Câu thơ này phần nào đã thâu tóm được cả tình bâng khuâng, nhớ thương lẫn cảnh trời rộng, sông dài của Tràng giang... Có người nói, khi viết: Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà, nhà thơ đ
Trang 1VĂN MẪU LỚP 11 BÌNH GIẢNG BÀI THƠ TRÀNG GIANG CỦA HUY CẬN
BÀI MẪU SỐ 1:
Tràng giang là một trong những bài thơ xuất sắc cùa nhà thơ Huy Cặn thời kì Thơ mới Đã có khá nhiều bài viết về tác phẩm này Mỗi bài có những khám phá riêng, đôi chỗ rất sâu sắc và vượt quá phạm vi, cách hiểu đối với trình độ một học sinh trung học phổ thông Để có bài viết tốt, cần hiểu hồn thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám, một hồn thơ đượm nỗi buồn rầu, triền miên, dằng dặc Nỗi buồn ấy vươn tới cả vũ trụ, vượt qua thời gian, gợi nỗi buồn trần thế, xuất phát từ chính cuộc đời nhà thơ đang sống Ngoài ra, bài thơ còn là một công trình điêu luyện về ngôn ngữ thi ca tiếng Việt Tràng giang là Thơ mới nhưng đã đạt đến trình độ cổ điển về ngôn ngữ Bởi vậy, khi bình giảng, ngoài việc hiểu, còn đòi hỏi phải tỏ ra tinh tế, cần nắm một số điểm sau:
Tiêu đề bài thơ
Bài thơ có tên Tràng giang, một từ Hán Việt Đây cũng là điểm lạ đối với một nhà thơ mới Nhiều bài thơ trong tập Lửa thiêng, Huy Cận đặt tên khá mộc mạc, bình dị như:
Em về nhà, Trông lên, Gánh xiếc, Ngủ chung, Áo trắng Tràng giang có nghĩa là sông dài Riêng chữ tràng thường đọc là trường Huy Cận đặt tên bài thơ của mình là Tràng giang, chứ không phải là Trường giang, càng không phải là Sông dài - tất cả những từ đồng nghĩa Lí do có lẽ là như thế vừa gợi cho người đọc nhiều liên tưởng về văn hóa, mà
cụ thể là con sông dài, khá nổi tiếng là Trường giang ở Trung Hoa Song, nhà thơ đã thay trường bằng tràng, tạo ra sự phối âm (ang), gợi lên cảm giác mênh mang, dài rộng huyền hoặc hơn
Thời thơ mới, Huy Cận hay ghi dòng đề từ trên các bài thơ là tặng một người nào đó, thường là những nhà văn, nhà thơ, những nghệ sĩ thân thiết với ông như Nhất Linh, Thạch Lam, Thế Lữ, Tú Mỡ, Hoàng Đạo, Tô Ngọc Vân Bài này Huy Cận đề tặng Khái Hưng, người đã cùng với nhà văn Nhất Linh lập nên nhóm Tự Lực văn đoàn Nhưng, Huy Cận không ghi bút danh quen thuộc của nhà văn này mà lại ghi tên thật của ông ta (Trần Khánh Dư) Khó có thể biết rõ lí do Huy Cận dành bài Tràng giang cho Khái Hưng Có thể một phần vì do tình cảm quý mến, trân trọng đối với một bậc tài hoa, có công tạo đựng nên một phong trào văn chương, cũng có thể là vì Khái Hưng, bên cạnh nhiều tác phẩm viết về đề tài hôn nhân, tình yêu trong buổi đầu Âu hóa, đã viết không ít tác phẩm xuất sắc về các thời kì lịch sử đã qua như tiểu thuyết Tiêu Sơn tráng sĩ Bên cạnh đó, trên phần đề từ còn có câu thơ của Chính Huy Cận (Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài) Câu thơ này phần nào đã thâu tóm được cả tình (bâng khuâng, nhớ thương) lẫn cảnh (trời rộng, sông dài) của Tràng giang
Trang 2Khổ hai
Mở ra một cảnh sông nước mênh mông, tưởng chừng như vô tận Trên cái nền không gian rộng lớn ấy, hình bóng một con thuyền đơn chiếc càng thêm lẻ loi và sự xuất hiện của nó lại càng khiến cho cảnh thêm hoang vắng:
Nắng xuống chiều lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu
Khổ ba
Đến khổ thơ thứ ba, mọi âm thanh của cuộc sống con người đều không còn nữa, chỉ còn có cảnh vật với nhau mà cũng hết sức lặng lẽ:
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng
Bèo dạt mây trôi vô định; bờ xanh tiếp nối bãi vàng Tất cả ở bên nhau mà dường như không biết có nhau, không cần có nhau Thế mới lạ làm sao? Chỉ có một người biết
rõ sự cô đơn ấy và cũng chỉ có người khao khát sự sống, cần thiết sự giao hòa Song, mọi cánh cửa có lẽ khép, mọi mối tương giao đã không còn Người ấy làm sao tránh nổi cô đơn?
