn trước dẫn đến
mô hình chiến lược tổng thể cho rằng tỷ lệ tài trợ nợ tăng trong giai đoạn này
1.3.1.9 Tính thanh khoảnTheo thuyết trật tự phân hạng, doanh nghiệp ưu tiên sử dụng nguồn tài trợ nội bộ hơn
là bên ngoài Vì vậy, doanh nghiệp có thể tạo ra tính thanh khoản cho mình từ việc sử dụngnguồn lợi nhuận giữ lại Nếu các tài sản có tính thanh khoản đủ để tài trợ cho các dự án đầu
tư thì doanh nghiệp không cần phải sử dụng đến các nguồn tài trợ bên ngoài Do đó, tínhthanh khoản và đòn bẩy tài chính có tương quan nghịch
1.3.1.10 Triết lý quản lýNếu nhà quản lý của doanh nghiệp là nhà bảo thủ thì họ sẽ hạn chế vay nợ và ưu tiên
sử dụng nguồn vốn nội bộ hơn tài trợ từ bên ngoài Còn nếu nhà quản lý doanh nghiệp làngười sẵn sàng chấp nhận rủi ro thì họ sẽ tiến hành vay nợ nhiều hơn để gia tăng đòn bẩy tạo
ra nhiều lợi nhuận hơn
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng gián tiếp đến sự lựa chọn cấu trúc tài chính
Chi phí giao dịch
Thông tin bất cân xứng
Lựa chọn đối nghịch
Rủi ro đạo đức
1.4 Lựa chọn cấu trúc tài chính theo quan điểm của Modigliani-Miller
Việc lựa chọn cấu trúc tài chính theo lý thuyết của Modigliani- Miller, gồm 2 mệnh đề:Mệnh đề I: nói về giá trị doanh nghiệp;
Mệnh đề II: nói về chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp
Nội dung của lý thuyết của Modigliani- Miller về cấu trúc tài chính được xây dựng dựatrên hai điều kiện giả định là: có thuế và không có thuế
1.4.1 Lựa chọn cấu trúc tài chính trong điều kiện không có thuế (thị trường hoàn hảo)
Trang 16Dựa trên lý thuyết của Modigliani- Miller xây dựng năm 1958, giả thuyết thị trường hoàn hảo
có những đặc điểm sau:
Không có quy mô kinh tế Giá cả thị trường không bị chi phối
Tất cả các đối tượng đều có điều kiện vay mượn vốn như nhau
Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân
Tất cả các loại hình tài chính đều đồng nhất
Không có chi phí thông tin, chi phí giao dịch và chi phí vỡ nợ
Các đối tác thị trường đều có thông tin đầy đủ đối với tất cả các yếu tố và sự kiện vềgiá trị tương lai của các công cụ tài chính được giao dịch (cổ phiếu, trái phiếu)
Mệnh đề I: Về giá trị doanh nghiệp
Theo M&M, trong môi trường không có thuế thì giá trị doanh nghiệp có vay nợ (VL) vàgiá trị doanh nghiệp không vay nợ (VU) là như nhau
Nghĩa là: VL = VU =
0
k EBIT
Trong đó:
EBIT: lợi nhuận trước thuế và lãi vay
k0: chi phí vốn trung bình theo trọng số
M&M cho rằng cho dù việc phân chia cơ cấu vốn của doanh nghiệp thành nợ, vốn
cổ phần hay bất cứ nguồn vốn nào khác thì vẫn có một sự chuyển đổi trong giá trị đầu
tư, làm cho giá trị doanh nghiệp vẫn không thay đổi cho dù cơ cấu vốn của nó thay đổi.