Khổ bốn
Khổ cuối vừa có cảnh, vừa có diễn tả nỗi lòng của chủ thể trữ tình:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Cảnh ấy, tình này là lẽ đương nhiên!
Khổ thơ câu nào, hình ảnh nào cũng dễ hiểu được Chỉ có một câu lạnh lùng:
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Xưa nay, thơ cổ điển phương Đông viết nhiều về cảnh hoàng hôn Cảnh nào cũng đẹp, nhưng đều buồn:
Ngày mai, gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu, sương sa khách bước dồn
(Cảnh chiều hôm - Bà Huyện Thanh Quan)
Trang 3Thơ Huy Cận có cảnh hoàng hôn như thế và nỗi buồn man mác Có người nói, khi viết: Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà, nhà thơ đã liên tưởng đến tình ý của bài Hoàng Hạc Lâu trong thơ Thôi Hiệu:
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
Dịch thơ:
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
(Tản Đà) Nhà thơ mới tiếp thu vốn văn hóa cổ, nhưng vẫn khác nhà thơ cổ Nỗi buồn trong thơ của người xưa đôi khi do cảnh vật tạo ra, cảnh khiến người buồn Còn ở nhà thơ hiện đại, nhất là với Huy Cận, nỗi buồn ấy như tiềm ẩn Vì thế, người ta làm thơ không cần mượn
cớ của thiên nhiên, tạo vật Và họ thành thật giãi bày nỗi lòng mình cùng với trời đất! Tràng giang bao trùm một nỗi buồn thương mênh mang và nhớ mong tha thiết Bài thơ tiêu biểu cho chặng đường thơ của Huy Cận trước năm 1945, khi mà ở đó cái buồn tỏa ra từ một hồn người cơ hồ không biết đến ngoại cảnh (Hoài Thanh) Song, đó cũng là nỗi buồn của một thế hệ nỗi buồn mang tính thời đại Nỗi buồn ấy xuất phát từ sự bơ vơ, lạc loài và luôn khao khát được cảm thông chia sẻ trước cuộc đời Buồn nhưng lại sáng trong và rất đáng trân trọng Vì thế, nói như nhà thơ Xuân Diệu “Tràng giang” là một bài thơ ca hát non sông đất nước, do đó dọn đường cho lòng yêu giang sơn, Tổ quốc
Huy Cận đã dựng lên nỗi buồn của cả thế hệ mình Người đã dựng và khắc ghi nó bằng cả hình ảnh lẫn âm thanh của một ngôn ngữ trác tuyệt Vì thế biết bao năm tháng
đã trôi qua, dòng Tràng giang ấy vẫn chảy trong tâm hồn người yêu thơ Việt Nam
Trang 4BÀI MẪU SỐ 2:
Tràng giang, nỗi buồn mênh mông da diết sớm đưa Huy Cận vào một trong những nhà thơ hàng đầu của phong trào Thơ mới, trước năm 1945, một phong trào thơ đầy những tiếng thở dài trữ tình và lãng mạn
Trước Cách mạng tháng Tám, thơ Huy Cận mang nỗi buồn man mác, ngậm ngùi, nhưng đó là nhừng ngậm ngùi đẹp về thiên nhiên và tình yêu
Sau Cách mạng tháng Tám, dòng thơ Huy Cận vẫn còn đó nỗi buồn trong suy tưởng, nhưng là nỗi buồn cảm thong với quá khứ “Sờ soạng tìm lối ra” của cha ông Và những niềm vui rộn ràng của người trong xã hội mới
Cả hai dòng thơ ấy đều tạo cho Huy Cận tình yêu thương, lòng cảm phục của bao thế
hệ sau ông, mà dấu ấn sâu đậm nhất là tác phẩm đầu tay - tập thơ Lửa thiêng được in vào năm 1940, trong đó có bài Tràng giang
Tràng giang, nỗi buồn mênh mông da diết sớm đưa Huy Cận vào một trong những nhà thơ hàng đầu của phong trào Thơ mới, trước năm 1945, một phong trào thơ đầy những tiếng thở dài trữ tình và lãng mạn Chàng trai Huy Cận đã có sẵn trong người:
Một chút linh hồn nhỏ Mang mang thiên cổ sầu
Cái sầu lặng miên man kia lại đang đứng trước dòng sông thực với cảnh sơn thủy hữu tình, mà cũng là dòng sông đời lặng lẽ trôi theo thời gian để hoài niệm giữa khung cảnh mênh mang xuôi theo dòng cảm xúc:
Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài
Câu thơ được chọn làm đề từ cho cả bài thơ viết về con sông dài, sông lớn đã hàm chứa nỗi buồn mênh mang tỏa đầy không gian “trời rộng”, hòa lẫn vào những gì xuôi theo con nước của “con sông dài”, Rồi nỗi nhớ bâng khuâng kia được nhà thơ chi tiết hóa từng cảnh, từng cảnh nhỏ trong từng khổ thơ một
Khổ thơ mở đầu:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Nhịp thơ 4/3 chậm rãi theo lối cố phong, giọng thơ có nhiều thanh bằng chấm dứt ở
từ “dòng” hợp vần chéo (song / dòng) cùng với những từ tạo hình tạo nên không khí buồn lặng, cô đơn của những gì gắn bó với sông tại điểm mà nhà thơ quan sát
Trang 5“Sóng gợn” theo kiểu “sóng biếc theo làn hơi gợn tí” cùa Nguyễn Khuyến cứ lan tỏa nhẹ nhàng làm cho “tràng giang” cứ rộng thêm ra Đấy chỉ là hiện tượng vật lí tự nhiên, chẳng mang tâm trạng nào nếu không có cảm xúc “buồn” của con người Đã thế, từ láy lại “điệp điệp” làm cho không gian của tràng giang như mênh mông hơn, nỗi buồn của tràng giang đậm hơn
Cũng là một hình ảnh động nhưng không tạo thanh giống như hình ảnh “sóng gợn”,
“củi một cành khô” cô đơn trôi lặng lờ giữa bao nguồn nước chảy
Sóng cứ gợn, củi khô cứ lạc mấy dòng, nỗi buồn cô đơn thầm lặng cứ trôi, lặng lẽ khép lại, rồi mở ra với hình ảnh “con thuyền xuôi mái nước song song”, và chỉ có hình ảnh ấy là mang tí âm thanh róc rách khua động của mái chèo xuôi, nhưng nào được bao khoảng khắc? Thuyền đi rồi, cái lặng lẽ khép lại với con nước “Sầu trăm ngả”, một nỗi sầu vô cớ, hay cái cớ hoang liêu mênh mông giữa trời chiều hiu quạnh
Sau khi nhìn sông, nhà thơ bắt đầu quan sát bên sông Bao người đến đây vẩn vơ quan sát như thế Và với tâm hồn nhạy cảm của mình, Huy Cận đã ghi lại những hình ảnh cho riêng ông:
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống trời lên sâu chót vót, Sông dài trời rộng bến cô liêu
Cả không gian lẫn thời gian đều buồn, cái buồn tự nhiên như tăng thêm trong tâm tưởng của người đọc Cảnh gần xa cứ đan xen nhau giữa cồn nhỏ, làng xa và bến đò ngang Cả khổ thơ là bức tranh có màu vàng đất nhạt làm phỏng, còn màu của cây cối trở thành gam màu phụ Thời gian “chiều” mang nỗi buồn của tự nhiên, không gian phủ màu nắng chiều cũng buồn Cái buồn càng tăng lên từ những từ láy âm, láy vần ở trong mỗi câu “Cồn nhỏ” đã trơ trọi, lại thêm cây cỏ “lơ thơ” khiến gió cũng cảm thấy “đìu hiu” cô quạnh Âm thanh tan chợ từ trong làng xa vẳng lại cũng chẳng thể nào xóa tan cái lặng lẽ nơi đây Nỗi buồn vươn cao trong không gian với hai từ láy “chót vót”, rồi cô đặc lại ở
“bến cô liêu” Cảnh đơn sơ, bến đò không một bóng người xem ra còn ảm đạm hơn Bến
đò xuân đầu trại với Con đò gối bãi của Nguyễn Trãi ngày nào
Dõi mắt nhìn ra lòng sông thì chỉ thấy mênh mông nước với những:
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng, Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng
Trang 6Cả bốn câu thơ đều mang ý khẳng định những gì nhà thơ đang thấy diễn ra ở trước mắt Đấy là nỗi cô đơn của sự tách rời, của cuộc đời không định hướng Những cánh bèo? Nhiều lắm, “hàng nối hàng” nhưng “về đâu” ? Một câu hỏi bế tắc! Bèo đã biết số phận thiên nhiên dành cho chúng bởi những dòng nước xoáy, bởi sông gấp khúc quanh co, bởi gió lớn thổi dạt bèo vào bờ Còn con người, hay có thể là chính thế hệ của nhà thơ trước dòng sông cuồn cuộn của chủ nghĩa thực dân? Người đứng bên này sông khao khát được qua bên kia sông Đò ngang và cây cầu là phương tiện, nhưng ở đây lại “không cầu” Cái hay, cái khéo léo, tinh tế của nhà thơ là chỗ nhận ra và diễn đạt tâm lí con người “gợi chút niềm thân mật” Cũng chẳng cần cầu bê-tông cốt sắt, mà chỉ cần những liếp tre ghềnh theo những cọc tre bắt chéo cũng là niềm ao ước của những người sống hai bên bờ cầu đã không, một chuyến đò ngang cũng không Cái mênh mông của sông nước, cái mênh mông của “bờ xanh tiếp bãi vàng khiến cho không gian càng mênh mông hơn Và tất cả những tách rời, những thiếu vắng ấy càng gợi thêm nỗi buồn hiu hắt, quạnh quẽ Cặp mắt của nhà thơ bảng lãng nhìn xa hơn, cao hơn:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ, bóng chiều sa
Chữ nghĩa cứ như dồn dập theo bước chạy của chiều buồn Một phút qua đi là hoàng hôn sắp tới Màu thời gian bây giờ là màu của sương Đây là hiện tượng khí hậu của vùng cao Chiều càng vào sâu thì đầu núi càng bạc những sương Mây bay về núi gặp những bức tường sương ấy Thế là có hình ảnh “mây cao đùn núi bạc” như Thủy Tinh đang vây hãm Sơn Tinh Đấy là một bức tranh hoành tráng bao phủ cô đơn Gần hơn, giữa khoảng mênh mông thầm lặng, một cánh chim nhỏ bé đang chao nghiêng đáp xuống tán cây, chừng như về tổ? Nhà thơ chợt nhận ra “bóng chiều sa”, hoàng hôn sắp tắt Trước cảnh thiêu nhiên tịch liêu như thế, nhà thơ cảm thấy
Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Nhà thơ đã quay về với mình trước cảnh thiên nhiên hối hả trong giờ phút chuyển giao giữa ngày và đêm Mọi thứ như nhanh hơn Gần gũi hơn trước mắt là chim nghiêng cảnh nhỏ bay nhanh về tố còn nhà thơ thì vẫn đứng ở đó, trước dòng sông cô đơn sầu lặng, và nhà thơ cũng chỉ có một mình! Dòng sông tình cảm trong nhà thơ cũng đang gợn sóng buồn điệp điệp
Hình như chẳng có ai xa xứ mà vui trước cảnh hoàng hôn về, nhất là ở nơi có con sông ngăn cách nhưng lại không có chiếc cầu, và không một chuyến dò ngang Ngày trước, Thôi Hiệu trong bài thơ Lầu Hoàng Hạc - Hoàng Hạc lâu cũng có hai câu thơ cuối:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
Trang 7Nhà thơ Tản Đà dịch:
Quê hương khuất bóng hoàng hôn, Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
Bà Huyện Thanh Quan cũng than thở trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn ?
Và Hồ Dzếch cũng buồn:
Nhớ nhà châm điếu thuốc Khói huyền bay lên cây
Còn Huy Cận thì:
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Cái buồn, cái nhớ của Huy Cận đậm hơn, da diết hơn nhiều!