Nói cách khác: cơ cấu nợ và vốn chủ sở hữu không làm thay đổi giá trị doanh nghiệp
Mệnh đề II: Về chi phí sử dụng vốn
Theo M&M, doanh nghiệp sử dụng nợ càng nhiều thì lợi nhuận kỳ vọng trên vốn cổphần càng lớn để bù đắp rủi ro mà đòn bẩy tài chính có thể mang lại cho vốn cổ phần vàngược lại
Giá trị nợ 70%
Giá
trị CP
30%
Giá trị CP 70%
Giá trị nợ 30%
Trang 17Trong điều kiện không có thuế, dù thay đổi cơ cấu vốn hay tỷ số nợ thì chi phí sử dụngvốn trung bình của doanh nghiệp cũng không thay đổi Nghĩa là, khi đó chi phí sử dụng vốntrung bình của doanh nghiệp có vay nợ bằng chi phí sử dụng vốn trung bình của doanhnghiệp không có vay nợ.
Do đó, trong thị trường hoàn hảo không có chi phí giao dịch, các nhà đầu tư sẽ không
để doanh nghiệp hưởng lợi bằng cách tăng nợ Các cổ đông có thể thay đổi cấu trúc vốn chủ
sở hữu và nợ của riêng họ mà không tốn chi phí để nhận được cùng một mức lợi nhuận
1.4.2 Lựa chọn cấu trúc tài chính trong nền kinh tế cạnh tranh, chịu ảnh hưởng của thuế:
Do Modigliani và Miller tiếp tục nghiên cứu và đưa ra vào năm 1963
Mệnh đề I: Về giá trị doanh nghiệp
Vì lãi vay là khoản chi phí được khấu trừ trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp nêndoanh nghiệp sử dụng nợ vay để tài trợ sẽ tạo ra khoản tiết kiệm bằng tiền tăng thêm cho cácnhà đầu tư Như vậy, Modigliani- Miller cho rằng việc sử dụng nợ sẽ làm tăng thêm giá trị củadoanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp lúc này được xác định bằng giá trị của doanh nghiệp khikhông sử dụng nợ ở cùng mức độ rủi ro cộng (+) với khoản lợi từ việc sử dụng nợ
Nghĩa là: VL = VU + TxD
Trong đó: VL là giá trị doanh nghiệp có vay nợ
VU là giá trị doanh nghiệp không vay nợ
T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
D là giá trị nợ vay
Với: VU =
0
) 1 (
k
T x
và VL =
0
) 1 (
k
T x
+ TxDTrong đó:
EBIT x (1-T): lợi nhuận sau thuế đối với nợ và vốn cổ phần
k0: chi phí vốn trung bình theo trọng số
Hay nói cách khác: Khi có thuế, giá trị của doanh nghiệp có sử dụng nợ sẽ cao hơn giátrị của doanh nghiệp không sử dụng nợ một giá trị là TxD Khoản lợi ích này sẽ gia tăng khidoanh nghiệp càng tăng nợ; giá trị của doanh nghiệp sẽ tăng tối đa khi sử dụng 100% nợ đểtài trợ
Mệnh đề II: Về chi phí sử dụng vốn
Trang 18Tấm chắn thuế làm gia tăng giá trị doanh nghiệp thì một chi phí kiệt quệ tài chínhcũng xuất hiện là giảm giá trị doanh nghiệp Kiệt quệ tài chính xảy ra khi doanh nghiệpkhông thể thực hiện hoặc gặp nhiều khó khăn khi thanh toán lãi vay cho chủ nợ.
Khi doanh nghiệp tăng nợ thì các chủ nợ đánh giá mức độ rủi ro doanh nghiệp cao vàđòi mức lãi suất cho vay cao
Tình huống xấu nhất, chủ nợ ngưng cho vay, doanh nghiệp sẽ mất cơ hội đầu tư, mất uytín, mất khách hàng, đây là những khoản chi phí cơ hội
Kiệt quệ tài chính làm cho doanh nghiệp thu hẹp quy mô, thanh lý bớt tài sản trả nợvới giá thấp hơn giá thị trường, và đây cũng là một khoản chi phí phát sinh
Như vậy theo Modigliani- Miller, trong môi trường có thuế thì cấu trúc vốn sẽ ảnh hưởngđến giá trị doanh nghiệp và chi phí sử dụng vốn (là chi phí lãi vay)
1.5 Cấu trúc tài chính doanh nghiệp của một số quốc gia trên Thế giới
Hệ thống tài chính là một thực thể về chức năng và cấu trúc; bao gồm nhiều loại hình tổchức khác nhau như: ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu tư, thị trường
cổ phiếu và trái phiếu, tất cả đều được đặt dưới sự điều tiết, quản lý của Chính Phủ
Hệ thống tài chính góp phần trung chuyển nguồn vốn từ những đối tượng thừa vốn (cung ứng vốn) đến những đối tượng cần vốn (những đối tượng có nhu cầu và cơ hội đầu tư
Trang 19khả thi, hiệu quả).