Trong thế giới thơ ca, viết về dòng sông là một đề tài có khá quen thuộc, với cả sóng, thuyền, cánh chim, mây trắng nhưng ít ai có thứ ngôn ngữ diễn đạt mới và “sang” như Huy Cận trong bài Tràng giang
Nhận xét về phong cách diễn đạt thơ của Huy Cận, nhà phê bình Hoài Thanh có viết:
" Nhưng với trí quan sát rèn luyện trong nền văn học mới, Huy Cận đã làm một việc táo bạo: tìm về những cảnh xưa, nơi bao nhiêu người đã sa lầy - tôi muốn nói sa và khuôn sáo Người nói cùng ta nỗi buồn nơi quán chật đèo cao, nỗi buồn của sông dài trời rộng, nỗi buồn của người lữ thứ ”
Nhưng đó chỉ là nỗi buồn của người đứng ở ngã ba đường chưa nhận ra được lối đi Khi đã nhận ra đường đi trong đời, Huy Cận càng thấy đời đẹp
Trang 8BÀI MẪU SỐ 3:
Từ dòng sông, sóng gợn, con thuyền xuôi mái và cành củi khô bập bềnh trôi dạt trên sóng… ở khổ một, Huy Cận nói đến cảnh tràng giang một buổi chiều mênh mông, vắng
vẻ Giọng thơ nhè nhẹ man mác buồn Không gian nghệ thuật được mở rộng về đôi bờ và bầu trời Những cồn cát thưa thớt nhấp nhô "lơ thơ" như nối tiếp mãi dài ra Gió chiều nhè nhẹ thổi "đìu hiu" gợi buồn khôn xiết kể Hãy cùng tri thức tìm hiểu bài thơ này
"Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống, trời lên sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu"
Tràng giang" là bài thơ kiệt tác của Huy Cận rút trong tập thơ "Lửa thiêng" (1940) Bài thơ có một câu đề từ rất đậm đà: "Bâng khuâng trời rộng, nhớ sông dài" Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên, có 4 khổ thơ hợp thành một bộ tứ bình về tràng giang một chiều thu Đây là khổ thơ thứ hai của "Tràng giang":
"Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống, trời lên sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu"
Từ dòng sông, sóng gợn, con thuyền xuôi mái và cành củi khô bập bềnh trôi dạt trên sóng… ở khổ một, Huy Cận nói đến cảnh tràng giang một buổi chiều mênh mông, vắng
vẻ Giọng thơ nhè nhẹ man mác buồn Không gian nghệ thuật được mở rộng về đôi bờ và bầu trời Những cồn cát thưa thớt nhấp nhô "lơ thơ" như nối tiếp mãi dài ra Gió chiều nhè nhẹ thổi "đìu hiu" gợi buồn khôn xiết kể Hai chữ "đìu hiu" gợi nhớ trong lòng người đọc một vần thơ cổ:
"Non Kì quạnh quẽ trăng treo,
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò"
(Chinh phụ ngâm)
Làng xóm đôi bờ sông, trong buổi chiều tàn cũng rất vắng lặng Một chút âm thanh nhỏ bé lao xao trong khoảnh khắc tan chợ, vãn chợ ở đâu đây, ở từ một làng xa vẳng đến Lấy động để tả tĩnh, câu thơ "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều" đã làm nổi bật sự ngạc nhiên, chút bâng khuâng của người lữ khách về cái vắng vẻ, cái hoang vắng của đôi bờ tràng giang Các nhà thơ mới coi trọng tính nhạc trong thơ, vận dụng nghệ thuật phối âm, hòa thanh rất thần tình, tạo nên những vần thơ giàu âm điệu, nhạc điệu, đọc lên nghe rất thích Hai câu thơ đầu đoạn có điệp âm "lơ thơ" và "đìu hiu", có vần lưng: "nhỏ – gió", có
Trang 9vần chân: "hiu – chiều" Câu thơ của Huy Cận làm ta liên tưởng đến câu thơ của Xuân Diệu:
"Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang nắng trở chiều"…
(Thơ duyên)
Các điệp thanh: "nhỏ nhỏ", "xiêu xiêu", "lả lả"; các vần thơ, như vần lưng "nhỏ" với
"gió", vần chân "xiêu" với "chiều" Những vần thơ "tươi nhạc tươi vần" ấy đã trở thành câu thơ trong trí nhớ của hàng triệu con người yêu thích văn học
Trở lại đoạn thơ trong bài "Tràng giang" của Huy Cận, ta như được nhập hồn mình vào cõi vũ trụ mênh mông và bao la Trời đã về chiều Nắng từ trên cao chiếu rọi xuống làm hiện ra những khoảng sâu thăm thẳm trên bầu trời Vẻ đẹp của bầu trời thu quê hương ta đã trở thành vẻ đẹp của thi ca dân tộc: "Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao" (Thu vịnh); "Trời cao xanh ngắt – Ô kìa…" (Tiếng sáo Thiên Thai); "Xanh biếc trời cao, bạc đất bằng" (Xuân Diệu) Thi sĩ Huy Cận lại nhận diện bầu trời không phải là cao mà là sâu, "sâu chót vót":
"Nắng xuống / trời lên sâu chót vót"
Bầu trời và lòng sông "sóng gợn" là không gian hai chiều, rộng và cao, sâu Trời cao thăm thẳm, rộng mênh mông in xuống, soi xuống lòng sông Người ta thường nói "cao chót vót" và "sâu thăm thẳm", nhưng Huy Cận lại cảm nhận là "sâu chót vót" vừa để làm nổi bật hai vế tiểu đối: "nắng xuống" // "trời lên", vừa gây ấn tượng về cái bao la, mênh mông đến rợn ngợp của không gian vũ trụ vô tận, và cũng là nỗi buồn như vô tận trong lòng người Khách li hương càng cảm thấy nhỏ bé, lẻ loi và cô đơn trước không gian vô hạn của vũ trụ Dòng sông như dài thêm ra, bầu trời như rộng thêm ra, bến đò (hay bến lòng?) như cô liêu hơn, xa vắng, quạnh hiu hơn Lời đề từ nhà thơ đã viết: "Bâng khuâng trời rộng, nhớ sông dài", cảm hứng ấy đã được láy lại ở câu thơ số 8, mở ra một trường liên tưởng đầy ám ảnh về vũ trụ thì vô hạn vô cùng, còn kiếp người thì nhỏ bé, hữu hạn:
"Sông dài, trời rộng, bến cô liêu"
Cảnh sắc tràng giang được nói đến trong đoạn thơ là một không gian nghệ thuật đẹp
mà buồn Vẻ đẹp của những dòng sông trên mọi miền đất nước hội tụ trong tâm hồn thi nhân Vẻ đẹp của tình yêu quê hương, tình yêu sông núi Tình yêu đó mang nỗi buồn sông núi, nỗi buồn về đất nước của Huy Cận, của thế hệ các nhà thơ thời tiền chiến
"Tràng giang" đã hợp lưu trong lòng người hơn 60 năm rồi Đọc đoạn thơ trên, ta mới thấu hiểu nỗi lòng thi nhân trước cách mạng: "Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm…"
Trang 10
BÀI MẪU SỐ 4:
Văn học lãng mạn (1930 - 1945), giữa lúc các nhà thơ lãng mạn đang sa vào bế tắc, suy đồi thì bỗng xuất hiện Huy Cận như một ngôi sao lạ Với tập thơ "Lửa thiêng" (1940), Huy Cận đã hiện diện với một hồn thơ đa sầu đa cảm của một tâm hồn thi nhân chứa đầy bí mật
Bài thơ "Tràng giang" với xúc cảm vũ trụ, thấm đượm tình yêu quê hương đất nước
là một kiệt tác trong tập "Lửa thiêng" của nhà thơ Huy Cận
Thiên nhiên là nguồn cảm hứng vô tận của các thi nhân lãng mạn Nhà thơ Huy Cận cũng vậy, dòng sông Hồng đã quyến rũ ông, chiều chiều ông hay tha thẩn trên bờ sông Hồng Hình ảnh dòng sông hiện lên trong thơ mang theo nỗi sầu của thi nhân:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Làm sao phân biệt được "sóng gợn" trong lòng, hay "sóng gợn tràng giang"? Nhạc thơ thật hay Là nhạc sóng, nhạc sông, hay nhạc lòng?
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Hai chữ đầu câu thơ là hai thanh trắc, nhịp của "sóng gợn", "điệp điệp" Giữa câu là
ba thanh bằng "tràng giang buồn" trầm lắng Con thuyền trôi lênh đênh trên dòng sông,
"con thuyền xuôi mái", sóng không vỗ vào mạn thuyền mà "nước song song" Còn thuyền đã mang theo tâm trạng cô đơn của thi nhân Sóng "buồn", nước "sầu" Cho đến một cành củi khô trôi trên dòng sông cũng như một thân phận lạc loài:
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Một cành củi khô bỗng trở nên có linh hồn là do cấu trúc ngôn ngữ, đảo ngữ "củi một cành khô" làm nổi bật sự cô độc, lạc loài, khô héo (khô trong nước mới lạ, mới tội) Khổ thơ hay từng chữ một Chữ nào cũng là của tràng giang mà chữ nào cũng mang theo một mảnh linh hồn của thi nhân
Rời dòng sông, đôi mắt thi nhân lai đưa cái nhìn quan sát toàn cảnh của Tràng giang Từng câu thơ vẫn giữ được cái dư âm của nhịp sóng tràng giang:
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng bến cô liêu