Bảng trên thể hiện những con số thống kê trong giai đoạn 1970 - 2000 cho thấy: cácnguồn vốn cung ứng vốn mà các doanh nghiệp Mỹ, Canada, Đức, Nhật Bản có thể tiếp cận vàhuy động Trong đó, huy động vốn tín dụng ngân hàng từ các ngân hàng thương mại, huy
Trang 20động từ việc phát hành trái phiếu công ty, nguồn vốn huy động được từ thị trường chứngkhoán, huy động vốn từ các trung gian tài chính phi ngân hàng.
Thực tế cho ta thấy cấu trúc tài chính của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới có 8đặc điểm cơ bản sau:
(1) Thị trường chứng khoán không phải là nguồn cung ứng vốn quan trọng nhất cho doanh nghiệp.
Mặc dù thu hút được nhiều sự quan tâm của giới báo chí và các phương tiện truyềnthông khiến cho nhiều người có cảm giác cổ phiếu là nguồn tài trợ lớn nhất, quan trọng nhấtcho doanh nghiệp; nhưng trên biểu đồ thống kê cho thấy, cổ phiếu chỉ chiếm một phần rấtnhỏ trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp
(2) Cũng như việc phát hành cổ phiếu, việc phát hành công cụ nợ (trái phiếu công ty) cũng không phải là ưu tiên hàng đầu cho chính sách huy động vốn của các doanh nghiệp tại các quốc gia phát triển.
Đối với Mỹ, trái phiếu công ty có vai trò lớn hơn nhiều so với cổ phiếu, tuy nhiên cảhai nguồn này cũng chỉ chiếm 43% cấu trúc tài chính, tức chưa đạt mức 50% Đối với cácnước còn lại, tỷ trọng này còn thấp hơn nhiều (lần lượt tại Đức, Nhật và Canada là 15%, 14%
và 27%)
(3) Tài chính gián tiếp (liên quan đến hoạt động của các trung gian tài chính) trong nhiều trường hợp đóng vai trò quan trọng hơn nhiều so với tài chính trực tiếp.
Tài chính trực tiếp liên quan đến việc huy động vốn từ các cá nhân, hộ gia đình và các
tổ chức thông qua việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu của doanh nghiệp Tại Mỹ, 43%nguồn vốn mà các doanh nghiệp có được là từ cổ phiếu và trái phiếu đã thể hiện rất rõ vai tròquan trọng của tài chính trực tiếp trong hệ thống tài chính của Mỹ
Ngoại trừ Mỹ, các quốc gia còn lại có hoạt động tài chính gián tiếp đóng vai trò quantrọng hơn
(4) Các trung gian tài chính, đặc biệt là các Ngân hàng là nguồn cung ứng vốn quan trọng nhất cho các doanh nghiệp.
Nguồn vốn ưu tiên chủ đạo mà các doanh nghiệp có được là từ vốn vay của ngân hàng
và vốn vay từ các trung gian tài chính phi ngân hàng (tại Mỹ là 56%, Đức và Nhật 86%,Canada 74%)
Tại các nước công nghiệp phát triển, tín dụng ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trongcác loại hình tài trợ (Đức 76%, Nhật 78%, Canada 56%) Cho thấy các ngân hàng ở tất cả cácnước trên thế giới giữ vai trò quan trọng nhất trong việc cung ứng vốn cho các doanh nghiệp